1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên khoa y đại học quốc gia thành phố hồ chí minh

154 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Để trở thành một người bác sĩ, các sinh viên y khoa phải trải qua quá trình học tập gian khổ, với một khối lượng kiến thức lớn được truyền tải trong 6 năm ở gi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VŨ Y LAN

TÌM HIỂU NHẬN THỨC VỀ Y ĐỨC CỦA SINH VIÊN

KHOA Y ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VŨ Y LAN

TÌM HIỂU NHẬN THỨC VỀ Y ĐỨC CỦA SINH VIÊN

KHOA Y ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành:Xã hội học

Mã số: 8 31 03 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ MINH THI

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học xã hội đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học hữu ích

Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Minh Thi đã tận tình hướng dẫn và có những đóng góp quý báu để tôi thực hiện thành công nghiên cứu này

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các giảng viên, cán bộ và sinh viên Khoa Y

- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp thông tin, số liệu cần thiết trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu

Với tất cả lòng yêu thương, tôi xin cám ơn gia đình của mình đã đồng hành, nâng đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học cao học

Xin chân thành cám ơn

Nguyễn Vũ Y Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên Khoa Y - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả

những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Học viên

Nguyễn Vũ Y Lan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

1.1 Lý thuyết sử dụng trong đề tài 19

1.2 Các khái niệm liên quan 21

1.3 Tổng quan về Khoa Y – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 30

1.4 Tổng quan về đào tạo ngành Y khoa của Khoa Y 32

1.5 Một số đặc điểm của mẫu điều tra 35

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: NHẬN THỨC VỀ Y ĐỨC CỦA SINH VIÊN KHOA Y 40

2.1 Quan điểm về y đức 40

2.2 Nguồn thu nhận kiến thức về y đức 44

2.3 Sự hiểu biết của sinh viên về các quy định pháp luật liên quan đến y đức 45

2.4 Sự hiểu biết về nghĩa vụ của người thầy thuốc 46

2.5 Sự hiểu biết của sinh viên về quyền của bệnh nhân 48

2.6 Sự hiểu biết về mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân 51

2.7 Sự hiểu biết của sinh viên về mối quan hệ giữa bác sĩ và đồng nghiệp, mối quan hệ giữa bác sĩ và cộng đồng 54

2.8 Sự cần thiết của y đức đối với nhân viên y tế 55

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3: YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC VỀ Y ĐỨC CỦA SINH VIÊN KHOA Y 58

3.1 Chương trình giảng dạy y đức của Khoa Y hiện nay 58

3.2 Đánh giá chương trình giảng dạy y đức của Khoa Y 61

3.3 Tác động của chương trình đào tạo đến nhận thức về y đức của sinh viên các khóa 70

Trang 6

Tiểu kết chương 3 75 KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHQG TP HCM Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nội dung cụ thể các mục tiêu đào tạo chung đạt được của bác sĩ đa khoa

33

Bảng 1.2 Tổng số sinh viên đang học ngành y khoa tại Khoa Y từ năm 2012-2017 35

Bảng 1.3 Phân bố theo năm học 36

Bảng 2.1 Các định nghĩa về y đức 40

Bảng 2.2 Ý kiến của sinh viên về người thầy thuốc có lương tâm 42

Bảng 2.3 Nguồn thu nhận kiến thức về y đức 44

Bảng 2.4 Sự hiểu biết của sinh viên về nguyên tắc, quy định về y đức 45

Bảng 2.5 Các nguyên tắc cơ bản của y đức 47

Bảng 2.6 Ý kiến của sinh viên về các quyền của bệnh nhân 49

Bảng 2.7 Ý kiến về giữ bí mật thông tin bệnh nhân 49

Bảng 2.8 Công bố thông tin bệnh nhân 47

Bảng 2.9 Quy định về sinh viên thực tập, nghiên cứu viên, người hành nghề y trong việc khai thác hồ sơ bệnh án 50

Bảng 2.10 Cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh, chữa bệnh

51

Bảng 2.11 Ý kiến của sinh viên về mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân 52

Bảng 2.12 Ý kiến của sinh viên về mối quan hệ giữa bác sĩ và đồng nghiệp trong công việc 54

Bảng 2.13 Trách nhiệm của người thầy thuốc với cộng đồng xã hội 55

Bảng 2.14 Ý kiến về sự cần thiết của y đức với nhân viên y tế 55

Bảng 3.1 Ma trận về mục tiêu kiến thức, thái độ và kỹ năng và chuẩn đầu ra 59

Bảng 3.2 Mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình giảng dạy môn y đức 62

Trang 9

Bảng 3.3 Hình thức giảng dạy y đức của Khoa Y 66 Bảng 3.4 Nội dung về y đức cần bổ sung thêm cho sinh viên 66 Bảng 3.5 Mức độ tham gia các chương trình, buổi học ngoại khóa liên quan đến y đức của Khoa Y 68 Bảng 3.6 Ý kiến của sinh viên về hình thức tổ chức các chương trình, buổi học ngoại khóa 69 Bảng 3.7 Mối tương quan giữa định nghĩa về y đức và năm học của sinh viên 71 Bảng 3.8 Mối tương quan giữa mức độ hiểu biết về nguyên tắc, quy định về y đức và năm học của sinh viên 72 Bảng 3.9 Mối tương quan giữa mức độ hiểu biết các quy định xử phạt khi vi phạm y đức và năm học của sinh viên 73 Bảng 3.10 Mối tương quan giữa ý kiến của sinh viên về giữ bí mật thông tin bệnh nhân

và năm học của sinh viên 74 Bảng 3.11 Mối tương quan giữa hình thức giảng dạy y đức của Khoa Y và năm học của sinh viên 75

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Phân bố theo năm sinh 37 Biểu đồ 1.2 Phân bố theo giới tính 37 Biểu đồ 2.1 Quan niệm của sinh viên về nghề y không phải là một nghề kinh doanh 43 Biểu đồ 2.2 Ý kiến của sinh viên về nghĩa vụ quan trọng nhất của người thầy thuốc 47 Biểu đồ 3.1 Ý kiến của sinh viên về thời điểm giảng dạy y đức 64

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để trở thành một người bác sĩ, các sinh viên y khoa phải trải qua quá trình học tập gian khổ, với một khối lượng kiến thức lớn được truyền tải trong 6 năm ở giảng đường và các bệnh viện thực hành Ra trường người bác sĩ tiếp tục không ngừng trao dồi, cập nhật thường xuyên các kỹ thuật điều trị mới để mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất cho người bệnh Nhưng điều đó là chưa đủ Bác Hồ trong thư gửi Hội nghị Cán bộ y tế ngày 27/2/1955 đã có câu "Lương y phải như từ mẫu” Như vậy, giữa bác sĩ và người bệnh có một mối quan hệ tình cảm đặc biệt, được hình thành trong quá trình tiếp xúc, thăm khám và điều trị Mối quan hệ đó qua thời gian được xây dựng và đúc kết thành các giá trị đạo đức, các nguyên tắc ứng

xử đặc thù riêng của ngành nghề này, đó chính là y đức hay đạo đức y khoa Hải Thượng Lãng Ông - Lê Hữu Trác (1720 - 1791), đại danh y của nền y học dân tộc Việt Nam từng nói: “Không có nghề nào nhân đạo bằng nghề cứu người, không

có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức” [22, tr.11] Điều đó nói lên được tầm quan trọng của y đức trong quá trình hành nghề y khoa Để có thể thành công trong sự nghiệp, một người bác sĩ ngoài kiến thức uyên thâm cần phải có một tình cảm đặc biệt đối với bệnh nhân, thấu hiểu hoàn cảnh của bệnh nhân, đau với nỗi đau của bệnh nhân Cũng chính nhờ các giá trị đạo đức này mà trong quá trình vận động và phát triển của xã hội, nghề y là một trong những cao quý trong xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, chính sách mở của nền kinh tế và quá trình toàn cầu hoá mang lại nhiều khởi sắc cho đời sống kinh tế xã hội nhưng cũng làm phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực, trong đó có lĩnh vực y tế Chính sách y tế chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, sự gia tăng dân số, sự thay đổi

mô hình bệnh tật khiến nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng cao,

Trang 12

trong khi ngân sách dành cho ngành y tế có hạn chế, chế độ lương và đãi ngộ cho cán bộ y tế còn thấp, điều kiện cơ sở vật chất trong các cơ sở y tế công lập còn thiếu và yếu dẫn đến tình trạng quá tải bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trên, sự phân bố nguồn nhân lực không đồng đều ở các vùng miền tạo ra nhiều bất cập trong lĩnh vực y tế Những tác động tiêu cực đó đã ảnh hưởng đến vấn đề giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống Các trường hợp điển hình xảy ra trong 5 năm trở lại đây như: vụ việc Bác sĩ Tạ Nam Ngạn từ chối điều trị bệnh nhân tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Kiên Giang, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường làm chết người tại Thẩm

mỹ viện Cát Tường, vụ án nhân bản các xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa Hoài Đức, Bác sĩ Lưu Tiến Dũng vòi tiền người nhà bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa,… đã vi phạm nghiêm trong đạo đức nghề y

Như vậy, do đâu mà đạo đức nghề y xuống dốc? Phải chăng do nhận thức về

y đức của những người làm công tác y tế chưa đầy đủ hay là do việc chưa chú trọng đào tạo về y đức trong một thời gian dài trước đây? Liệu rằng CTĐT hiện nay ở các trường ĐH y khoa đã đáp ứng và cung cấp đầy đủ các kiến thức cho sinh viên y khoa hay chưa? Giảng dạy y đức tại các trường ĐH y khoa có vai trò như thế nào đến nhận thức của sinh viên?

Xuất phát từ những băn khoăn thắc mắc trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên Khoa Y – Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh” để lượng giá và xác định được giáo dục y đức đã tác

động như thế nào đến nhận thức của sinh viên Từ đó có thể tìm ra được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong việc giảng dạy và học tập môn đạo đức nghề nghiệp ở Khoa Y

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về y đức và nhận thức y đức

Trang 13

Đề tài nghiên cứu cấp bộ của Phạm Thị Minh Đức thực hiện năm 2009

“Nghiên cứu thực trạng nhận thức và thực hành y đức của bác sĩ ở ba tuyến huyện, tỉnh và trung ương” [6] cho thấy nhận thức về nội dung của y đức chỉ dừng lại ở

tổng quát, chung chung, đào tạo về y đức trong các trường y chưa đáp ứng được thực tiễn chăm sóc sức khỏe của người dân Tuy nhiên, đề tài cũng nêu được những giải pháp nhằm tăng cường thực hành y đức như: Xây dựng nội dung, tài liệu, phương pháp giảng dạy và lượng giá để đào tạo học phần y đức chính khóa cho sinh viên các trường y; Tổ chức đào tạo các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ cho những người làm công tác đào tạo về y đức để có giảng viên phục vụ cho giảng dạy chính khóa và đào tạo lại cho bác sĩ; Cấp kinh phí thường xuyên hàng năm để mở các khóa đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn cho bác sĩ, đặc biệt ở các tuyến y tế cơ sở; Tổ chức mạng lưới giám sát, đánh giá nội bộ và đánh giá chéo thường xuyên về thực hiện quy chế chuyên môn và y đức tại các cơ sở y tế; Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, quyền và nghĩa vụ mỗi người khi đến các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh, nêu lên các tấm gương tốt của các cán bộ y tế thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Luận án tiến sĩ y học năm 2013 của Lê Thu Hòa “Nghiên cứu thực trạng dạy – học môn Đại đức y học trong đào tạo bác sĩ các trường ĐH y khoa và đánh giá kết quả can thiệp thực nghiệm” [10] đánh giá thực trạng dạy và học ĐĐYH tại 8

trường ĐH y khoa trong năm học 2009 - 2010 còn nhiều vấn đề cần được giải quyết Môn ĐĐYH được dạy và học với nhiều chương trình, nội dung, phương pháp dạy - học và lượng giá khác nhau tại 8 trường ĐH y khoa, chưa có sự thống nhất giữa các trường về chương trình, tài liệu, phương pháp và lượng giá Hầu hết các trường chưa có tài liệu chính thức viết riêng về ĐĐYH Sau khi nghiên cứu thực nghiệm, các trường ĐH y khoa đã thống nhất: mục tiêu từng bài, nội dung chi tiết, phương pháp dạy - học và phương pháp lượng giá môn ĐĐYH cho sinh

Trang 14

viên hệ bác sĩ Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị: Chương trình môn ĐĐYH cho sinh viên hệ bác sĩ đã được thống nhất trong 8 trường ĐH y khoa và rất cần được thực hiện tại mỗi trường, lồng ghép đào tạo ĐĐYH vào các môn lâm sàng phù hợp với điều kiện thực tế tại mỗi trường Giảng viên cần thay đổi phương pháp dạy - học theo hướng tích cực, tạo cơ hội cho sinh viên, học viên chủ động tham gia vào quá trình học tập Phương pháp lượng giá nên sử dụng hình thức trắc nghiệm và phân tích tình huống Giảng viên rất cần được khuyến khích dạy - học môn ĐĐYH bằng những chính sách cụ thể từ nhà quản lý và giáo dục

và cuối cùng cần có những nghiên cứu tiếp theo với thời gian dài để thực hiện can thiệp được ở tất cả các trường ĐH y khoa và đánh giá năng lực ĐĐYH của sinh viên trong thực hành lâm sàng và sau khi tốt nghiệp

Bài viết Khảo sát thực trạng và giải pháp nâng cao y đức cho sinh viên Trường Cao đẳng y tế Khánh Hòa của tác giả Nguyễn Thế Dũng đăng trên Tạp

chí Y học Việt Nam tháng 01/2015 [4] đã đưa ra kết luận hầu hết sinh viên Trường Cao đẳng y tế Khánh Hòa đều tiếp thu tốt kiến thức ĐĐYH sau khi học xong học phần y đức và có thể ứng dụng vào lâm sàng để phục vụ bệnh nhân Theo tác giả, sinh viên đã thực hành tốt 4 nguyên lý cơ bản của ĐĐYH: nguyên lý tôn trọng quyền tự chủ của bệnh nhân, nguyên lý lòng nhân ái, nguyên lý không làm việc có hại/ không ác ý và nguyên lý thực hiện sự công bằng Số sinh viên có thái độ tích cực khi thực hành, ĐĐYH trên bệnh nhân chiếm trên 70%, điều này cho thấy sự phát triển những thái độ thích hợp là rất cần thiết trong giảng dạy ĐĐYH Giảng dạy ĐĐYH có thể thu được lợi ích từ việc tổng hợp rất nhiều cách tiếp cận và sự tham gia của nhiều cán bộ giảng dạy nhiều học phần khác nhau trong chương trình

từ lý thuyết đến thực hành trên lâm sàng, đặc biệt khi triển khai kế hoạch chăm sóc bệnh nhân Tất cả cán bộ giảng dạy y học đều có trách nhiệm phát triển các kiến thức, kỹ năng, thái độ của sinh viên, phương pháp dạy tích cực tạo cơ hội tốt

Trang 15

để sinh viên hứng thú học tập và ứng dụng cụ thể vào các trường hợp trên lâm sàng Giảng viên cần đề cập đến các chủ đề cụ thể, sinh động để sinh viên tự tìm hiểu và trình bày trước lớp, các ý kiến thảo luận và các video clip có thể giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn về khía cạnh ĐĐYH Điểm hạn chế của bài viết này là sự giới hạn nghiên cứu ở đối tượng sinh viên là các nhân viên hỗ trợ y tế trong tương lai, trực tiếp chăm sóc bệnh nhân nhưng không chịu trách nhiệm cứu chữa người trực tiếp

2.2 Các quy định, quy ước về y đức

2.2.1 Lời thề Hippocrates nguyên bản

Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Asclepius thần y học, trước thần Hygieia và Panacea, và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần,

là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây:

- Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi Tôi

sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng những nhu cầu của các vị đó Tôi sẽ coi con của thầy như anh em ruột thịt của tôi, và nếu họ muốn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không giấu nghề Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của các thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bởi một lời cam kết và một lời thề đúng với Y luật mà không truyền cho một ai khác

- Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công

- Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không

tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao cho bất cứ người phụ

nữ nào những thuốc gây sẩy thai

- Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết

Trang 16

- Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang mà dành công việc

đó cho những người chuyên

- Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành

vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô

lệ

- Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi

sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ

- Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của mọi người Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược lại [23, tr 15-16]

2.2.2 Y huấn cách ngôn của Hải Thượng Lãn Ông

Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo làm người, có thông lý luận đạo làm người thì học thuốc mới giỏi Khi có chút thì giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay, luôn luôn phát huy biến hóa thuân nhập được vào tâm, thấy rõ được ở mắt, thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không sợ sai lầm

Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh cần kíp hay không, mà đặt đi thăm trước hay sau Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn, mà nơi đến trước chỗ đến sau, hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém Khi lòng mình có không thành thật, thì khó mong thu được hiệu quả

Khi xem bệnh cho đàn bà, con gái và đàn bà góa, ni cô cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng mà thăm bệnh, để tránh hết sự nghi ngờ; dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn, coi họ như con nhà tử tế chớ nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm

Trang 17

Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào?

Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy

đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không

hổ thẹn

Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn thận Hoặc theo đúng từng phương

mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo

ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẵn Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay

Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm một chút họ sẽ được sống một đời Còn như những người con thảo,

vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết Cần phải

Trang 18

cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm

Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch [22, tr 25-26]

2.2.3 Bản Tuyên ngôn Geneva của Hiệp hội Y khoa Thế giới

Bản Tuyên ngôn Geneva của Hiệp hội Y khoa Thế giới năm 1948 và những bản được chỉnh sửa sau đó thường được các sinh viên y khoa đọc trong các lễ tốt nghiệp như một lời thề về y đức Đây là tuyên ngôn về sự cống hiến của y bác sĩ cho mục đích nhân đạo Tuyên ngôn này dựa trên Lời thời Hippocrates nhưng điều chỉnh phù hợp với bối cảnh nền y học hiện đại Nội dung bản tuyên ngôn:

Vào thời điểm được thừa nhận là một thành viên của ngành y:

Tôi nghiêm trang hứa với bản thân sẽ hiến dâng cuộc đời mình để phục vụ nhân loại

Tôi sẽ gửi đến các thầy giáo của tôi lòng kính trọng và biết ơn mà họ xứng đáng được nhận

Tôi sẽ thực hành nghề nghiệp của tôi với lương tâm và lòng tự trọng

Sức khoẻ của bệnh nhân sẽ là mối quan tâm hàng đầu của tôi

Tôi sẽ tôn trọng mọi bí mật mà tôi nắm giữ, thậm chí cả sau khi bệnh nhân

đã chết

Tôi sẽ duy trì danh dự và truyền thống cao thượng của nghề nghiệp bằng tất

cả khả năng của tôi

Đồng nghiệp sẽ là các anh chị của tôi

Trang 19

Tôi sẽ không cho phép những quan tâm về tuổi tác, bệnh tật hay tàn tật, tín ngưỡng, nguồn gốc nhân chủng, giới tính, quốc tịch, nguồn gốc chính trị, sự cạnh tranh, quan điểm tình dục, địa vị xã hội hoặc bất kỳ một yếu tố nào khác can thiệp vào giữa nhiệm vụ của tôi và bệnh nhân của tôi

Tôi sẽ duy trì sự tôn trọng cao nhất cho cuộc sống con người

Tôi sẽ không dùng kiến thức chuyên môn của tôi xâm phạm đến quyền con người và các quyền tự do của công dân, thậm chí ngay cả khi bị đe doạ

Tôi xin hứa những điều này với tất cả sự trang trọng, tự nghiện và danh dự của tôi [23, tr 15-16]

2.2.4 Quy ước đạo đức ngành y của Hiệp hội Y khoa Thế giới

Luật quốc tế về y đức được ban hành vào năm 1949 tại kỳ họp lần thứ 3 của Hội Y học thế giới Luật được chỉnh sửa lần cuối vào năm 2006 quy định nhiệm

vụ chung của người thầy thuốc và nhiệm vụ chung của người thầy thuốc đối với bệnh nhân như sau:

1 Nhiệm vụ chung của người thầy thuốc:

- Thực hành nghề nghiệp và duy trì chuẩn mực chuyên môn ở mức độ cao nhất

- Tôn trọng quyền của bệnh nhân chấp nhận hay bác bỏ đề nghị của thầy thuốc

- Không để cho phán xét cá nhân bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân hay phân biệt đối xử

- Hết lòng trong việc cung cấp dịch vụ chuyên môn cho bệnh nhân

- Hành xử thành thật với bệnh nhân và đồng nghiệp Báo cáo cho giới chức có trách nhiệm biết những thầy thuốc thiếu y đức hoặc bất tài hoặc có hành vi lừa đảo

- Không thuyên chuyển bệnh nhân hoặc ra toa thuốc để hưởng lợi ích tài chính hay quà cáp

- Tôn trọng quyền và sự lựa chọn của bệnh nhân

Trang 20

- Có trách nhiệm giáo dục công chúng về những khám phá mới trong y học, nhưng cần phải cẩn thận trong việc áp dụng các phương pháp còn trong vòng thử nghiệm

- Cố gắng sử dụng tài nguyên y tế một cách sáng suốt nhằm đem lại lợi ích cho bệnh nhân và cộng đồng

- Tìm người điều trị nếu mình mắc bệnh Tôn trọng các chuẩn mực đạo đức địa phương và quốc gia

2 Nhiệm vụ chung của người thầy thuốc đối với bệnh nhân:

- Tôn trọng sinh mạng của con con người

- Hành động vì lợi ích của bệnh nhân

- Tuyệt đối trung thành với bệnh nhân Bất cứ khi nào phương pháp điều trị hay xét nghiệm ngoài khả năng của mình, người thầy thuốc phải giới thiệu đến một chuyên gia khác

- Tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân Không tiết lộ bất cứ thông tin nào

về bệnh nhân cho bất cứ ai, nếu không có sự đồng thuận của bệnh nhân

- Cung cấp dịch vụ chăm sóc trong trường hợp khẩn cấp

- Không quan hệ tình dục với bệnh nhân Không lợi dụng mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân [16]

2.2.5 Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế

Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế được ban hành kèm theo Quyết định số 2008/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Bộ Trưởng Bộ Y tế:

1 Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải có lương

Trang 21

tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học

để nâng cao trình độ chuyên môn Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

2 Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh

3 Tôn trọng quyền được khám bệnh chữa bệnh của nhân dân Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội Không được phân biệt đối xử người bệnh Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh

4 Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết

5 Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đun đẩy người bệnh

6 Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh

Trang 22

7 Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh

8 Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ

9 Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết

10 Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau

11 Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không

đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước

12 Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh cứu chữa người bị tai hạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch [1]

2.2.6 Lời tuyên thệ Tân bác sĩ Khoa Y

Lời tuyên thệ Tân bác sĩ Khoa Y được các tân khoa long trọng tuyên thệ trong buổi lễ tốt nghiệp bác sĩ đa khoa của Khoa Y như sau:

Dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc;

Trước Quý Thầy Cô và toàn thể cán bộ viên chức;

Trước toàn thể bạn đồng học và các đấng sinh thành;

có hành động làm ảnh hưởng đến truyền thống nhà trường, trái với lương tâm

người cán bộ y tế nhân dân

Trang 23

3 Giữ gìn bí mật nghề nghiệp, tôn trọng phẩm chất người bệnh, hết lòng hết

sức phục vụ sức khỏe nhân dân, làm đúng lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Lương y như

từ mẫu”

4 Khiêm tốn, đoàn kết và hợp tác chân thành với đồng nghiệp, yêu ngành, yêu nghề, tự hào chính đáng với công việc của chính mình

5 Vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, tôi nguyện tích

cực lao động và học tập, phấn đấu không mệt mỏi, nâng cao trình độ, góp phần

xây dựng nền y học Việt Nam

Xin thề, xin thề, xin thề [15, tr 31]

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng đến tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên Khoa Y Trên

cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực trạng, luận văn từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về y đức cho sinh viên thông qua cải thiện công tác giảng dạy y đức tại Khoa Y hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải thực hiện một số những nhiệm

vụ sau đây:

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên ngành Y khoa về y đức

- Mô tả thực trạng giảng dạy y đức của Khoa Y theo CTĐT ngành Y khoa cho sinh viên ngành Y khoa

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về y đức cho sinh viên Khoa Y

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu nhận

thức về y đức của sinh viên Khoa Y- ĐHQG TP HCM

Trang 24

4.2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đang học từ năm thứ nhất đến năm thứ

sáu ngành Y khoa của Khoa Y - ĐHQG TP HCM

4.3 Phạm vi nghiên cứu

4.3.1 Phạm vi không gian: Ngành Y khoa của Khoa Y - ĐHQG TP HCM 4.3.2 Phạm vi thời gian: Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 06/2018 đến tháng

02/2019

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng nhận thức của sinh viên Khoa Y về y đức như thế nào?

- Nhận thức về y đức của sinh viên các khóa có khác nhau hay không?

- CTĐT ngành Y khoa đã chú trọng đến giảng dạy y đức cho sinh viên hay chưa?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Sinh viên Khoa Y được cung cấp đủ kiến thức về y đức nhưng nhận thức chưa đầy đủ

- Sinh viên từ năm thứ tư đến năm thứ sáu nhận thức rõ ràng về y đức, sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ ba nhận thức còn mơ hồ

- CTĐT ngành Y khoa cung cấp đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cho sinh viên liên quan đến vấn đề y đức

giảng dạy

Trang 25

5.4 Phương pháp nghiên cứu

5.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong đề tài này là phương pháp định lượng và phương pháp định tính Thông qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, đề tài sẽ mô tả thực trạng nhận thức về y đức của sinh viên Khoa Y, phân tích sự tác động của CTĐT đến nhận thức y đức của sinh viên đồng thời lượng giá việc giảng dạy môn y đức tại Khoa Y hiện nay Ngoài ra, đề tài còn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn sâu một số đối tượng

là sinh viên, giảng viên dạy môn y đức, cán bộ chuyên trách đào tạo, chuyên trách công tác sinh viên để tìm hiểu kỹ hơn các quan điểm của họ liên quan đến vấn đề này

5.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

Đề tài sử dụng ba phương pháp chính để thu thập thông tin sau:

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu

có sẵn liên quan đến đề tài Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính sau:

Xã hội Gia đình

Rèn luyện, nâng cao kiến thức

Luật pháp, thể chế

Chuyên môn

Đạo đức nghề nghiệp

Quan niệm

về y đức

Cộng đồng,

xã hội

Luật

y tế

Trang 26

các thông tin sẵn có tổng hợp từ bộ tư liệu của Khoa Y, các báo cáo và công trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn được đăng tải trên báo, tạp chí,…

- Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi để thu thập thông tin định lượng Đề tài sử dụng kỹ thuật khảo sát bằng bảng hỏi với các nội dung câu hỏi theo chủ đề được thiết kế sẵn Đề tài tiến hành cuộc khảo sát xã hội học với việc thu thập ý kiến của 180 sinh viên học ngành Y khoa

- Phương pháp thu thập thông tin định tính bằng phỏng vấn sâu: Đề tài sử dụng

bộ các chủ đề chính liên quan đến đề tài để người trả lời hoàn toàn tự do trong cách thức trả lời Các cuộc phỏng vấn được ghi chép cẩn thận và có thu băng Sau khi có các dữ liệu thô thu thập từ bảng hỏi và phỏng vấn sâu, đề tài sử dụng 2 phương pháp xử lý số liệu để đưa ra kết quả nghiên cứu như sau:

- Đối với thông tin định lượng thu thập bằng kỹ thuật khảo sát thông qua bảng hỏi, số liệu thu thập được sẽ xử lý bằng phần mềm SPSS Sau khi mã hóa, nhập liệu, đề tài tiến hành phân tích đơn biến bằng cách chạy các bảng tần suất để tìm

tỷ lệ các phương án trả lời và sử dụng kiểm định chi bình phương để tìm mối tương quan giữa các yếu tố cần nghiên cứu

- Đối với thông tin định tính thu thập bằng phương pháp phỏng vấn sâu, các băng ghi âm sẽ được giải băng đồng thời ghi chép lại toàn văn cuộc phỏng vấn và được sử dụng để dẫn chứng trong quá trình phân tích kết quả nghiên cứu

5.4.3 Mô tả mẫu

Trong phương pháp khảo sát định lượng, đề tài chọn mẫu theo từng khóa học dựa trên chỉ tiêu 180 đơn vị mẫu và trên danh sách sinh viên từng khóa theo hình thức mẫu xác suất ngẫu nhiên đơn giản, được thực hiện trên phần mềm SPSS Từ

đó lập ra danh sách mẫu chính thức và dự trữ phục vụ nghiên cứu

Trong phương pháp khảo sát định tính, đề tài chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện, đảm bảo các tiêu chí như sau:

Trang 27

- 06 cuộc phỏng vấn sâu sinh viên, mỗi khóa học thực hiện 01 cuộc

- 01 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ Phòng Đào tạo và Công tác sinh viên đang giữ chức vụ quản lý

- 02 cuộc phỏng vấn sâu giảng viên giảng dạy môn y đức

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hơn về mặt lí luận các vấn đề liên quan đến nhận thức về y đức của sinh viên y khoa Tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên giúp có cái nhìn chính xác hơn, đánh giá được toàn diện kiến thức, kỹ năng, thái độ liên quan đến y đức của sinh viên hiện nay, xác định những vấn đề cần giải quyết Từ đó đưa ra những đề xuất và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng trong việc giảng dạy và học tập môn ĐĐYH ở Khoa Y, giúp cho Khoa

Y xây dựng và phát triển chương trình giáo dục y đức cho sinh viên một cách hợp

lý và có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cho sinh viên, giúp họ có thái độ tốt với người bệnh và có trách nhiệm với cộng đồng trong hành nghề y sau này

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Y đức mới được đưa vào giảng dạy tại các trường ĐH y khoa trên cả nước trong khoảng 15 năm trở lại đây Năm 2004, y đức được đưa vào giảng dạy đầu tiên tại trường ĐH Y Hà Nội cho sinh viên với tài liệu đựợc phiên dịch từ nguồn tài liệu nước ngoài Năm 2009, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh chính thức thành lập Bộ môn Y đức Tuy nhiên, Khoa Y khi xây dựng CTĐT đã thiết kế một môn học riêng giảng dạy cho sinh viên năm nhất về y đức, tuy chưa thành lập một bộ môn chuyên biệt Chính vì vậy, nguồn tài liệu bằng tiếng Việt về y đức còn khá hạn chế, đặc biệt rất ít các tài liệu nghiên cứu về y đức theo hướng tiếp cận xã hội học Do đó, tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về y đức sau này

Trang 28

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm có ba phần và ba chương Trong phần đầu, luận văn sẽ trình bày tổng quan các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề y đức trong vòng 10 năm trở lại đây

Phần thứ hai của đề tài gồm ba chương Trong chương đầu tiên, luận văn trình bày lý thuyết áp dụng cho đề tài này là lý thuyết xã hội hóa, các khái niệm liên quan đến đề tài và khái quát về địa bàn nghiên cứu của đề tài, cụ thể là Khoa

Y Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương thứ hai và chương thứ ba, tìm hiểu nhận thức về y đức của sinh viên Khoa Y và phân tích thực trạng giảng dạy

y đức của Khoa Y hiện nay

Phần cuối của luận văn đưa ra các kiểm chứng về giả thuyết, các kết quả đạt được, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức về y đức của sinh viên, xây dựng và phát triển chương trình giáo dục y đức cho sinh viên một cách hợp lý và có hiệu quả

Trang 29

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Lý thuyết sử dụng trong đề tài

Lý thuyết được sử dụng xuyên suốt đề tài là lý thuyết xã hội hóa Lý thuyết này sẽ giải thích được sự hình thành và phát triển nhận thức về y đức, đồng thời giải thích sự tác động của việc giảng dạy y đức đến nhận thức của các sinh viên

Xã hội hóa là một quá trình thông qua đó con người hình thành nên tính cách của mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm Nói cách khác, chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã hội Như vậy, xã hội hoá bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi con người không còn tồn tại

Khi xem xét quá trình xã hội hóa có thể thấy rằng xã hội hóa là quá trình mỗi

cá nhân học hỏi và thực hiện các hành động cụ thể phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội Nói cách khác, quá trình xã hội hóa làm cho các cá nhân thay đổi Chính sự thừa nhận những khuôn mẫu xã hội đã đưa con người từ chỗ chưa có kinh nghiệm đến chỗ có kinh nghiệm, từ chỗ con người sinh học chuyển sang con người xã hội Như vậy, quá trình này biểu hiện ở chỗ mỗi cá nhân thường học cách suy nghĩ và hành động từ những người mà cá nhân đó tiếp xúc thông qua quá trình tương tác xã hội

Có nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội hóa nhưng tựu chung lại xã hội hóa thực chất vừa là quá trình dạy dỗ vừa là quá trình học tập trong đó, cá nhân học được cách hành động đúng đắn theo những chuẩn mực của một nhóm cụ thể nào

đó, Nội dung của việc dạy dỗ phản ánh các truyền thống văn hóa mà nhóm tán thành và khi gia nhập vào nhóm mới, mọi người đều phải học hỏi những nguyên tắc, chuẩn mực mới để có thể hòa nhập Xã hội hóa là một quá trình lâu dài và

Trang 30

phức tạp diễn ra trong suốt cuộc đời con người từ khi sinh ra tới khi mất đi [26,

tr 146-148]

Xã hội hoá là quá trình mang tính lưỡng phân, mang cả tính khách quan và tính chủ quan Khách quan: Xã hội hóa là quá trình theo đó xã hội chuyển tải văn hóa của mình từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo Chủ quan: Cá nhân suy nghĩ có chọn lọc các giá trị, chuẩn mực từ các yếu tố tác động bên ngoài, giải mã ý nghĩa

và thực hiện hành động Thông qua quá trình tương tác xã hội, yếu tố bên ngoài tác động vào các cá nhân, cá nhân có những suy nghĩ về hành động và chọn lọc hành động nào là thích hợp, hành động nào là không thích hợp Nếu thích hợp sẽ được cá nhân tiếp thu và tiếp tục được thể hiện, ngược lại sẽ bị loại bỏ (quá trình này giúp chọn lọc và hình thành các giá trị) Do đó, văn hóa được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác Chính vì vậy, xã hội hóa là quá trình các cá nhân học hỏi, tiếp nhận các giá trị nhằm đáp ứng sự kỳ vọng xã hội

Quá trình xã hội hóa chỉ kết thúc khi đời sống xã hội chấm dứt bằng cái chết Quá trình xã hội hóa diễn ra ở ba giai đoạn: giai đoạn xã hội hóa ban đầu của đứa trẻ trong gia đình, giai đoạn trong nhà trường và gia đoạn ngoài môi trường xã hội Việc phân chia 3 giai đoạn của quá trình xã hội hoá tương ứng với 3 môi trường như trên hoàn toàn chỉ mang tính ước lệ Trong hoạt động sống xã hội, mỗi cá nhân thường học các cách thức suy nghĩ và hành động phù hợp với những người xung quanh Do đó, cả ba môi trường xã hội hóa này có thể diễn ra một cách đồng thời và đan xen Ba giai đoạn này được xem là ba tác nhân quan trọng giúp cá nhân hội nhập vào xã hội Các hình thức giáo dục chính thức và phi chính thức từ

ba môi trường này làm định hình nhận thức và điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với khuôn khổ của xã hội

Đạo đức cá nhân không tự bản thân sinh ra mà có, nó được hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài phụ thuộc rất nhiều với môi trường, hoàn

Trang 31

cảnh sống, các thể chế văn hóa, chính trị, xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng,… quan trọng hơn hết là gia đình và nền giáo dục, nghĩa là phụ thuộc vào quá trình xã hội hóa

Y đức là một phần của đạo đức nên cũng được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa, nghĩa là những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực y tế chịu ảnh hưởng từ sự giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Như vậy, sinh viên học ngành Y khoa của Khoa Y cũng chịu ảnh hưởng của quá trình xã hội hóa, đặc biệt trong thời gian học ĐH, sự giáo dục và chương trình giảng dạy của nhà trường đã góp phần hình thành nhận thức về y đức Sinh viên được trang bị nhận thức đúng đắn về y đức, từ đó sẽ tác động quan trọng đến suy nghĩ và hành vi của mình khi

ra trường Do đó, sinh viên nhận thức đúng đắn về y đức sẽ vận dụng tốt trong thực hành nghề nghiệp qua cách giao tiếp đúng mực với bệnh nhân, với cộng sự; xây dựng mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân là sự tôn trọng và đối xử bình đẳng trong điều trị, bảo mật thông tin của bệnh nhân, tận tụy và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Khái niệm về đạo đức

Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng Latinh là Mos, tiếng Hi Lạp là Moral,

có nghĩa là truyền thống, lề lối, tập tục, đặc tính, các loại hình tư tưởng,… Còn đạo đức học tiếng Hi Lạp là Ethicos, có gốc là từ cổ Hi Lạp Ethos – phong tục, mà đối tượng nghiên cứu là luân lý [23, tr 1] Hành vi đạo đức đòi hỏi khả năng suy luận, thấu hiểu hậu quả, và chọn lọc hành động của mình

Đạo đức là một hình thức ý thức xã hội, là một bộ phận của kiến thức thượng tầng xã hội Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt - xấu, đúng - sai, được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và giá trị đạo đức [23, tr 1]

Trang 32

Đạo đức là sự nghiên cứu về giáo lý - sự phản ánh một cách thận trọng, hệ thống và sự phấn tích các quyết định lương tâm và hành vi, trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai [23, tr 55]

Như vậy, tựu chung lại, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của

ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội [24, tr 738-739]

1.2.2 Khái niệm về y đức

Mỗi nghề nghiệp trong xã hội, dù tồn tại dài hay ngắn đều có những luật lệ hoặc chuẩn mực hướng dẫn ứng xử riêng cho ngành nghề đó, gọi chung là đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp không bao giờ tách rời khỏi đạo đức chung của nhân loại Nó chỉ là sự hiện thực hóa, thể hiện ra những chuẩn mực, lý tưởng, khát vọng chung của nhân loại trong một lĩnh vực nghề nghiệp Ngành y là một ngành nghề tồn tại rất lâu đời, gắn liền với chủ nghĩa nhân đạo Do đó, ngành y càng cần đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức của người hành nghề cao hơn so với những ngành nghề khác

Có nhiều khái niệm về y đức hay còn gọi là ĐĐYH:

Theo Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Trần Hiển, y đức hay ĐĐYH là chuẩn mực đạo đức áp dụng cho những người hành nghề y dược, theo những chuẩn mực đạo đức này người hành nghề y dược tự rèn luyện bản thân mình, thực hiện theo các chuẩn mực đó trong giao tiếp, ứng xử, trong các hành vi khi hành nghề [25] Theo Quy chế quản lý bệnh viện (1997) của Bộ Y tế, y đức là phẩm chất cao đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi đau đớn của họ như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy lương y phải như từ mẫu, phải thật thà, đoàn kết khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm

Trang 33

vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền y học Việt Nam Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức xã hội thừa nhận [2, tr.85-88]

ĐĐYH đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học Các nguyên lý về ĐĐYH là cơ sở của mọi lý luận và quy định về đạo đức trong thực hành chuyên môn và nghiên cứu khoa học y học cho tất cả nhân viên y tế, đặc biệt là bác sĩ [7,

tr 55]

Trong luận văn này, y đức được định nghĩa là những quy tắc, chuẩn mực giá trị về đạo đức cần phải tuân thủ trong thực hành chuyên môn, nghiên cứu khoa học và tính chuyên nghiệp mà những người hành nghề y dược phải được trang bị trước khi thực hành nghề nghiệp Hai khía cạnh này tồn tại không tách rời nhau, người thầy thuốc có y đức phải đảm bảo cả hai yếu tố này

1.2.3 Khái niệm nhận thức

Nhận thức được hiểu theo Từ điển tiếng Việt thông dụng (2009) là kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; kết quả của con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan [19]

Theo Từ điển xã hội học Oxford (2010), nhận thức là quá trình của sự biết (suy nghĩ) đôi khi dùng để phân biệt với cảm nhận (cảm xúc) và ý chí (ý muốn) trong một cặp ba quá trình tinh thần của con người [3, tr 407]

Theo Đinh Phương Duy, có hai loại nhận thức: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là quá trình phản ánh các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi sự vật hiện tượng đó tác động vào các cơ quan thụ cảm của con người Nhận thức là quá trình được xảy ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ mơ hồ đến sâu sắc Nhận thức lý tính là quá trình nhận thức để có kết quả, là hiểu được vấn đề chứ không dùng lại ở mức độ biết bên ngoài, là sự phản ánh những vấn đề thuộc về bản chất, là mức độ cao của quá trình tìm, biết rồi ngộ ra và hiểu vấn đề [5]

Trang 34

Xuyên suốt đề tài này, nhận thức được hiểu theo khái niệm nhận thức lý tính của Đinh Phương Duy Như vậy, nhận thức là một quá trình trong đó con người hiểu biết một sự việc, một vấn đề và không chỉ hiểu biết mà còn phải xác tín điều

đó là đúng Quá trình hình thành nhận thức về đạo đức nói chung và y đức nói riêng của sinh viên y khoa là kết quả của quá trình xã hội hóa từ gia đình, nhà trường và xã hội Khi học tập tại Khoa Y, sinh viên sẽ được trang bị thêm những kiến thức về y đức và kiến thức chuyên môn, từ đó sinh viên thấu hiểu các nội dung của y đức, hoàn thiện kỹ năng, thái độ để sử dụng khi thực hành nghề nghiệp

1.2.4 Nhận thức về y đức

Nhận thức về y đức là một quá trình nhận thức để có kết quả, là hiểu được vấn đề y đức chứ không dừng lại ở mức độ biết Trong đề tài này, nhận thức về y đức được hiểu theo nghĩa là sự hiểu biết về các bổn phận, trách nhiệm của bác sĩ, các quyền của bệnh nhân, cách giao tiếp, hành xử với bác sĩ và bệnh nhân trong mối quan hệ khám bệnh, chữa bệnh, cách thức làm việc với đồng nghiệp, sự hiểu biết các quy định, văn bản pháp luật liên quan đến y đức, là kiến thức về chuyên môn cũng như đạo đức y học

Nói cách khác, người hành nghề y phải hiểu rõ về các bổn phận, trách nhiệm của bác sĩ, các quyền của bệnh nhân, cách làm việc, giao tiếp, hành xử với đồng nghiệp và bệnh nhân trong mối quan hệ khám bệnh, chữa bệnh, hiểu rõ và vận dụng được tổng hòa các yếu tố kiến thức chuyên môn, tính nhân văn, đạo đức nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp của người thầy thuốc

1.2.5 Các nguyên tắc cơ bản của y đức

Y đức có bốn nguyên tắc cơ bản mà một người làm trong lĩnh vực y tế cần tuân thủ [23, tr 40 -51]:

- Thứ nhất: Tôn trọng quyền tự chủ

Trang 35

Tôn trọng quyền tự chủ của bệnh nhân là nguyên lý có tính chất quyết định, chi phối tất cả các nguyên lý khác

Quyền tự chủ của một người là quyền được đưa ra quyết định dựa trên sự thu nhận thông tin, hiểu biết kiến thức và năng lực tự chịu trách nhiệm của bản thân Người làm trong lĩnh vực y tế cần biết giới hạn những can thiệp của mình đến những quyết định của bệnh nhân và không được can thiệp quá sâu vào những lựa chọn của bệnh nhân Người thầy thuốc cần đứng ở vị trí trung gian khi cung cấp thông tin chuyên môn về bất kỳ một thăm dò hay trị liệu nào

Trong chăm sóc sức khỏe, tôn trọng quyền tự chủ của con người bao gồm nhiều nội dung bắt buộc người làm trong lĩnh vực y tế phải có được sự chấp thuận của bệnh nhân trước khi tiến hành bất kỳ một hoạt động chăm sóc y khoa cho họ:

 Tôn trọng quyền lợi tốt nhất của bệnh nhân

 Tôn trọng quyền tự quyết định của bệnh nhân

 Bảo mật thông tin của bệnh nhân

 Trung thực, không được lừa dối bệnh nhân

 Thể hiện khả năng giao tiếp tốt giữa bác sĩ – bệnh nhân

 Biết lắng nghe tích cực

 Cung cấp cho bệnh nhân thông tin mà họ quan tâm và muốn nghe

 Tìm kiếm sự đồng ý, sự lựa chọn của bệnh nhân

 Tôn trọng quyền từ chối điều trị

- Thứ hai: Lòng nhân ái

Trong nghề y, lòng nhân ái không đơn giản là làm việc theo nhiệm vụ hay theo lòng tốt của mình Lòng nhân ái là người thầy thuốc không chỉ làm việc với danh dự và niềm tự hào của bản thân mà vì một xã hội tốt đẹp, vì hạnh phúc của tất cả mọi người trong đó có bản thân người thầy thuốc Họ cần cung cấp mọi

Trang 36

nguồn lực chuyên môn để chăm sóc cho bệnh nhân, nhưng cũng cần cân nhắc rằng:

 Chỉ cung cấp những nguồn lực phù hợp với tình trạng bệnh

 Đẩm bảo rằng những nguồn lực này có lợi nhiều hơn có hại

 Nguyên lý lòng nhân ái nhắc nhở rằng:

 Luôn đồng cảm với nỗi đau khổ của bệnh nhân

 Coi bệnh nhân như người thân của mình

 Cần nhắc mọi điều có lợi trước khi cung cấp bất kỳ một thăm dò, trị liệu nào Đảm bảo lợi ích nhiều hơn nguy cơ

 Hạn chế tối đa tác hại

 Luôn sẵn sàng giúp đỡ bệnh nhân trong mọi tình huống

 Cân nhắc về khả năng kinh tế của bệnh nhân trước khi cho bất kỳ một trị liệu hoặc kê đơn điều trị tại nhà

- Thứ ba: Không làm việc có hại, không ác ý

Để tăng tối đa lợi ích và giảm thấp nhất tác hại, các nhân viên y tế khi cung cấp dịch vụ phải cân nhắc đến nguyên tắc này

 Bản thân người thầy thuốc phải luôn tích cực cập nhật kiến thức và kỹ năng

để đảm bảo chất lượng dịch vụ đang cung cấp

 Không được làm bất kỳ điều gì có hại tới cuộc sống, sức khỏe, giá trị cá nhân, nhân phẩm

 Phải biết được rõ ràng về lợi ích và nguy cơ gây hại tai biến trước khi cung cấp bất kỳ một thăm dò, trị liệu nào

 Có thông tin về những tác hại và lợi ích có thẻ ảnh hưởng đến việc dự phòng trong chăm sóc sức khỏe

Trang 37

 Người thầy thuốc cần thận trọng trước bất ký một trị liệu nào Luôn sẵn sàng loại bỏ hoặc dừng trị liệu khi nhân thấy có bất kỳ một nguy cơ nào đối với bệnh nhân, khi mà nguy cơ này lớn hơn lợi ích của bệnh nhân

 Công bằng trọng quyền con người

 Công bằng trong các khía cạnh có liên quan đến sự chấp nhận của luật pháp: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

Công bằng trong chăm sóc y khoa không có nghĩa là mọi bệnh nhân phải được chăm sóc giống nhau Điều này có nghĩa là mọi người trong xã hội đều có quyền được chăm sóc sức khỏ dù là người giàu hay người nghèo Mọi người đều được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi cần thiết và theo nhu cầu của bản thân Người có khả năng trả phí dịch vụ cao sẽ được hưởng dịch vụ theo đúng yêu cầu của mình Người nghèo, không có khả năng trả phí cao vẫn được chăm sóc sức khỏe đúng tiêu chuẩn và được sự hỗ trợ kinh phí của các hình thức bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, quỹ hỗ trợ người nghèo, các tổ chức từ thiện,… Ưu tiên trẻ nhỏ, người già và người đang cần cấp cứu, người tàn tật, phụ nữ có thai

Công bằng trong chăm sóc y khoa còn quy định nhân viên y tế không được phân được đối xử, kỳ thị với bất kỳ bệnh nhân nào Bác sĩ và các nhân viên y tế không được phân biệt đối xử dù là người giày hay người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, trẻ mồ côi,…Không được có thái độ kì thị với những bệnh

Trang 38

nhân mắc bệnh hiểm nghèo hoặc nhạy cảm như: HIV/AIDS, giang mai, phong, lậu,…

Trong thực tế, nguyên lý công bằng không phải lúc nào cũng thực hiện một cách đầy đủ và rõ ràng do sự chi phối của các yếu tố chủ quan và khách quan như: tình trạng quá tải, thiếu thốn cơ sở vật chất, lỗ hổng kiến thức, thiên về khuynh hướng thuận tiện, quen dùng

Bốn nguyên lý cơ bản của ĐĐYH chi phối toàn bộ các quy định của đạo đức trong thực hành và nghiên cứu y học Bác sĩ cần luôn cập nhật những kiến thức, rèn luyện nâng cao tay nghề thực hành và tu dưỡng đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho mọi người

1.2.6 Các mối quan hệ của người thầy thuốc

Người thầy thuốc xoay quanh 3 mối quan hệ chính [23, tr 52-99]:

- Mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân

Mối quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân được coi là mối quan hệ chính trong thực hành y học Thầy thuốc là những người hỏi bệnh, thăm khám, chẩn đoán và điều trị cũng như tư vấn cho bệnh nhân Bệnh nhân đến gặp thầy thuốc cũng rất

đa dạng và khác nhau về trình độ học vấn, tầng lớp xã hội, văn hóa cũng như lối sống tạo nên sự phức tạp trong mối quan hệ này và do đó cũng có nhiều khía cạnh ĐĐYH cần được xem xét và cân nhắc

Mối quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân trong thực hành y học bao gồm:

 Tôn trọng bệnh nhân và công bằng trong điều trị Tôn trọng bệnh nhân nghĩa

là bệnh nhân được quyền tham gia trong các quyết định liên quan đến chẩn đoán, điều trị, chăm sóc tình trạng bệnh của mình Công bằng trong công tác khám chữa bệnh có nghĩa là mọi bệnh nhân đều có cơ hội nhận được sự điều trị và chăm sóc

y tế như nhau Lòng thương cảm và sự tin cậy là những yếu tố chính trong mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, tạo nên sự tôn trọng và công bằng

Trang 39

 Giao tiếp và thỏa thuận đồng ý Thỏa thuận đồng ý phải thích ứng với quyền bệnh nhân trong lựa chọn những khả năng điều trị hay chăm sóc y tế mà người thầy thuốc đưa ra Nguyên tắc chung là bệnh nhân phải tham gia vào việc xác định lợi ích trong từng trường hợp cụ thể Thầy thuốc không được phép chỉ định cho bệnh nhân những giải pháp điều trị không mang lại lợi ích cho bệnh nhân Điều kiện cần của thỏa thuận đồng ý là khả năng giao tiếp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân Người thầy thuốc phải giải thích những chẩn đoán, tiên lượng, điều trị bằng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và thích hợp với trình độ người bệnh để đảm bảo chắc chắn rằng bệnh nhân thật sự hiểu các khả năng điều trị Có hai cản trở trong việc giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân là vấn đề ngôn ngữ và văn hóa

 Sự quyết định trong trường hợp bệnh nhân không đủ năng lực Bệnh nhân không đủ năng lực là những người không thể tự quyết định những vấn đề liên quan đến quá trình chăm sóc và khám chữa bệnh Những bệnh nhân này bao gồm trẻ

em, bệnh nhân có vấn đề về tâm thần, bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân nhạy cảm (phạm nhân, nhiễm HIV/AIDS),… Những trường hợp này, người đại diện theo pháp luật của bệnh nhân sẽ là người đưa ra các quyết định

 Bảo mật thông tin liên quan đến bệnh nhân nhằm đảm bảo tính tôn trọng quyền tự chủ của bệnh nhân Tất cả những thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, tình trạng y tế, chuẩn đoán, tiên lượng, điều trị cũng như thông tin cá nhân phải được bảo mật ngay cả sau khi bệnh nhân chết Trừ trường hợp những thông tin này là những nguy cơ mang tính di truyền từ đời này sang đời khác, bệnh nhân đồng ý có ký biên bản thỏa thuận hoặc một số trường hợp mở liên quan đến sức khỏe cộng đồng, liên quan đến pháp luật, tòa án, hình sự,…

 Một số vấn đề thực hành y học liên quan đến giai đoạn đầu và giai đoạn kết thúc cuộc đời như tránh thai, hỗ trợ sinh sản, nạo phá thai, cái chết nhẹ nhàng, tự tử,…

Trang 40

- Mối quan hệ thầy thuốc – đồng nghiệp

Người thầy thuốc cần tạo mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và làm việc cùng các đồng nghiệp một cách tốt nhất để phục vụ các quyền lợi của bệnh nhân Điều này yêu cầu một người thầy thuốc cần: học tập liên tục, rèn luyện tay nghề,

tu dưỡng đạo đức và thái độ, thực hành đúng chuyên môn, đối xử công bằng với đồng nghiệp, có kỹ năng làm việc nhóm và phụ trách nhóm, chia sẻ thông tin với đồng nghiệp,… Đặc biệt, trong mối quan hệ này, hoạt động làm việc theo nhóm được xem là điểm mấu chốt để hợp tác cùng các đồng nghiệp nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất trong thăm khám và điều trị

- Mối quan hệ thầy thuốc – xã hội, cộng đồng

Người thầy thuốc có vai trò quan trọng trong xã hội, cộng đồng vì họ làm công việc chính là chăm sóc sức khỏe cho con người Người thầy thuốc có trách nhiệm tham gia vào những vấn đề chăm sóc sức khỏe chung của xã hội như giáo dục sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường và sức khỏe toàn cầu

1.3 Tổng quan về Khoa Y - ĐHQG TP HCM

Khoa Y là đơn vị trực thuộc ĐHQG TP HCM, được thành lập ngày 23 tháng

6 năm 2009 Định hướng của Khoa Y là một đơn vị đào tạo tiên tiến, chất lượng cao dựa trên mô hình trường - bệnh viện, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Khoa Y hướng đến xây dựng Trường ĐH Khoa học sức khoẻ, phát triển theo

cơ chế tự chủ cao về chuyên môn, gắn với hệ thống các trường đào tạo y dược trong cả nước và các bệnh viện trong khu vực, phát huy những thế mạnh sẵn có của ĐHQG TP HCM: đa ngành, đa lĩnh vực Từ đó đào tạo ra những bác sĩ đáp ứng yêu cầu chung theo quy định của Bộ Y tế và mang đặc thù riêng của ĐHQG

TP HCM

Ngày đăng: 09/06/2021, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w