- Cải tiến nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, theo đó phải tăng cường tiến hành các nội dung chuyên sâu như: rút kinh nghiệm các giờ dạy thao giảng, quy định cụ thể về số giờ dự tối thiểu[r]
Trang 1UBND TỈNH QUẢNG NINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số 2723/SGDĐT- GDTrH
V/v hướng dẫn tổ chức dạy học
môn Ngữ văn năm học 2012-2013
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quảng Ninh, ngày 28 tháng 09 năm 2012
Kính gửi :
- Các Phòng Giáo dục và Đào tạo;
- Các Trường trung học phổ thông;
- Các Trường phổ thông dân tộc nội trú
I Yêu cầu chung
Thực hiện theo chỉ đạo tại công văn số 2135/SGD&ĐT-GDTrH ngày 26/7/2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc hướng dẫn thực hiện hệ thống hồ sơ trong trường trung học từ năm học 2011-2012; Công văn 2391/SGD&ĐT- GDTrH ngày 24/8/2012 của Sở GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2012-2013 và các nội dung chuyên môn đã được Sở GD&ĐT tập huấn
II Yêu cầu cụ thể
1 Thực hiện phân phối chương trình
Các trường THCS, THPT chủ động xây dựng phân phối chương trình chi tiết
môn Ngữ văn phù hợp với địa phương, phù hợp với trường trên cơ sở Chương trình
môn Ngữ văn toàn cấp học do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 và được điều chỉnh nội dung dạy học tại
công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Phân
phối chương trình môn Ngữ văn do Sở GD&ĐT biên soạn năm 2011 theo tinh
thần chỉ đạo tại công văn số 2391/SGD&ĐT- GDTrH ngày 24/8/2012 Riêng trường THPT Chuyên Hạ Long xây dựng thêm phân phối chương trình cho lớp
Chuyên Văn với đủ các chuyên đề trong Chương trình chuyên sâu mà Bộ GD&ĐT
đã qui định cho trường Chuyên theo công văn số 10803/BGDĐT - GDTrH ngày 16/12/2009
2 Đổi mới phương pháp dạy - học
Bám sát các nội dung trong chuẩn kiến thức - kĩ năng để soạn bài, giảng dạy
và kiểm tra, đánh giá học sinh Cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu giảm tải theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT
2.1 Soạn giáo án
Thực hiện theo khung giáo án đã qui định chung tại công văn số 2135/SGD&ĐT-GDTrH ngày 26/7/2011 nêu trên của Sở GD&ĐT; theo chuẩn kiến thức- kĩ năng; thể hiện được việc đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với
đặc thù phân môn và đặc trưng trong từng bài
Yêu cầu cụ thể các bước trong giáo án môn Ngữ văn như sau:
Trang 2* Về mục tiêu cần đạt: Thể hiện bằng các động từ để khẳng định về kiến thức, kĩ năng và thái độ mà người học sẽ phải đạt được ở mức độ nhất định sau tiết học:
+ Đối với nhóm mục tiêu kiến thức:
- Mức độ nhận biết: phát biểu, liệt kê, mô tả, trình bày, nhận diện,
- Mức độ thông hiểu: hiểu, nắm được, phân tích, so sánh, xác định,
- Mức độ vận dụng vào các tình huống mới: giải thích, chứng minh, vận dụng,
+ Đối với nhóm mục tiêu kĩ năng có 02 mức độ: biết cách làm hoặc làm thành thạo một kĩ năng trong cảm thụ văn bản, tạo lập văn bản,
+ Đối với nhóm mục tiêu thái độ: hưởng ứng, trân trọng , tự hào, yêu quí, phê phán,
* Công tác chuẩn bị (đối với giáo viên, nhóm học sinh và cá nhân học sinh) bao gồm sách giáo khoa, bài soạn; các thiết bị dạy học khác như: biểu bảng, tranh
vẽ, phiếu học tập, máy chiếu projector,
* Phương pháp dạy học
Dự kiến phương pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học, đặc thù bộ môn, năng lực học sinh, điều kiện dạy học, khả năng của giáo viên,…
* Tiến trình dạy học - giáo dục
+ Trong từng hoạt động dạy - học cần thể hiện rõ sự điều khiển của GV và quá trình chiếm lĩnh kiến thức của HS, cũng như kết quả học tập tương ứng của HS
+ Trình bày nội dung bài mới:
- Đối với giờ Đọc - hiểu văn bản: giữ nguyên cách trình bày đi từ Giới
thiệu chung đến Đọc - hiểu văn bản và Tổng kết.
- Đối với giờ lí thuyết Tiếng Việt, Tập làm văn: điều chỉnh lại cách trình bày
theo trật tự sắp xếp trong sách giáo khoa
+ Hướng dẫn học bài và soạn bài cần được dành thời gian trong khoảng 3
-5 phút để thực hiện hiệu quả
* Về rút kinh nghiệm
Phần này được để trống và được cập nhật sau khi thực hành giáo án trên lớp, thường bao gồm những tồn tại, nhược điểm, nguyên nhân và cách khắc phục; những điểm tốt cần phát huy,…
Lưu ý
- Trình bày bài soạn của những bài có từ 02 tiết trở lên: Các phần Mục tiêu
cần đạt, Công tác chuẩn bị, Phương pháp dạy học giáo viên có thể ghi chung vào
phần đầu của bài soạn, phần Tiến trình bài dạy - Giáo dục phải ghi rõ tiết 1, tiết 2,
tiết 3 vào đầu mỗi tiết ; các giáo viên dạy cùng ban, cùng khối lớp thống nhất
phân tiết hợp lý và lưu trong hồ sơ của tổ chuyên môn các bài đã tách cùng với nội dung của mỗi phần
- Đối với bài Tự học có hướng dẫn, giáo viên cần thể hiện rõ trong giáo án,
dành thời lượng nhất định (khoảng 5-8 phút) hướng dẫn ngắn gọn về cách thức học bài cho HS
- Đối với bài Chương trình địa phương, giáo viên thực hiện bộ tài liệu dạy
học Chương trình địa phương Ngữ văn cấp THCS do Sở GD&ĐT biên soạn
Trang 3- Đối với bài Đọc thêm, giáo viên có thể linh hoạt trong Tiến trình bài
dạy-Giáo dục nhưng cần lựa chọn phương pháp phù hợp hướng dẫn học sinh vận dụng lí
thuyết đọc - hiểu thể loại để khám phá bài học
2.2 Hoạt động dạy học
2.2.1 Sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT
- Tận dụng triệt để thiết bị đã có của nhà trường như máy chiếu, băng hình, tranh ảnh trong hoạt động dạy học, đồng thời khuyến khích việc tự làm thiết bị
và đồ dùng dạy học của giáo viên và học sinh
- Tài liệu giảng dạy tối thiểu cần có: Sách giáo khoa, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức - kĩ năng môn Ngữ văn, Tài liệu địa phương môn Ngữ văn (đối với cấp THCS), Sách giáo viên
- Khi ứng dụng CNTT, giáo viên phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong nghiên cứu và thiết kế bài giảng để hình thành được cách dạy khoa học, nghệ thuật nhất ở từng bước lên lớp, nhằm đảm bảo yêu cầu về giờ dạy trong 45 phút phải đủ các bước lên lớp, đủ kiến thức cơ bản, nổi rõ trọng tâm, yêu cầu về thực hành, vận dụng tốt kiến thức đã học v.v để thể hiện đúng đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học mới: tích cực và tích hợp Sử dụng trình chiếu ở mức độ nhất định sao cho học sinh nắm được nội dung của bài học, ghi chép được những kiến thức
cơ bản để về nhà có thể học được bài chắc chắn, kiến thức chính xác (tránh tình trạng giáo viên đưa nội dung kiến thức lên trình chiếu rồi tắt đi quá nhanh khiến học sinh không kịp lĩnh hội hết vấn đề, lạm dụng trình chiếu khiến giờ học thụ động: xem-chép, cũng cần tránh sử dụng trình chiếu lấy lệ, hiệu quả ít) Phát huy tối đa tác dụng của bài tập hay vấn đề đưa lên trình chiếu, chú ý khai thác, phục
vụ cho nhiều khía cạnh của bài học: các kênh hình, kênh tiếng khác như tranh ảnh, phim, ca khúc, âm nhạc cần được giáo viên cân nhắc lựa chọn và sử dụng có hiệu quả; tránh lạm dụng các hiệu ứng cầu kì, các kiểu chữ, phông nền, màu…không hợp lí, làm phân tán sự chú ý của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức Giáo viên nên có những lưu ý, hướng dẫn học sinh về cách nghe và ghi chép nhịp nhàng Phần trình chiếu chỉ là hỗ trợ như là bảng phụ, nội dung bài học cần được trình bày hệ thống, đầy đủ trên bảng đen
- Tổ bộ môn cần thảo luận lựa chọn bài dạy có ứng dụng CNTT, tránh hiện tượng quá lạm dụng và mang tính hình thức
2.2.2.Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp
- Xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể của cá nhân theo từng bài, từng tuần thật cụ thể
- Kết hợp hiệu quả phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp
và kĩ thuật dạy học hiện đại Giáo viên sử dụng hợp lý sách giáo khoa khi giảng bài trên lớp, tránh tình trạng yêu cầu học sinh ghi chép quá nhiều, dạy học thuần tuý theo lối đọc - chép, ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất; chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động tự học, hứng thú trong học tập của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên
Trang 4- Giáo viên sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích, động viên học sinh học tập; chú trọng tổ chức hợp lý cho học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm; rèn luyện kỹ năng tự học, tạo điều kiện cho học sinh tự nghiên cứu;
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, đặc điểm, trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường, địa phương Để đạt
chuẩn trong một giờ dạy, có thể tham khảo hướng dẫn sau:
+ Giới thiệu bài mới: Quán triệt tinh thần tích hợp từ kiến thức đã biết, nêu tình huống có vấn đề một cách hấp dẫn …
+ Dạy bài mới:
Nguyên tắc là dạy theo đặc trưng phân môn
- Các giờ lí thuyết Tiếng Việt, Tập làm văn phương pháp chung là quy nạp,
từ phân tích mẫu đến luyện tập, thực hành
- Giờ Đọc - hiểu văn bản phương pháp chung là dẫn dắt học sinh đọc văn,
phát hiện ý nghĩa trong các ngữ cảnh Chú ý việc đọc đáp ứng yêu cầu đọc đúng, đọc hay, đọc gắn với hiểu văn bản Phần chú thích chỉ nên giảng những chú thích khó, những chú thích quan trọng liên quan đến nội dung cơ bản của văn bản Khi phân tích để hiểu văn bản cần quán triệt nguyên tắc đối thoại để giúp học sinh phát hiện chỗ không hiểu, chỗ mâu thuẫn, phi lôgíc trong văn bản để tạo thành vấn đề kích thích hứng thú tìm hiểu của học sinh; không bao giờ cung cấp ngay kết quả đọc - hiểu cho học sinh Cần vận dụng những điều đã biết, đã cung cấp để lí giải những chỗ khó hiểu theo đặc trưng phân môn, theo đặc trưng thể loại Phải có câu hỏi đi từ phân tích, giảng giải nắm được nghĩa lí của kết cấu, hình tượng, từ ngữ rồi mới đến câu hỏi bình Lời bình trước hết phải được đặt ra cho học sinh, học sinh nói chưa đạt, chưa hay, chưa thoả đáng, giáo viên phải có lời bình bổ sung nâng lên (lời bình này cần phải được ghi trong giáo án, lời bình có thể mượn lời
của người khác) Phải đạt được đích của mỗi giờ Đọc - hiểu văn bản: học sinh cảm
nhận được nội dung tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, những sáng tạo nghệ thuật mà tác giả thể hiệntrong tác phẩm
-Khi trình bày bảng phải dựa vào Yêu cầu cần đạt của bài dạy để xác định
rõ những nội dung nào được trình bày và lưu lại trên bảng trong tiết học nhằm giúp học sinh có thể rút ra kiến thức cơ bản và học bài có hiệu quả
- Chú trọng tích hợp kĩ năng sống, nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thông qua các bài dạy trên lớp
2.3 Kiểm tra - Đánh giá
2.3.1 Hình thức kiểm tra
* Kiểm tra thường xuyên:
- Kiểm tra miệng: Có thể kiểm tra đầu giờ hoặc tiến hành trong cả quá trình của tiết học mới
- Kiểm tra 15 phút: Chọn những hình thức để cùng một lúc kiểm tra được nhiều học sinh vừa nhanh chóng vừa có hiệu quả Có thể sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận tuỳ thuộc vào mục đích và số đơn vị kiến thức
mà giáo viên dự định kiểm tra, đánh giá học sinh Với hình thức trắc nghiệm, nên
Trang 5tăng cường sử dụng câu hỏi điền khuyết, nối ý, ghép đôi và câu hỏi nhiều lựa chọn (không nên sử dụng câu hỏi đúng/sai) Hình thức tự luận cần tránh những câu hỏi thuần tuý lí thuyết, học thuộc máy móc, nên tăng cường bài tập nhận diện và bài tập vận dụng
* Kiểm tra định kì:
- Hình thức kiểm tra tự luận
- Phải xây dựng ma trận đề dựa trên Chuẩn KT-KN và thống nhất trong tổ (nhóm) chuyên môn ở mỗi nhà trường
- Giáo viên cần chú ý đổi mới cách hỏi, cách nêu vấn đề Đề cần kết hợp
dạng câu hỏi kiểm tra thông thường và câu theo hướng mở Loại câu hỏi mở chiếm tỉ
lệ điểm thích hợp để khuyến khích học sinh khá, giỏi và phân loại đối tượng Chú ý
kiểm tra mức độ thông hiểu và vận dụng, đảm bảo mức độ nhận biết Cần chú ý đến
việc phân loại năng lực học tập bộ môn của học sinh trong kiểm tra
- Nên thống nhất đề và thời gian kiểm tra chung cho toàn khối trong trường
để đảm bảo sự chính xác, khoa học, công bằng
2.3.2 Đánh giá:
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá
- Đánh bằng điểm số (định lượng) kết kợp với nhận xét (định tính), tránh việc khi chấm bài kiểm tra chỉ cho điểm học sinh mà không có nhận xét đánh giá
- Đáp án, thang điểm là cần thiết để phân loại học sinh một cách thống nhất,
công bằng Căn cứ vào kiểu đề thi cụ thể để xây dựng đáp án, thang điểm chi tiết (đối với kiểu đề truyền thống) hoặc nêu ý cơ bản, ổn định: các yêu cầu chung, hướng giải quyết (đối với kiểu đề mở) Tăng cường tính chính xác, khách quan bằng cách cụ thể hoá các chỉ số đánh giá, công khai các nội dung này để học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn Giáo viên cần sử dụng hết thang điểm từ 0 đến
10, tránh tình trạng chỉ cho một số mức điểm 6,7,8 và quá khắt khe khi cho điểm 9,10
- Khuyến khích giáo viên có sổ chấm bài để theo dõi và đánh giá đúng quá trình tiến bộ của học sinh về nội dung, kiến thức, kĩ năng làm bài từ việc dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, chữ viết…
- Quan tâm tới việc phân tích, xử lí kết quả kiểm tra đánh giá bằng cách tổ chuyên môn thống kê, phân loại kết quả (đối với đề kiểm tra chung), tìm nguyên nhân và các biện pháp giải quyết để nâng cao chất lượng bộ môn
2.4 Các hoạt động ngoài giờ lên lớp và sinh hoạt ngoại khóa
Xác định hoạt động ngoại khoá Văn học là một một hoạt động bổ trợ có hiệu
quả cao giúp các em hứng thú với môn học, nhằm nối liền bục giảng với thực tiễn
đời sống, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá, các đơn vị cần chú trọng việc tổ chức thực hiện
và đổi mới các hoạt động ngoại khóa bộ môn phù hợp với nhà trường Bằng những hình thức như tổ chức sinh hoạt chuyên đề, thăm quan dã ngoại, mời nói chuyện thời
sự văn học, thành lập câu lạc bộ Văn học trong nhà trường, phối hợp với cơ quan báo
Trang 6chí, hội Văn học nghệ thuật tỉnh giới thiệu những sáng tác mới của học sinh, lập diễn đàn học sinh nhằm cung cấp tư liệu và để các em trực tiếp thảo luận những vấn đề văn học trên sân chơi của riêng mình… sao cho hoạt động ngoại khoá Văn học vừa là hoạt động giáo dục, vừa là hoạt động thẩm mỹ trong trường học
3 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
- Đẩy mạnh công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi
- Mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn là bồi dưỡng năng lực văn học với hai phương diện:
+ Nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản về văn học, văn hóa, bao gồm: kiến thức về tác phẩm văn học cụ thể; kiến thức về lí luận văn học với các khái niệm công cụ để tìm hiểu văn học; kiến thức văn học sử với các giai đoạn, tác giả, trào lưu ; kiến thức văn hóa tổng hợp
+ Kĩ năng tiếp nhận tác phẩm (đọc, nhận biết, phân tích, lí giải nội dung và
ý nghĩa của tác phẩm văn học một cách độc đáo, chính xác, giàu sức thuyết phục)
và kĩ năng tạo lập văn bản (diễn đạt và trình bày một vấn đề văn học hoặc xã hội một cách mạch lạc, thuyết phục theo yêu cầu của một kiểu loại văn bản nào đó
trong nhà trường)
- Định hướng một số nội dung cơ bản cần bồi dưỡng cho học sinh giỏi: + Phần kiến thức cơ bản trong phạm vi chương trình môn Ngữ văn toàn cấp học (do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 và được điều chỉnh nội dung dạy học tại công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Đó là phần “cứng” với ba mảng kiến
thức và kĩ năng lớn về Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn Trong đó, đối với học
sinh giỏi lớp 9 trọng tâm ôn tập là Chương trình Ngữ văn lớp 8, 9 và đối với học sinh giỏi lớp 12 là Chương trình Ngữ văn lớp 11, 12
+ Riêng học sinh giỏi lớp 12 tham dự thi học sinh giỏi quốc gia cần được bồi dưỡng các Chuyên đề chuyên sâu mà Bộ GD&ĐT đã qui định cho trường
Chuyên theo công văn số 10803/BGDĐT - GDTrH ngày 16/12/2009 Hướng dẫn
thực hiện các chương trình chuyên sâu các môn chuyên cấp THPT.
+ Nội dung kiến thức và kĩ năng cần bồi dưỡng cho học sinh thi vào lớp 10
Chuyên Văn yêu cầu như ôn luyện học sinh giỏi lớp 9 cấp Tỉnh
- Tăng cường đánh giá theo ình thức ra đề mở, dạng câu hỏi tự luận, gồm
02 câu trở lên, trong đó có 01 câu hỏi về nghị luận xã hội và 01 câu hỏi về nghị luận văn học
4 Về sinh hoạt chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên
Phải khắc phục việc sinh hoạt tổ chuyên môn mang nặng tính hình thức:
- Các đơn vị cần triển khai đầy đủ và kịp thời đến toàn bộ giáo viên những chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn do Sở GD&ĐT tổ chức Tăng cường giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa các trường, cụm trường Riêng các phòng GD&ĐT cần nghiên cứu việc tổ chức, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo địa bàn cấp huyện hoặc
Trang 7mời thêm cốt cán ngoài huyện để nâng cao năng lực chung (nhất là giáo viên của các trường có qui mô nhỏ, trường vùng khó) Phát động phong trào tự học, tự bồi dưỡng tới toàn thể giáo viên và có kế hoạch đánh giá kết quả bồi dưỡng của giáo viên để rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, tổ chức
- Trên cơ sở “Chương trình Giáo dục phổ thông” và yêu cầu chuẩn kiến
thức, kĩ năng trong dạy học, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học và nội
dung sinh hoạt chuyên môn để các thành viên đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch giảng dạy chung của tổ (nhóm), tiên lượng những vấn đề khó khăn gặp phải để có phương án giải quyết
- Cải tiến nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, theo đó phải tăng cường tiến hành các nội dung chuyên sâu như: rút kinh nghiệm các giờ dạy thao giảng, quy định cụ thể về số giờ dự tối thiểu cho giáo viên trong học kì/ năm học, thảo luận
về kiến thức và phương pháp giảng dạy các bài khó, phần khó, cách ra đề mở, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi
- Cuối mỗi học kỳ Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo tổ bộ môn thông qua các hoạt động chuyên môn, tổ chức cho từng giáo viên báo cáo những biện pháp, phương pháp dạy học của mỗi cá nhân đã áp dụng và hiệu quả đạt được, chọn những phương pháp hay, sáng tạo, phù hợp với thực tế ở đơn vị mình để nhân rộng cho toàn tổ thực hiện Kết thúc năm học, tổ chức chọn ít nhất 03 Giáo án tốt nhất của 03 bài dạy khác nhau, 03 đề kiểm tra định kì (có kèm theo ma trận đề)
áp dụng hiệu quả nhất tại đơn vị làm tư liệu chung cho tổ chuyên môn, đồng thời gửi bản điện tử (bản mềm) về Phòng GD&ĐT (đối với cấp THCS), phòng GDTrH- Sở GD&ĐT (đối với cấp THPT)
Nhận được công văn này, các Phòng GD&ĐT và các trường THPT triển khai thực hiện ngay Trong quá trình thực hiện, nếu có những kiến nghị đề xuất liên quan đến bộ môn, yêu cầu các đơn vị báo cáo về Phòng GDTrH-Sở GD&ĐT
xin ý kiến ch ỉ đạo./ đạo./ o./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- BGĐ Sở (b/c)
- TTr, KT&KĐ Sở (p/h)
- Lưu: VP, GDTrH.
KT GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
(Đã kí) Ngô Văn Hợi