SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY VÀ HỌC MÔN HÓA HỌC LỚP 12 BẰNG VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN LIÊN QUAN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY VÀ HỌC MÔN HÓA HỌC LỚP
12 BẰNG VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN BÀI HỌC.
Người thực hiện: Lê Thị Lan Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn : Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận 3
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
1.4.2.1 Phương pháp quan sát 3
1.4.2.2.Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu 3
1.4.2.3 Phương pháp phỏng vấn 3
1.4.3 Phương pháp thống kê toán học 3
1.5 Những điểm mới của sáng kiến 3
2 NỘI DUNG 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.2.Thực trạng của đề tài nghiên cứu 4
2.2.1.Thực trạng dạy và học môn Hóa học ở trường THPT Nguyễn Thị Lợi
4 2.2.2 Đánh giá thực trạng 4
2.3 Các giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 5
2.3.1.Tổ chức triển khai thực hiện 5
2.3.2 Các ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng trong thực tiễn được sử dụng vào bài dạy môn hóa học lớp 12 6 2.4 Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm 14
2.4.1 Kết quả đạt được 14
2.4.2 Bài học kinh nghiệm 15
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 15 3.1 Kết luận 15
3.2 Kiến nghị 16
Trang 31 MỞ ĐẦU.
1.1 Lí do chọn đề tài
Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên Mục đích của môn học là giúp họcsinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểubiết về thế giới, con người thông qua các bài học Học hóa để hiểu, để giải thíchđược các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyểnhóa của các chất bằng các phương trình hóa học Đồng thời là khởi nguồn, là
cơ sở phát huy tính sáng tạo, tạo ra những ứng dụng phục vụ đời sống conngười Hóa học góp phần giải tỏa, xóa bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đếnđời sống, tinh thần của con người
Môn hóa học ở trường trung học phổ thông nếu không có những bài giảng vàphương pháp hợp lí, phù hợp với đối tượng học sinh thì dễ làm cho học sinh thụđộng trong việc tiếp thu và vận dụng kiến thức Trước tình hình đó, việc đổi mớiphương pháp dạy học hóa học đã và đang trở thành yếu tố quyết định hiệu quảcủa giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ làphát huy tính thực tế
Trong việc dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông, người giáoviên phải có vốn kiến thức thực tế sâu rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực
tế, thiết kế được những bài giảng sinh động, nâng cao được hiểu biết và kíchthích sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh
Nhưng thực trạng dạy và học hoá học ở trường phổ thông cho thấy đôi khi líthuyết chưa gắn liền với thực tiễn, xa rời thực tiễn, nặng về lí thuyết, nhẹ vềthực hành Những ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất học sinhkhông biết hoặc biết một cách không tường tận, không hiểu bản chất Đã có hiệntượng một số bộ phận học sinh không muốn học hóa học, ngày càng lạnh nhạtvới giá trị thực tiễn của hóa học Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đốitượng giáo dục, chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiệntượng cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò làkhông ít Chính vì những thực trạng trên mà hạn chế sự phát triển tư duy và khảnăng sáng tạo của học sinh, dần dần học sinh mất đi những hiểu biết vốn rất líthú của bộ môn khoa học thực nghiệm này
Với những lí do trên tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, tham khảo tư liệu và ápdụng đề tài :
“Nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học lớp 12 bằng việc giải thích
các hiện tượng thực tiễn liên quan đến bài học”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này sẽ làm rõ ý nghĩa khoa học hóa học có thể ứng dụng thực tiễn
trong đời sống thường ngày qua giảng dạy môn hóa học lớp 12 nhằm phát huytính chủ động, sáng tạo, tích cực, hứng thú với môn học Trên cơ sở đó, đề tàicũng sẽ đem lại cho giáo viên và học sinh những nhận thức về phương pháp họctập, làm việc mang tính hợp tác, thấy rõ vai trò tích cực của học sinh và chủ đạocủa giáo viên làm cho hóa học không khô khan, bớt đi tính đặc thù phức tạp
Trang 4Tóm lại,đề tài muốn góp một tiếng nói vào phong trào đổi mới phương phápdạy và học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo trong tình hình đấtnước hiện nay.
1.3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
- Một là, nghiên cứu những vấn đề lí luận về phương pháp dạy học hóa học ởtrường trung học phổ thông
- Hai là, nghiên cứu tình hình thực tế qua việc dự giờ các tiết dạy của giáo viêncùng bộ môn để đánh giá và rút ra phương pháp dạy thích hợp, đồng thời nghiêncứu hiệu quả học tập của học sinh trong suốt quá trình thực hiện giải pháp
- Ba là, trên cơ sở thống kê số liệu chỉ rõ cách thực hiện và hiệu quả của việc áp
dụng đề tài :“Nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học lớp 12 bằng việc
giải thích các hiện tượng thực tiễn liên quan đến bài học”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông qua việc giải thích các hiện tượngthự tiễn liên quan đến bài học trong dạy học môn Hóa học lớp 12 nhằm nâng caohiệu quả dạy và học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí luận
- Thu thập các loại tài liệu , sách, báo , tạp chí có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu những ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa hoá học lớp 12, các nộidung và bài tập hoá học liên quan đến thực tiễn
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1.4.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này thực hiện bằng cách theo dõi và phân loại học sinh (Giỏi, khá,trung bình, yếu, kém) để đưa ra cách giải hợp lí cho từng đối tượng
1.4.2.2.Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu
Sử dụng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra nhằm thu thập số liệu để đánh giá thựctrạng và đề xuất các giải pháp
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thựctiễn trong giảng dạy môn hoá học lớp 12 hiện nay
1.4.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn trao đổi trực tiếp với tổ trưởng, tổ nhóm chuyên môn và tham khảo ýkiến của các giáo viên dạy giỏi về các vấn đề liên quan đến đề tài
1.4.3 Phương pháp thống kê toán học
- Tố chức cho học sinh giải quyết các bài tập đó dưới sự hướng dẫn của giáoviên
- Tổ chức kiểm tra để thu thập thông tin về khả năng vận dụng kiến thức vàhứng thú của học sinh đối với môn học trước và sau khi thực nghiệm
1.5 Những điểm mới của sáng kiến
Đề tài này được phát triển từ sáng kiến kinh nghiệm “Thiết kế và sử dụng bài tậphóa học có nội dung liên quan đến thực tiễn trong dạy học môn Hóa học lớp 12THPT” và sự kế thừa, phát triển của đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn
Trang 5Hóa học lớp 10 và lớp 11 bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn liên quanđến bài học” mà tác giả đã triển khai thực hiện trong năm học 2018 - 2019 và
2019 - 2020 Điểm mới của sáng kiến này là sử dụng các câu hỏi liên quan đếnthực tiễn phù hợp hơn với năng lực của học sinh Đề tài cũng nêu cách thức ápdụng cụ thể cho từng phần, từng bài học Nhờ đó, hiệu quả dạy học được nângcao rõ rệt
2 NỘI DUNG.
2.1.Cơ sở lí luận
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm Những nội dung của hóa học luôn gắn liền với thực tiễn đời sống và sản xuất Mục đích của môn hóa học làgiúp học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh; nâng cao những tri thức và hiểu biết
về thế giới về con người thông qua các bài học, các giờ thực hành
Học hóa để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấutạo nguyên tử, sự chuyển hóa giữa các chất bằng các phương trình hóa học Học hóa để biết, đó là góp phần giải tỏa, xóa bỏ những hiểu biết sai lệch làmảnh hưởng, phương hại đến đời sống ,tinh thần của con người
Học hóa để làm, là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng phục
vụ đời sống con người
Để đạt được mục đích của môn hóa học, ngoài việc phải tiếp thu đầy đủnhững kiến thức từ trên lớp,từ sách giáo khoa, từ thầy cô, học sinh còn tự mìnhsưu tầm và tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong đời sống thường ngày; vậndụng những kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy họcsinh được củng cố kiến thức sâu sắc hơn Và cũng nhờ đó học sinh thấy học mônhóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn hơn
2.2 Thực trạng của đề tài nghiên cứu
2.2.1 Thực trạng dạy và học môn Hóa học ở trường THPT Nguyễn Thị Lợi Trong quá trình giảng dạy tôi thấy rằng học sinh chưa hứng thú với môn Hóa
học, nhiều học sinh thấy sợ khi học môn Hóa, thấy môn hóa thật khó hiểu, khótiếp thu, và nhanh quên kiến thức
Qua điều tra tìm hiểu tôi thấy rằng, trong quá trình học tập học sinh ít đượchoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép rồi học thuộc, ít được suy luận, chủđộng tìm kiếm, tiếp thu kiến thức Do vậy, phương pháp học của học sinh là thụđộng, ít tư duy, sáng tạo và vì vậy học sinh thường gặp khó khăn khi giải quyếtcác bài tập hóa học đặc biệt là những bài tập liên quan đến thực tế
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy họccủa giáo viên cũng còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạyhọc Các hình thức hoạt động của giáo viên và phương pháp mà giáo viên sửdụng chưa nhằm vào yêu cầu tổ chức cho học trò hoạt động, chưa chú trọng vàoviệc hình thành phương pháp tư duy, rèn luyện cho học sinh năng lực sáng tạo
2.2.2 Đánh giá thực trạng
Kết quả khảo sát chất lượng môn Hóa học lớp 12 trường THPT Nguyễn Thị Lợitrong hai năm gần đây trước khi thực hiện đề tài :
Trang 6Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài
Năm
học Lớp
SốHS
2.3 Các giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài
2.3.1.Tố chức triển khai thực hiện
Để tổ chức thực hiện giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện , nhiều cách như :bằng lời giải thích, hình ảnh, đoạn phim, bài hát, câu ca dao, tục ngữ
Bằng các ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng thực tiễn có thể áp dụngtrong từng bài, từng chương trong chương trình sách giáo khoa lớp 12
Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thường ngày thay cho lời giớithiệu vào bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờnhưng lại tạo ra hứng thú cho học sinh đối với bài học
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày qua cácphương trình hóa học cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này làm cho họcsinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn của bài học và giải tỏa tính tò mò củahọc sinh
Nêu các hiện tượng thực tiễn liên quan đến đời sống thường ngày qua chuyện
kể và có thể đan xen bất cứ thời điểm nào trong suốt tiết học Cách làm này sẽtạo không khí học tập thoải mái, từ đó tăng thêm hứng thú với bộ môn và kíchthích niềm đam mê hóa học
Nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống thường ngày sau khi kếtthúc bài học Cách nêu vấn đề này tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức
đã học tìm cách giải thích các hiện tượng từ đó khắc sâu kiến thức đã học
Trang 7Sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tiễn để nêu và giảiquyết vấn đề Đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhằm phát huy tínhchủ động sáng tạo của người học.Để giải quyết tốt các tình huống có vấn đề thìmột trong những phương pháp tối ưu nhất là sử dụng những bài tập có nội dungliên quan đến thực tiễn Ví dụ khi dạy phần sản xuất nhôm, giáo viên đưa ranhững vấn đề thực tiễn sản xuất dưới dạng các bài tập để hình thành kiến thứcmới cho học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy phần sản xuất nhôm, giáo viên đưa ra bài tập sau:
Tại sao trong quá trình điện phân Al 2 O 3 nóng chảy để điều chế nhôm người ta phải thêm vào đó một lượng Criolit Na 3 AlF 6 ?
Như vậy bài tập này có tính chất nêu vấn đề làm cho học sinh phải vận dụngtính chất của các chất đã học để giải quyết vấn đề đó Việc đưa ra những vấn đề
đó sẽ kích thích trí tò mò, tư duy tích cực của học sinh Sau khi nêu vấn đề dướidạng những câu hỏi thực tiễn, học sinh tự giải quyết vấn đề và rút ra cho mìnhnhững nhận xét
Sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tiễn trong việc củng
cố kiến thức và kĩ năng Đối với tiết nghiên cứu tài liệu mới, kiến thức và kĩnăng mới được hình thành sẽ chưa vững chắc nếu không được củng cố ngay.Việc củng cố bằng cách cho học sinh nhắc đi nhắc lại nhiều lần lí thuyết đượccoi là cách củng cố không hiệu quả Nội dung bài tập củng cố có thể đưa ra ngaysau nội dung bài học
Ví dụ 2: Sau khi học xong bài “điều chế kim loại ” giáo viên có thể đưa ra bài
tập sau:
Dãy gồm tất cả các kim loại đều được điều chế bằng phương pháp điện phân nóng chảy là
A Na, K, Mg, Fe B Na, Mg, Ca ,Al.
C Na, K, Al, Cu D Na, Al, Ba, Ag.
Qua bài tập này học sinh sẽ củng cố, khắc sâu được những phương pháp điềuchế kim loại
2.3.2 Các ví dụ minh họa thông qua một số hiện tượng trong thực tiễn được sử dụng vào bài dạy môn hóa học lớp 12.
Ví dụ 1 1 : Các este thường có mùi thơm đặc trưng, trong đó este benzyl axetat có
mùi thơm của hoa nhài Công thức cấu tạo của benzyl axetat là
A CH3COOC6H5 B CH3COOCH2C6H5
C.CH3CH2COOC6H5 D HCOOCH2C6H5
Hướng dẫn :
Đáp án : B
Áp dụng : Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi này trong tiết 5 “Luyện tập về este”
hoặc tiết Kiểm tra giữa kì I (tiết 20)
Ví dụ 2: Vì sao khi ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh? [8]
Hướng dẫn :
Trang 8Vì glucozơ tạo một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đườngtrong quá trình hoà tan là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mátlạnh.
Áp dụng :
Đây là một hiện tượng thường gặp trong cuộc sống Giáo viên đưa vấn đề nàyvào phần tính chất vật lí của glucozơ khi dạy chủ đề Cacbohiđrat
Ví dụ 3 2 :
Trong công nghiệp, để chuyển hoá chất béo lỏng (dầu) thành chất béo rắn (mỡ
rắn), người ta cho chất béo lỏng phản ứng với chất nào sau đây?
A H2 (Ni, t0) B dung dịch NaOH, t0 C dd Br2 D dd H2SO4, t0
(C17H33COO)3C3H5 (lỏng) + 3H2 175 1900
Ni C
Áp dụng :
Vấn đề trên hiển nhiên trong đời sống ai cũng biết hiện tượng này Có thể đưavào trong khi dạy bài “Tinh bột” (Tiết 10, chủ đề Cacbohiđrat) với mục đích giảithích tại sao gạo nếp lại dẻo? Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi để dẫn dắt vàobài hoặc xen vào bài giảng khi trình bày phần cấu tạo phân tử của tinh bột
Ví dụ 5 4 : Tại sao khi ăn cơm nhai kĩ sẽ thấy có vị ngọt?
Hướng dẫn :
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của người
có các enzim Khi nhai kĩ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thuỷ phân một phầntinh bột thành mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt:
amilaza H O mantaza H O n
C H O ����� �C H O ����� �C H O
Tinh bột Mantozơ Glucozơ
Áp dụng :
Trang 9Giáo viên có thể đề cập vấn đề trên ở phần nội dung phản ứng thuỷ phân củatinh bột trong bài “Tinh bột” (tiết 10, chủ đề Cacbohiđrat).
Ví dụ 6: Tại sao khi nấu canh cá người ta thường cho các quả có chất chua như
me, khế ,cà chua ,dọc, giấm vào …và món canh cá thường ít tanh hoặc giảm vịtanh [8]
Hướng dẫn :
Chất tanh của cá có chứa hỗn hợp các amin : đimetyl amin (CH3)2NH và trimetylamin (CH3)3N có tính bazơ yếu Các chất chua dùng để nấu canh cá đều là cácaxit hữu cơ như axit xitric , axit axetic , chúng có phản ứng với các amin tạothành muối do đó làm giảm hoặc làm mất vị tanh của cá :
CH3COOH + (CH3)2NH �� �CH3COOH2 N(CH3)2
Áp dụng : Giáo viên có thể đặt câu hỏi nay khi nghiên cứu về tính bazơ của
amin (Tiết 15, bài Amin)
Ví dụ 7: Tại sao không nên sử dụng sữa đậu nành và mật ong cùng một lúc? [6] Hướng dẫn :
Mật ong có tới 75% là đường glucozơ và Fructozơ, một lượng nhỏ axit hữu cơ.Khi trộn hai thứ đó với nhau hoặc ăn cùng một lúc, axit hữu cơ của mật ong sẽkết hợp với protein trong sữa đậu nành tạo ra chất kết tủa, cơ thể người khônghấp thụ được
Áp dụng :
Đây là vấn đề rất dễ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Giáo viên có thể nêuvấn đề này trong bài giảng “Peptit và protein” (Tiết 17) nhằm giúp các em hiểu
rõ hơn từ đó biết cách tránh kết hợp sử dụng hai loại thức uống này cùng lúc
Ví dụ 8 5 : Vì sao ở các cơ sở đóng tàu, người ta thường gắn một tấm kẽm ở phía
sau đuôi tàu ?
Hướng dẫn :
Thân tàu biển được chế tạo từ hợp kim của sắt (gang, thép) Khi đi lại trên biểnthân tàu tiếp xúc thường xuyên với nước biển là dung dịch chất điện li nên sắt bị
ăn mòn, gây hư hỏng tàu
Để bảo vệ thân tàu, người ta thường áp dụng biện pháp sơn nhằm không chogang thép của thân tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển Nhưng ở phía đuôi tàu,
do tác động của chân vịt, nước bị khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn làchưa đủ Do đó mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi tàu Khi đó sẽ xảy ra quá trình ănmòn điện hoá Kẽm là kim loại hoạt động hơn sắt nên bị ăn mòn, còn sắt đượcbảo vệ
Áp dụng :
Sự ăn mòn kim loại đặc biệt là ăn mòn điện hoá hàng năm gây tổn thất nghiêmtrọng cho nền kinh tế quốc dân Con người luôn cố gắng tìm ra những phươngpháp chống ăn mòn kim loại Phương pháp điện hoá (dùng Zn) để bảo vệ vỏ tàubiển như trên rất hiệu quả và được ứng dụng rất rộng rãi Giáo viên có thể nêuvấn đề này sau khi dạy xong bài 20: “Sự ăn mòn kim loại” (tiết 33) để cho họcsinh giải thích nhằm giúp cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức để giảithích các hiện tượng trong thực tế cuộc sống
Trang 10Ví dụ 9:
Khi lắp đặt các đường ống bằng thép trong lòng đất, nhận thấy cứ khoảng chừngvài chục mét người ta lại nối ống thép với một tấm kim loại nhôm hoặc kẽm Hãy giải thích mục đích của cách làm này.[5]
Hướng dẫn :
Mục đích là bảo vệ ống thép bằng các phương pháp điện hoá.Các lá Zn hoặc Al
là cực âm, chúng bị ăn mòn Ống thép là cực dương không bị ăn mòn điện hoáhọc
Áp dụng : Giáo viên có thể nêu vấn đề này sau khi dạy xong bài 20: Sự ăn mòn
kim loại (tiết 33) để cho học sinh giải thích nhằm giúp cho học sinh biết cáchvận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng trong thực tế cuộc sống
Ví dụ 10:
Sau một ngày lao động, người ta phải vệ sinh bề mặt kim loại của các thiết bị máy móc, dụng cụ lao động Việc làm này có mục đích chính là gì?
A Để kim loại sáng bóng đẹp mắt
B Để không gây ô nhiễm môi trường
C Để không làm bẩn quần áo khi lao động
D Để kim loại đỡ bị ăn mòn [5]
Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng, lâu ngày thấy xuất hiện lớp cặn ở đáy
ấm Cách loại bỏ lớp cặn này như thế nào?
Áp dụng :
Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi dạy xong bài “Kim loại kiềm thổ và cáchợp chất của kim loại kiềm thổ” ở phần Nước cứng (Tiết 46) Mục đích là cungcấp cho học sinh một số vấn đề trong đời sống từ đó có thể giải thích được bảnchất vấn đề nhằm kích thích sự hưng phấn trong học tập Đây là hiện tượng màhọc sinh có thể quan sát và thực hiện dễ dàng
Trang 11Ví dụ 12:
Khi vào các hang động như động Hương Tích, động Phong Nha chúng ta thấy
có những thạch nhũ hình dáng rất đẹp, các thạch nhũ này được bắt đầu từ trên và
ở dưới đất chúng rất đối xứng với nhau Hãy giải thích hiện tượng này bằng cáckiến thức hoá học.[6]
Hướng dẫn :
Thạch nhũ được tạo thành là do kết quả lâu dài của sự chuyển hoá lẫn nhau giữahai muối Ca(HCO3)2 và CaCO3 Thành phần chính của núi đá vôi là CaCO3, khigặp nước mưa và khí CO2 trong không khí, CaCO3 chuyển hoá thành Ca(HCO3)2
tan trong nước, chảy qua khe đá vào hang động Dần dần Ca(HCO3)2 lại chuyểnhoá thành CaCO3 rắn, không tan Quá trình xảy ra liên tục, lâu dài tạo nên thạchnhũ với những hình thù khác nhau :
Ví dụ 13:
Tại sao nồi nhôm mới mua về màu sáng, sau một thời gian đun nấu trở thànhxám đen, nhưng chỉ cần đun nấu cà chua hoặc các thức ăn có tính chua thì nồinhôm lại sáng trở lại? [8]
Hướng dẫn :
Do nước đun nấu ít nhiều có sắt , khi đun nấu nhôm hoạt động hơn sắt, nên đẩysắt ra khỏi muối của nó và thay thế ion sắt, còn ion sắt bị khử sẽ tạo thành sắtbám vào bề mặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị xám đen Khi nấu thức ăn có tính axit thìlớp sắt sẽ bị hoà tan và nồi nhôm sáng trở lại
Áp dụng :
Đây là một tình huống rất hay gặp trong thực tế đời sống hàng ngày Qua câu hỏinày học sinh sẽ biết giải thích những hiện tượng thường gặp từ đó thêm hứngthú với bộ môn Giáo viên có thể đưa câu hỏi này khi dạy bài “Nhôm và hợpchất của nhôm” (tiết 49)
Ví dụ 14: Vì sao phèn chua có thể làm trong nước? [1]
Al2(SO4)3 �� �2Al3+ + 3SO4
2-Al3+ + H2O ������ [Al(OH)]2+ + H+