1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN sử dụng bản đồ tư duy vào dạy các bài khái quát về giai đoạn văn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh THPT

22 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 712,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thựchiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ mộtchiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY CÁC BÀI KHÁI QUÁT VỀ GIAI ĐOẠN VĂN HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CHO HS THPT

Người thực hiện: Phạm Thị Thu Thủy

Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 NỘI DUNG 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.2 Thực trạng về việc sử dụng SĐTD vào dạy các bài KQVGĐVH nhằm phát triển tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho HS THPT 4

2.3 Các giải pháp về việc sử dụng SĐTD vào dạy các bài KQVGĐVH nhằm phát triển tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho HS THPT 6

2.3.1 BĐTD khái quát về các giai đoạn phát triển của VHVN 6

2.3.2 BĐTD khái quát về một giai đoạn phát triển của VHVN 8

2.3.3 BĐTD về đặc điểm của một giai đoạn VHVN 9

2.3.4 BĐTD về thành tựu của một giai đoạn VHVN 11

2.4 Hiệu quả của SKKN 14

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 15

Trang 3

1.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tai

1.1.1 Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương

trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực (NL) của người học, nghĩa

là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh (HS) học được cái gì đến chỗ quan tâm HSvận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thựchiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ mộtchiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cảkiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để

có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học vàgiáo dục

Thế kỷ XXI là thời đại của nền “kinh tế tri thức” Công nghệ thông tin, khoahọc kỹ thuật không ngừng phát triển đã và đang dẫn đến sự bùng nổ thông tin.Ngày nay mạng internet đang là nơi để mỗi người tự cập nhật thông tin cho mình.Thế giới đang vận hành và thay đổi từng giây Để nắm bắt được thông tin khôngcòn cách nào khác là mỗi chúng ta phải đọc và phải học từng ngày, từng giờ

Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Trang 4

Để đáp ứng được mục tiêu chương trình giáo dục cấp THPT sau năm 2015không còn cách nào khác là HS phải tự học, tự tìm tòi và khám phá nhữngnguồn thông tin mới bổ ích cho mình Bản thân mỗi HS và nhà trường phải tiếnhành một cuộc cách mạng trong học tập Trước tiên và trên hết là cuộc cáchmạng về phương pháp dạy và học Phương pháp dạy - học văn cũng không nằmngoài mục tiêu đó Làm sao để HS quan tâm, yêu - thích và học tốt môn Vănđang là nỗi băn khoăn, trăn trở của các nhà phương pháp

1.1.2 Bản đồ tư duy (BĐTD) chính là sự biểu thị cho cách tư duy của bộ

não BĐTD hoạt động dựa trên các quy luật của tư duy, nó không ngừng giúpchúng ta lưu ý đến trung tâm của vấn đề; đồng thời, bằng sự liên kết, tưởngtượng nó dẫn dắt chúng ta đi tới những kết luận quan trọng như một tấm bản đồchỉ đường, BĐTD sẽ chỉ ra những dấu hiệu hiển nhiên để chúng ta hướng tớiđược cái đích cần thiết BĐTD có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như:kinh doanh, thuyết trình, định hướng cuộc sống, giải pháp cho công việc và cóthể ứng dụng rất có hiệu quả trong lĩnh vực giảng dạy cũng như học tập, đặc biệtvới các môn khoa học xã hội

Cũng như các môn học khác, hiện nay, việc dạy học Ngữ văn ở nhàtrường phổ thông (NTPT) đang đứng trước yêu cầu đổi mới cấp bách Tuy cònnhiều tranh luận gay gắt về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học (PPDH),nhưng tựu trung, các nhà khoa học đều thống nhất khẳng định vai trò của ngườihọc không phải là những bình chứa thụ động mà là những chủ thể nhận thức tíchcực Dạy đọc văn là dạy học sinh (HS) cách thức giao tiếp, tương tác tích cựcvới văn bản để kiến tạo nghĩa và ý nghĩa của tác phẩm cho chính mình, chủđộng chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức một cách hiệu quả vào cuộc sống.Trong quá trình đó, chủ thể người học được phát huy tính tích cực, năng động,sáng tạo; được phát triển một cách toàn diện tiềm năng con người cá nhân với tất

cả triển vọng của nó Như vậy quá trình dạy học văn cũng là quá trình dạy HScách tư duy, cách tìm kiếm và tự chiếm lĩnh kiến thức để có thể tự học và họcsuốt đời Sử dụng BĐTD trong quá trình học tập, vì vậy, là một cách thức,phương tiện thúc đẩy tư duy của HS hoạt động và phát triển

1.1.3 Văn học sử chiếm một vị trí không thể thiếu trong chương trình

môn Ngữ văn ở THPT, trong đó, các bài Khái quát về giai đoạn văn học(KQVGĐVH) được giảng dạy cả ở lớp 10, 11 và 12 Tri thức KQVGĐVH là cơ

sở, nền tảng vững chắc để HS vận dụng vào tiếp cận và đánh giá từng VB cụthể Tuy nhiên, đặc điểm kiến thức của các bài KQVGĐVH thường mang tínhtrừu tượng, khái quát, đa cấp độ, nhiều thuật ngữ khoa học; phạm vi kiến thứcthường rất rộng; dung lượng bài khá dài trong khi phân phối thời gian eo hẹp Vìvậy, trong thực tế dạy học, giáo viên (GV) chủ yếu sử dụng phương pháp thuyếttrình để chạy đua với thời gian, đảm bảo mục tiêu cung cấp kiến thức là chính

Vì chưa có sự đổi mới đáng kể nào về phương pháp, kĩ thuật dạy học nên các bàikhái quát văn học thường rất khó tạo được hứng thú học tập cho HS Khác vớicác văn bản văn chương hình tượng, các bài KQVGĐVH là các văn bản khoa

2

Trang 5

học, văn bản thông tin; kiến thức KQVGĐVH là dạng kiến thức khoa học Vìvậy, vận dụng BĐTD có rất nhiều ưu thế trong quá trình hình thành kiến thứcKQVGĐVH cho HS một cách có hệ thống và vững chắc.

Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng bản đồ tư duy vào

dạy các bài khái quát về giai đoạn văn học nhằm phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh THPT” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn

được góp phần nhỏ bé vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trườngTHPT hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu

BĐTD là một công cụ hữu ích Nhưng để nó phát huy tác dụng thực sựtrong quá trình dạy học, trong từng đơn vị kiến thức cụ thể khi thiết kế và sửdụng BĐTD cần bám sát mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

BĐTD và việc sử dụng BĐTD trong dạy học dạy học các bài KQVGĐVH

ở NTPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Tổng hợp, thu thập các vấn đề liệu lí luận liên quan đến việc dạy và họcVăn nói chung, đặc biệt là dạy học các bài KQVGĐVH bằng cách ứng dụngBĐTD

- Phân tích những vấn đề lý thuyết về BĐTD, từ đó vận dụng vào thực tếgiảng dạy học các bài KQVGĐVH

- So sánh, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn, giữa thể nghiệm và đốichứng dạy học các bài KQVGĐVH bằng BDTD

1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra, khảo sát thực trạng, dự giờ dạy và học các bài KQVGĐVHtrong chương trình lớp 10, 11, 12 THPT

- Thực nghiệm thiết kế và tổ chức dạy học một giờ dạy các bàiKQVGĐVH trong chương trình lớp 10, 11, 12 có sử dụng BĐTD

- Tổng hợp, đối chứng, đánh giá kết quả thực nghiệm để đưa ra nhữngkết luận sư phạm

Trang 7

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Đặc điểm của các bài văn học sử cụ thể là những bài KQVGĐVH có lượngkiến thức rộng, trừu tượng, khó nhớ Vì vậy trong quá trình học bài, HS thườngmang tâm lí mệt mỏi, nhàm chán Để thu nhận được kiến thức, HS thường họcthuộc theo lối học vẹt mà không có bất kì sự chủ động, sáng tạo nào Tuy nhiênvới việc vận dụng BĐTD vào trong quá trình học tập, HS sẽ tích cực phát huykhả năng sáng tạo của mình, bởi đặc điểm của BĐTD là kích thích sự suy nghĩcủa HS, huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp này sẽtăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não và kết quả là tăng cường trí tuệ vàtính sáng tạo của não bộ con người Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiệntrong bộ não, thì BĐTD cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi

nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức BĐTD như một phương tiện nhanh vàhiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanhgọn BDTD hiển thị liên kết giữa các ý tưởng một cách rất phương pháp BĐTD

HS chỉ cần 20 phút để ôn lại một cách hoàn chỉnh rõ ràng

BĐTD sẽ giúp HS giải phóng khỏi cách suy diễn cổ điển với phương thứcghi chép sự kiện theo dòng tẻ nhạt, đơn điệu theo lối dạy truyền thống về các bàiKQVGĐVH BĐTD cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóngtheo luồng tư duy xuất hiện Các ý tưởng trọng tâm được nổi bật với việc sửdụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Để xây dựng BĐTD hoànchỉnh, khi tạo lập HS phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo phong phú củamình, tạo sự liên kết chặt chẽ với tất cả những gì được học HS sẽ không ngừng

tư duy, không ngừng hoạt động để biến những nhận xét, đánh giá trừu tượngtrong bài học thành những hình ảnh sinh động trên BĐTD để có thể hiểu và ghinhớ kiến thức một cách nhanh nhất Ngoài ra, mỗi HS cũng có thể xây dựngBĐTD theo cách chủ quan, cá nhân, cốt làm sao ứng dụng một cách hiệu quảnhất trong quá trình tự học của các em

Chính vì vậy mà BĐTD rất phù hợp khi vận dụng vào dạy học các bàiKQVGĐVH để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

- Thực tế CT,SGK, SGV, TLTK về việc sử dụng BĐTD vào dạy học cácbài KQVGĐVH: Các văn bản KQVGĐVH được học ở chương trình THPT khánặng nề, khô khan Như đã nói ở trên, đây là những bài có đặc điểm riêng về trithức, khác khẳn với các phần văn học khác như đọc hiểu tác phẩm văn học,Tiếng Việt, Làm Văn Giờ học các bài KQVGĐVH vẫn còn gây nhiều mệt mỏi,kéo dài đối với cả GV và HS Phần định hướng phương pháp giảng dạy các bàiKQVGĐVH trong SGV quá sơ sài nên GV khá lúng túng khi phải tổ chức dạyhọc với các bài học khó, có kiến thức tổng hợp, bao quát Các phương pháp, kĩthuật dạy học hiện đại như sử dụng BĐTD chưa được đưa vào ứng dụng vàhướng dẫn cụ thể Các công trình nghiên cứu về sử dụng BĐTD vào dạy học cácbài KQVGĐVH chưa có Các TLTK còn dừng lại ở các bài viết lẻ tẻ, không có

Trang 8

bài viết chuyên sâu, riêng biệt Điều này cũng gây khó khăn cho GV và HStrong việc ứng dụng phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học.

- Thực tế nhận thức của GV và HS về tầm quan trọng của việc sử dụngBĐTD vào dạy học bài KQVGĐVH còn khá lạ lẫm và cũng chưa thực sự cóhiệu quả trong quá trình dạy học nên họ không thích dạy Nguyên nhân của thựctrạng này một phần là do trong chương trình SGK, SGV, TLTK chưa hướng dẫncách ứng dụng BĐTD vào dạy học các bài KQVGĐVH cho GV và HS GVchưa cập nhật những phương pháp dạy học mới Chính vì vậy, trong giờ học,

GV chưa coi kĩ thuật sử dụng BĐTD là một phương tiện dạy học tích cực, HSchưa có thói quen sử dụng BĐTD để ghi nhớ có hiệu quả bài học của mình.Điều này chứng tỏ GV và HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc sửdụng BĐTD vào quá trình dạy và học đặc biệt là dạy học một kiểu bài đặc trưngnhư các bài KQVGĐVH

- Qua dự giờ và khảo sát giáo án các bài KQVGĐVH, trong mỗi giờ lênlớp, GV đã chuẩn bị chu đáo từ việc thiết kế bài học đến việc chuẩn bị đồ dùngdạy học Các bài KQVGĐVH có nội dung dài, kiến thức nặng nề và khô khanđòi hỏi thiết kế của GV cần phải rõ ràng mạch lạc, HS phải thật sự chú ý thì mới

có thể nắm bắt được Trong thực tế, nội dung giáo án còn nặng về cung cấp kiếnthức, chưa thực hiện giảm tải theo chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn THPT, GVcòn nặng về thuyết trình kiến thức Một số giáo án có thiết kế sử dụng kĩ thuậtBĐTD vào dạy học Tuy nhiên BĐTD chỉ được sử dụng để hệ thống hóa lại nộidung dạy học sau tiết dạy hoặc sử dụng vào hoạt động tổng kết củng cố bài học.Cách sử dụng chưa hợp lí, chưa khoa học, còn mang tính tùy tiện, chưa phânbiệt rõ kiến thức cần thể hiện ở các nhánh cấp 1, cấp 2 Chẳng hạn trong mộtgiáo án về bài "Khái quát văn học Việt Nam (KQVHVN) từ năm 1945 đến hếtthế kỉ XX", GV có sử dụng kĩ thuật BĐTD để thiết kế phần củng cố bài học.Tuy nhiên, tính chất thiếu logic, mạch lạc, khoa học trong nội dung của BĐTD

- Thực tế kĩ năng thiết kế và sử dụng kĩ thuật BĐTD của HS: Qua điềutra, phỏng vấn và làm bài kiểm tra của HS, chúng tôi nhận thấy có hầu hết HSchưa biết cách thiết kế BĐTD và chưa được dạy cách thiết kế BĐTD Khi thiết

kế kiến thức bài học bằng BĐTD, HS chỉ vẽ một cách máy móc theo GV màkhông hiểu ý nghĩa sự phân cấp của các nhánh và nội dung thể hiện Chính vìvậy tính chủ động sáng tạo của HS chưa được phát huy, HS chưa ghi nhớ đượcbài học một cách độc lập và sâu sắc Nguyên nhân của thực trạng này là do GVchưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc sử dụng BĐTD vào trong quátrình dạy học; GV chưa bồi dưỡng và rèn cho HS kiến thức, cơ chế hoạt động, kĩnăng thiết kế, sử dụng BĐTD trong học tập Vì vậy trong giờ học các bàiKQVGĐVH, tuy BĐTD có nhiều lợi thế nhưng cả GV và HS đều chưa biết vậndụng kĩ thuật này vào trong quá trình dạy học

Trước thực trạng dạy và học của GV và HS như trên chúng tôi đã mạnhdạn áp dụng một số giải pháp cụ thể và đạt được những hiệu quả nhất định

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

6

Trang 9

Mục đích của tư duy bằng bản đồ là để HS ghi nhớ kiến thức nhanh, kháiquát và sâu sắc, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS Vì vậy, cácBĐTD được thiết kế phải đảm bảo tính khoa học, mạch lạc, hệ thống Trong quátrình dạy học, GV cần phải phối hợp linh hoạt kĩ thuật BĐTD với các kĩ năngdạy học khác để gây hứng thú cho HS và nâng cao hiệu quả dạy học Bởi vìtrong dạy học nói chung, dạy học các bài KQVGĐVH nói riêng không có mộtphương pháp, kĩ thuật nào là độc tôn, tối ưu Như đã nói, BĐTD rất phù hợp đểdạy học các bài KQVGĐVH, tuy nhiên nếu trong giờ học, GV chỉ dùng độc tôn

kĩ thuật BĐTD thì chắc chắn giờ học sẽ trở nên nhàm chán và khó tránh khỏinhững hời hợt

BĐTD là một công cụ hữu ích Để phát huy tính chủ động, tính tích cực

và sáng tạo thực sự trong quá trình dạy học, trong từng đơn vị kiến thức cụ thểtrong các bài KQVGĐVH chúng tôi đã xây dựng một số BĐTD sau:

2.3.1 BĐTD khái quát về các giai đoạn phát triển của VHVN

a) Mục tiêu

- Giúp HS có cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về quá trình hình thành vàphát triển của nền VHVN

- Rèn cho HS kĩ năng tư duy logic, khái quát, hệ thống hóa

b) Xác định các đơn vị kiến thức trọng tâm, cốt lõi

Theo mục tiêu chung đã xác định ở trên và căn cứ CT, SGK Ngữ văn THPThiện hành, nội dung khái quát về giai đoạn phát triển (GĐPT) của VHVN được tómtắt như sau:

Văn học Việt Nam phát triển qua 3 giai đoạn lớn:

- Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

- Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8 năm 1945

- Văn học Việt Nam từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến hết thế kỉ XX

 Đối với mỗi giai đoạn phát triển, HS cần, mô tả, thông hiểu, lí giải, phântích được các đặc điểm: Hoàn cảnh lịch sử xã hội, nội dung văn học, hình thứcnghệ thuật, tác giả - tác phẩm, cụ thể:

 Văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm cơ bản sau:

Hoàn cảnh lịch sử: Văn học phát triển dưới các triều đại phong

kiến (pk) từ thịnh trị tới suy vong; các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm:Tống, Nguyên Mông, Minh, Thanh, đều đi tới thắng lợi; cuối thế kỉ XIX,giặc Pháp chiếm đóng nước ta, đất nước chuyển sang chế độ thực dânphong kiến

- 4 giai đoạn phát triển cụ thể: từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV; từ thế kỉ XV đến

thế kỉ XVII; từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX; văn học nửa cuối thế kỉXIX

Trang 10

- Nội dung văn học: yêu nước và nhân đạo

- Hình thức nghệ thuật: Sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm với thành tựu

thể hiện ở các thể loại văn xuôi (truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi), vănchính luận, thơ phú (Thơ Đường luật, thơ Nôm Đường Luật, thơ lục bát, khúcngâm )

- Tác giả tiêu biểu: Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu,

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ,Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…

Văn học từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8 năm 1945:

- Hoàn cảnh lịch sử: Pháp xâm lược, chế độ xã hội thực dân - phong kiến

- Hình thức nghệ thuật : Văn học phát triển theo hướng hiện đại hóa

(HĐH), sáng tác bằng chữ quốc ngữ, nhiều thể loại văn học mới: tiểu thuyết,truyện ngắn, thơ mới, kịch, phóng sự, bút kí, lí luận phê bình

- Tác giả tiêu biểu: Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Hoàng Ngọc Phách, Thạch

Lam, Nhất Linh, Xuân Xiệu, Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nam Cao, NgôTất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân

- Nội dung văn học: Ca ngợi Tổ quốc, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh

hùng cách mạng; kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân; ngợi ca những đổi thaycủa đất nước, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình

- Hình thức nghệ thuật: Văn học sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn

- Tác giả tiêu biểu: Kim Lân, Nguyên Ngọc, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng,

Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Hồ Chí Minh, Quang Dũng, Tố

8

Trang 11

Hữu,Tế Hanh, Xuân Diệu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, XuânQuỳnh

c) Thiết kế bản đồ tư duy

- Chủ đề trung tâm “Các giai đoạn phát triển của VHVN ” Sử dụng màu

sắc để làm nổi bật chủ đề trung tâm

- Các nhánh cấp 1 gồm các tiêu đề: “Thế kỉ X - XIX”,“Từ TK XX đến CMT 8/1945”,“8/1945 - hết thế kỉ XX”.( Thế kỉ - TK)

- Các nhánh cấp 2 ứng với các tiêu đề: Hoàn cảnh lịch sử, các giai đoạn

phát triển, nội dung văn học, hình thức - nghệ thuật, tác giả tiêu biểu.

- Các nhánh cấp 3 triển khai cho các ý từ các nhánh cấp 2.

Ngày đăng: 09/06/2021, 13:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (Dự án Việt-Bỉ) Dạy và học tích cực-Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực-Một số phươngpháp và kĩ thuật dạy học
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
2. Bộ giáo dục và đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn lớp 11, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng mônNgữ Văn lớp 11
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
3. Đặng Thị Phương Duyên/Áp dụng BĐTD trong giảng dạy và học tập/ww.Ctet.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng BĐTD trong giảng dạy và họctập/
4. Nguyễn Thị Hòa (2014), Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn bản truyện (1945-1975) trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, ĐH Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn bảntruyện (1945-1975) trong sách giáo khoa Ngữ văn 12
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Năm: 2014
5. Trần Thị Thu Hiền /Sử dụng BĐTD dạy HS cách tự học trong môn Ngữ văn THCS/ww.Luanvan.co Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng BĐTD dạy HS cách tự học trong môn Ngữ văn
6. Đỗ Thị Liên (2014), Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi lớp 12, ĐH Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài nghị luận về mộttác phẩm (trích đoạn) văn xuôi lớp 12
Tác giả: Đỗ Thị Liên
Năm: 2014
7. Hoàng Thị Mai, (2011), Xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập hướng dẫn sinh viên học hợp tác khi dạy học các phần Văn học sử ở đại học (Đề tài nghiên cứu khoa học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập hướng dẫn sinhviên học hợp tác khi dạy học các phần Văn học sử ở đại học
Tác giả: Hoàng Thị Mai
Năm: 2011
8. Phạm Văn Nam “Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn” (Viện khoa học giáo dục Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
9. Vũ Thị Bình Ngọc/Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 9/ww.Dongtrieu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn9/

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w