Thật vậy, khi ta hiểu được cách cấu tạo của mỗi chữ, khi ta biết rằng mỗi chữ được xếp theo bộ tuỳ theo ý nghĩa của nó tỉ dụ: những chữ chỉ sông, biển thuộc bộ 水 thuỷ: nước; những chữ ch[r]
Trang 1Bài thứ nhất Khái niệm về chữ nho
1 Ðịnh nghĩa Chữ Nho, hoặc chữ Hán, hoặc Hán tự là thứ chữ do người Trung Hoa sáng chế ra Ðược gọi là chữ Nho, vì đó là một công cụ để truyền bá Khổng Giáo tức Ðạo Nho Ðối với chúng ta, chữ Nho là chữ Hán đọc theo âm Việt Và chữ Hán chính là chữ
của Hán tộc, tức giống dân Trung Hoa
2 Nguồn gốc và sự tiến triển A._ Những chữ cổ nhất còn truyền lại thấy khắc ở các đồ đồng thời nhà Hạ, nghĩa
là cách đây 4000 năm Tuy nhiên, trước đó mấy thế kỷ, đã có chữ bát quái của Phục Hy, chữ kết thằng (kết: thắt; thằng: dây; kết thằng: thắt nút lại để ghi việc lớn nhỏ) của Thần Nông và chữ do sử quan Thương Hiệt đời Hoàng Ðế (2697 tr,
TL) sáng chế theo hình dấu chân chim thú
B._ 1) Ðến đời Tần Thuỷ Hoàng (213 tr.TL) vì nhận thấy cuối đời Chu, sự học ngày càng suy vi, các nhà chép sử càng ngày càng cẩu thả, chữ nào quên, họ tự tiện bày đặt ra chữ mới (kỳ tự: chữ lạ), nên thừa tướng Lý Tư đã làm ra bộ Tam Thương, có 3.300 chữ, qui định các lối viết nhằm thống nhất văn tự 2) Sau Lý Tư, chữ viết được phổ cập trong dân chúng, được sáng chế thêm – dĩ nhiên là một cách không được thận trọng cho lắm – hầu thoả mãn nhu cầu của quảng đại quần chúng Số chữ do đó tăng lên một cách nhanh chóng
–Thời Lý Tư: 3300 chữ
–200 năm sau: 7380 chữ
–200 năm sau nữa : 10000 chữ –Năm 1716, Khang Hi tự điển ra đời với trên 40000 chữ (gồm 4000 chữ thường
dùng, 2000 tên họ và trên 30000 chữ không dùng vào đâu)
3) Và 1 lần nữa, để thống nhất lối viết, Hứa Thận soạn bộ tự điển Thuyết Văn Giải
Tự gồm 10.516 chữ, vào đời Hậu Hán (120 sau TL)
4) Gần đây, sau khi tiếp xúc với Tây Phương, trước những đòi hỏi của thời thế, nhiều chữ mới, nhất là về danh từ khoa học, được sáng chế Ðồng thời cũng có một số chữ không ít đi dần vào trong quên lãng, vì văn bạch thoại đã được thông dụng, thay thế cho cổ văn hoặc văn ngôn, chỉ thấy trong sách xưa mà thôi, (để ý, ngoài hai thể văn ngôn và bạch thoại, người Trung Hoa còn dùng để viết báo, thể
“ngữ thể văn”, thể này tham bác cả hai thể văn nói trên)
3 Hình thể A._ Chữ nho vốn là một thứ chữ tượng hình, nghĩa là dựa theo hình của sự vật
mà đặt ra
Hai chữ “văn tự” cũng thường được định nghĩa:
– Bắt chước hình tượng các loài mà đặt ra chữ gọi là văn
– Góp cả hình với tiếng gọi là tự
B._ Vì hình thể của sự vật không nhất định nên hình của chữ cũng thay đổi dần dần, từ hình tròn đến hình dẹp, hình vuông, hình dài, hình tam giác và gần đây,
trở nên cố định với hình vuông
Ngoài ra, theo cuộc tiến hoá chung, lối viết cũng thay đổi Ta có:
– Lối chữ khoa đẩu, loăn quăn như hình con nòng nọc của Thương Hiệt – Lối chữ triện, nét tròn, gồm đại triện và tiểu triện, viết bằng sơn trên gỗ tre
– Lối chữ lệ, nét vuông, cũng viết bằng sơn, trên vải lụa
– Lối chữ chân, khải, viết ngay ngắn bằng bút lông với mực đen giấy trắng
– Lối chữ bát phân, gồm tám phần lệ, hai phần chân
– Lối hành, tức bán thảo, bán chân
– Lối thảo, viết nhanh như gió lướt trên cỏ
– Lối giản thể, tức lối viết cho giản tiện, rút bớt đi số nét của chữ
4 Cách cấu tạo
Dù hình thể có thay đổi ra sao, các chữ Nho đều được cấu tạo theo 6 phép gọi là
“lục thư” (Lục: 6, thư: tả đúng trạng thái của sự vật, chép vào tre, lụa)
A._ Tượng hình:
Trang 2Thấy vật gì vẽ vật ấy Tỉ dụ: θ 日 Nhựt: mặt trời
B._ Chỉ sự (hay tượng sự, xử sự):
Trông mà biết được, xét mà rõ ý
Tỉ dụ: 上, thượng: ở trên 下, hạ: ở dưới – lấy nét ngang (一) làm mốc, phần đứng
ở trên là 上, phần đứng ở dưới là 下
C._ Hội ý (hay tượng ý):
Mỗi chữ có nhiều phần, mỗi phần có một nghĩa, hợp các nghĩa từng phần sẽ có
nghĩa của toàn chữ
Tỉ dụ: 古 cổ: xưa – điều gì mà 10 (十 thập) miệng (口 khẩu) đã nói đến là cũ, xưa
rồi
D._ Hình thanh (hay tượng thanh, hài thanh):
Dùng một một chữ cũ mà âm thanh tương tự với âm thanh của chữ định đặt ra
để định âm thanh, rồi ghép vào một bộ để chỉ ý nghĩa của chữ mới
Tỉ dụ: 江 giang: sông, gồm bộ 氵 thuỷ để chỉ vật gì có liên quan đến nước (ý) và
chữ 工 công, chữ này tạo cho ta âm “giang”
Lối tạo chữ này rất được thông dụng
Tỉ dụ: 說 thuyết dùng lầm cho chữ 悅 duyệt trong Luận ngữ
2._ Hoặc dùng chữ sẵn mà đọc khác thanh âm, để dùng vào nghĩa khác
Tỉ dụ: 長 trường: dài, 長 trưởng: lớn
3._ Hoặc giữ nguyên thanh âm của một chữ nào đó, rồi gán cho nó một nghĩa
mới
Tỉ dụ: 萬 vốn có nghĩa là con bò cạp (萬 tượng hình con vật ấy) nhưng lại dùng
theo nghĩa 10000
Bài thứ hai Cách học chữ Nho
I Những khó khăn trong việc học chữ Nho
Ai cũng nhìn nhận rằng chữ Nho là một thứ chữ rất khó học Ðiều này rất đúng, vì
khi học chữ Nho, ta thường vấp phải những khó khăn sau đây:
Trang 3vách, nhưng khi cầm bút thì không biết phải viết thế nào” là một trường hợp rất
thông thường, không riêng gì đối với người mới học
II Làm sao để khắc phụ những khó khăn ấy?
A._ Về điểm khó nhớ
Ðây không phải là một khó khăn thực sự, vì với chí kiên nhẫn, với lòng ham học, với phương pháp tiệm tiến đi lần từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng, ta có thể học được tất cả Huống chi, trong số mấy vạn chữ kia, chỉ cần vài ngàn chữ là
ta đọc thông được sách vở; ngay bộ Khang Hi tự điển, chỉ có lối 4000 chữ thường dùng mà thôi Vấn đề đặt ra là phải biết học thế nào để có thể nhớ được mặt chữ,
đồng thời hiểu được cách sử dụng các chữ ấy
B._ Về điểm khó nhận mặt chữ
Thực ra khó khăn này chỉ có đối với những ai chưa quen với chữ Nho, hay nói rõ hơn, chưa nắm vững được 6 phép tạo chữ, tức lục thư Thật vậy, khi ta hiểu được cách cấu tạo của mỗi chữ, khi ta biết rằng mỗi chữ được xếp theo bộ tuỳ theo ý nghĩa của nó (tỉ dụ: những chữ chỉ sông, biển thuộc bộ 水 (thuỷ: nước); những chữ chỉ đồ vật thuộc bộ 木 (mộc), bộ 皿 (mãnh), bộ 金 (kim) , tuỳ theo nó được làm bằng gỗ, làm bằng đất nung, hay bằng kim loại.), khi ta nhìn ra được thành phần của mỗi chữ, ta sẽ không còn cảm thấy khó khăn trong việc nhận tự dạng
nữa
C._ Về điểm khó viết
Ðến như việc cầm bút quên chữ, ta sẽ khắc phục được dễ dàng nếu ta chịu khó viết thường, nhìn luôn, nghe mãi và không ngừng tìm cách sử dụng những chữ coi như dễ quên ấy Ðức Khổng Tử có dạy: Học nhi thời tập chi 學 而 時 習 之 (học rồi phải luyện lại luôn); việc học chỉ có kết quả – nhất là đối với việc học chữ Nho
– khi nào ta biết chịu khó làm công việc ôn tập thường xuyên
Tóm lại, với phương pháp tiệm tiến, ôn tập, phân tích, ta có thể khắc phục được
mọi khó khăn đã nêu trên
III Cách viết chữ Nho
A._ Các loại nét
1._ Nét ngang: hoành 一 2._ Nét sổ thẳng: trực 丨 3._ Nét phẩy: phiệt 丿 4._ Nét ấn, mác: phật 乀 5._ Nét móc: câu 6._ Gãy: chiết
7._ Xốc: khiêu 冫 8._ Chấm: điểm 灬 B._ Phép viết (thư pháp)
1._Cách cầm bút (chấp bút pháp) Thường ta cầm bút theo lối song câu (song: hai, câu: móc), nghĩa là hai ngó trỏ
Trang 4và giữa nằm ở phía trước cán bút
Khi ta viết, cầm bút phải cho thẳng, cho chắc, nhưng ngón tay phải mềm mại
uyển chuyển
2._ Cách viết a) Viết cho thuận – Nét trên trước, dưới sau
tỉ dụ: 道 廷 b) Viết cho đẹp
– Nét ngang phải ngay
– Nét sổ phải thẳng
– Chữ viết phải đều
– Các phần của chữ phải sắp xếp cho nghiêm mật, không để hở, trống, chỗ nối
tiếp phải gọn gàng
VI Cách tra Tự Ðiển
A._ Các loại tự điển
Tự điển có thể chia là ba loại:
1._ Loại tra bằng cách đếm nét chữ
Tỉ dụ: Hán Việt tự điển của Ðào Duy Anh
2._ Loại tra theo bộ
Tỉ dụ: Khang Hi tự điển, Từ Nguyên, Từ Hải (cho ta âm của chữ bằng lối phiên
thiết)
3._ Loại tra theo số tính bốn góc của chữ
Tỉ dụ: Tự điển của Vương Vân Ngũ (phiên âm theo lối quan thoại tức Quốc Ngữ
ta tra một tự điển Anh, Pháp vậy
2._Loại tra theo bộ
Ðây là loại tự điển phổ thông nhất Muốn tra loại tự điển này, cần phải biết chữ ta muốn tìm thuộc bộ nào Tìm được số trang bộ ấy xong, ta phải đếm số nét chữ
còn lại, để theo đó mà tra ra chữ
Tỉ dụ: Muốn tra chữ 打 tôi phải biết:
– Chữ 打 thuộc bộ 扌 thủ Tôi tìm đến bộ 扌 trong tự điển
– Số nét còn lại (丁: 2 nét) Trong phần bộ 扌 tôi tìm đến chữ có 2 nét
Chú ý:
Trang 5Ở đây việc nhận thức được các bộ của chữ rất là cần thiết Ta không nên quên rằng lúc đầu, trong bộ Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận đời Hậu Hán có đến 540
bộ, nhưng về sau đến đời Thanh, số bộ ấy trong Khang Hi Tự Ðiển chỉ còn 214 Bộ
mà thôi Phải biết rằng mỗi chữ Nho đều thuộc một bộ và chỉ một bộ mà thôi Ta
có thể coi bộ là phần chỉ ý nghĩa của chữ , và tuỳ theo ý nghĩa riêng, mỗi chữ được xếp vào một bộ khác nhau Tuy nhiên, cùng thường có những chữ mà sự
liên hệ giữa ý nghĩa và bộ cơ hồ như không có
Tỉ dụ: hai chữ 咫 (chỉ) 尺 (xích) tuy cùng chỉ những đơn vị về chiều dài (chỉ xích: gang tấc), nhưng thuộc hai bộ khác nhau 咫 thuộc bộ 口 (khẩu: miệng) còn 尺
thuộc bộ 尸(thi: thây)
3._ Loại tra theo số tính ở bốn góc của chữ
Ðây là loại tự điển mới nhất, có chua thêm phần phiên âm Quan Thoại Mỗi góc có 1 số riêng, tuỳ theo nét chữ: số tính từ 0 đến 9 gồm có:
Mỗi chữ có 4 số, tính bắt đầu từ góc trái phía trên A, rồi qua góc mặt phía trên B,
kế xuống góc trái phía dưới C và sau cùng là góc mặt phía dưới D
Bộ này gồm các hình thức dưới đây:
1 Ðặt ở phía trên của chữ: 人
Tỉ dụ: 今 âm: kim, nghĩa: nay
2 Ðặt ở bên trái của chữ: ⺅ tục gọi là nhân đứng
Tỉ dụ: 仁 âm: nhân, nghĩa: đạo nhân, đạo làm người
3 Ðặt ở phía dưới của chữ ,⼉ tục gọi là nhân đi
Trang 6Tỉ dụ: 兄 âm: huynh, nghĩa: anh
Chú ý: có một số chữ thuộc bộ 人 nhưng không theo đúng hình thức của bộ 人 đã nêu trên
Tỉ dụ: 以 âm: dĩ, nghĩa: lấy; 來 âm: lai, nghĩa: lại, đến
nghĩa: người, con người (nhân luân, nhân loại, nhân tính, nhân cách)
Chữ cần phân biệt khi viết:
Bộ này gồm có các hình thức dưới đây:
1 Ðặt ở phía dưới của chữ: 手
Tỉ dụ: 掌 âm: chưởng, nghĩa: lòng bàn tay
2 Ðặt ở bên trái của chữ: 扌
Tỉ dụ: 打 âm: đả, nghĩa: đánh
Chú ý: có một số chữ thuộc bộ 手 nhưng không theo đúng hình thức của bộ 手 nêu trên
Tỉ dụ:
承 âm: thừa, nghĩa: nhận (thừa nhận, thừa tiếp)
拜 âm: bái, nghĩa: lạy
nghĩa: tay (thủ công, thủ đoạn, thủ tục, khai thủ, thuỷ thủ)
Chữ cần phân biệt khi viết
Bộ này gồm có các hình thức dưới đây:
1 Ðặt ở phía dưới của chữ: 足
Tỉ dụ:
蹇 âm: kiễng, nghĩa: khiễng chân, đi tập tễnh
(phát âm theo TÐ Thiều Chửu: 蹇: kiển)
2 Ðặt ở bên trái của chữ: �
Tỉ dụ: 路 âm: lộ, nghĩa: con đường
nghĩa:
a) Cái chân (túc cầu, huynh đệ như thủ túc)
b) Ðủ, đầy đủ (mãn túc, phú túc, bất túc, hữu dư)
Chữ cần phân biệt khi viết:
Trang 7Bộ này gồm các hình thức dưới đây:
1 Ðặt ở phía dưới hoặc ở bên phải của chữ: 刀
Tỉ dụ:
分 âm: phân, nghĩa: chia ra;
切 âm: thiết, nghĩa: cắt (như thiết như tha, như trác như ma: như cắt như đánh
bóng, như giũa như mài- Kinh thi, Vệ Phong)
2 Ðặt ở bên phải của chữ: 刂
Tỉ dụ: 別 âm: biệt, nghĩa: chia tay
nghĩa: đao (đao thủ, binh đao)
Chữ cần phân biệt khi viết:
刀 đao
力 âm: lực, bộ: lực, nghĩa: sức mạnh
刁 âm: điêu, bộ: lực, nghĩa: a) điêu đấu: một vật đúc bằng kim loại to bằng cái
đấu, quân lính dùng cái ấy, ngày thì thổi cơm, đêm thì gõ cầm canh b) điêu ngoan: khéo lừa dối, điêu toa
尺
âm: xích
bộ: 尸 thi
nghĩa: thước, đơn vị đo chiều dài (chỉ xích thiên nhan: cách mặt trời -nhà vua-
có gang tấc, được gần vua; xích đạc)
Chú ý: hai chữ dưới đây thuộc về hai bộ khác nhau, tuy cả hai cùng chỉ thước tấc, đơn vị chiều dài
尺 xích: bộ 尸;
咫 chỉ: bộ 口 khẩu
II._ Ghép chữ, làm câu
人 手 nhân thủ: tay của người
人 足 nhân túc: chân của người
人 之 手 足 nhân chi thủ túc: tay chân của người
刀 手 đao thủ: tay đao, người cầm đao
III._ Nhận định về văn phạm
1._ Trong từ ngữ “tay của người 人 手” tay (手) là ý chính, người (人) là ý phụ Ý phụ chỉ định cho ý chính và đứng trước ý chính
Qui tắc: Tiếng chỉ định đứng trước tiếng được chỉ định
2._ Trong từ ngữ “tay chân của người 人 之 手 足” , chữ 之 chi là tiếng dùng để nối nghĩa như chữ “của”, được đặt giữa 人 và 手 足 để giúp cho từ ngữ này được cân xứng, dễ nghe Cũng thế, vì 人 là ý phụ, tiếng chỉ định, còn 手 足 là ý chính, tiếng được chỉ định, cho nên 人 đứng trước 手 足.
Bài thứ tư
山 水 田 狗 牛 羊
I._ Học Tiếng
山
Trang 8âm: sơn (san)
Bộ này gồm các hình thức dưới đây:
1._ Ðặt ở phiá dưới hoặc phía trên của chữ: 水
Tỉ dụ: 泉 âm: tuyền, nghĩa: suối; 沓 âm: đạp, nghĩa: chồng chất
2._ Ðặt ở bên trái của chữ: 氵(thường gọi là chấm thuỷ hay tam điểm thuỷ)
Tỉ dụ: 江 âm: giang, nghĩa: sông
Chú ý: có một số chữ, tuy thuộc bộ 水 nhưng không theo đúng hình thức của bộ
水 đã nêu trên:
Tỉ dụ: 求 âm: cầu, nghĩa: tìm; 泰 âm: thái, nghĩa: to lớn, hanh thông
nghĩa: nước (sơn thuỷ, thuỷ lợi, dẫn thuỷ nhập điền, đại hồng thuỷ, lưu thuỷ
hành vân)
田
âm: điền
bộ: 田 điền
nghĩa: ruộng(tá điền, điền địa, thương hải tang điền)
Chữ cần phân biệt khi viết
田 điền
由 âm: do, bộ: điền, nghĩa: do, bởi
甲 âm: giáp, bộ: điền, nghĩa: tên của 1 trong 10 can
申 âm: thân, bộ: điền, nghĩa: tên của 1 trong 12 chi
狗
âm: cẩu
bộ: khuyển
Bộ này gồm các hình thức dưới đây:
1._Ðặt phía dưới hoặc bên phải của chữ: 犬 (chữ viết chính thức)
狐 âm: hồ, nghĩa: con cáo
nghĩa: con chó (sô cẩu, tẩu cẩu, cẩu tặc, hải cẩu)
Trang 9bộ: ngưu
nghĩa: trâu bò (nói chung)
Chú ý: Trâu gọi là 水 牛 thuỷ ngưu, vì tính thích nước Bò gọi là 黄 牛 hoàng ngưu,
vì da màu vàng 黄
Chữ cần phân biệt khi viết
牛 ngưu; 午 âm: ngọ, bộ: thập, nghĩa: tên của một trong 12 chi
山 水 sơn thuỷ: núi và sông, non nước, tượng trưng cảnh thiên nhiên
水 田 thuỷ điền: ruộng (có) nước
田 水 điền thuỷ: nước (ở trong) ruộng
山 狗 sơn cẩu: chó (ở trên) núi
山 人 sơn nhân: người (ở trên) núi, tức là tiên 仙; cũng có nghĩa là người ở miền
núi
羊 足 dương túc: cái chân con dê
山 人 之 羊 足 sơn nhân chi dương túc: cái chân con dê của người miền núi
III._ Nhận định về văn phạm
Trong đoạn 山 人 之 羊 足 sơn nhân chi dương túc, 山 人 và 羊 足 là hai từ ngữ, một phụ, một chính Cũng thế từ ngữ phụ (山 人) đứng trước từ ngữ chính (羊 足) Qui tắc: từ ngữ chí định đứng trước từ ngữ được chỉ định
nghĩa: một (duy nhất, thống nhất, nhất đán, nhất sĩ nhì nông, đệ nhất, nhất
nhật bất kiến như tam thu hề)
Trang 10手 thủ: tay xem bài 3
大
âm: đại (ngày xưa đọc là thái)
bộ: 大 (đại)
nghĩa: to lớn (đại nhân, đại nghĩa, đại đa số, cực đại, quảng đại)
山 sơn: núi (xem bài bốn)
nghĩa: đá (vọng phu thạch, thạch nhũ, thạch tín, kim thạch kỳ duyên)
Chữ cần phân biệt khi viết:
大 人 đại nhân: người lớn
小 羊 tiểu dương: dê con
大 人 之 小 羊 đại nhân chi tiểu dương: con dê nhỏ của người lớn
人 大 nhân đại: người (thì) lớn (mệnh đề đã trọn nghĩa)
羊 小 con dê (thì) nhỏ (mệnh đề đã trọn nghĩa)
Trang 11Chữ cần phân biệt khi viết:
天 thiên; 夭 âm: yêu, bộ: 大 , nghĩa: nét mặt vui vẻ ôn tồn, (yêu yêu như dã: sắc
mặt hoà dịu (Luận Ngữ)); 夫 âm: phu, bộ: 大, nghĩa: chồng
Chú ý:
1._ Trong văn bạch thoại, chữ thiên còn có nghĩa là “ngày”
2._ Chữ thiên viết theo lối hội ý (天 có nghĩa 一 大 tức là lớn có một)
tỉ dụ: 坐 âm: toạ, nghĩa: ngồi
b) Ðặt bên trái của chữ: *
2._ Ngày, 日 日 nhật nhật: ngày ngày, mỗi ngày
Chữ cần phân biệt khi viết:
日 nhật; 曰 âm: viết, bộ: 曰 (viết), nghĩa: rằng, nói rằng (phát từ ngữ)
Trang 121._ mặt trăng (nguyệt thực, nguyệt cầu, nguyệt điện)
2._tháng (tam cá nguyệt, lục cá nguyệt, bán nguyệt san)
1._ Hai chữ 母 và 毋 khác ở số nét bên trong
2._ Chữ 母 mẫu còn có thể viết: * (tức là thế các nét bên trong bằng chữ 子 tử: con)
男
âm: nam
bộ: 田 điền
nghĩa:
1._ con trai (nam nhi, nam tử)
2._ tiếng tự xưng của con trai đối với cha mẹ
3._ 1 trong 5 tước (công, hầu, bá, tử, nam)
bộ này gồm có các hình thức dưới đây:
1._ đặt bên dưới của chữ: 女
tỉ dụ: 妥 âm: thoả, nghĩa: yên,
2._ đặt bên phải của chữ: ⼥
tỉ dụ: 如 âm: như, nghĩa: dùng để so sánh
nghĩa: con gái (nữ lưu, nữ kiệt, nhi nữ)
II._ Ghép Chữ Làm Câu
小 天 地 tiểu thiên địa: trời đất nhỏ (nghĩa bóng: khu vực riêng của ai)
月 大 月 小 nguyệt đại, nguyệt tiểu: tháng đủ, tháng thiếu Trên các tờ lịch, về