Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi của Đảng ta từ khi bắt đầu đổi mới đến nay; được xác định là một trong chín mối quan hệ cơ bản “Q
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các trích dẫn và số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ
rõ ràng
Tên tác giả
Nguyễn Thị Hoa
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Mục đích của luận án 3
3 Nhiệm vụ của luận án 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
6 Đóng góp mới và ý nghĩa khoa học của luận án 5
7 Kết cấu của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam 6
1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay 19
1.3 Những công trình nghiên cứu về các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết hơn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay 27
1.4 Những vấn đề đặt ra luận án cần giải quyết 30
Kết luận chương 1 32
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM 34
2.1 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị - cơ sở lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị 34
2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị 54
Kết luận chương 2 81
Trang 4Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MÂU THUẪN TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83
3.1 Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay 83
3.2 Một số mâu thuẫn cơ bản liên quan tới đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay 96
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 115
4.1 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 115
4.2 Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 125
4.3 Tăng cường tổng kết thực tiễn đẩy mạnh đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giải quyết một cách có hiệu quả quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay 142
Kết luận chương 4 152
KẾT LUẬN 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Kinh tế và chính trị là hai loại hình hoạt động cơ bản nhất cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội được tổ chức thành nhà nước Kinh tế tồn tại và phát triển trong một chế độ chính trị nhất định, làm cơ sở vật chất cho chế độ chính trị đó; còn chính trị bao giờ cũng được thiết lập trên nền tảng của một chế độ kinh tế nhất định Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị quy định mọi mối quan hệ khác của xã hội Giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay
có sự tương đồng về bản chất ở thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi của Đảng ta từ khi bắt đầu đổi mới đến nay; được xác định là một trong chín mối quan hệ cơ bản (“Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [33, tr.80]) cần tiếp tục quán triệt và xử lý tốt trong thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Mối quan hệ này biểu hiện tập trung ở việc xây dựng, hoàn thiện mô hình và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng một thể chế chính trị tương ứng đủ sức định hướng cho sự phát triển của kinh tế
Đại hội VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những quan hệ cơ bản
mà thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra” [27, tr.75] và đòi hỏi phải được làm rõ
về mặt lý luận nhằm tiếp tục đưa thực tiễn đổi mới đi vào chiều sâu Sau hơn
Trang 630 năm đổi mới, tuy đã đạt được những thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới toàn diện đất nước nói chung, của quá trình giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng, song giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vẫn còn nhiều bất cập, cần phải được nhận thức và giải quyết một cách khoa học hơn trong bối cảnh hiện nay
Về mặt nhận thức: xung quanh việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trị hiện vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau Một số người đã tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế trong quan hệ với chính trị, xem nhẹ vai trò của chính trị, họ xem kinh tế thị trường là liều thuốc vạn năng
có thể chữa được bách bệnh và giải quyết được mọi vấn đề mà công cuộc đổi mới đặt ra Ngược lại, một số khác lại tuyệt đối hóa sức mạnh của các quyết định chính trị, xem nhẹ vai trò của kinh tế Một số người vẫn cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể dung hợp, theo họ, hoặc chấp nhận kinh tế thị trường thì kinh tế phát triển, nhưng thể chế chính trị tương ứng sẽ
là chủ ghĩa tư bản Một số khác lại cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế sẽ dẫn tới sự đa dạng hóa cơ cấu xã hội, đa dạng hóa
cơ cấu lợi ích, trong đó không chỉ có sự thống nhất, mà còn có sự khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau, do vậy, người ta cho rằng thích ứng với nền kinh
tế “đa nguyên” phải là nền chính trị “đa nguyên”, không thể duy trì mãi chế
độ lãnh đạo của một Đảng duy nhất
Về mặt thực tiễn: có một thực tế dễ dàng nhận ra ở nước ta hiện nay: thứ nhất, kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu
cầu và thực tế nguồn lực được huy động “Chất lượng, hiệu quả và nâng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Phát triển
thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường” [33, tr.67] Thứ
hai, đổi mới chính trị lại chậm hơn so với yêu cầu của đổi mới kinh tế Theo
kết luận của Văn kiện Đại hội XII thì “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa
Trang 7ngang tầm nhiệm vụ” [33, tr.68] Thứ ba, không chỉ chậm hơn so với kinh tế,
đổi mới trong lĩnh vực chính trị cũng bộc lộ những hạn chế mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Đó là “tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là bộ máy hành chính nhà nước, có quá nhiều đầu mối, trách nhiệm tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng
và hiệu quả hoạt động thấp Chức năng và nhiệm vụ, thẩm quyền của nhiều cơ
ta hiện nay nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn, phù hợp thúc đẩy sự đổi mới trên hai lĩnh vực này vẫn là vấn đề cấp bách, là đòi hỏi của chính công cuộc
đổi mới nhằm hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” Xuất phát từ những yêu cầu trên, nghiên cứu sinh chọn đề
tài: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện
nay làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích của luận án
Dựa trên việc luận chứng một cách khoa học quan hệ giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay, thực trạng giải quyết mối quan hệ này sau hơn 30 năm đổi mới, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thời gian tới ở Việt Nam
Trang 83 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về quan hệ giữa kinh tế và chính
trị; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, phân tích thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phát triển kinh tế và giữ
vững ổn định chính trị ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu:
Luận án hướng trọng tâm vào nghiên cứu quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; trong đó chủ yếu sử dụng một số phương pháp cơ bản như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa, phương pháp thống kê trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án Ngoài ra, luận án còn
Trang 9kế thừa một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
đi trước về vấn đề này
6 Đóng góp mới và ý nghĩa khoa học của luận án
Đóng góp mới:
- Luận án góp phần làm rõ hơn những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
- Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời gian tới
Ý nghĩa khoa học:
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn đổi mới kinh tế cũng như đổi mới chính trị ở nước ta; đồng thời cũng là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu
và giảng dạy, cho sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương với 11 tiết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói chung, giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng là một trong những vấn đề lớn (được xem là một trong chín mối quan hệ lớn cần được quán triệt và xử lý tốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội), phức tạp, nhạy cảm nhưng
vô cùng quan trọng Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này đã được công bố
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị được chủ nghĩa Mác - Lênin đề
cập chủ yếu trong các tác phẩm: “Phê phán cương lĩnh Gôta”; “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản”; “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Kinh
tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”; “Bàn về thuế lương thực”;
“Bàn về chế độ hợp tác xã”…Thông qua các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin trên lĩnh vực kinh tế và chính trị đã phản ánh quan điểm và học thuyết về các quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong xã hội loài người qua các hình thái kinh tế - xã hội
Thứ nhất, theo C.Mác, chính sự phát triển thị trường, hàng hóa công
nghiệp hóa và lập ra những đô thị đồ sộ, giai cấp tư sản đã nhanh chóng xóa
bỏ được tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất và dân cư và tập trung hóa nhanh chóng về mọi mặt Xã hội tương lai thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa là
xã hội cộng sản chủ nghĩa Xã hội đó “tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa
tập thể, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” [80, tr.33] Xã hội mới
ra đời chưa có thể có đầy đủ ngay lập tức những đặc trưng mới về chính trị,
xã hội, mà phải trải qua một quá trình xây dựng từng bước, từ thấp đến cao, từ
Trang 11chưa hoàn bị đến hoàn bị, tùy theo điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất
và bản thân người lao động Khắc phục những thiếu sót trong giai đoạn đầu của xã hội mới bằng vai trò của nhà nước và của bản thân giai cấp tư sản, nhà nước mới, một mặt ra sức bảo vệ chế độ mới về tư liệu sản xuất, mặt khác bảo
vệ sự bình đẳng trong lao động và phân phối sản phẩm
Thứ hai, V.I.Lênin cho rằng, trong cuộc cách mạng tư sản, “nhiệm vụ
chủ yếu của quần chúng lao động là làm một công việc tiêu cực hoặc có tính chất phá hoại” [62, tr.207] Ngược lại, nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà công nhân và nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo là “một công tác tích cực nhằm thiết lập một mạng lưới các quan hệ tổ chức, một mạng lưới cực kỳ phức tạp và tinh tế, bao trùm sự sản xuất và phân phối một cách có kế hoạch các sản phẩm cần thiết cho đời sống của hàng triệu con người Một cuộc cách mạng như thế chỉ có thể được hoàn thành thắng lợi, nếu đa số nhân dân và trước hết là đa số những người lao động, chủ động tiến hành một hoạt động sáng tạo có ý nghĩa lịch sử” [62, tr.207] Sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, thì trọng tâm của đấu tranh cách mạng phải chuyển sang lĩnh vực kinh tế Theo V.I.Lênin, giai cấp công nhân đã thiết lập được một kiểu nhà nước mới, kiểu Xôviết, nó tạo khả năng cho quần chúng lao động và bị áp bức có thể tham gia hết sức tích cực và chủ động vào công cuộc xây dựng xã hội mới
Thứ ba, trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, thì kinh tế là tính
thứ nhất, có ý nghĩa quyết định Nói đến chủ nghĩa cộng sản là nói đến một hình thái kinh tế xã hội cao nhất, tiến bộ nhất C.Mác và V.I.Lênin đã từng khẳng định, chủ nghĩa tư bản sở dĩ đánh bại chế độ phong kiến, vì nó là một phương thức, một hình thái kinh tế xã hội cao hơn, tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, vì nó “đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô…chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều” [63, tr.25] Và chủ nghĩa xã hội sẽ đánh bại hoàn toàn và triệt để chỉ khi nào
Trang 12tạo ra một năng suất lao động cao hơn, nhiều hơn so với phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Qua đó khẳng định tính tất yếu phải tồn tại nền quá độ trong thời đại chuyên chính vô sản là sự cùng tồn tại lâu dài, đan xen và đấu tranh trong suốt thời đại chuyên chính vô sản giữa các thành phần kinh tế, mà nó phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã làm rõ quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định; chính trị tác động trở lại bằng cách lãnh đạo, định hướng, tạo động lực cho phát triển kinh tế Kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội; sản xuất vật chất là cơ sở của nhà nước, pháp quyền và ý thức xã hội; sở hữu tư nhân là cơ sở của xã hội đối kháng giai cấp; sở hữu xã hội là cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa Khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ biện chứng, chi phối các quan hệ khác trong đời sống xã hội Sự quyết định suy đến cùng của kinh tế đối với chính trị thể hiện vai trò của cơ sở kinh tế, nguyên nhân, điều kiện và các quan hệ giữa kinh tế đối với các hiện tượng chính trị Vai trò tích cực của chính trị đối với kinh tế thể hiện tập trung nhất vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ
sở hạ tầng; vai trò của đảng chính trị đối với xã hội
Ở nước ta, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có vị trí rất quan trọng trong các mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội Việc nhận thức
và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng Đảng ta luôn đặt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản trong quá trình phát triển đất nước, ổn định chính trị để phát triển kinh tế, phát triển kinh tế để giữ vững ổn định chính trị đã trở thành nguyên tắc trong quá trình Đảng lãnh đạo tiến trình cách mạng nước ta Vì vậy, Đảng ta đã khởi đầu công cuộc đổi mới, bằng đổi mới toàn diện và sớm chú trọng giải quyết đúng
Trang 13đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Quan hệ giữa kinh
tế và chính trị đã được Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới - từ năm 1986 đến nay:
- Trên thực tế, từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội
Và một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng chính là những khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị “là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” [21, tr.26] Nếu không có những yếu tố tác động về chính trị, công cuộc đổi mới sẽ chỉ dừng lại ở đổi mới kinh tế - xã hội, sẽ không có quá trình kết hợp chặt chẽ và ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình tiếp theo
- Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội Như vậy, việc sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” đã phản ánh và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng…Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động, không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủ trương đa nguyên về kinh tế” [22, tr.49]
- Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), “quan hệ giữa đổi mới kinh tế và
Trang 14đổi mới chính trị” là một trong những mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta Trong những năm tới, cần “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương…” [32, tr.99 - 100] Với quan điểm “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [32, tr.99]
Như vậy, khi đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện và ngày càng nâng cao, ổn định chính trị được giữ vững, nghĩa là sức ép về phát triển kinh tế không còn gay gắt như trước, Đảng ta chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế, chính trị và văn hóa, bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững Trên cơ sở đó, trong mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong 5 năm tới, Đảng ta xác định: “Kế thừa và phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm của 30 năm đổi mới, nhất là 5 năm gần đây, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ đúng đắn đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, đồng thời đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, có bước đi phù hợp trên tất cả các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực của đất
nước, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững” [33, tr.75-76]
Tóm lại, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã sớm ý thức được kết hợp ngay từ đầu và trong từng bước đi việc đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị Đổi mới chính trị phải xuất phát từ đòi hỏi của đổi mới kinh tế, đổi mới kinh tế phải trên cơ sở của đổi mới chính trị
Trang 15Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà chính trị quan tâm nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị Theo tác giả công
trình Quy luật xã hội với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
cho rằng “Toàn bộ sự phát triển xã hội bắt nguồn và dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ kinh tế trở thành trở lực của phát triển lực lượng sản xuất thì nảy sinh cách mạng xã hội Về thực chất, cách mạng xã hội là quá trình giải phóng lực lượng sản xuất khỏi những quan hệ kinh tế cản trở nó Và khi đã nắm được quyền lực nhà nước thì điều cơ bản sống còn của một chế độ chính trị là đưa lại một năng suất cao hơn chế độ chính
trị cũ” [137, tr.22 - 23]
Sau khi phân tích kinh tế chính trị không phải là kinh tế đơn thuần, hay chính trị đơn thuần, kinh tế chính trị là kết hợp nhiều ngành, là tổng hợp của kinh tế và chính trị, là xem xét kinh tế trong tiến trình phát triển của chính trị,
trong bài viết Một số vấn đề kinh tế và chính trị hiện nay, tác giả Nguyễn Chí
Trung nhận định: “Trên thực tế, Goobachop đã làm cho Đảng Cộng sản biến chất trước khi xóa bỏ hoàn toàn chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Xô, làm cho mô hình kinh tế Xôviết biến chất trước khi làm cho mô hình ấy vấp phải thất bại hoàn toàn, làm cho quân đội và công an biến chất dẫn tới không dám hành động bảo vệ cách mạng Một mô hình kinh tế sai lầm nhưng chính trị vững chắc thì có thể sửa chữa được nhưng chính trị biến chất thì làm cho kinh tế biến chất theo Kinh tế biến chất lại thúc đẩy chính trị chao đảo Chính
trị chao đảo dẫn đến sự sụp đổ chế độ” [151, tr.249 - 250]
Cùng quan điểm trên, tác giả Phạm Ngọc Quang trong bài viết Bài học
kinh nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải cách kinh tế
trước đây khẳng định: “Không có một đường lối chính trị đúng đắn thì sẽ đưa
toàn bộ quá trình xây dựng kinh tế chệch khỏi định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội để giải phóng triệt để con người Bởi vì, có đường lối chính trị đúng đắn cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng vật chất và tinh thần của nhân dân trong nước, để thực hiện thắng lợi đường lối chính trị đã được xác định; việc
Trang 16đổi mới hệ thống chính trị phải dựa trên thành quả đổi mới kinh tế và nhằm đáp ứng đổi mới kinh tế; đổi mới chính trị nhằm tăng cường tính ổn định của thể chế chính trị như là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế Ngược lại, sự tăng trưởng kinh tế được chỉ đạo bởi một định hướng chính trị
vững vàng lại trở thành cơ sở để củng cố thiết chế chính trị [108, tr.38]
Theo tác giả Lê Thanh Hà trong bài Quan điểm của C.Mác về mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị, thì “Giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện
chứng với nhau Trong đó, quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là những quan
hệ xã hội cơ bản, quyết định mọi quan hệ về chính trị, pháp luật, tư tưởng…Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Mâu thuẫn trong đời sống kinh
tế, xét đến cùng, quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng là biểu hiện của những mâu
thuẫn trong đời sống kinh tế” [40, tr.72]
Trong chương IV của cuốn Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Duy Quý cho
rằng: “Việc Đảng và Nhà nước ta xây dựng và thực hiện mô hình kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hơn nhiều loại hình sở hữu với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, việc Nhà nước nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu, chi phối toàn bộ nền kinh tế - xã hội là những biểu hiện của việc vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chế độ sở hữu
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [113, tr.259] Cùng nhận
định trên, các tác giả Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hoà cho rằng, trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “Tiến trình đổi mới căn bản mô hình phát triển kinh tế trong suốt quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, đó là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới thì việc quan trọng vẫn là tiếp tục đổi mới tư duy Phải đổi mới tư duy một cách
Trang 17toàn diện và động bộ các mặt của đời sống xã hội đất nước” [37, tr.318] Nói cách khác, cùng với đổi mới tư duy kinh tế, phải đổi mới tư duy toàn diện các mặt khác như chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học…trước hết là đổi mới tư duy chính trị theo kịp đổi mới kinh tế và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với đổi mới tư duy lý luận, phải đổi mới tư duy thực tiễn Chúng
ta phải đổi mới hệ thống chính trị một cách phù hợp với cơ sở kinh tế và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
Cùng quan điểm trên, tác giả Vũ Trọng Dung trong công trình Chính
sách kinh tế mới của V.I.Lênin với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta đã khẳng định chủ trương
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là
“Đảng ta đã thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là đặc trưng của
cơ cấu kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đưa ra chủ trương
chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế nhiều thành phần” [18, tr.18]
Ngoài ra, các tác giả như Vũ Văn Phúc, Vũ Hữu Ngoạn…cũng đề cập đến mối quan hệ giữa kinh tế là chính trị khi cho rằng trình độ xây dựng, quản
lý nhà nước, trình độ xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng trực tiếp đến những diễn biến kinh tế, đến những động lực phát triển kinh tế Trình độ phát triển kinh tế lại làm cơ sở vững chắc cho nền chính trị
mới [xem: 103]
Như vậy, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà nghiên cứu đã phân tích quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, và khẳng định rằng mọi sự phát triển xã hội đều bắt nguồn từ kinh tế và đều dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, nhưng chính trị là yếu tố quan trọng nhất để phát triển kinh tế “Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tìm mọi cách để đổi mới chính trị, làm cho nó phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế vừa định hướng cho
sự phát triển kinh tế Mục tiêu cơ bản của đổi mới kinh tế là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tạo tiền đề cho công nghiệp hóa Đây là vấn đề đặt ra cho luận án cần phải giải quyết” [94, tr.12]
Trang 18Ở Việt Nam, về mặt ngữ nghĩa, “Đổi mới được hiểu là sự biến đổi cho khác với trước, tiến bộ hơn trước, được Đảng xác định là nhằm kế thừa và phát huy những thành quả và giá trị mà chủ nghĩa xã hội đã đạt được, thay đổi, uốn nắn những quan điểm, nhận thức về chủ nghĩa xã hội chưa được xác định đúng hoặc hiện nay không phù hợp với tình hình mới, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, đồng thời xây dựng những chính sách đổi mới, những giải pháp đúng phù hợp với cuộc sống để đưa chủ nghĩa xã hội phát triển lên một giai đoạn mới [22, tr.12]
Vấn đề đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong bài viết 20 năm đổi mới và sự hình
thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tác
giả Nguyễn Cúc nhận thấy sau 20 năm đổi mới đó là “Sự đổi mới từ nền tảng kinh tế và đường lối chính trị đúng đắn Nhờ ổn định chính trị mà đổi mới kinh tế thuận dòng, ngược lại thành công về kinh tế là nền tảng bảo đảm ổn định đổi mới hệ thống chính trị, quyết tâm đổi mới nhưng có bước đi thích hợp và điều quan trọng hơn là càng đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội càng rõ hơn” [16, tr.13]
Cùng quan điểm trên, nhóm tác giả Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú,
Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Viên, Nguyễn Viết Thông cho rằng, nhìn lại thực tiễn
30 năm đổi mới, có thể nhận rõ những bước tiến về lý luận đổi mới kinh tế của Đảng là điểm cốt yếu, quan trọng nhất là xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Đó là nền kinh tế thị trường được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý, hướng vào lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của cộng đồng xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Nhà nước - doanh nhân, chủ doanh nghiệp (doanh nhân) và người lao động Định hướng xã hội chủ nghĩa là bảo đảm chính trị cho phát triển kinh tế thị trường, trong đó có vai trò của thể chế, kế hoạch điều tiết vĩ mô của Nhà nước pháp quyền, của dân chủ, bình đẳng trong sản
xuất kinh doanh và trước pháp luật cho mọi thành phần kinh tế” [59, tr.53]
Trang 19Trong quá trình đổi mới đã làm xuất hiện nhiều nhân tố mới có vai trò
đầu tàu trong nhiều lĩnh vực của xã hội Trong bài Một số vấn đề kinh tế - xã
hội trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả Vũ Hồng
Tiến đã tập trung làm rõ những quan điểm mới về lý luận và thực tiễn của một
số vấn đề đang được quan tâm giải quyết ở nước ta Đó là phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu
và các thành phần kinh tế; thực hiện sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển dân số, môi trường, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội Theo tác giả, “dưới tác động của công cuộc đổi mới, với chính sách mở cửa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự mở ra một hướng
đi mới [xem: 122]
Thống nhất quan điểm trên, tác giả Hoàng Xuân Nghĩa cho rằng, “Đối với Việt Nam, chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế với dân chủ, công bằng
và tiến bộ xã hội, đương nhiên có khác so với các nước Chính đặc điểm kinh
tế, văn hóa, xã hội và truyền thống dân tộc luôn đề cao giá trị “đoàn kết và tương thân tương ái”, với ý nguyện của Đảng và lòng dân cùng hướng về một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, tự do và hạnh phúc” sẽ có ảnh hưởng quyết định đến cách xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội” [88, tr.177]
Theo tác giả Nguyễn Kế Tuấn “Sự đổi mới tư duy nhận thức về sở hữu gắn liền với nhận thức đúng đắn hơn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa
và về nền kinh tế thị trường Tính chất xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay không phải thể hiện ở chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu cao hay thấp,
mà chủ yếu thể hiện ở yêu cầu thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, huy
Trang 20động các nguồn lực vào phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm công bằng và phát triển” [126, tr.166]
Bên cạnh đó, còn có một số nhà khoa học đề cập đến vấn đề đổi mới
kinh tế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Lê Quốc Lý “Đổi mới
tư duy lý luận về kinh tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới” [xem: 69]; Nguyễn
Minh Thuyết “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và
thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở nước ta” [xem: 143]; Vũ Văn Viên “Vấn
đề dân chủ trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay” [xem: 157]; Nguyễn Thế
Sang “Phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” [xem: 119] Các bài viết này đã
đề cập đến bước phát triển đột phá trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đó là nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; phát huy dân chủ trong kinh tế để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích mọi người vượt lên làm giàu hợp pháp, chính đáng, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo
Tóm lại, tất cả các nghiên cứu trên có điểm chung giống nhau đều lấy thị trường, cơ chế thị trường làm cơ sở cho hoạt động kinh tế Cơ chế thị trường được coi là điều kiện môi trường để thúc đẩy sự phát triển các yếu tố của nền sản xuất, còn Nhà nước có vai trò kinh tế nhất định trong việc khắc phục những hạn chế của thị trường và đảm bảo công bằng xã hội Hiện nay các nhà khoa học đã thừa nhận: nền kinh tế hiện đại muốn phát triển phải dựa vào cả
cơ chế thị trường và sự quản lý của Nhà nước, quan điểm về “nền kinh tế hỗn hợp” đang là cơ sở lý luận trong quản lý nhà nước
Do tính nhạy bén và cực kỳ phức tạp của đổi mới chính trị, mỗi bước đi vội vàng, thiếu chính chắn đều có thể gây ra những đảo lộn khôn lường, nên Đảng ta luôn lưu ý rằng việc đổi mới tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội cũng như cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị cần phải đi
Trang 21những bước đi thận trọng và vững chắc; cần phải bắt đầu từ giải quyết những vấn đề cấp bách nhất và đã chín muồi; phải luôn luôn nhận thức được rằng đổi mới chính trị, nhất là đổi mới tư duy chính trị, là cơ sở khởi phát cho việc hoạch định đường lối, chính sách, kể cả đường lối đổi mới nói chung, cho nên
“nếu vội vã và đề ra sai lầm sẽ phải trả giá đắt, có khi không cứu vãn được”
[23, tr.71]
Mặc dù là một vấn đề khá phức tạp, nhạy cảm vì có liên quan đến chính trị, nhưng do tầm quan trọng và do yêu cầu bức thiết của thực tiễn, nên đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học Theo tác giả Lê Minh Thông
“Định hướng xã hội chủ nghĩa trên con đường phát triển của đất nước hiện nay và trong những năm tiếp theo đòi hỏi hệ thống chính trị phải đóng vai trò tích cực chủ động và sáng tạo với ý nghĩa, trong một chừng mực nào đó vượt lên trình độ phát triển kinh tế, đi trước kinh tế để một mặt không bị lạc hậu với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, không trở thành một lực lượng kìm hãm sự phát triển kinh tế Mặt khác, phải chủ động đối phó với các tình huống phức tạp bất lợi cho sự phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế” [138, tr.204]
Cùng quan điểm trên, tác giả Phạm Ngọc Trâm cho rằng: “Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị của Việt Nam đang trên đà phát triển theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử, nâng cao hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, củng cố Đảng đi đôi với việc cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần giữ vững được sự ổn định chính trị, chúng ta đặc biệt coi trọng các biện pháp có hiệu quả nhằm phát huy cao nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
[144, tr.306]
Trang 22Trong đổi mới chính trị, khẳng định dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân với tư cách là mục tiêu và động lực của đổi mới và phát triển bền vững ở
nước ta, trong bài viết Dân chủ, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, tác
giả Lê Quốc Lý cho rằng “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta không ngoài mục đích xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Hoạt động của hệ thống chính trị bảo đảm cho dân chủ - quyền lực của nhân dân - được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở các cấp, trên tất cả các lĩnh vực đời sống của
xã hội nước ta” [71, tr.21] Cùng nhận định trên, tác giả Nguyễn Phú Trọng
cho rằng hiện nay cách mạng ở nước ta đang có bước chuyển rất quan trọng:
từ kinh tế hiện vật tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở cửa giao lưu quốc tế, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với quá trình đó, phải thực hiện tốt dân chủ hóa xã hội, đổi mới
hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa [xem: 149]
Tác giả Vũ Hoàng Công cũng đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng
“phát triển dân chủ bền vững nghĩa là tạo ra sự phát triển chung của đất nước một cách ổn định, lâu dài và toàn diện Sự phát triển của dân chủ phải là quá trình vừa thiết lập các thể chế bảo đảm các quyền và tự do của nhân dân, vừa đem lại sự hưởng thụ thực tế các quyền và tự do đó Trong đó, đặc biệt là hưởng thụ đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao Và quá trình phát triển dân chủ được đặt trên cơ sở của những thành quả của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [14, 191-192]
Ngoài ra, còn có các tác giả: Dương Xuân Ngọc “Nhận thức và thực hiện
đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
Trang 23dân làm chủ trong điều kiện mới” [xem: 97]; Phạm Văn Đức “Thực hành dân chủ - một phương thức nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng lãnh đạo cầm quyền” [xem: 39]; Hoàng Chí Bảo “Thực hành dân chủ
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam” [xem: 8] Các bài viết đã làm rõ đổi mới hệ thống chính trị là yếu tố
quan trọng để thực hành và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, nói tới chính trị thì trước hết là sự đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việc đổi mới hệ thống chính trị phải được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đây cũng là nhân tố bảo đảm xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện hiện nay
Như vậy, dù có nhiều quan điểm và nhận thức khác nhau trong vấn đề đổi mới chính trị, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng hầu hết các bài viết trên đều cho rằng: mục đích cuối cùng của việc đổi mới và xây dựng
hệ thống chính trị là nhằm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
Trước yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà lý luận Tác giả Dương Xuân Ngọc khẳng định “Thực chất của mối quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là quan hệ giữa đổi mới nền kinh
tế với đổi mới nền chính trị (mà cơ bản là hệ thống chính trị) hướng tới tạo
lập một thể chế kinh tế - chính trị bảo đảm cho sự phát triển kinh tế, mở rộng
và phát huy dân chủ, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [95, tr.88] Cũng theo tác giả để giải quyết có hiệu quả mối quan hệ này trong thực tiễn cần phải giải quyết tốt các mối quan hệ thứ cấp, phản ánh tập trung nhất bản chất,
Trang 24nội dung, xu hướng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị:
“Quan hệ giữa xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa với xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa; quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường với bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa; quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội…[95, tr.89]
Theo tác giả Vũ Văn Phúc, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta xác định là “Kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, trong
đó đổi mới kinh tế là hàng đầu, đồng thời đổi mới từng bước tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị Có ổn định về chính trị mới có điều kiện ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới tư duy kinh tế và đổi mới tư duy chính trị gắn liền với nhau, tạo điều kiện và làm tiền đề cho nhau, bảo đảm cho công cuộc đổi mới dù diễn ra trong những điều kiện vô cùng khó khăn nhưng vẫn tiến triển vững chắc” [103, tr.111] Tác giả Nguyễn Phú Trọng thì cho rằng “Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có
vị trí rất quan trọng trong các mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, vì nó liên quan đến yếu tố kinh tế được xem như là nền tảng số một của sự phát triển, đồng thời, liên quan đến chính trị là yếu tố nhạy cảm nhất, phức tạp nhất trong đời sống xã hội” [148, tr.52]
Trong luận án tiến sĩ Quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị ở nước ta hiện nay, tác giả luận án Lưu Thị Bích Thu cho rằng
để giải quyết có hiệu quả quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, thì phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế Đồng thời, theo tác giả, cần phải giải quyết những mâu thuẫn liên quan đến đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
ở nước ta hiện nay như: mâu thuẫn giữa khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và khuynh hướng tư bản chủ nghĩa của quá trình phát triển kinh tế thị trường
Trang 25định hướng xã hội chủ nghĩa; mâu thuẫn giữa giữ vững độc lập, tự chủ với hội nhập khu vực và quốc tế; mâu thuẫn giữa việc giải quyết cái đói, cái nghèo, cái lạc hậu trước mắt với năng lực có hạn của nền kinh tế [xem: 141]
Ngoài ra, có nhiều tác giả như Hoàng Chí Bảo, Dương Phú Hiệp, Lương Đình Hải, Trần Văn Phòng, Lê Minh Quân cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là mối quan hệ cơ bản, chi phối toàn bộ sự vận động của đời sống xã hội xuất phát từ vai trò của kinh tế đối với sự phát triển xã hội và các lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như khả năng tác động trở lại của nhân tố chính trị đối với kinh tế và
đời sống xã hội [xem: 7] “Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì
chính trị (đường lối, chính sách) giữ vai trò quyết định đối với kinh tế (phát triển kinh tế), chính trị lãnh đạo (định hướng, dẫn dắt) kinh tế trên cơ sở nắm vững những quy luật tất yếu của kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường, chính trị lãnh đạo, dẫn dắt kinh tế chủ yếu thống qua chính sách (chính sách công)” [111, tr.14]
Bên cạnh đó, có nhiều công trình cũng đề cập đến các khía cạnh khác
nhau của quan hệ giữa kinh tế và chính trị Tác giả Phạm Văn Đức “Mối quan
hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội nhìn từ biện chứng của sự tiến hóa lịch sử, một số đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [xem: 38]; Tác giả Nguyễn Gia Thơ “Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [xem: 140] ; Tác giả Vũ Văn Phúc “Mối quan hệ giữa vai trò của thị trường với vai trò của Nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [xem: 106]; Tác giả Dương Phú Hiệp
“Sự đổi mới nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường”
[xem: 51] Các tác giả đã phân tích một số vấn đề cơ bản hiện nay trong giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam: quan hệ giữa lợi ích kinh
tế và quyền lực chính trị; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; mô hình nhất nguyên chính trị ở nước ta hiện nay; tăng
Trang 26cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và thực hiện dân chủ kinh tế; phân hóa giàu nghèo và thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, song các bài viết chưa góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh trong thực tiễn, cũng như chưa có cái nhìn toàn diện về mối quan hệ này Vì thế, luận án sẽ bổ sung, phát triển hơn nữa những vấn đề liên quan đến quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị như giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường
và định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa nhất nguyên chính trị và đa nguyên kinh
tế, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội nhằm thúc đẩy đổi mới toàn diện đất nước và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Trong những năm đổi mới, sự kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã đem lại những chuyển biến tích cực đối với đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích
cực nêu trên sự kết hợp này vẫn còn những hạn chế, yếu kém
Trong bài viết Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986
đến nay, các tác giả đã khẳng định những ưu điểm của quá trình đổi mới tư
duy lý luận của Đảng trong những năm đổi mới vừa qua: “Đó là sự khẳng định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nhận thức tầm quan trọng đặc biệt của việc tạo lập và thường xuyên đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo thích ứng với điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước trong thời bình…Đi đến thừa nhận Nhà nước ta là Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” [118, tr.475 - 476]
Tuy nhiên, tư duy lý luận của Đảng vẫn còn những hạn chế, yếu kém: “Vấn
đề thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta là một vấn đề đáng và cần được nghiên cứu, làm sáng hơn so với những gì đã làm
Trang 27và đã đạt được như vừa qua Những đặc trưng rất cơ bản của nền kinh tế thị trường như kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển lâu dài, cơ chế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước, định hướng lên chủ nghĩa xã hội đã được khẳng định ngay từ Đại hội VI, vậy mà sau đó chúng ta chưa tập trung nghiên cứu, đẩy tới nhận thức để đi tới hình thành quan niệm đầy đủ về những đặc trưng của kinh tế thị trường ở Việt Nam”
[118, tr.483 - 484]
Sau 30 năm đổi mới “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng, công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh” [59, tr.332 - 333] Bên cạnh đó, cũng chỉ ra những hạn chế: “Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực được huy động Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm…, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào
Trang 28mối quan hệ với đổi mới kinh tế đã cản trở quá trình đổi mới chính trị, đồng thời cũng cản trở, gây khó khăn cho việc thực hiện đổi mới kinh tế, thậm chí kìm hãm phát triển kinh tế theo hướng lành mạnh [xem: 95]
Tác giả Lê Minh Quân thì cho rằng bên cạnh những thành tựu đạt được,
“Cần làm rõ sự trì trệ hiện nay trong đổi mới chính trị đang cản trở sự phát triển của kinh tế; sự chưa tương đồng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Trong đổi mới kinh tế và chính trị, đến nay, chúng ta vẫn khó khăn, lúng túng trong việc thiết kế mô hình tăng trưởng; trong thực tế vẫn còn “những phân biệt” đối với kinh tế tư nhân, vẫn đề cao kinh tế nhà nước và chưa có lời giải xác đáng, kịp thời cho kinh tế nhà nước, nhất là trong điều kiện hội nhập
và cạnh tranh quốc tế như hiện nay” [111, tr.17 - 18] Cùng quan điểm trên, tác giả đưa ra hạn chế đáng lưu ý là đổi mới chính trị chậm hơn so với yêu cầu của đổi mới kinh tế, cụ thể “Các cơ quan chức năng của chính phủ chưa nhạy bén, thiếu linh hoạt và quan liêu khi xử lý các tình huống kinh tế xảy ra của đời sống hàng ngày, gây xáo trộn và tâm lý hoang mang trong nhân dân Một chủ trương nếu không phù hợp với thực tiễn hoặc do thực tiễn không hợp lý mang lại những hệ quả ngược cho xã hội sẽ làm giảm uy tín chính trị của chính quyền
và bản thân cán bộ lãnh đạo quản lý” [71, tr.151] Mặt khác, “không chỉ chậm hơn so với kinh tế, đổi mới trong lĩnh vực chính trị cũng bộc lộ những hạn chế
mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Đó là ý chí của quyền lực chính trị chưa được coi trọng và tuân thủ một
cách nhất quán và theo trật tự” [71, tr.151 - 152]
Ngoài ra, trong bài viết Một số vấn đề đặt ra trong xử lý mối quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tác giả Vũ Hoàng Công nhấn
mạnh rằng “Nhà nước chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng mà kinh tế thị trường đặt ra Cụ thể, Nhà nước chưa làm tốt việc xây dựng và thực thi pháp luật để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển Tình trạng quan liêu dẫn đến nhiều quy định, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế không sát thực tiễn, không mang tính khả thi; nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội thiếu sự
Trang 29điều chỉnh và quản lý bằng pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý phát triển và trật tự đô thị” [15, tr.15] Mặt khác, thể chế dân chủ chưa phát triển đúng mức có thể kiểm soát được mọi hoạt động của Nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế Phương hướng cầm quyền của Đảng còn lúng túng, trên thực tế, các đợt chỉnh đốn, “phê bình tự phê bình” trong Đảng thời gian gần đây chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, trong khi niềm tin của nhân
dân đối với Đảng có sự giảm sút Cùng quan điểm trên, trong bài viết Hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đưa ra
nhận định, cho đến nay thể chế kinh tế, với tư cách là một chỉnh thể vẫn chưa được hình thành một cách toàn diện, có hệ thống Đó là lý do dẫn đến hiện tượng luật pháp, chính sách kinh tế nhiều khi lạc hậu, “chạy theo sau” các hoạt động kinh tế, đã và đang gây cản trở cho sự nghiệp phát triển kinh
tế nhanh và bền vững [xem: 158]
“Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị hiện nay sẽ không còn đầy đủ và triệt để, sẽ không đồng bộ và toàn diện nếu chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các khu vực kinh tế, xóa bỏ bao cấp và thay thế cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, mệnh lệnh, bao cấp bằng cơ chế thị trường chưa phát triển đầy đủ và đồng bộ Thực tiễn đời sống xã hội đang đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong các lĩnh vực như phân phối, quản lý và điều hành nền sản xuất xã hội” [41, tr.4] Tuy nhiên, theo tác giả, “Sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua cũng đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trên lĩnh vực chính trị, trong đó có cả những lĩnh vực, những vấn đề
mà từ trước đến nay, hầu như chưa đụng chạm đến nhiều như cải cách hành chính, dân chủ hóa, tổ chức bộ máy chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp, đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quan hệ Đảng - Nhà nước - các đoàn thể chính trị - xã hội” [41, tr.4]
Bài viết Đặc trưng chính trị của nền hành chính nhà nước và yêu cầu
đặt ra đối với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, tác giả Trương Quốc Chính cho rằng “Hành chính nhà nước là nơi mà
Trang 30người ta thấy rõ nhất những ưu việt của chế độ, nhưng cũng là nơi hội tụ nhất, tập trung nhất, hoặc biểu hiện rõ nhất các nhược điểm, khuyết tật của bộ máy nhà nước Do đó, để củng cố lòng tin của nhân dân với chế độ nói chung, với Nhà nước nói riêng, đồng thời thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thế giới và khu vực, thì cải cách hành chính nhà nước phải là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [12, tr.15] Mặt khác, “Chú trọng cơ sở xã hội của chính trị, chú trọng tích cực hóa đời sống chính trị ở cơ sở bằng những tác động tổng hợp, đồng
bộ của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, làm cho dân có điều kiện và có khả năng tham gia trực tiếp vào quản lý, vào kiểm tra, giám sát quản lý, phát huy năng lực tự quản cộng đồng” [6, tr.20]
Cũng theo tác giả Dương Xuân Ngọc, trên cơ sở đổi mới kinh tế, phải đẩy mạnh đổi mới chính trị tạo nên sự phù hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị “Trong đổi mới chính trị cần tập trung đổi mới thể chế theo nghĩa rộng gồm cả những quy định pháp lý, cả về tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức trong thể chế Cần phát huy hơn nữa vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tư cách là “người quản lý Nhà nước về kinh tế” và là một “chủ thể kinh tế, giữ vai trò chủ đạo trong kinh tế” Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo nên
sự đồng thuận trong đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị” [93, tr.11]
Như vậy, việc kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, chúng ta vừa thúc đẩy được nền kinh tế của đất nước theo quy luật khách quan, vừa tạo nên sự năng động, sáng tạo tích cực trong tư duy, tư tưởng và đời sống tinh thần nói chung của xã hội, làm cho con người thực sự
tự do và có điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình Tuy nhiên, như Đảng ta chỉ rõ: nền kinh tế của đất nước phát triển chưa vững chắc, hệ thống chính trị còn nhiều bất cập, đổi mới chính trị và hệ thống chính trị chưa theo kịp đòi hỏi của phát triển xã hội và đổi mới kinh tế Để khắc phục những
Trang 31hạn chế trên, phát huy vai trò lãnh đạo của chính trị đối với kinh tế, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta, đưa công cuộc đổi mới phát triển thắng lợi Đây là những vấn đề đang được đặt ra cho luận án cần bổ sung, giải quyết
1.3 Những công trình nghiên cứu về các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết hơn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhận thức, liên quan đến giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay, trong thời gian qua đã có nhiều bài viết đã được công bố
Trong bài Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội, tác giả Vũ Hoàng Công nhấn mạnh
đến giải pháp tư tưởng bao gồm “Công tác lý luận, tức là công tác nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn để rút ra những quy luật, quy tắc…của dân chủ; công tác đấu tranh tư tưởng lý luận; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về dân chủ; tuyên truyền việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân với nhà nước, pháp luật” [14, tr.231], ngoài ra “Với tư cách là người lãnh đạo xã hội, lãnh đạo nhà nước, phát triển dân chủ là một nhiệm
vụ, một trách nhiệm của Đảng ta, vừa là cơ hội khẳng định bản lĩnh, năng lực và bản chất của mình, vừa là một thử thách gay go, không thể xem thường” [14, tr.235 - 236]
Các tác giả Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn cho rằng
“Để đưa sự nghiệp đi tới thắng lợi, Đảng phải giữ vững được vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền, giữ vững được bản chất của chế độ thể hiện ở định hướng xã hội chủ nghĩa khi đi vào kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập Bản chất ấy, về mặt kinh tế - xã hội là tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội và về mặt chính trị là thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân [xem: 90] Mặt khác, “Nếu nhìn
Trang 32thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật thì có thể nói, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị đã không còn phù hợp, không theo kịp những bước chuyển của xã hội trong nền kinh tế thị trường, từng bộ phận và cả hệ thống cần được đổi mới, xây dựng lại, phải quy chế hóa và điều kiện hóa hoạt động của nó, nếu không, nó sẽ trở thành sự cản trở đổi mới, phát triển,
có nguy cơ làm hỏng việc thực hiện mục tiêu của đổi mới, chệch hướng sẽ ngày một nhiều hơn, nặng hơn, kết cục là biến chất, hậu quả sẽ khôn lường” [90, tr.407]
Ngoài ra, theo tác giả Phạm Văn Đức, để đảm bảo sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian tới, chúng ta cần xác định
rõ và tập trung giải quyết có hiệu quả một số mối quan hệ cơ bản: “Quan hệ giữa phát triển kinh tế và đổi mới chính trị, quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội, quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kết hợp vai trò của Nhà nước và vai trò của xã hội dân sự, quan
hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường…” [36, tr.202]
Bên cạnh đó, để giải quyết có hiệu quả các mối quan hệ này cần phải:
“Đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là tầng lớp tri thức, chính khách và doanh nhân; hiện đại hóa hệ thống chính trị; đổi mới việc mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” [36, tr.263] Bên cạnh đó cũng đã có nhiều bài viết đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước nói chung, giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng Chẳng hạn, tác giả Đặng Hữu Toàn cho rằng: “Chúng ta cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xác định chế độ sở hữu, các hình thức
sở hữu và thành phần kinh tế Làm rõ vai trò của nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước, của kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn 2030”
Trang 33[124, tr.9] và nhất là, trong việc thực hiện chủ trương “Chuyển đổi mô hình
tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững” [32, tr.107]
Theo tác giả Dương Xuân Ngọc “Cần xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo điều kiện, môi trường để xây dựng thể chế chính trị - xã hội bảo đảm cho Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và phục vụ công, nhân dân là chủ yếu, đồng thời, mở rộng và thực hiện dân chủ thực chất từ trong Đảng đến ngoài xã hội cũng như tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với các cơ quan quyền lực nhà nước” [97, tr.8 - 9 - 10]
Ngoài ra còn có các bài viết của các tác giả: Vũ Thanh Sơn “Hoàn
thiện quan hệ nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [xem: 120]; Lê Hữu Nghĩa “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [xem: 91]; Nguyễn Trọng Chuẩn “Một số giải pháp thực hành dân chủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” [xem: 10] Các bài viết đều đề cập tới chủ nghĩa
xã hội là mục tiêu đi tới của công cuộc đổi mới, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát đã được xác định và lựa chọn
để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường mới được hình thành và đang phát triển như hiện nay mà chủ thể quản lý nó, tức là Nhà nước, mắc tệ quan liêu, tham những trầm trọng thì thật khó đảm bảo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Do
đó, khi bàn đến công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ đã và đang là một trong những biện pháp, phương thức hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng với tính cách là Đảng lãnh
Trang 34đảo duy nhất lãnh đạo cầm quyền Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, lấy việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh làm khâu then chốt, làm nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới nói chung, đổi
mới hệ thống chính trị nói riêng
Tóm lại, mặc dù đã có rất nhiều bài viết đề cập đến các giải pháp trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay nói chung và các khía cạnh trọng tâm của mối quan hệ này nói riêng Tuy nhiên, các bài viết vẫn chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết có hiệu quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trên thực tiễn góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ ở nước ta Đây là những nhiệm vụ đang đặt ra cho tác giả luận án phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ
1.4 Những vấn đề đặt ra luận án cần giải quyết
Cho đến nay nghiên cứu về quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói chung
và đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng đã có những thành tựu đáng ghi nhận Tác giả đánh giá cao những thành quả đã đạt được trong các công trình khoa học đã được công bố thời gian qua, ít nhiều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; đồng thời, cũng thấy rằng không ít những vấn đề được đề cập trong các công trình đó cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu, phát triển, bổ sung hơn nữa để có thể đáp ứng với đòi hỏi của tình hình mới Vì vậy, luận án này là sự kế thừa, bổ sung, phát triển hơn nữa những vấn đề liên quan tới quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã được đề cập trong các công trình trước đó, góp phần đưa vấn đề này được nhận thức một cách sâu sắc trong bối cảnh mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình đã được công bố, đồng thời vừa khái quát từ góc độ quan điểm
Trang 35của triết học Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam để phân tích, tác giả đã xác định một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết như sau:
Thứ nhất, cho đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Tuy nhiên, do tiếp cận từ các góc độ
và thời gian khác nhau để làm rõ nội dung các khái niệm và quan hệ giữa chúng nên các công trình trên chỉ dừng lại ở cấp độ lý luận chung trong khi thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị luôn vận động và phát triển làm nảy sinh một số vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu Vì vậy, luận án sẽ góp phần
bổ sung, phát triển hơn nữa những vấn đề liên quan đến quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã được đề cập trong các công trình trước đó và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Thứ hai, đã có nhiều tác giả, nhiều bài viết nêu lên thực trạng của đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở thực trạng giải quyết đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị mà chưa có sự khái quát thực trạng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thực tiễn Do vậy, trong luận án này tác giả sẽ tiếp tục bổ sung, làm rõ thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong những năm qua, đồng thời làm rõ một số mâu thuẫn nảy sinh trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần ở nước ta hiện nay
Thứ ba, hiện nay đã có những bài viết đề cập tới nhiều giải pháp khác
nhau trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tuy nhiên chưa có bài viết nào đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thực tiễn góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta Do vậy, xuất phát
từ thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tác giả luận án tiếp tục bổ sung những giải pháp cơ bản, có tính khái quát, cụ
Trang 36thể cũng như rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm góp phần giải quyết có hiệu quả mối quan hệ này trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó xác định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt Trong đổi mới, kinh tế luôn đi trước một bước so với chính trị, đổi mới chính trị luôn xuất phát từ đòi hỏi của đổi mới kinh tế
Thứ nhất, sự vận động của kinh tế bị chi phối bởi chính các quy luật kinh
tế khách quan; đồng thời, nó cũng chịu sự tác động ngược lại của chính trị, của quyền lực nhà nước Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều nhóm lợi ích xã hội xuất hiện, việc dân chủ hóa trong đời sống kinh tế và đời sống xã hội ngày càng được chú trọng thì việc tìm kiếm một cơ chế thích hợp và hiệu quả hơn đối với điều kiện Việt Nam về dân chủ, về kiểm soát quyền lực kinh
tế và chính trị nói riêng, quyền lực xã hội nói chung là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp thiết đang được đặt ra trong thực tiễn nhằm tạo động lực cho sự phát triển đất nước bền vững
Thứ hai, sự tác động của chính trị đối với kinh tế là tạo môi trường xã
hội ổn định, giải phóng sức sản xuất, tạo động lực để phát triển kinh tế, định hướng phát triển kinh tế quốc gia Việc đổi mới kinh tế theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra dân chủ trên lĩnh vực kinh tế, tạo điều kiện để giải phóng sức sản xuất thuộc mọi tầng lớp nhân dân Dưới tác động của nền kinh tế đó, một Nhà nước pháp quyền xã hội
Trang 37chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân đang từng bước được hoàn thiện; tính năng động, nhạy bén và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế thị trường và toàn xã hội nói chung ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, theo nhận định của Đảng nêu rõ thì nền kinh tế của đất nước phát triển chưa vững chắc, hệ thống chính trị còn nhiều bất cập, đổi mới chính trị và hệ thống chính trị chưa theo kịp đòi hỏi phát triển của xã hội và đổi mới kinh tế Đây là những điểm lưu ý mà luận án sẽ tiếp tục làm rõ khi giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay
Thứ ba, mặc dù đã có những cách tiếp cận khác nhau về các giải pháp,
song nhìn chung các bài viết đó mới đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, chưa khái quát thành hệ thống các giải pháp về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Chính điều này làm cho các nhà hoạch định chính sách chưa đưa ra được những giải pháp tổng thể nhằm giải quyết có hiệu quả mối quan hệ này trong thực tiễn hiện nay Luận án cũng sẽ tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề này
Trang 38Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
2.1 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị - cơ sở lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
2.1.1 Khái niệm kinh tế và khái niệm chính trị
Thứ nhất, khái niệm kinh tế
Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học…Xã hội càng phát triển thì các lĩnh vực hoạt động này càng phong phú, đa dạng và ngày càng phát triển ở trình độ cao hơn Trong các lĩnh vực hoạt động nói trên của đời sống xã hội, lĩnh vực kinh tế được xác định là có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là cơ sở cần thiết và sâu xa nhất của xã hội loài người ở mọi giai đoạn phát triển của lịch sử
“Kinh tế” là một khái niệm phản ánh lĩnh vực vật chất của đời sống xã hội, cho nên “kinh tế” thường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nguyên nghĩa của từ “economic”, “kinh tế” là khái niệm dùng để chỉ nghệ
thuật tiến hành công việc nội trợ, nghệ thuật quản lý kinh tế gia đình Về sau,
“kinh tế” được dùng để chỉ các hoạt động của con người, nhằm thỏa mãn nhu
cầu vật chất cũng như các mối quan hệ liên quan đến lợi ích vật chất của con
người Là một phạm trù khoa học, ngày nay, “kinh tế” được hiểu theo mấy nội
dung sau:
- “Kinh tế” được hiểu là hoạt động tạo ra của cải vật chất của đời sống xã
hội, nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Để tồn tại, con người phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại và các thứ cần thiết khác Muốn vậy, con người phải tạo ra chúng, nghĩa là phải sản xuất và không ngừng sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng, “…trước hết con
Trang 39người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học…” [80, tr.166] Bởi vậy, hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người
Sở dĩ quá trình sản xuất xã hội có thể diễn ra một cách bình thường, chính là vì trong quá trình sản xuất đó, mối quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thể hiện thành những trình
độ khác nhau của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, mối quan hệ đó được xây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa người với người, tức
là những quan hệ sản xuất Như vậy, trong quá trình sản xuất xã hội của mình, con người ta, dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ với tự nhiên và những quan hệ nhất định với nhau Trong tác phẩm
Lao động làm thuê và tư bản, C.Mác viết: “Trong sản xuất, người ta không
chỉ quan hệ với tự nhiên, người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất” [77, tr.552] Như vậy, khái niệm “kinh tế” theo nghĩa thứ nhất, đã bao hàm trong nó cả mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất
- “Kinh tế” còn được hiểu là tổng thể “nền kinh tế quốc dân hay là một bộ
phận của nền kinh tế quốc dân, gồm các ngành và các hình thức sản xuất tương ứng, cơ cấu nền kinh tế và cả cơ cấu thành phần kinh tế của một chế độ
xã hội” Hiểu theo nghĩa này, thì kinh tế là một lĩnh vực rộng lớn có cấu trúc khá phức tạp bao gồm toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế
độ xã hội, trong đó, ba yếu tố cơ bản là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng…các yếu tố này có quan hệ biện chứng với nhau tạo
Trang 40thành những quy luật nhất định của lịch sử như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật
cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Chính sự tác động của các quy luật này làm cho sự phát triển xã hội nói chung, sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội nói riêng diễn ra như một quá trình lịch sử - tự nhiên
- “Kinh tế” được dùng để chỉ tổng thể các quan hệ sản xuất dựa trên một
trình độ nhất định của lực lượng sản xuất tạo thành cơ sở kinh tế của một chế
độ xã hội nhất định Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen
thường sử dụng khái niệm “kinh tế” theo nghĩa này, C.Mác đã viết: “Toàn bộ
những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ
sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị
và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” [78, tr.15]
Cơ sở kinh tế của một xã hội cụ thể là toàn bộ những quan hệ sản xuất cũng như sự tác động lẫn nhau giữa các quan hệ ấy trong xã hội đó Trong một giai đoạn lịch sử nhất định, cơ sở kinh tế (tổng thể những quan hệ sản xuất) của một xã hội bao giờ cũng bị chi phối bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây cũng chính là phát hiện thiên tài của C.Mác và Ph.Ăngghen:
“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có…trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” [78, tr.15]
Trong quá trình phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất đã quy định sự hình thành, biến đổi và phát triển của các quan hệ sản xuất, tức cơ sở kinh tế của xã hội Ngược lại, cơ sở kinh tế (tổng hợp những quan hệ sản xuất) đó có tính độc lập tương đối, do đó nó tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất theo theo hai chiều hướng, hoặc là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó chính là nội dung quy