Qua thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông TĩnhGia 4 tôi luôn trăn trở làm sao để các em yêu thích, hứng thú học tập môn Văn,làm sao để việc dạy và học văn không t
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây, vấn đề đổi mới giáo dục theo hướng phát huy tính tíchcực của học sinh không còn là vấn đề xa lạ Nó đã được khởi động từ nhiều nămtrước đây, từ bậc học mầm non đến bậc đại học và cả sau đại học Nhưng việc thayđổi chương trình sách giáo khoa theo hướng hiện đại, tích hợp là chưa đủ mà điềuquan trọng hơn là phải đổi mới người thầy, đổi mới phương pháp giảng dạy để mỗibài học là một sự khám phá, mỗi tiết lên lớp là những niềm vui, cuốn người họcvào các hoạt động giảng dạy tích cực và hữu ích
Môn Ngữ văn là một trong những môn học chủ đạo ở các bậc học nhằmhướng học sinh đến đỉnh cao của giá trị chân, thiện, mĩ Tuy nhiên xu hướng họcsinh quay lưng với môn văn đang diễn ra ngày càng nhiều Nếu không thay đổiphương pháp thì việc dạy học văn sẽ chẳng khác gì“ búa đập trên sắt nguội”
Qua thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông TĩnhGia 4 tôi luôn trăn trở làm sao để các em yêu thích, hứng thú học tập môn Văn,làm sao để việc dạy và học văn không trở thành một bài diễn thuyết nhàm chángiữa cô và trò nên tôi đã thử nghiệm nhiều cách dạy, trong đó, tôi nhận thấy nhữngtiết dạy sử dụng một số phương pháp mới để tổ chức hoạt động học tập sẽ kíchthích hứng thú học tập của học sinh, làm giảm đi không khí mệt mỏi, nhàm chán,
căng thẳng trong giờ học Chính vì lý do đó, tôi đã mạnh dạn viết đề tài “Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Ngữ Văn lớp 10 và lớp 11 ở trường THPT Tĩnh
Gia 4 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh” để chia sẻ với đồng nghiệp
nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới trong dạy học văn theo hướng phát huy tính tíchcực và sáng tạo của học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm những mục đích sau:
- Tìm hiểu về các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp dạyhọc bằng trò chơi nói riêng
- Đưa ra được quy trình xây dựng một số trò chơi phục vụ dạy học chương trìnhNgữ văn 10 và 11 tại trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia 4
- Đánh giá được ưu, nhược điểm cũng như rút ra một số kinh nghiệm khi áp dụngphương pháp dạy học bằng trò chơi vào thực tế giảng dạy
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đề tài được tôi thực hiện tại trường THPT Tĩnh Gia 4 trong năm học 2020-2021với đối tượng thực hiện là học sinh lớp 10 và 11
- Phạm vi thực hiện: Ứng dụng vào khởi động các tiết học văn bản, Tập làm văn,Tiếng Việt
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi sử dụng chủ yếu các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm phân tích tổng hợp các quanđiểm khoa học trong các tài liệu có liên quan
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm điều tra thực trạng dạy học
- Nhóm các phương pháp thống kê nhằm xử lí kết quả điều tra
Trang 22 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số lí luận về dạy học tích cực
a Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉnhững phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của người học
“Tích cực trong PPDH được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động tráinghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng trái nghĩa với tiêu cực”
Hình 1: Sơ đồ dạy học tích cực [ 6 ]
INCLUDEPICTURE
hoc-tich-cuc-la-gi-day-nhu-the-nao.jpg" \* MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE
hoc-tich-cuc-la-gi-day-nhu-the-nao.jpg" \* MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE
hoc-tich-cuc-la-gi-day-nhu-the-nao.jpg" \* MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE
hoc-tich-cuc-la-gi-day-nhu-the-nao.jpg" \* MERGEFORMATINET
b Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
* Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh
Mối quan hệ giữa học và làm đã được nhiều tác giả nói đến“ suy nghĩtức là hành động” (J Piagiê), “ cách tốt nhất để hiểu là làm” (Kant), “Học đểhành; học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích; hành mà khônghọc thì hành không trôi chảy” (Hồ Chí Minh)
Trong PPDH tích cực, người học và hoạt động học được cuốn hút vàonhững hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó, HS được tựlực khám phá những cái mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những
tri thức đã sắp đặt sẵn.[ 1- trang 10]
Trang 3* Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho HS khôngchỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học,biết linh hoạt ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lựcphát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơidậy tiềm năng vốn có của mỗi người
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp học tập hợp tác
PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HStrong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới Ý chí và năng lực của HS trongmột lớp không thể đồng đều tuyệt đối Vì vậy, buộc phải chấp nhận sự phân hóa
về cường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là bài học được thiết
kế thành một chuỗi công tác độc lập
Mặt khác, lớp học là môi trường giao tiếp thầy- trò, trò- trò, tạo nên mốiquan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới chân lí Qua đó, ngườihọc nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu biết vàkinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp [ 1- trang 11]
* Kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò
Trước đây, quan niệm về đánh giá còn phiến diện: GV giữ độc quyền vềđánh giá, HS là đối tượng được đánh giá Trong dạy học theo hướng phát huy vaitrò tích cực chủ động của người học Nếu xem việc rèn luyện phương pháp tựhọc để chuẩn bị cho HS khả năng học tập liên tục suốt đời như một mục tiêugiáo dục thì GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điềuchỉnh cách học
* Vai trò chỉ đạo của giáo viên
Từ dạy học thông báo, giải thích, minh họa sang dạy học theo phươngpháp tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiếnthức mà trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặctheo nhóm nhỏ để HS tự chiếm lĩnh các kiến thức mới, hình thành các kĩ năng,thái độ mới theo yêu cầu của chương trình
Dưới đây là những điểm khác biệt cơ bản giữa PPDH thụ động vàPPDH tích cực:
Hình 2 So sánh dạy học truyền thống và dạy học tích cực [ 6 ]
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền
thống Chính vì thế, trong đổi mới phương pháp cần kế thừa, phát triển những
Trang 4mặt tích cực trong hệ thống PPDH đã quen thuộc Đồng thời phải học hỏi, vậndụng những phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ởnước ta để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường,nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
2.1.2 Một số lí luận dạy học bằng trò chơi
a Trò chơi là gì?
Một số nhà tâm lý- giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross,
S.Hall, V.Stern cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sựgiải tỏa năng lượng dư thừa
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩakhác nhau tương đối xa [ 2- trang 209]
- Một là, kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợpquy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranhhoặc tính thách thức đối với người tham gia
- Hai là, những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thứcchơi, chẳng hạn: Học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dướihình thức chơi
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức
và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơiđơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổchức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó
b Trò chơi học tập
* Quan niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học:
Trong lí luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như làphương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập không tính đến nội dung và tínhchất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi dạy học
Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựachọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyêntắc và PPDH Chúng có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay HStìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kỹ năng, tích lũy và phát triểncác phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm
mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức
và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là tròchơi dạy học.[ 2- trang 210]
Tóm lại, trò chơi học tập được hiểu đơn giản nhất là các hoạt động gâyhứng thú cho học sinh bằng các hình thức thi đua giữa các cá nhân hay các tậpthể nhằm đạt được hiệu quả về kiến thức hay kĩ năng liên quan đến việc học tập
Trang 5Những trò chơi này có thể sử dụng khi bắt đầu vào 1 tiết học, nó có tácdụng khởi động tư duy của HS, dẫn dắt học sinh tìm hiểu nội dung, học tập mộtcách tự nhiên, thoải mái và vui vẻ Tuy nhiên, nội dung trò chơi cần thiết phảihướng đến nội dung bài học, dựa trên những hiểu biết sẵn có của HS.
Nhóm 2: Nhóm trò chơi lĩnh hội tri thức mới
Trò chơi được tiến hành trong giờ học, được coi như là một nội dungbài học Trò chơi được tiến hành nhằm mục đích giúp HS hào hứng với việckhám phá kiến thức mới và chính bản thân nội dung trò chơi cũng là những kiếnthức mới Để sử dụng loại trò chơi này, giáo viên phải linh hoạt trong quá trình
tổ chức vì mỗi em có sự nhận thức khác nhau
Nhóm 3: Nhóm trò chơi củng cố, ôn tập
Những trò chơi trong nhóm này được sử dụng sau khi HS đã được họcmột nội dung hoặc kỹ năng nào đó, những kiến thức hoặc kỹ năng đã học là cơ
sở để học sinh thực hiện những trò chơi này
- Dựa vào phương tiện và cách thức thực hiện, trò chơi được chia thành 3nhóm lớn: [ 8 ]
+ Nhóm trò chơi dùng lời
Với nhóm trò chơi dùng lời, GV lúc này chủ yếu có nhiệm vụ là đọccâu hỏi, HS trả lời và giáo viên sẽ là người công bố đáp án, hỏi đáp để giúp HStái hiện hoặc củng cố kiến thức Ở trò chơi này, GV là người linh hoạt trong việcdùng ngôn ngữ, động tác cơ thể hoặc di chuyển liên tục nhằm thu hút sự chú ýcủa học sinh, giúp tiết học trở nên sinh động
Các loại trò chơi dạng này rất phong phú, có thể kể tên một số trò chơiphổ biến như: trò chơi trả lời nhanh, trò chơi đoán từ, ai là chuyên gia
+ Nhóm trò chơi có sử dụng phương tiện trực quan
Các phương tiện trực quan trong Ngữ văn phổ biến là tranh ảnh, phim Với các phương tiện này, giáo viên kết hợp dùng lời để mô tả, yêu cầu học sinhquan sát, ghi chép và trả lời nhằm tái hiện kiến thức vấn đề trong bài học
+ Nhóm trò chơi có sử dụng công nghệ
Trong nhóm trò chơi này, GV và HS đều phải sử dụng máy tính, điệnthoại thông minh có kết nối mạng để phục vụ cho việc tìm kiếm và tổng hợpkiến thức Các trò chơi phổ biến bao gồm:
+ Trò chơi kahoot
+ Trò chơi lật hình, ghép hình
+ Trò chơi ô chữ
d Tác dụng của việc sử dụng phương pháp dạy học bằng trò chơi
Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, các trò chơi nếu được sử dụnghợp lý sẽ thúc đẩy một cách tự nhiên tính năng động và tính tích cực tham giahọc tập của học sinh
Sử dụng trò chơi trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Ngữvăn nói riêng sẽ tạo được môi trường, không khí học tập vui vẻ, giờ học văn sẽkhông còn tẻ nhạt mà cũng khá lý thú
Trò chơi có tác dụng hoà đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trungcủa học sinh Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện quacác tiết học có trò chơi làm nảy sinh tình cảm của các em đối với môn học
Trang 62.2.Cơ sở thực tiễn.
2.2.1 Chương trình môn Ngữ văn lớp 10 và lớp 11- THPT.
- Chương trình môn Ngữ văn lớp 10: Không tính các tiết trong phần giảm tải của
Bộ giáo dục, tổng cả năm có 105 tiết Trừ các tiết kiểm tra và hướng dẫn học hè thì
số tiết của các phân môn như sau:
+ Đọc văn: 65 tiết
+ Tiếng Việt: 9 tiết
+ Làm văn: 18 tiết
- Chương trình môn Ngữ văn lớp 11: Không tính các tiết trong phần giảm tải của
Bộ giáo dục, tổng cả năm có 123 tiết Trừ các tiết kiểm tra và hướng dẫn học hè thì
số tiết của các phân môn như sau:
này là không cần thiết [ Phụ lục 1]
b Thực trạng về tình hình xây dựng và sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn 10 và 11
Bảng 1 Tình hình xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Ngữ
văn lớp 10 và lớp 11 ở trường THPT Tĩnh Gia 4
Mức độ
Trường
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không
Số lượng GV
Tỉ lệ (%)
Số lượng giáo viên
Tỉ lệ (%)
Số lượng giáo viên
Tỉ lệ (%)
Như vậy, có 2 GV (25%) thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học bằng trò chơi và có 6 GV (75%) thỉnh thoảng sử dụng Các thầy cô giáo đã có những cố gắng nhất định trong việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóahoạt động học tập của học sinh và hoạt động này đã cho được một số kết quả Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và sử dụng trò chơi cũng còn nhiều tồn tại cần phảigiải quyết
c Thực trạng về nguyên nhân khiến giáo viên ngại khi xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học Ngữ văn lớp 10 và lớp 11
Sau khi tổng hợp phiếu điều tra cũng như phỏng vấn các giáo viên, tôi nhận thấy rằng những khó khăn mà các giáo viên tại các trường THPT Tĩnh Gia 4 gặp phải khi xây dựng và sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn 10 và
Trang 711 là vấn đề thiết kế trò chơi còn gặp khó khăn và công tác tổ chức trên lớp còn gây ra nhiều tiếng ồn cũng như thiếu thời gian cho HS hoạt động.
Bảng 2 Khó khăn khi tiến hành xây dựng và sử dụng trò chơi trong quá trình dạy
Kĩ năng sử dụng CNTT
Chưa biết cách xây dựng các trò chơi
Gây ra tiếng
ồn và cháy giáo án
Số lượng GV
Tỉ
lệ (%)
Số lượng GV
Tỉ lệ (%)
Số lượng GV
Tỉ lệ (%)
Số lượng GV
Tỉ lệ (%)
Từ những thực trạng điều tra được, tôi rút ra một số kết luận chung như sau:
- Việc xây dựng và sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn lớp 10
và lớp 11 là việc làm cần thiết, nó tạo ra hứng thú học tập hơn và góp phần thực hiện đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học theo hướng lấy HS làm trung tâm
- Đa số GV nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 Nhưng vấn đề về thời gian, tiền bạc, trình độ cùng với hạn chế về công nghệ thông tin nên thực tế việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 chưa mang lại hiệu quả cao
2.3.Các giải pháp sử dụng trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn lớp 10 và lớp
11 ở trường THPT Tĩnh Gia 4 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
2.3.1 Cơ sở xây dựng trò chơi
- Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, phương pháp của bài học.
- Căn cứ vào logic của quá trình dạy học trên lớp
- Căn cứ vào đặc điểm của học sinh trong quá trình học tập ở trường THPT
- Căn cứ vào chương trình dạy học môn Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 tạitrường THPT Tĩnh gia 4
2.3.2 Nguyên tắc áp dụng trò chơi
Môn Ngữ văn có ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn Mỗi phânmôn có đặc thù riêng Vì thế việc vận dụng lồng ghép trò chơi có những điểm khácnhau:
+ Đọc văn: Tuỳ thuộc dạng bài( bài khái quát; ôn tập; đọc- hiểu văn bản…)lượng kiến thức, mục tiêu bài học, thời lượng để áp dụng hình thức trò chơi: Tròchơi nhỏ dành cho một hoạt động dạy học hay trò chơi lớn cho cả tiết học Do đặcthù của phân môn với mục đích cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương,đòi hỏi những cảm xúc tinh tế, nên mức độ vận dụng trò chơi chỉ vừa phải
+ Tiếng Việt: Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặcbiệt là đối với những tiết thực hành, luyện tập Trò chơi cần gắn với các bài tập,hoặc các hình thức thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra Vận dụng tốtgiải pháp này, giờ học Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học sinh sẽ cảm thấythoải mái, hứng thú, kích thích hoạt động tư duy của các em, quan trọng hơn là gópphần phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở học sinh Qua trò chơi, tư duy và khả
Trang 8năng ngôn ngữ của các em sẽ được bộc lộ tự nhiên, giáo viên có thể phát hiện vàuốn nắn kịp thời những mặt còn hạn chế
+ Làm văn: Chính là phần thực hành của Đọc văn và Tiếng Việt Có thể vậndụng trò chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hình thức này trong cảtiết, với phân môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơi không thể thay thế đượccác phương pháp cũng như hình thức tổ chức lớp học đặc thù như thực hành, luyệntập, hoạt động theo nhóm hay cá nhân tự luyện tập các kĩ năng… Do đó không nêngượng ép để cố tình đưa trò chơi vào tất cả các giờ học làm văn
2.3.3 Lựa chọn nội dung tổ chức trò chơi
Nội dung phải vừa sức học, phải đảm bảo đủ thông tin kiến thức mà họcsinh đã nắm được, không dễ quá và cũng không khó quá
Nội dung cần phù hợp với cuộc sống thực tế của học sinh, giúp các em dễvận dụng vào thực tiễn Nội dung trò chơi phải có tính khả thi, trò chơi đưa ra phảiphù hợp với thực tế trường, lớp
2.3.4 Sử dụng phương tiện khi tổ chức trò chơi.
Thực tế, qua các tiết dự giờ đồng nghiệp ở trường, tôi thấy thường khicho học sinh chơi trò chơi, đa số GV chỉ tổ chức“ suông” mà thiếu sự chuẩn bịnhư: Không hóa trang nhân vật, không đủ phiếu cá nhân, không có thẻ xanh, thẻ đỏ
để phục vụ đánh giá, không có phần thưởng… Chính vì điều đó, mà mỗi lần tổchức trò chơi là một lần thiếu hấp dẫn học sinh, dẫn đến sự đơn điệu và nhàmchán Vì vậy để tổ chức trò chơi trong giờ học văn đòi hỏi giáo viên và học sinhphải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện cần thiết
2.3.5 Các bước tổ chức trò chơi
Trò chơi có thể tổ chức theo các bước sau:
Bước 1: Phổ biến trò chơi:
+ Giáo viên giúp học sinh nắm vững trò chơi như: Tên trò chơi, nộidung, cách chơi, cách phân thắng bại…
+ GV chọn một số HS tham gia trò chơi, bảo đảm qua các giờ học, lầnlượt HS được tham gia tất cả, đặc biệt chú ý những HS nhút nhát, ít phát biểu
Bước 2: Học sinh thực hiện trò chơi:
+ Các em thảo luận với nhau về việc thực hiện trò chơi
+ Một nhóm học sinh thực hiện trò chơi trước lớp, cả lớp theo dõi
+ Những em khác, nhóm khác có thể tiếp tục thực hiện trò chơi
Bước 3: Tổng kết, đánh giá:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh giá việc thực hiện trò chơi: Trò chơi
có được thực hiện đúng quy tắc không, có phù hợp với nội dung bài học không, cóthể rút ra bài học gì qua trò chơi này? Giáo viên nhận xét, đánh giá chung và tuyên
bố nhóm( hay cá nhân) thắng cuộc( nếu có)
- Giáo viên khen thưởng nhóm có kết quả tốt
Như vậy, với những biện pháp đã vận dụng vào từng thời điểm, mục đích,nội dung khác nhau thật sự phát huy tác dụng, giờ dạy học thực sự là giờ “vừa học,vừa chơi”, kết hợp được giữa “học và hành”, hấp dẫn học sinh và gây sự chú ý họchơn nhiều
2.3.6 Sử dụng một số trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 ở trường THPT Tĩnh Gia 4 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
Trang 9Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 tại trường THPT
Tĩnh Gia 4, tôi đã vận dụng một cách linh hoạt phương pháp sử dụng trò chơi vàđạt được những kết quả nhất định qua một số trò chơi sau:
a Trò chơi đóng vai
- Vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học: Vào vai nhân vật Mị
Châu kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, vào vai nhân vật Tấm kể lại truyện cổ tích Tấm Cám…
- Chuyển thể một văn bản thành một kịch bản sân khấu: Chuyển thể
văn bản Chí Phèo( Nam Cao), Số đỏ( Vũ Trọng Phụng), Chữ người tử tù( Nguyễn Tuân)… thành kịch bản sân khấu và cho học sinh thảo luận về một số vấn đề trọng
tâm được đặt ra Từ đó học sinh hình thành được các kiến thức, kĩ năng và nănglực quan trọng qua bài học
Quy trình vận dụng trò chơi đóng vai trong dạy học môn Ngữ văn
Bước 1: Giao nhiệm vụ chuẩn bị bài mới
- Giáo viên chia nhóm, gợi ý một số nội dung/ chủ đề cần đóng vai Trong đóquy định rõ thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai cho các nhóm
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai: Phân vai, dàn cảnh, học lời thoại, cáchthể hiện nhân vật, diễn thử…
Bước 2 : Học sinh trình bày sản phẩm – thảo luận
- HS trình bày sản phẩm nhóm
- GV định hướng HS thảo luận về những nội dung trọng tâm của bài học đượcđặt ra từ các sản phẩm
- Học sinh thảo luận, nhận xét, đánh giá
Bước 3: Chốt kiến thức: GV chốt kiến thức, hướng dẫn học sinh tổng hợp và khái
quát những vấn đề trọng tâm của bài học
b Trò chơi tiếp sức
Mục đích: Áp dụng trò chơi này nhằm huy động tính tích cực của tất cả HStrong lớp, em nào cũng phải động não và hoạt động kể cả học sinh yếu kém Tròchơi này áp dụng khi GV yêu cầu HS tìm những biểu hiện của một nội dung, kháiniệm của một bài học nào đó các em có thể thảo luận, phát hiện và nêu ra những
biểu hiện đó
Cách tiến hành trò chơi:
+ Chuẩn bị bảng phụ và phiếu học tập cá nhân
+ Trên lớp giáo viên treo bảng phụ, chia nhóm và công bố luật chơi
+ Tổng kết cuộc chơi, rút kinh nghiệm và khen thưởng
Ví dụ: Khi dạy bài Chí Phèo – Nam Cao
Hình 3 Vài nét về cuộc đời nhân vật Chí Phèo
Trang 10GV chuẩn bị 3 sơ đồ trống, mỗi nhóm 5 hs luân phiên tiếp sức hoàn thành sơ lượccuộc đời Chí Phèo.
c Trò chơi“ Gặp gỡ chuyên gia” (hoặc người nổi tiếng)
Mục đích: Trò chơi này tập cho các em luôn tự tin, mạnh dạn khi trình bàymột vấn đề trước đám đông Qua trò chơi, các em tự rút bài học kinh nghiệm chobản thân như: Kĩ năng giao tiếp, ứng xử khi gặp những tình huống cụ thể trongcuộc sống và nắm bắt bài học một cách cụ thể, dễ dàng
Cách tiến hành trò chơi:
+ Chọn 1 học sinh dẫn chương trình
+ Chọn 2- 3 học sinh là khách mời để thực hiện trò chơi Cả lớp và giáo viên
là khán giả
+ Khi kết thúc giáo viên tuyên dương các nhân vật thực hiện trò chơi và rút
ra bài học kinh nghiệm
Ví dụ: Khi dạy bài“ Phong cách ngôn ngữ báo chí”- Ngữ văn 11- tập 1.
Giáo viên chọn 1 học sinh làm người dẫn chương trình, học sinh còn lại là kháchmời Khách mời sẽ trình bày nội dung về đề tài đã cho, các học sinh còn lại vào vaikhán giả có thể đặt những câu hỏi để hỏi những vị khách mời bất cứ câu hỏi nào cónội dung xoay quanh bài học Như vậy, đòi hỏi các vị khách mời phải biết sángtạo, linh hoạt, nhanh nhạy trong xử lý tình huống khi người dẫn chương trình vàkhán giả hỏi
d Trò chơi nhìn hình đoán chữ - đuổi hình bắt chữ
Mục đích: Giúp học sinh phát huy khả năng tư duy nhanh nhạy của mình,tạo không khí sôi nổi trong giờ học, tạo sự hứng thú và bớt căng thẳng ở học sinh
Cách tiến hành trò chơi: Giáo viên chuẩn bị hình ảnh minh họa liên quan đếnnội dung bài học có sử dụng trò chơi Giáo viên chiếu hình lên máy chiếu hoặc treohình lên bảng phụ và cho cả lớp đoán những hình ảnh ấy thể hiện nội dung gì? Cảlớp cùng chơi và học sinh nào trả lời được đúng và nhiều hình nhất sẽ được thưởngtràng pháo tay hoặc cộng thêm điểm Giáo viên nhận xét rút ra nội dung bài học
Ví dụ: Khi dạy bài “ Thực hành về thành ngữ, điển cố”, bài tập 6 SGK Ngữ văn
11- tập 1, ta có thể áp dụng trò chơi sau: