xác định kế toán bán hàng, bồi dưỡng nhân lực khách sạn, xây dựng sổ tay chất lượng, yếu tố môi trường kinh doanh, giải pháp kế toán hoàn thiện, phân tích thống kê doanh thu
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Theo cách hiểu rộng nhất, môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện bêntrong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất vàkinh doanh của các doanh nghiệp Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck(1988), theo đó có những tầng mức môi trường kinh doanh khác nhau Tầng mức môitrường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soátđược như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị và quyết định sản lượng.Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung chotất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng vàbao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục,thương mại, công nghiệp…), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốcgia) Đây là tầng mức môi trường mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được mà chỉ
có thể phản hồi hoặc tương tác lại Các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh những thành tốmôi trường nội tại để nắm bắt được những cơ hội cũng như để đối mặt với nhữngthách thức từ môi trường bên ngoài
Ngày nay các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường đầy biến động,với các đối thủ cạnh tranh, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật luôn thay đổi mộtcách nhanh chóng Cùng với đó là sự giảm sút lòng trung thành của khách hàng, sự rađời của nhiều điều luật mới, những chính sách quản lý thương mại của nhà nước Dovậy các doanh nghiệp phải giải quyết hàng loạt các vấn đề mang tính thời sự cấp bách
Sự biến động của môi trường kinh doanh có thể dẫn tới những cơ hội hay nguy cơ đốivới doanh nghiệp Những cơ hội hấp dẫn là những điều kiện của môi trường kinhdoanh phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp Những nguy cơ đối với doanh nghiệp
là những điều kiện của môi trường vận động trái chiều với nguồn lực của doanhnghiệp khiến doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như: chi phí các yếu
tố đầu vào của sản xuất tăng, nhu cầu thị trường chững lại và các chi phí về vốn cũngtăng theo
Tổ chức bộ máy quản lý hợp lý là điều kiện đủ cho doanh nghiệp thành công trênthương trường Do vậy mức độ phức tạp của môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến
tổ chức bộ máy quản lý Nếu môi trường kinh doanh luôn biến động và biến độngnhanh chóng thì để có được thành công đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức bộ máyquản lý có mối quan hệ hữu cơ với nhau Việc đề ra các quyết định có tính chất phântán với các thể lệ mềm mỏng, linh hoạt, các phòng ban có sự liên hệ chặt chẽ với
Trang 2nhau Môi trường kinh doanh biến đổi tác động mạnh mẽ không chỉ tới hoạt động kinhdoanh và kết quả hoạt động kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến phương thức và thủpháp kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo báo cáo, về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2009, tổng sản phẩm trongnước (GDP) năm 2009 tăng 5,32% so với năm 2008 Tăng trưởng kinh tế thấp hơn kếhoạch ban đầu (6,5%) và thấp hơn các năm trước (năm 2008 tăng 6,2%), tuy nhiêncao hơn kế hoạch điều chỉnh 5% Kinh ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2009 ước tínhđạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008 Tương tự như xuất khẩu, kim ngạchnhập khẩu ước tính 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008 Từ kết quả điều trađối với 200 doanh nghiệp năm 2008 và năm 2009, có thể thấy xu hướng chung rằng,các doanh nghiệp được điều tra đánh giá môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn và nhữngbiến động khó lường của thị trường làm ảnh hưởng nhiều hơn tới tình hình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiềuthách thức lớn như: chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất tăng, nhu cầu của thịtrường chững lại và các chi phí về vốn cũng tăng theo Có tới 63,7% số doanh nghiệpđánh giá áp lực này là rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Trong năm 2009, có 61.6% số doanh nghiệp trong diện điều tra đã vay vốn và
số doanh nghiệp được đáp ứng là 50% nhu cầu trở lên là 67,5% (năm 2008 là 43,9%).Vấn đề trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp khi vay vốn là lãi suất vay quá cao, tiếpđến là thiếu tài sản thế chấp, vấn đề về phương án kinh doanh và năm 2009 các doanhnghiệp than phiền về thủ tục vay phức tạp
Môi trường kinh doanh năm 2010 đã có bước tiến vượt bậc so với năm 2009, tốc
độ kinh tế đạt mức cao 6,78%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 25,5% so với năm
2009 Bên cạnh những kết quả tích cực góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, vẫncòn những yếu tố tác động không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp năm 2010 nhưlãi suất ngân hàng luôn ở mức độ cao, có lúc lên đến 17-18%/năm, tình trạng lạm phátcao, chỉ số CPI tháng so với tháng 12 năm 2009 tăng 11,75%, bỏ xa chỉ tiêu 7% doQuốc hội đề ra Nền kinh tế luôn phải đối phó với tình trạng nhập siêu, bội chi ngânsách ngày càng gia tăng, cũng cần thấy rằng việc điều hành kinh tế vĩ mô còn nhiềubất cập… Ngoài ra, kinh tế thế giới năm 2010 và các năm tiếp theo sẽ chứng kiến sựsuy giảm của các nền kinh tế lớn Mỹ, EU, Nhật Bản và sự vươn lên mạnh mẽ của cácnước mới nổi (BRIC) và các nước đang phát triển Việt Nam đang có thời cơ rõ rệttrong việc tận dụng những lợi thế khách quan và chủ quan trong việc vươn lên thamgia trong nền sản xuất khu vực và toàn cầu
Trang 3Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm, sau khiphát phiếu điều tra tại công ty, em nhận thấy rằng những biến động của các yếu tốmôi trường kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh và hoạt độngquản trị tại công ty Nhất là những bất ổn của các yếu tố môi trường kinh doanh đặclàm ảnh hưởng nhiều hơn tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp Do vậy,
việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù nhằm hoàn thiện công tác quản trị là rất cần thiết.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Nhận thức được sự cần thiết tất yếu của việc nghiên cứu môi trường kinh doanhcủa doanh nghiệp, và sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạpphẩm em nhận thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù là rấtlớn, đặc biệt là trong công tác quản trị của công ty chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu
tố môi trường kinh doanh Hơn nữa, công tác quản trị của công ty có phần chưa phùhợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh hiện nay, nhất là trong giai đoạn cónhiều biến động của nền kinh tế Vì vậy trong luận văn tốt nghiệp em xin mạnh dạn
lựa chọn đề tài:”Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc
thù nhằm hoàn thiện quản trị công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm”.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp của em sẽ tập trung nghiên cứu một số lý luận về ảnh hưởngcủa các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù nhằm hoàn thiện quản trị công ty cổphần xuất nhập khẩu tạp phẩm
- Luận văn làm rõ một số lý luận về môi trường kinh doanh đặc thù, các yếu tốcủa môi trường kinh doanh đặc thù, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinhdoanh đặc thù
- Từ đó, phân tích thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanhđặc thù của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm trong ba năm gần đây
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị với nghiên cứu ảnh hưởng của môi trườngkinh doanh đặc thù nhằm hoàn thiện công tác quản trị của công ty cố phần xuấtnhập khẩu tạp phẩm
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa công ty cổ phần xuất nhậpkhẩu tạp phẩm và môi trường kinh đặc thù của nó Dựa trên 3 khung thời gian nhưsau:
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinhdoanh đặc thù của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
Trang 4- Thời gian nghiên cứu: Khảo sát thông tin tình hoạt động kinh doanh và các yếu tốmôi trường kinh doanh đặc thù của công ty trong vòng 3 năm gần đây (2008-2010).Định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị công ty cổ phần xuất nhậpkhẩu tạp phẩm tới năm 2015.
- Nội dung nghiên cứu: Từ phân tích thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố môitrường kinh doanh đặc thù nhằm hoàn thiện quản trị Công ty cổ phần XNK tạp phẩm.Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản trị Công ty tới năm 2015
1.5 Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục viết tắt,tài liệu tham khảo và các phụ lục thì luận văn được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh đoanh đặc thù nhằm hoàn thiện quản trị công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm Chương 2: Một số lý luận cơ bản về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù nhằm hoàn thiện quản trị công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đặc thù tới công tác quản trị của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất hoàn thiện công tác quản trị công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm.
Trang 5
CHƯƠNG 2:
MỘT SỐ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẶC THÙ
NHẮM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
2.1 Một số khái niệm và đặc điểm môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp.
2.1.1 Một số khái niệm về môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp.
Sự phát triển có hiệu quả và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân suycho cùng phụ thuộc vào kết quả của các phần tử cấu thành – các doanh nghiệp Mức
độ đạt được hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộcvào môi trường kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp với hoàn cảnhcủa môi trường kinh doanh Từ quan niệm chung: Môi trường kinh doanh là tập hợpcác yếu tố (kinh tế, tự nhiên, xã hội, chính trị, tổ chức và kỹ thuật…), các điều kiệnthiết lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, người ta thường cho rằng môi trườngkinh doanh là tổng thể các yếu tố, các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếpđến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Các yếu tố, các điều kiện cấu thànhmôi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác độngđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác độngcủa các yếu tố, điều kiện lại khác nhau Trong cùng một thời điểm, với cùng một đốitượng có yếu tố tác động thuận nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản với sự phát triểncủa doanh nghiệp Các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp không cố định một cách tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi Mộttrong những môi trường đặc trưng có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp là môitrường kinh doanh đặc thù
Môi trường kinh doanh đặc thù là một bộ phận của môi trường kinh doanh bênngoài Do đó, nó là môi trường chứa đựng tất cả các tác nhân bên ngoài doanh nghiệpnhưng có tác động một cách trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Ngoài ra, nó có tính chất khác biệt, đây là yếu tố môi trường riêng của từng doanhngiệp và làm cho nó phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác
Như vậy có thể hiểu rằng: Môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp là
những yếu tố môi trường kinh doanh của từng doanh nghiệp và làm cho nó phân biệt với các doanh nghiệp khác Nói cách khác, môi trường kinh doanh đặc thù là môi
trường chứa đựng tất cả các tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh
Trang 6doanh của doanh nghiệp Nó bao gồm những cá nhân hay tổ chức ở bên ngoài doanhnghiệp mà quyền lợi của họ có liên quan gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thương mại từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đều ở trong môitrường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh tồn tại khách quan với doanhnghiệp thương mại Môi trường kinh doanh được đặc trưng bởi một loạt các yếu tố cóảnh hưởng đến kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vậy các yếu tốmôi trường kinh doanh đặc thù bao gồm khách hàng, nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh
và cơ quan nhà nước
Khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa
hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua Khách hàng
là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng thanh toán vềhàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong muốn được thỏamãn Có thể nói khách hàng có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Khách hàng là mục tiêu cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới
Nhà cung cấp là các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp đảm bảo cung cấp các
yếu tố cần thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh để sản xuất ra hàng hóa vàdịch vụ nhất định Nhà cung cấp có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản trị muahàng và dự trữ hàng hóa của doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh dịch vụ,
hàng hóa hoặc các sản phẩm dịch vụ có thể thay thế nhau được cho cùng một nhu cầunào đó của người tiêu dùng
Các cơ quan Nhà nước được hiểu là các cơ quan của Trung Ương hoặc có thể
là cơ quan địa phương nơi mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thừa lệnh sự điềuhành của các cơ quan cấp trên
Nghiên cứu, phân tích ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặcthù là hoạt động rất cần thiết đối với doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp có nhữngbiện pháp ứng xử phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh, định hướngphát triển kinh doanh đúng đắn
2.1.2 Đặc điểm của môi trường kinh doanh đặc thù.
Môi trường kinh doanh nói chung và môi trường kinh doanh đặc thù nói riêngtồn tại một cách khách quan đối với hoạt động của doanh nghiệp Và mỗi doanhnghiệp lại hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh không giống nhau Vìvậy, các doanh nghiệp chịu sự tác động của môi trường kinh doanh khác nhau và cũng
Trang 7cần có những biện pháp riêng để ứng phó với những biến động của môi trường saocho phù hợp với điều kiện ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp không giống nhau nhưng cónhững đặc điểm cơ bản sau:
Môi trường kinh đặc thù có tính đa dạng và phức tạp: Bởi vì môi trường kinh
doanh đặc thù là tổng hợp của nhiều yếu tố (cụ thể là khách hàng, nhà cung cấp, đốithủ cạnh tranh, cơ quan nhà nước) hợp thành có tác động trực tiếp tới quá trình hoạtđộng của doanh nghiệp Các phần tử này lại có đặc điểm, bản chất khác nhau và bị chiphối bởi các quy luật khác nhau Mặt khác, các phần tử cơ cấu của môi trường kinhdoanh đặc thù lại thường xuyên tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và phụ thuộcnhau Khi nghiên cứu môi trường kinh doanh phải xem xét đánh giá trên nhiều khíacạnh khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau thích hợp với từng doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh có tính phức tạp, được đặc trưng bởi một loạt các yếu
tố có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanhcàng phức tạp thì càng khó khăn trong công tác hoạch định của nhà quản trị Trong xuthế hội nhập toàn cầu, nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO thì môitrường kinh doanh càng có nhiều biến động mạnh, phức tạp và khó tiên lượng
Môi trường kinh doanh có tính động: môi trường kinh doanh nói chung và môi
trường kinh doanh đặc thù nói riêng luôn vận động và không ngừng biến đổi Do tínhchất biến đổi hoàn toàn bất định nên môi trường kinh doanh có tác động sâu sắc vàmạnh mẽ đến hoạt động của doanh nghiệp Những biến đổi diễn ra trong môi trườngkinh doanh không chỉ là những biến đổi, diễn biến từ từ, dễ dàng phát hiện hay có thể
dự đoán trước được Nó tiềm ẩn những biến đổi khôn lường, có thể gây ra những điềubất ngờ lớn, những hậu quả nặng nề Tính biến động của môi trường kinh doanh là thửthách thường xuyên đòi hỏi khả năng, kinh nghiệm và sự nhạy cảm của nhà quản trị
2.1.3 Các yếu tố của môi trường kinh doanh đặc thù.
Các yếu tố của môi trường kinh doanh đặc thù tồn tại trong một tổng thể thốngnhất Mối quan hệ qua lại được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 8Sơ đồ 2.1.3: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các yếu tố môi trường
kinh doanh đặc thù.
2.1.3.1 khách hàng:
Khách hàng là một yếu tố quyết định đầu ra của sản phẩm Không có kháchhàng các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ củamình Như vậy khách hàng và nhu cầu của họ nhìn chung có những ảnh hưởng hết sứcquan trọng đến các hoạt động về hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh củamọi công ty Tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu củakhách hàng mục tiêu sẽ là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của mỗidoanh nghiệp nói chung và hệ thống quản trị của nó nói riêng
Nhu cầu của người tiêu dùng phong phú, đa dạng và phức tạp Một doanhnghiệp dù lớn đến đâu cũng không thể đáp ứng hết được mong muốn của khách hàng
Do đó các doanh nghiệp thường tập trung vào một đoạn thị trường tức là tập kháchhàng mục tiêu Nhờ vậy giúp doanh nghiệp hiểu thấu đáo hơn nhu cầu và ước muốncủa khách hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp Với mụcđích để nhận biết đâu là tập khách hàng cần tập trung để có cách ứng xử phù hợp, cóthể phân nhóm khách hàng như sau:
- Phân theo vị trí địa lý: Khách hàng trong nước và khách hàng quốc tế Trong nước
lại phân nhỏ thành các vùng, miền, thành phố, địa phương riêng
- Phân theo mối quan hệ với doanh nghiệp: Có khách hàng mới, khách hàng truyền
thống và khách hàng tiềm năng
Cơ quan nhà nước
Doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Trang 9- Phân theo thành phần kinh tế: Khách hàng là các cá nhân, tổ chức chính phủ và phi
chính phủ, các trung gian thương mại…
- Phân theo mục đích giao dịch:
+ Khách hàng là các tổ chức, trung gian thương mại mua hàng hóa và dịch vụ kinhdoanh để thu lợi từ các dịch vụ và chênh lệch giá
+ Khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, mua hàng hóa và dịch vụlàm yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh doanh của mình
+ Khách hàng là chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ để phục vụ cho những hoạt độngquản lý nhà nước, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân…
+ Khách hàng là tổ chức phi chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ để phục vụ cho hoạtđộng của tổ chức mình
+ Khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình mua hàng hóa để thỏa mãn các nhu cầu tiêudùng của họ
Mỗi nhóm có đặc điểm tính chất nhất định, tùy vào mức độ tham gia vào cácthị trường của mỗi doanh nghiệp mà nghiên cứu các nhóm riêng lẻ Việc nắm bắtđúng nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy nhu cầu thành động cơ mua sắm là một côngviệc khó khăn Nghiên cứu khách hàng và tâm lý khách hàng giúp doanh nghiệpthương mại xác định được khách hàng nào có nhu cầu chưa được thỏa mãn, thời gianđịa điểm cần có hàng hóa, đặc điểm sử dụng hàng hóa của khách hàng, giá cả hànghóa khách hàng có thể chấp nhận được và phương thức phục vụ khách hàng như thếnào là tốt nhất
Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh
Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự tínnhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so vớicác đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại các khách hànghiện tại và tương lai
2.1.3.2 Nhà cung cấp.
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thươngmại nói riêng đều được bắt đầu từ việc tổ chức mua hàng và kết thúc là bán hàng.Muốn có hàng để bán cho khách hàng thì doanh nghiệp phải cung ứng hàng hóa từphía các nhà cung cấp Vì vậy, có thể nói mua hàng là khâu đầu tiên cho quá trìnhkinh doanh nhằm đảm bảo đầy đủ các điều kiện vật chất lưu chuyển hàng hóa để đảmbảo lưu thông hàng hóa được tiến hành thường xuyên liên tục, góp phần thực hiệnchức năng và mục tiêu của doanh nghiệp Cung ứng là điều kiện của hoạt động kinh
Trang 10doanh của doanh nghiệp tồn tại và phát triển Vì không có cung ứng thì không có được
dự trữ, không có bán
Doanh nghiệp cần hiểu rõ đặc điểm của nguồn cung ứng hàng hóa Nếu sốlượng nhà cung ứng ít, nguồn hàng không nhiều, không có mặt hàng thay thế khác,nhà cung ứng có thể gây sức ép bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặcgiảm mức độ dịch vụ đi kèm Nếu số lượng nhà cung ứng nhiều, nguồn hàng phongphú, có mặt hàng thay thế khác, doanh nghiệp thương mại có thể lựa chọn nguồn cungứng hàng hóa với giá cả phải chăng, chất lượng tốt, dịch vụ thuận lợi Vì vậy, doanhnghiệp có thể lựa chọn nhà cung ứng theo những loại sau:
- Nhà cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị công nghệ kỹ thuật, hàng hóa.
Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây khó khăn bằng cáchtăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch vụ đi kèm Yếu tố làm tăng thếmạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh củangười mua sản phẩm Cụ thể là các yếu tố: số lượng cung cấp ít, không có mặt hàngthay thế khác và không có nhà cung cấp nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt.Nếu nhà cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàngcần kiếm cách cải thiện vị thế của họ bằng cách tác động vào một hay nhiều yếu tố nóitrên Họ có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ sở cung cấp hàng củachính họ hoặc có thể mua giấy phép độc quyền
Việc lựa chọn người cung cấp dựa trên số liệu phân tích về người bán Cầnphân tích mỗi tổ chức cung ứng theo các yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với mỗidoanh nghiệp Các hồ sơ về người bán trong quá khứ cũng có giá trị, trong các hồ sơ
đó ít nhất cũng phải tóm lược được những sai biệt giữa việc đặt hàng liên quan đến nộidung, ngày tháng, điều kiện bán hàng và bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào có tác động đếnngười cung cấp hàng
- Nhà cung cấp tài chính, các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm.
Trong những thời điểm nhất định phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanhnghiệp làm ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ người tài trợ Nguồn tiền vốn này
có thể nhận được bằng cách vay ngắn hạn hoặc dài hạn hoặc phát hành cổ phiếu Khidoanh nghiệp tiến hành phân tích về các tổ chức tài chính thì trước hết cần chú ý xácđịnh vị thế của mình so với các thành viên khác trong cộng đồng
- Nhà cung cấp nguồn nhân lực.
Nguồn lao động cũng là một thành phần chính yếu trong môi trường cạnh tranhcủa doanh nghiệp Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là tiền đề
để đảm bảo thành công cho doanh nghiệp Các yếu tố chính cần đánh giá là đội ngũ
Trang 11lao động chung bao gồm: trình độ đào tạo và trình độ chuyên môn của họ, mức độ hấpdẫn tương đối của doanh nghiệp với tư cách là người sử dụng lao động và mức tiềncông phổ biến Các nghiệp đoàn cũng có vai trò đáng kể trong môi trường cạnh tranh.Tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các nghiệp đoàn liên quan,với tư cách là người cung cấp lao động, có thể tác động mạnh đến khả năng đạt đượcmục tiêu của doanh nghiệp.
Sau khi tìm hiểu thông tin thị trường trong và ngoài nước, doanh nghiệp sẽ điđến quyết định lựa chọn nhà cung cấp phù hợp với ngành hàng kinh doanh phù hợpvới vị trí địa lý, với nguồn lực để phát huy những thế mạnh và khắc phục hạn chế củadoanh nghiệp mình Mặt khác, để đảm bảo đạt được hiệu quả cao của hoạt động muahàng (đạt được mục tiêu mua hàng với chi phí thấp), khi lựa chọn nhà cung cấp doanhnghiệp cần vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc “nên mua hàng của nhiều nhà cungcấp” nhằm phân tán rủi ro và tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp tạo ra lợi thếcho doanh nghiệp
2.1.3.3 Đối thủ cạnh tranh.
Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh
là quy luật tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của doanh nghiệp Bởivậy doanh nghiệp ít khi là người bán duy nhất trên thì trường, sản phẩm và dịch vụcủa họ không chỉ đáp ứng một loại khách hàng Đối thủ cạnh tranh là những cá nhânhay tổ chức có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu của doanhnghiệp Họ là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp Những đối thủ nàykinh doanh cùng một sản phẩm, dịch vụ có cùng nhãn hiệu, cùng một loại sản phẩmnhưng khác nhãn hiệu, những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của doanhnghiệp Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với cácdoanh nghiệp do nhiều nguyên nhân Các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất vàmức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế ngành
Một điều rất có lợi cho doanh nghiệp là nắm bắt được những nhận định của đốithủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành Nếu như các nhậnđịnh này không chính xác thì chúng sẽ tạo ra các “điểm mù”, tức là điểm yếu của đốiphương Các doanh nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnhtranh, các ưu, nhược điểm của họ trong các lĩnh vực hoạt động Một điều hết sực quantrọng là khả năng đối thủ cạnh tranh có thể thích nghi với những thay đổi Các doanhnghiệp cần xem xét khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễn biến củacác tiến bộ công nghệ, lạm phát và sự can thiệp mạnh của chính phủ Ngoài ra, cầnxem xét tới khả năng thích nghi của họ đối với các thay đổi liên quan đến từng lĩnh
Trang 12vực hoạt động marketing đang mở rộng hoặc họ có quản lý được dây chuyền sản xuấtphức tạp hơn không?
Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh chính có tầm quan trọng đương đầu vớicác cuộc tranh giành kéo dài Điều đó phụ thuộc vào dự trữ tiền vốn, sự nhất trí củaban lãnh đạo, triển vọng lâu dài trong các mục đích tài chính của doanh nghiệp vàkhông bị sức ép trên thị trường chứng khoán Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranhchính có tầm quan trọng đến mức có thể Nó cho phép đề ra thủ thuật phân tích đối thủcạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông tin thích hợp và cácthông tin về từng đối thủ cạnh tranh chính được thu nhận một cách hợp pháp Việcphân loại đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu về cạnh tranh, từ
đó có thể đưa ra biện pháp đối phó kịp thời và phù hợp Tùy theo các phương thứcphân loại khác nhau có các đối thủ cạnh tranh sau:
- Theo vị trí địa lý: Có đối thủ cạnh tranh trong nước, đối thủ quốc tế, đối thủcùng khu vực, cùng địa phương…
- Theo khả năng tác động: Đối thủ cạnh tranh gần, đối thủ cạnh tranh xa (đốithủ cạnh tranh tiềm ẩn)
- Theo mức độ cạnh tranh: Cạnh tranh nhãn hiệu, cạnh tranh ngành, cạnh tranhcông dụng, cạnh tranh chung
Nhìn chung, khi nghiên cứu các các chuyên gia kinh tế chia thành hai nhóm cơbản sau:
* Đối thủ cạnh tranh hiện tại của ngành:
Đối thủ cạnh tranh là toàn bộ các doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanhloại hàng hóa, dịch vụ hoặc hàng hóa dịch vụ có thể thay thế được cho cùng một nhucầu nào đó của người tiêu dùng Số lượng các đối thủ cạnh tranh càng nhiều, mức độcạnh tranh sẽ càng gay gắt Mức độ và quy mô cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phụthuộc và các nhân tố sau:
- Trình độ tập hóa hoạt động kinh doanh trong từng ngành
- Số lượng các đối thủ cạnh tranh
- Dung lượng thị trường và phát triển của ngành
- Tốc độ tăng trưởng và phát triển ngành
- Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ
- Khối lượng chi phí cố định và lưu kho
- Các rào cản rút lui khỏi ngành
Trang 13* Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới của ngành:
Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới, với mongmuốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Cần lưu ý là việc mua lại các cơ
sở khác trong ngành với ý định xây dựng phần thị trường thường là biểu hiện của sựxuất hiện đối thủ mới xâm nhập Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặpphải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới, song nguy cơ đối thủ cạnh tranh hội nhập vàongành vừa chịu ảnh hưởng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanhcủa doanh nghiệp
Sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới nhanh hay chậm chủ yếu
do rào cản ngăn chặn sự ra nhập vào ngành kinh doanh và việc bảo vệ vị thế cạnhtranh của doanh nghiệp thương mại lớn trên thị trường Những rào cản đó là sự trungthành của khách hàng với nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa, lợi thế về quầy hàng, giaothông, sự đa dạng hóa của sản phẩm
2.1.3.4 Các cơ quan nhà nước
Các cơ quan nhà nước có vai trò tạo môi trường kinh tế ổn định, thuận lợi chomôi trường phát triển Nhà nước đưa ra các chính sách đầu tư, tài chính, tín dụng đểđiều tiết nền kinh tế, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng giúp nền kinh tế phát triển vànâng cao đời sống nhân dân
Nhìn chung, vai trò của Nhà nước là người tạo lập, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế Sự can thiệp ở mức hợp lý vào các hoạt động kinh doanh là rấtcần thiết, bởi Nhà nước giữ vai trò tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và tạo cơhội bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh doanh Cơquan nhà nước với tư cách là một tế bào, đơn vị của nền kinh tế có thể tạo điều kiệnthuận lợi hoặc có thể gây áp lực hạn chế hoạt động của doanh nghiệp hay đơn giản chỉmang ý nghĩa kiểm tra giám sát Vì thế, một nhà quản trị giỏi không nên né tránh sựkiểm soát của Nhà nước mà ngược lại cần phải nắm vững, tuân thủ luật pháp và cácchính sách của Nhà nước nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan Nhà nước Đồngthời, các nhà quản lý doanh nghiệp cần dự báo trong chính sách, công cụ điều tiết vĩ
mô của Nhà nước để có những biện pháp phản ứng kịp thời
2.1.4 Sự cần thiết của việc nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù.
Tất cả các nhà quản trị dù cho họ hoạt động trong một doanh nghiệp, một cơquan Nhà nước, một trung tâm, một tổ chức từ thiện hay một trường đại học đều phảixét đến với những mức độ khác nhau các yếu tố và lực lượng của môi trường xung
Trang 14quanh họ Để có thể xem xét yếu tố môi trường đối với một doanh nghiệp, người taphải nắm vững thực trạng của môi trường kinh doanh để từ đó có thể đề ra nhữngchiến lược kinh doanh thích hợp, giúp tận dụng một cách hiệu quả mọi nguồn tàinguyên để đưa doanh nghiệp đến những thành công và lợi nhuận cao nhất.
Nghiên cứu và phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh doanh nóichung và môi trường kinh doanh đặc thù nói riêng tạo cơ sở khoa học để doanh nghiệpthiết lập mối quan hệ ổn định, bền vững với các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù.Điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo lập được vị thế trong kinh doanh, thể hiện ở sựtăng trưởng thị phần, ở quy mô mặt hàng, ở chất lượng phục vụ Trong kinh doanhquốc tế tạo được thế lực và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường sẽ là động lực thúcđẩy doanh nghiệp phát triển bền vững trong tương lai Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu
tố môi trường kinh doanh đặc thù cho phép doanh nghiệp:
- Hoạch định được chiến lược kinh doanh và thực hiện kinh doanh được nhấtquán, linh hoạt và thống nhất đồng thời hạn chế được rủi ro từ môi trường
- Phát hiện kịp thời những thời cơ kinh doanh thuận lợi và những rủi ro có thểxảy ra
- Liên kết với môi trường kinh doanh cũng như trách nhiệm trong việc hoànthành môi trường kinh doanh nhằm tạo lập một môi trường kinh doanh tốt hơn
Doanh nghiệp và các yếu tố của thành phần yếu tố của môi trường kinh doanhluôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau hoàn thiện Sự tác động của môitrường kinh doanh đến hoạt động quản trị của doanh nghiệp gồm tổng hợp các tácđộng chủ quan và khách quan, trực tiếp hay gián tiếp Môi trường kinh doanh có thểtạo ra điều kiện thuận lợi, những cơ hội cho doanh nghiệp nhưng nó cũng gây khókhăn trở ngại nhất định cho doanh nghiệp làm tổn hại đến lợi ích nhất định của doanhnghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh doanh đặc thù là hết sức cần thiếtcho hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh đặc thù và các yếu tố cấu thành luôn vận động và biếnđổi không ngừng Sự vận động và biến đổi này chịu sự tác động của quy luật vận độngnội tại của từng yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh đặc thù và của nền kinh tếquốc dân Chính sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh đặc thù buộccác nhà quản trị doanh nghiệp phải thực sự quan tâm đến các yếu tố này để dự báođúng những thay đổi của môi trường Tự tìm cách điều chỉnh một cách linh động cáchoạt động quản trị để thích nghi, phù hợp với yêu cầu của môi trường Coi nhữngthuận lợi của môi trường kinh doanh đặc thù làm điểm tựa vững chắc cho sự vươn lêncủa doanh nghiệp
Trang 152.2 Một số lý thuyết khác về các yếu tố môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiếp cận 1: Giáo trình:”Kỹ năng và quản trị bán hàng” của tác giả Lê Đăng
lăng, NXB thống kê, 2009 Nội dung chính:
- Phân loại khách hàng làm 2 loại: Khách hàng tiêu dùng và khách hàng côngnghiệp
- Khái niệm khách hàng tiêu dùng: là những khách hàng mua hàng nhằm mụctiêu dùng cho bản thân hoặc gia đình Những người này mong muốn hoạt động muahàng có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất đinh
- Khái niệm khách hàng công nghiệp: là những tổ chức mua hàng nhằm mụcđích phục vụ cho hoạt động của tổ chức, những tổ chức này là những đơn vị sản xuấtkinh doanh hoặc những đơn vị hành chính sự nghiệp
Tiếp cận 2: Giáo trình:”Marketing căn bản” của Thạc sỹ Quách Bửu Châu và
Đinh Viên Minh, NXB Lao động, 2002
Mỗi doanh nghiệp tùy hoàn cảnh có những đối thủ cạnh tranh khác nhau, cóbốn loại cơ bản:
- Đối thủ cạnh tranh về ước muốn: Đó là sự cạnh tranh từ tất cả các doanhnghiệp ở các ngành nghề khác nhau về các ước muốn tức thời mà người tiêu thụ muốnthỏa mãn
- Đối thủ cạnh tranh về loại sản phẩm: Cạnh tranh về loại sản phẩm có thể thỏamãn được một ước muốn đặc thù nào đó
- Đối thủ cạnh tranh về hình thái sản phẩm: Đó là sự cạnh tranh của nhữnghãng sản xuất về các hình thái sản phẩm khác nhau
- Đối thủ cạnh tranh về nhãn hiệu sản phẩm: Đó là sự cạnh tranh từ các DN sảnxuất sản phẩm cùng loại với nhãn hiệu khác nhau
Tiếp cận 3: Giáo trình:”Các nghệ thuật Marketing trong cạnh tranh toàn cầu”
của tác giả Dương Hữu Hạnh, NXB lao động xã hội, 2007
Khái niệm: nhà cung cấp có liên quan đến việc sản xuất và marketing của công
ty cung cấp các nguyên liệu và có thể là bán thành phẩm cho công ty làm ra sản phẩmhay dịch vụ
Tiếp cận 4: Cuốn sách:”Quản trị doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Hải sản,
NXB tài chính, 2007
- Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hưởngtới các hoạt động của doanh nghiệp Có sáu yếu tố chủ yếu của môi trường kinh
Trang 16doanh, gồm có: môi trường vật chất, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môitrường pháp lý, môi trường công nghệ, môi trường xã hội.
- Các cơ quan của Chính phủ
- Các chức năng của nhà quản trị: hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát.Hoạch định được coi là chức năng quản trị đầu tiên của quản trị Hoạch địnhđược chia làm hai cấp độ: hoạch định dài hạn hay ngắn hạn
Chức năng tổ chức bao gồm việc thiết lập một cấu trúc của tổ chức
Chức năng chỉ huy là nhà quản trị khiến cho mọi người đem hết khả năng của
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước.
Trong thời gian tìm hiểu và thu thập, xử lý thông tin để làm luận văn tốtnghiệp, em đã tiến hành tìm kiếm những tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài mà
em nghiên cứu, em thấy đề tài nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường kinhdoanh đặc thù là một đề tài rất hấp dẫn, thu hút rất nhiều sự quan tâm của các bạn sinhviên làm luận văn tốt nghiệp Qua thống kê các đề tài nghiên cứu tại trường Đại họcThương mại em liệt kê được một số luận văn tốt nghiệp có liên quan đến đề tài emnghiên cứu như sau:
1, Luận văn tốt nghiệp năm 2007 của tác giả Phan Viết Hùng, sinh viên K39A,
đề tài nghiên cứu:”nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc
thù nhằm hoàn thiện công tác quản trị ở công ty CP thương mại và XNK Thăng Long trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO”.
2, Luận văn tốt nghiệp năm 2007 của tác giả Phan Lạc Khánh, sinh viên K39A,
đề tài nghiên cứu:”Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc
thù nhằm hoàn thiện công tác quản trị ở công ty CP sản xuất dịch vụ - xuất nhập khẩu
Từ Liêm trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO”.
Trang 173, Luận văn năm 2009 của tác giả Ngô thị Lan Anh, sinh viên HQ1A, đề tài
nghiên cứu:”Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù
nhằm hoàn thiện công tác quản trị tại công ty Acquy Kornam
4, Luận văn năm 2009 của tác giả Đặng Thị Ngọc, sinh viên K41A, đề tài
nghiên cứu:” Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù
nhằm hoàn thiện quản trị Công ty dệt Hà Nam”.
5, Luận văn năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Bích Diệp, sinh viên K41A, đề
tài nghiên cứu:”Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù
nhằm hoàn thiện quản trị Công ty Cổ phần Simco Sông Đà”.
Các đề tài nghiên cứu trên đều đã hệ thống được lý luận cơ bản về các yếu tốmôi trường kinh doanh đặc thù; ảnh hưởng của từng yếu tố trong môi trường đó tớiquản trị doanh nghiệp theo các cách tiếp cận khác nhau; phân tích thực trạng ảnhhưởng của các yếu tố đó đến quản trị doanh nghiệp từ đó đưa ra một số biện pháp kiếnnghị hoàn thiện quản trị doanh nghiệp
2.4 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đặc thù tới công tác quản trị doanh nghiệp.
2.4.1 Ảnh hưởng của khách hàng tới quản trị doanh nghiệp.
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp Khách hàng là lực lượng ảnh hưởng quyết địnhđến đầu ra của doanh nghiệp Không có khách hàng các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăntrong tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của mình Tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đầy
đủ nhu cầu cùng sở thích, thị hiếu của khách hàng mục tiêu sẽ là điều kiện sống còncho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp nói chung và hệ thống quản trị của
nó nói chung Như vậy khách hàng là người chi phối mọi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp cũng như ảnh hưởng và chi phối công tác quản trị của doanh nghiệp.Điều đó được thể hiện như sau:
Đối với công tác hoạch định:
- Khách hàng quyết định doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng gì? Quyết định thểloại kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành? Tức là khách hàng sẽ là người lựachọn, quyết định mục tiêu phát triển và khả năng sinh lời cho doanh nghiệp
- Khách hàng sẽ quyết định mức giá cho hàng hóa và dịch vụ của doanhnghiệp Tức là quyết định trong quá trình hoạch định doanh nghiệp phải xây dựngchính sách giá cho mặt hàng kinh doanh Để thu được lợi nhuận tối đa, các doanhnghiệp đều muốn tự mình đưa ra mức giá cho hàng hóa và dịch vụ của mình Tuy
Trang 18nhiên tiếng nói cuối cùng quyết định mức giá thực hiện lại thuộc về phía khách hàng –người trực tiếp bỏ tiền ra.
- Khách hàng sẽ quyết định doanh nghiệp sẽ bán hàng hóa của mình như thếnào và ở đâu, tức là phương thức bán hàng, phương thức phục vụ do khách hàng lựachọn Vì thế khách hàng quyết định cả việc hoạch định chính sách phân phối hànghóa, do đó cũng quyết định tới tổ chức quản lý, lãnh đạo và kiểm soát doanh nghiệp
- Khách hàng quyết định địa điểm bán: Khách hàng quyết định sẽ bán hàng hóa
và dịch vụ ở đâu? Địa điểm bán hàng nào để khách hàng có thể tiếp cận được hànghóa một cách dễ dàng nhất? Điều này giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnhtranh và hiệu quả doanh nghiệp
- Khách hàng quyết định số lượng hàng hóa doanh nghiệp bán ra Vì thế ảnhhưởng đến công tác quản trị mua hàng và quản trị dự trữ hàng hóa Nhu cầu của kháchhàng luôn luôn biến động do đó số lượng mà khách hàng tiêu dùng là không ổn định
- Khách hàng quyết định khi nào doanh nghiệp nên bán hàng hóa và dịch vụ
Có nghĩa là khách hàng là yếu tố quyết định chiến lược xâm nhập thị trường củadoanh nghiệp
Đối với công tác tổ chức:
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, trung gian thương mại, người tiêu dùng…thì cách thức tổ chức bán hàng cho mỗi đối tượng lại khác nhau Doanh nghiệp phải
có sự phân chia bộ phận trong cơ cấu tổ chức của mình Ai lãnh đạo, ai bán hàng, aikiểm tra hoạt động bán… để mang lại hiệu quả bán hàng cao nhất
Doanh nghiệp cũng phải luôn chú ý đến việc tổ chức mua hàng và dự trữ bánhàng như thế nào cho phù hợp với nhu cầu hiện tại của khách hàng Nhu cầu lớn thìđòi hỏi hàng phải được nhập về đều đặn, lượng dự trữ phải đảm bảo đủ cho bán ra củadoanh nghiệp Nếu mua và dự trữ không đảm bảo bán ra thì doanh nghiệp sẽ mấtnhiều cơ hội kinh doanh
Đối với công tác lãnh đạo.
Khách hàng có thể có những suy nghĩ không hay về doanh nghiệp nếu như cómột cử chỉ nào đó của nhân viên bị khách hàng đánh giá là không thiện cảm Do vậy,giao tiếp của nhân viên với khách hàng là rất quan trọng, nó thể hiện văn hóa củadoanh nghiệp và là một công cụ quảng bá thương hiệu rất hữu ích tác động trực tiếptới khách hàng Nhà lãnh đạo phải thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, động viên nhânviên của mình và có những phần thưởng động viên khích lệ kịp thời để thúc đẩy nhânviên tiếp tục làm việc
Trang 19 Đối với công tác kiểm soát.
Để đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp phải luôn luôn kiểm soáttốt số lượng hàng mua về bán của mình để có những điều chỉnh kịp thời Dự báo nhucầu trong tương lai tới sẽ lớn hơn thì phải tăng lượng hàng dự trữ để có hàng bán lúcgiá cao Mức cầu hiện tại của khách hàng lớn thì phải tăng lượng hàng nhập về, cầugiảm, hàng hóa ế ẩm thì phải giảm lượng nhập, tránh tồn kho quá nhiều gây ứ đọngvốn Kiểm soát quá trình giao tiếp giữa nhân viên Công ty với khách hàng cũng rấtquan trọng của nhà quản trị, giúp Công ty có kỷ luật với những hành động không tốtcủa nhân viên với khách hàng
2.4.2 Ảnh hưởng của nhà cung cấp tới quản trị doanh nghiệp.
Các nhà cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản trị của doanhnghiệp Các nhà cung ứng có liên quan chặt chẽ đến việc cung cấp các nguồn tàinguyên cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh Các nhà quản trị cần phải cố gắng
để có được nguồn cung ứng ổn định Các nhà cung ứng là lực lượng ảnh hưởng đến
“đầu vào” của các doanh nghiệp
a Nhà cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm cho doanh nghiệp:
Đối với công tác hoạch định:
Nhà cung cấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng kế hoạch mua hàng và dựtrữ hàng của doanh nghiệp Nếu các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào đầy đủ về sốlượng, chất lượng, giá cả phải chăng, kịp thời gian thì hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp sẽ hoạt động một cách thường xuyên, liên tục, đảm bảo theo kế hoạch.Còn nếu nguồn cung ứng đầu vào không ổn định sẽ làm việc kinh doanh trở nên giánđoạn, trong ngắn hạn sẽ bỏ lỡ khả năng tiêu thụ, trong dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảmcủa khách hàng với doanh nghiệp
Uy tín, chất lượng sản phẩm dịch vụ, mức độ đáp ứng, chính sách khuyếnmại… của nhà cung cấp chính là cơ sở để đối tác của doanh nghiệp ủy thác cho doanhnghiệp ký kết hợp đồng với nhà cung cấp Tuy nhiên trong thời gian hợp tác kinhdoanh với nhà cung cấp, đặc biệt là nhà cung cấp nước ngoài doanh nghiệp cần phảithường xuyên tiến hành nghiên cứu hoạt động kinh doanh, khả năng cung ứng, tìnhhình tài chính của nhà cung cấp đồng thời cần tìm hiểu phong tục tập quán của nhàcung cấp để trành gặp phải những khó khăn về phong tục tập quán khác nhau của mỗinước gây gián đoạn kinh doanh
Đối với công tác tổ chức:
Nhà cung cấp tác động trực tiếp đến hoạt động tổ chức mua hàng và quy trìnhmua hàng của doanh nghiệp Tùy vào từng loại mặt hàng, từng nhà cung cấp mà
Trang 20doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu các thông tin liên quan đến hoạt động mua hàngnhư ai là người mua hàng? Phân công ai giám sát quá trình mua hàng? Tổ chức cóhiệu quả hoạt động mua hàng sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp được thuận lợi.
Đối với công tác lãnh đạo:
Nếu nhà cung cấp không đáp ứng không đáp ứng hàng hóa một cách kịp thời,đầy đủ, đúng thời gian sẽ gây khó khăn cho nhà quản trị thực hiện lãnh đạo các hoạtđộng kinh doanh theo đúng kế hoạch Vì vậy, nhà quản trị cần phải thường xuyên cậpnhật khả năng cung ứng của nhà cung cấp để đảm bảo cho hàng hóa được cung cấpđầy đủ và kịp thời hạn giao hàng cho đối tác của doanh nghiệp
Đối với công tác kiểm soát:
Nhà quản trị phải tiến hành kiểm tra, giám sát hàng hóa nhập về đảm bảo hàngnhập về đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng Hàng nhập về không đảm bảo về sốlượng, chất lượng và thời gian sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, do vậy việc kiểm soát quá trình giao nhận hàng hóa là khâu rất cầnthiết Mặt khác, kiểm soát các thông tin liên quan đến nhà cung cấp cũng rất quantrọng giúp doanh nghiệp có những biện pháp chủ động kịp thời để có thể ứng biến vớirủi ro có thể xảy ra trong quá trình giao nhận hàng hàng
b Đối với nhà cung cấp tài chính, bảo hiểm:
Nhà cung cấp tài chính, dịch vụ ngân hàng luôn là một yếu tố quan trọng tạonên thành công của doanh nghiệp vì nó quyết định đến công tác quản trị tài chính củadoanh nghiệp Họ đảm bảo cho tình hình tài chính ổn định và giảm thiểu rủi ro chodoanh nghiệp Nếu các nhà quản trị không có những bước tính toán và cân nhắc cẩnthận thì ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy cácnhà quản trị phải theo dõi sát xao tình hình biến động của nhà cung cấp tài chính, cáccông ty bảo hiểm…
c Nhà cung cấp nguồn nhân lực.
Yếu tố con người luôn là yếu tố được đặt lên hàng đầu Con người với sức laođộng của mình là đầu vào không thể thiếu đối với quá trình sản xuất kinh doanh củamọi doanh nghiệp Bởi vì không có lao động chân tay hay lao động trí óc của conngười thì không thể kết hợp các yếu tố đầu vào khác tạo ra sản phẩm và dịch vụ chấtlượng yêu cầu của khách hàng Con người là nhân tố cốt lõi nên các doanh nghiệp cầntuyển dụng nguồn nhân lực có trình độ tốt nhất bằng cách tạo mối quan hệ với công tymôi giới việc làm, các trường đào tạo để tìm kiếm nguồn nhân lực phù hợp với thựctrạng của công ty mình
Trang 212.4.3 Ảnh hưởng của các đối thủ cạnh tranh đến quản trị doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường không một nhà quản trị nào có thể coi thường môitrường cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh thường có những dạng sau: Nhóm đối thủ cạnhtranh trực tiếp, nhóm đối thủ cạnh tranh gián tiếp, đối thủ cạnh tranh trước mắt, đốithủ cạnh tranh lâu dài… Nghiên cứu kỹ lưỡng và vạch ra các đối sách cạnh tranh phùhợp luôn là một đòi hỏi khách quan cho các hoạt động quản trị ở mọi doanh nghiệp
Đối với hoạt động hoạch định:
Nếu trong một đoạn thị trường có nhiều đối thủ cùng tham gia sẽ làm giảmđáng kể thị phần của doanh nghiệp, dẫn đến giảm doanh thu bán hàng, giảm lợi nhuận
và gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển Sự cạnh tranh
có thể xảy ra trong quá trình mua và bán như sau:
- Cạnh tranh trong quá trình mua xảy ra khi mua đầu vào nhỏ hơn cầu Khi nàonguồn hàng khan hiếm, người cung ứng có thể độc quyền cung ứng các yếu tố đầuvào Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau bằng việc thu mua các yếu tố đầu vào với chấtlượng và số lượng hàng ưu đãi, giá cả hợp lý
- Cạnh tranh trong quá trình bán khi cung lớn hơn cầu thị trường Nếu cùngmột đoạn thị trường có càng nhiều đối thủ cạnh tranh cùng tham gia thì giảm đáng kểthị phần của doanh nghiệp, dẫn đến giảm doanh thu, giảm lợi nhuận và gây khó khăncho doanh nghiệp
- Để lấn át các đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp thực hiện hàng loạt cácchiến lược thị trường như chiến lược khác biệt hóa sản phẩm, chiến lược giá cả, chiếnlược phân phối… Khi thực hiện các chiến lược này nếu thành công sẽ bù đắp đượcchi phí hoạt động kinh doanh, mở rộng được quy mô, đảm bảo được vị thế cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường và ngược lại
- Đối thủ cạnh tranh cũng chính là đồng nghiệp của doanh nghiệp, cùng vớidoanh nghiệp tạo ra sức hấp dẫn khách hàng mua hàng
Doanh nghiệp cần phải tiến hành thay đổi chiến lược cạnh tranh cho phù hợp,
có nghĩa sẽ làm tăng chi phí cho công tác quản trị, đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh.Trong quá trình kinh doanh, đối thủ cạnh tranh có thể thực hiện chính sách ưu đãi,nâng cao dịch vụ khách hàng để tìm kiếm khách hàng mới tạo thêm nguồn lợi nhuậncho công ty họ Vì vậy trong mỗi quá trình hoạt động kinh doanh của mình, doanhnghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh phù hợp với thị trường để giành thị phần
Đối với công tác tổ chức:
Trước áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng đòi hỏi doanh nghiệp phải giảmthiểu tối đa chi phí bỏ ra, có chính sách kinh doanh phù hợp để tăng khả năng cạnh
Trang 22tranh trên thị trường Như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải cắt bớt các khâu không cầnthiết, tổ chức thực hiện đúng việc, đúng nội dung trong các hoạt động kinh doanh.Doanh nghiệp cần tổ chức hoạt động kinh doanh có hiệu quả là điều kiện cần thiết choviệc làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Đối với công tác lãnh đạo:
Cạnh tranh gay gắt khiến quá trình quản trị các hoạt động doanh nghiệp khákhăn hơn, lợi nhuận có nguy cơ bị giảm đi Do đó, đòi hỏi các nhà quản trị phải nhạycảm, linh hoạt để kịp thời đưa ra các chiến lược ứng phó với đối thủ cạnh tranh hiệntại và tiềm ẩn Trong công tác lãnh đạo, nhà quản trị phải có những quyết định nhanhchóng, kịp thời và chính xác để chớp lấy những cơ hội kinh doanh trước các đối thủcạnh tranh
Công tác kiểm soát:
Công tác kiểm soát phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất kinhdoanh để giảm thiểu những chi phí không cần thiết, phòng ngừa được những rủi ro cóthể xảy ra tạo uy tín với đối tác, nâng cao hiệu quả dịch vụ khách hàng so với đối thủcạnh tranh Doanh nghiệp cần bảo mật những thông tin chiến lược quan trọng, kiểmsoát chặt chẽ, tránh dò rỉ thông tin để đối thủ cạnh tranh không thăm dò được Bêncạnh đó doanh nghiệp cũng cần phải tìm cách kiểm soát các nguồn thông tin liên quanđến đối thủ cạnh tranh để có những chiến lược phản hồi một cách thích hợp
2.4.4 Ảnh hưởng của cơ quan nhà nước đến quản trị doanh nghiệp.
Đối với công tác hoạch định:
Nhà nước bằng việc ban hành hệ thống pháp luật, những chính sách về kinh tế,
về công nghệ, về văn hóa, xã hội… sẽ tạo ra những yếu tố trực tiếp tác động đến môitrường kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó định hướng cho các hoạt động củadoanh nghiệp Sự tác động này của cơ quan Nhà nước phản ánh sự tác động can thiệpthị trường của chủ thể quản lý vĩ mô đến hoạt động quản trị tại doanh nghiệp
Cơ quan Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh và đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của mọi loại hình doanh nghiệp
Cơ quan Nhà nước phải thông qua các đạo luật xác định rõ khái niệm “cạnh tranhkhông lành mạnh” và ngăn chặn nó xuất hiện nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh bìnhđẳng và lành mạnh Các cơ quan Nhà nước tiến hành sửa đổi, điều chỉnh hệ thốngpháp luật, ban hành các bộ luật hợp lý khuyến khích các thành phần kinh tế tham giavào hoạt động kinh doanh
Cơ quan Nhà nước đảm bảo cơ sở hạ tầng cho doanh nghiệp hoạt động nhưđường xá, cầu cống, điện nước, cơ sơ nghiên cứu, giáo dục, y tế… Đây là điều kiện
Trang 23thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển mở rộngthị trường của mình Bên cạnh những mặt tích cực thì các cơ quan Nhà nước cũng cónhững tác động, ảnh hưởng gây khó khăn cho doanh nghiệp như: Độc quyền một sốngành kinh tế, chính sách tăng thuế, thủ tục xuất nhập khẩu rườm rà….
Như vậy, doanh nghiệp cần phải cân nhắc hơn trong quá trình đưa ra các chiếnlược kinh doanh, xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với các chính sách của Nhànước để có những quyết định lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh phù hợp có thể nhậnđược sự giúp đỡ từ phía cơ quan Nhà nước
Đối với công tác tổ chức:
Việc tổ chức tham gia các lớp huấn luyện, tuyên truyền về chính sách, văn bảnpháp luật, khuyến khích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng pháp luật, hoànthành các nghĩa vụ về thuế Các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt được nhữngthay đổi trong các chính sách của Nhà nước theo từng thời kỳ kinh doanh để có nhữngbiện pháp ứng biến kịp thời Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp không tìm hiểu, cập nhậtkịp thời những thay đổi về chính sách tín dụng của Nhà nước sẽ khiên cho các doanhnghiệp không kịp trở tay Nhà nước đầu năm thì hỗ trợ lãi suất, khuyến khích cho vay,các doanh nghiệp đã đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh Nhưng đến cuối năm thìthắt chặt tín dụng một cách triệt để khiến các doanh nghiệp không thể vay được ngânhàng để thanh toán tiền mua hàng do chính sách thắt chặt tín dụng, dẫn đến hậu quảdây chuyền là làm giảm khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cần phải chú ý đến những thay đổi trong điều hành chính củaNhà nước để có những hoạt động tổ chức kinh doanh như thế nào cho phù hợp vớinhững thay đổi đó Nếu các nhà quản trị doanh nghiệp không quan tâm đến nhữngthay đổi trong chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước, không có những chia sẻ,những nhận định, đánh giá của mình về tác động của chính sách kinh tế đến doanhnghiệp sẽ không có những khuyến cáo kịp thời cho các cơ quan hoạch định chính sách
và điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp ở thế bị động, khó khăn và phát sinh thêm nhiều chi phí, làm giảmhiệu quả kinh doanh
Đối với công tác lãnh đạo.
Nếu các doanh nghiệp không kịp thời cập nhật, nắm bắt thông tin về nhữngthay đổi trong chính sách tín dụng sẽ khiến cho các doanh nghiệp không kịp trở taygây khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vìvậy, việc tiếp cận và cập nhật một cách nhanh chóng các thông tin thay đổi trong cácchính sách điều hành của Nhà nước là rất cần thiết Nhà quản trị phải lãnh đạo, chỉ
Trang 24dẫn cho nhân viên của doanh nghiệp hiểu và cập nhật kịp thời các chính sách, văn bảnpháp luật để đảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục vàđúng pháp luật.
Đối với công tác kiểm soát.
Nhà quản trị của doanh nghiệp phải tổ chức việc theo dõi, kiểm tra nghiệp vụcủa nhân viên để có những biện pháp chỉ đạo, uốn nắn kịp thời những lệch lạc trongcác hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân viên Doanh nghiệp phải thường xuyêngiám sát các chính sách của nhà nước để xây dựng kế hoạch kinh doanh hiệu quả NếuNhà nước đưa ra các chính sách hỗ trợ lãi suất, khuyến khích sản xuất, lưu thông hànghóa, doanh nghiệp nên biết tận dụng những hỗ trợ từ Nhà nước và các cơ quan tàichính để mở rộng sản xuất kinh doanh Nếu Nhà nước đưa ra chính sách thắt chặt tíndụng và thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng sẽ tác động rất lớn đến các doanhnghiệp có nguồn huy động và vay vốn chủ yếu là của các tổ chức tín dụng Các doanhnghiệp cần tiến hành tiết kiệm chi phí, thận trọng trong sử dụng vốn, đúng việc, đúngnội dung đảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra bìnhthường Do vậy, các doanh nghiệp cần phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sátcác thay đổi trong chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước để có những biện phápthay đổi kịp thời đảm bảo lợi nhuận theo đúng kế hoạch của doanh nghiệp
Trang 25CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẶC THÙ TỚI QUẢN TRỊ CÔNG
TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU TẠP PHẨM.
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề.
Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinhdoanh đặc thù cụ thể là khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh và các cơquan hữu quan của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm thì em đã tiến hànhnghiên cứu bằng cách vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.
a Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Phương pháp nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu các dữliệu chưa xử lý (hoặc gọi là dữ liệu thô) hoặc có thể là dữ liệu đã xử lý Dữ liệu thứcấp là nguồn dữ liệu có sẵn, không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu nhận Vìvậy, các dữ liệu thứ cấp của bài luận văn xuất phát từ việc thu thập các thông tin thứcấp của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm từ năm 2008 đến năm 2010 Nguồn
dữ liệu này bao gồm:
+ Nguồn tài liệu bên trong doanh nghiệp: Một số báo cáo kết quả tình hình hoạtđộng kinh doanh, nghiên cứu thị trường của công ty những năm gần đây, báo cáo vềtình hình tài chính của công ty…
+ Nguồn tài liệu bên ngoài doanh nghiệp: Đó là các bài báo hoặc các tạp chíkhoa học chuyên ngành và tạp chí mang tính hàn lâm có liên quan, tài liệu giáo trìnhhoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các báo cáo của chínhphủ, bộ ngành, số liệu của các cơ quan thống kê về tình hình kinh tế xã hội, ngân sáchquốc gia, các bài luận văn của sinh viên khóa trước trong trường Đại học Thương Mại
Phương pháp nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu kháđơn giản, tiết kiệm kinh tế và dễ chấp nhận Song trong quá trình nghiên cứu phải đảmbảo tính chính xác của dữ liệu, phải kiểm tra xem các kết quả nghiên cứu của ngườikhác là dựa vào dữ liệu thứ cấp hay sơ cấp và phải kiểm tra dữ liệu gốc
b Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ đối tượng nghiên cứu, là các dữ liệu gốc,chưa được xử lý Vì vậy, các dữ liệu sơ cấp giúp người nghiên cứu đi sâu vào đối
Trang 26tượng nghiên cứu Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp nên độ chính xác khá cao,đảm bảo tính cập nhật nhưng lại mất thời gian và tốn kém chi phí để thu thập Đề tìmkiếm và thu thập các dữ liệu sơ cấp của công ty cổ phần XNK tạp phẩm em đã tiếnhành các phương pháp nghiên cứu như sau: quan sát hiện trường, phỏng vấn và điềutra trắc nghiêm.
+ Quan sát hiện trường: tiến hành theo dõi, quan sát về con người và hoàn cánhbao quanh doanh nghiệp em nghiên cứu để xem mọi người xung quanh nói gì về công
ty, phân tích những ghi chép có trong thời gian gần đây từ những bản quyết toán tàichính, những dữ liệu kinh doanh… Quan sát, nhận thức và ghi lại thái độ của kháchhàng khi làm việc với doanh nghiệp…
+ Phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn cá nhân trực tiếp với một số nhân vật tiêubiểu của công ty (phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh, kế toán, nhân viên kinhdoanh…) Câu hỏi phỏng vấn là những câu hỏi mở chủ yếu tập trung đến các vấn đề
có liên quan tới các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù, giải pháp nhằm hoàn thiệnquản trị công ty thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinhdoanh đặc thù
+ Điều tra trắc nghiệm: Lập bảng câu hỏi khoảng 16 câu hỏi trắc nghiêm (câuhỏi đóng) và phát bảng câu hỏi này cho 15 nhân viên của công ty (bao gồm quản lý,nhân việc thừa hành) Các câu hỏi chủ yếu nhấn mạnh về ảnh hưởng của các yếu tốmôi trường kinh doanh đặc thù giống như phần câu hỏi phỏng vấn song các câu hỏi sẽchi tiết và cụ thể hơn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
3.1.2 Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu.
a Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu sơ cấp.
Phương pháp phiếu điều tra: Tiến hành xem tổng số phiếu thu về đối chiếu vớitổng số phiếu phát ra, tiến hành tổng hợp và phân tích các kết quả mà phiếu điều tranhận được Mỗi phương án xem có bao nhiêu người lựa chọn, từ đó đưa ra các nhậnxét về kết quả điều tra
Phương pháp phỏng vấn: Phân tích những nhận xét, nhận định và đánh giá củacác chuyên gia về vấn đề phỏng vấn từ đó rút ra các kết luận chung về ảnh hưởng củacác yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù đến quản trị Công ty Cổ phần XNK tạpphẩm
b Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu thứ cấp.
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích giữa các dữliệu, chỉ số nhằm đánh giá được sự thay đổi, tăng trưởng qua các năm Hoặc so sánh
có thể tiến hành so sánh theo cặp, để đối chiếu xem giữa các bộ phận, lĩnh vực khác
Trang 27nhau thì khác nhau như thế nào Khi tiến hành phương pháp này thường là để so sánh
số liệu giữa các năm với nhau, năm sau so với năm trước xem tình hình tăng giảm cácchỉ tiêu như thế nào Ví dụ về chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợinhuận, chi phí kinh doanh…
Phương pháp phân tích tổng hợp: Tiến hành đánh giá một cách tổng quát, nhất
là các dữ liệu thứ cấp thu được sau đó tiến hành tổng hợp lại để rút ra các kết luận cầnthiết cho việc viết luận văn
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù đến quản trị doanh nghiệp.
3.2.1 Giới thiệu sơ lược về Công ty cổ phần XNK tạp phẩm.
3.2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty cổ phần XNK tạp phẩm, tên giao dịch TOCONTAP HANOI, trướcđây là một doanh nghiệp Nhà Nước trực thuộc Bộ Thương Mại được thành lập từ05/03/1956 Năm 2006 công ty được chuyển sang công ty cổ phần Trong thời kỳkhác nhau, sự phát triển kinh doanh các mặt hàng XNK của Tocontap đã không ngừngphát triển và đáp ứng tương đối tốt cho các nhu cầu của nền kinh tế Hơn 50 năm hoạtđộng, công ty đã thiết lập được một mạng lưới kinh doanh với các bạn hàng trải dàitrên hơn 40 nước và khu vực trên toàn cầu Công ty tự hào là một trong những công tyXNK được thành lập sớm nhất tại Việt Nam và có kinh nghiệm nhất trong lĩnh vựckinh doanh XNK Công ty luôn đảm bảo văn minh thương mại, tạo uy tín trên thươngtrường với khẩu hiệu:”Uy tín – Chất lượng – Hiệu quả” đó là phương châm hành độngcủa công ty
Tên doanh nghiệp phát hành: Công ty cổ phần XNK tạp phẩm Hà Nội
Tên giao dịch: VIETNAM SUNDRIES IMPORT & EXPORT JOINT STOCK COMPANY.Tên viết tắt: TOCONTAP HANOI
Địa chỉ: 36 Bà Triệu, Hàng Bài, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: +84-4 38253112 – Fax: +84-4 38255917
Email: tocontap@fpt.vn – Website: http://www.tocontaphanoi.com
Nhân lực: Qua điều tra số liệu từ phòng nhân sự.
Tổng số CBCNV là 80 người, trong đó:
- Số nhân lực có trình độ đại học trở lên là 62 người
- Số nhân lực tốt nghiệp khối kinh tế và QTKD là 40 người trong đó từ đại họcThương Mại là 6 người
Trang 283.2.1.2 Mục tiêu hoạt động của công ty.
Công ty được thành lập từ việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước nhằmnâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thay đổi phương thức quản lývới nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động tạo động lực mạnh mẽ và
cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả lao động, tri thức,vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp
Tạo điều kiện huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hộitrong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Phát huy vai trò làm chủ thực sự của các cổ đông, tăng cường giám sát của nhàđầu tư đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của Nhà nước, doanhnghiệp, Nhà đầu tư và Người lao động
3.2.1.3 Cơ cấu tổ chức.
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức TOCONTAP HANOI.
3.2.1.4 Mặt hàng kinh doanh của công ty.
Các mặt hàng kinh doanh chính của công ty bao gồm:
- Kinh doanh hàng nông – lâm – hải sản, thực phẩm, công nghệ phẩm, sản phẩmdệt, may, da giầy (trừ các loại lâm sản Nhà nước cấm)
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
XNK 6XNK 7Kho vận
Chi nhánhHải Phòng
Chi nhánh
TP HCM
Trang 29- Kinh doanh vật tư, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu xây dựng, hóa chất (trừhóa chất Nhà nước cấm), kim khí điện máy, phương tiện vận tải.
- Kinh doanh khách sạn và dịch vụ khách sạn, đại lý bán buôn, bán lẻ hàng hóa(không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát karaoke, vũ trường)
- Tổ chức gia công, chế biến, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết với các tổ chứctrong và ngoài nước
- Kinh doanh đồ uống, rượu bia, nước giải khát (không bao gồm kinh doanhquán bar)
- Kinh doanh máy móc vật tư, trang thiết bị y tế, thiết bị ngành in
- Mua bán sắt thép, phế liệu, phá dỡ tàu biển cũ làm phế liệu trong nước
- Kinh doanh phân bón máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp (không bao gồmthuốc bảo vệ thực vật)
- Kinh doanh các dụng cụ, thiết bị và máy móc trong ngành dịch vụ…
- Kinh doanh các thiết bị phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn
- Kinh doanh gỗ ép định hình
- Sản xuất và mua bán hàng thêu, hàng may mặc
3.2.2 Đánh giá tổng quan tình hình kinh doanh và ảnh hưởng của môi trường đến quản trị Công ty.
3.2.2.1 Đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của trung tâm.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước, TOCONTAP HANOI đã khôngngừng phát triển ổn định về mọi mặt Hơn 50 năm hoạt động, công ty đã thiết lậpđược một mạng lưới kinh doanh với các bạn hàng trải dài trên hơn 40 nước và khuvực trên toàn cầu Công ty tự hào là một trong những công ty XNK được thành lậpsớm nhất tại Việt Nam và có kinh nghiệm nhất trong lĩnh vực kinh doanh XNK Trongquan hệ thương mại, Công ty sử dụng rất nhiều loại hình như: xuất khẩu và nhập khẩuthông thường, gia công, đổi hàng, sản xuất theo mẫu, liên doanh, liên kết… Công tymong muốn mối quan hệ buôn bán với các bạn bè gần xa trên tinh thần bình đẳng haibên cùng có lợi Công ty dành cho bạn hàng đến thăm và làm việc với công ty mộttình cảm chân thành và sự hợp tác toàn diện Doanh thu và thị phần của Công tykhông ngừng tăng lên, thị trường không ngừng được mở rộng Không chỉ đa dạng vềmặt hàng kinh doanh mà số lượng hàng mua vào bán ra tăng rất nhanh làm cho doanhthu cũng không ngừng tăng lên như doanh thu năm 2010 đã lên tới hơn 2299 tỉ đồng,hầu như không năm nào công ty bị lỗ Tập khách hàng của Công ty không ngừng được
mở rộng bao gồm cả khách hàng trong nước và khách hàng nước ngoài Không chỉ cókhách hàng tại địa bàn Hà Nội, Công ty còn thiết lập được các kênh phân phối tại các
Trang 30địa bàn lân cận Hà Nội như Hưng Yên, Hải Phòng… Với tinh thần cố gắng phấn đấukhông ngừng trước những yếu tố kinh doanh gây khó khăn, thử thách thì Công ty đãbiết phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn để đưa Công ty tiếp tục phát triển, hoạtđộng kinh doanh tăng trưởng mạnh, có hiệu quả, đảm bảo thu nhập ổn định cho ngườilao động, đảm bảo quyền lợi cổ tức cho các cổ đông và hoàn thành nghĩa vụ đóng gópcho Nhà nước.
3.2.2.2 Đánh giá khái quát về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến quản trị trung tâm.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 đã dầnđược khắc phục Các giải pháp cấp bách của chính phủ từ đầu năm 2009 như đưa racác gói kích thích kinh tế trị giá tới 8 tỉ USD để hỗ trợ lãi suất, khuyến khích cho vay,tăng cường đầu tư công, giảm trừ thuế giá trị gia tăng, giảm, hoãn thuế thu nhập doanhnghiệp, thuế thu nhập cá nhân… Đã phát huy tác dụng kịp thời trong việc suy giảmkinh tế Tuy nhiên từ cuối năm 2009, việc điều hành chính sách đã thay đổi, tập trungvào kiểm soát lạm phát hơn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính phủ đưa ra các biệnpháp kiên quyết để thắt chặt tín dụng ngay lập tức đã làm cho doanh nghiệp phải laođao chống đỡ, Nhiều ngân hàng ngừng ngay lập tức việc cho vay, nhiều doanh nghiệpkhông vay được vốn dù có tài sản thế chấp và hạn mức tín dụng Khó khăn về vốn đãtác động dây chuyền đến nhiều ngân hàng và doanh nghiệp, trong đó có công ty cổphần XNK tạp phẩm
Bắt đầu từ năm 2010, chính phủ đã không áp dụng chính sách miễn giảm thuếnhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế trong năm 2009 gồm thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và lệ phí Tuy nhiên chính phủ đồng ý tiếptục thực hiện các biện pháp hoàn thuế, giãn thời gian nộp thuế nhập khẩu như năm
2009 Ngoài ra, tình trạng khan hiếm ngoại tệ cộng với giá các loại ngoại tệ vẫn tiếptục tăng, tỉ giá các loại ngoại tệ USD, EURO, JPY biến động thường xuyên ảnh hưởngrất nhiều đến giá thành nhập khẩu và mang lại những rủi ro rất lớn trong kinh doanh
do đã bán hàng với tỉ giá thấp nhưng khi thanh toán cho ngân hàng lại chịu tỉ giá cao
Trước những tác động tiêu cực của môi trường đó, đòi hỏi Công ty phải có kếhoạch xây dựng kinh doanh thay đổi linh hoạt để kịp thời ứng phó Công ty cần đầu tưhơn cho công tác hoạch định, kế hoạch kinh doanh đưa ra phải sát với thực tế hơn, cóthể giảm mục tiêu doanh thu, lợi nhuận để đảm bảo ổn định mua bán trên thị trường.Trong quá trình hoạt động kinh doanh công ty cải tiến công nghệ nhằm bắt kịp côngnghệ của thời đại và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như kỹ thuậtmới, vật liệu mới, các phần mềm ứng dụng… Việc nắm bắt kịp thời sự đổi mới của
Trang 31khoa học công nghệ, công ty có điều kiện ứng dụng các thành tựu công nghệ giúpcông ty tăng khả năng cạnh tranh, phát triển kinh doanh hơn Bên cạnh đó, công tyluôn mở các lớp đào tạo, huấn luyện cho cán bộ công nhân viên nghiệp vụ để ứngdụng công nghệ mới.
Công tác tổ chức trong thời kỳ lạm phát và khủng hoảng cũng phải thay đổitheo hướng hoàn thiện hơn Công ty cần tích cực tổ chức các sự kiện khách hàng, giaolưu với khách hàng, cung cấp cho họ thông tin về sản phẩm, kích thích nhu cầu của
họ Năm 2011 được dự báo là thị trường măt hàng nguyên vật liệu xây dựng, hóa chấttăng lên cộng với thị trường lớn của trung tâm Hà Nội luôn có sức mua lớn do ngườidân ở đây càng lúc càng nhiều nên yêu cầu về nhà ở tăng cao… sẽ là cơ hội kinhdoanh với trung tâm trong thời gian tới Khách hàng của Công ty trong thời gian tới sẽtăng không chỉ ở khu vực Hà Nội mà còn ở tỉnh lân cận Hà Nội và ở thành phố HồChí Minh Cùng với nhu cầu về thị trường ngày càng tăng là sự tăng thêm đối thủcạnh tranh về số lượng và chiến lược cạnh tranh, nhất là sự cạnh tranh ngày càng lớntại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong thời gian tới, Công
ty cần tích cực nâng cao hiệu quả nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để lường trước đượcnhững chiến lược của đối thủ để có những biện pháp ứng phó kịp thời Đồng thời,Công ty cần thường xuyên kiểm tra, cập nhật những thay đổi về chính sách kinh tế,các điều luật thương mại của cơ quan Nhà nước để có những điều chỉnh thích hợp chohoạt động sản xuất kinh doanh được thuận lợi theo đúng pháp luật
3.3 Kết quả điều tra và phỏng vấn tại công ty cổ phần XNK tạp phẩm.3.3.1 Kết quả điều tra, phỏng vấn mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù của công ty.
Sau khi tiến hành phát 15 phiếu điều tra trắc nghiệm cho 15 cán bộ công nhânviên của công ty (gồm quản lý và nhân viên thừa hành), được sự ủng hộ của các anhchị ở công ty em đã thu về 15/15 phiếu Dưới đây là kết quả tổng hợp từ các phiếuđiều tra tại công ty:
3.3.1.1 Kết quả tổng hợp phiếu điều tra trắc nghiệm khách hàng.
73,33% số phiếu cho thấy rằng khách hàng mua hàng của Công ty với mụcđích bán lại hàng, 26,67% khách mua hàng phục vụ cho mục đích sản xuất
33,33% khách hàng có thời gian gắn bó với Công ty từ 5 – 10 năm, 53,33%khách hàng gắn bó từ 2 – 5 năm, còn 13,33% khách hàng gắn bó với Công ty từ 1 – 2năm Khách hàng lâu năm của Công ty thường là những đại lý, siêu thị, bên cạnh đóthời gian gần đây Công ty còn thu hút thêm một số khách hàng là các công ty sảnxuất, xây dựng mua hàng về phục vụ cho sản xuất
Trang 3220% khách hàng mua hàng thường thanh toán ngay nếu mua với giá trị thấp,53,33% khách mua hàng thanh toán > 50%, còn 26,67% khách thanh toán < 50%.
Sơ đồ 3.1.1.1 Kết quả đánh giá mức độ của khách hàng với các chỉ tiêu
SP TL(%)
SP TL(%)
Nhận xét: Thái độ phục vụ của nhân viên và thời gian giao hàng là hai tiêu chí
mà khách hàng đánh giá cao ở Công ty cổ phần XNK tạp phẩm chiếm hơn 80% ở mức
5 13,33% khách hàng cho rằng chất lượng giao hàng và thời gian giao hàng đều bìnhthường (mức 3) 66,67% khách hàng đánh giá tốt đối với chỉ tiêu giá cả dịch vụ, vớigiá cả dịch vụ giống như với các công ty khác trên thị trường Như vậy về cơ bảnCông ty được khách hàng đánh giá khá tốt, tuy nhiên trong thời gian tới công ty cần
có chính sách giảm giá thành dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Do khối lượng hàng yêu cầu nhập về thường lớn và hầu hết khách hàng ở khuvực Hà Nội nên 100% hàng hóa đặt về đều do khách hàng tự vận chuyển
3.3.1.2 Kết quả điều tra, khảo sát nhà cung cấp.
60% nhà cung cấp cho Công ty có mối quan hệ từ 1 – 2 năm, 33,33% có quan
hệ từ 2 – 5 năm còn 6,67% có quan hệ từ 5 – 10 năm Hầu hết các nhà cung cấp đềuđạt chứng chỉ ISO 2001 – 9000
100% sản phẩm mà nhà cung cấp cung ứng cho Công ty đều là sản phẩm donhà ung cấp tự sản xuất
46,67% thời gian và địa điểm giao hàng thường là do khách hàng yêu cầu còn53,33% là do Công ty thỏa thuận với nhà cung cấp để đảm bảo có hàng giao chokhách hàng đúng thời hạn
Sai hẹn trong giao hàng là điều mà không doanh nghiệp nào muốn, song trongthời gian hợp tác có tới gần13,33% nhà cung cấp vi phạm thời hạn giao hàng với
Trang 33Công ty ít nhất một lần do tác động của những yếu tố khách quan như tình hình chínhtrị, thiên tai, bão lũ ….
Khi được hỏi về mức nợ lại tiền hàng tối đa của nhà cung cấp thì 66,67% sốphiếu cho rằng họ có thể cho Công ty nợ tối đa từ 40 – 50% tiền hàng và tối thiểu là10% Còn 33,33% cho là tiền hàng cho Công ty nợ tối đa là 30% và tối thiểu là 5%
93,33% số phiếu cho rằng mức chiết khấu của Công ty so với giá niêm yết là
10 – 20% và 6,67% là chiết khấu từ 20 – 30%
Để tạo dựng mối quan hệ làm ăn lâu dài, tốt đẹp với nhau các doanh nghiêp chorằng cần phải tìm hiểu thông tin về nhau, tạo điều kiện giao lưu với nhau
3.3.1.3 Kết quả điều tra nhà quản trị.
Công tác nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đặc thùcủa công ty có 13,33% cho rằng công tác nghiên cứu này được tiến hành rất tốt, 40%tốt, 33,33% trung bình và 13,33% yếu
Bảng 3.3.1.3.a: Đánh giá của công ty về quan hệ của mình với các đối tượng
SP TL
(%)
SP TL(%)
Nhận xét: Theo kết quả trên ta thấy rằng quan hệ giữa Công ty với khách hàng, nhà
cung ứng và cơ quan Nhà nước là khá tốt nhất là với các cơ quan Nhà nước Công tyluôn hoạt động theo đúng pháp luật, không gian lận thương mại, áp dụng đúng thuế
Cơ quan Nhà nước có ảnh hưởng khá lớn đến công tác hoạch định chiến lược kinhdoanh của Công ty, do vậy việc tạo mối quan hệ tốt đẹp với cơ quan Nhà nước giúpCông ty có thể nắm bắt được những đổi mới về cơ chế, chính sách điều hành nền kinh
tế của Nhà nước để có những kế hoạch hành động kịp thời, đảm bảo hoạt động sảnxuất kinh doanh diễn ra thuận lợi Bên cạnh đó, khách hàng và nhà cung cấp cũng đưađến cho Công ty những hợp đồng kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho Công ty nênCông ty cũng cần thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài, tạo hình ảnh tốt trong mắtkhách hàng và nhà cung cấp, tạo tiền đề cho những lần hợp tác sau Tuy nhiên, Công