phân tích chiến lược TOWS, giải pháp phát triển thị trường, chuyên đề chiến lược cạnh tranh, phát triển hình ảnh thương hiệu, giải pháp giảm ô nhiễm, kế toán chi phí quản lý
Trang 1Chương I Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói mỳ ăn liền là một sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng khôngchỉ tại Việt Nam mà trên toàn thế giới Mỳ ăn liền rất tiện lợi trong việc sử dụng, phục
vụ cho các bữa ăn nhanh, ăn sáng với nhiều khẩu vị khác nhau Tại thị trường ViệtNam, chúng ta khẳng định được rằng không có loại sản phẩm nào có tầm phủ sóngrộng khắp như mỳ ăn liền Mỳ ăn liền có thể lan tới mọi thôn làng, mọi xóm của khắpcác tỉnh thành trên cả nước, từ thành thị tới nông thôn, vùng núi cao, biên giới và hảiđảo, đâu đâu cũng có thể bắt gặp sản phẩm mỳ ăn liền Hệ thống các nhà máy sản xuất
mỳ ăn liền tại nước ta cũng rất phong phú đa dạng, phân bố rộng khắp 3 miền Bắc,Trung, Nam, với các hãng nổi tiếng như Vina Acecook, Asian Food, Vifon, Massan…
Và thị trường tiêu thụ của sản phẩm mỳ ăn liền cũng rất đa dạng, phong phú và giàutiềm năng Cụ thể, chỉ trong năm 2008, lượng mỳ ăn liền tiêu thụ trên thị trường nước
ta là hơn 5 tỷ gói mỳ, trong năm 2009 là xấp xỉ 6 tỷ gói, và trong năm 2010 là 7 tỷ 1gói Hơn nữa, thị trường mỳ ăn liền nước ta luôn đạt được mức tăng trưởng cao trongvài năm gần đây với tốc độ tăng bình quân từ 15% tới 20% mỗi năm Việc thị trườngtiêu thụ giàu tiềm năng đã khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư mạnh vào việc sản xuất,kinh doanh mặt hàng này
Tuy nhiên, trong 3 năm trở lại đây, nền kinh tế thế giới nói chung, nền kinh tếnước ta nói riêng, chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới,lạm phát có xu hướng tăng, đã và đang gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp sảnxuất, kinh doanh sản phẩm này Việc chi phí sản xuất có xu hướng gia tăng gây ảnhhưởng không nhỏ tới việc sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền của các hãng Với việc bỏtiền tỷ ra để đầu tư dây chuyền sản xuất mỳ ăn liền, thêm vào đó là giá điện nước,xăng dầu tăng cao, mức lương cơ bản có xu hướng tăng lên, đã gây ảnh hưởng lớn đốivới bài toán chi phí của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mỳ ăn liền Như vậy,mặc dù thị trường giàu tiềm năng, tốc độ tăng trưởng cao từ 15% tới 20% mỗi năm,nhưng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mỳ ăn liền đang phải đối mặt với vấn đềgiá cả đầu vào có nhiều biến động Vì vậy các doanh nghiệp đang cần có những giảipháp để hạn chế sự biến động đó
Trong quá trình thực tập tại nhà máy mỳ Hapro thuộc Tổng công ty Thươngmại Hà Nội, em nhận thấy được tính cấp thiết của vấn đề này, em đã chọn nghiên cứu
đề tài : “Một số giải pháp nhằm hạn chế sự biến động của giá đầu vào đối với hoạtđộng sản xuất kinh doanh của nhà máy mỳ Hapro thuộc Tổng công ty Thương mại HàNội”
1.2. Xác lập và tuyên bố đề tài
Trang 2Đề tài nghiên cứu sự biến động giá đầu vào xăng dầu, điện nước, bột mỳ, tiềnlương công nhân đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất mỳthông qua việc làm rõ các vấn đề sau:
1 Trong thời gian qua tình hình biến động giá đầu vào của các yếu tố đầuvào xăng dầu, điện nước, bột mỳ, tiền lương nhân công như thế nào?
2 Sự biến động này có ảnh hưởng gì đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền nói chung và của nhàmáy mỳ Hapro nói riêng?
3 Nhà máy mỳ Hapro đã và đang giải quyết như thế nào đối với vấn đềnày?
4 Trong thời gian tới, nhà máy cần có biện pháp nào để hạn chế ảnh hưởngtiêu cực của sự biến động giá đầu vào đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình?
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:
Hệ thống các lý thuyết liên quan tới giá cả, sự biến động giá cả đầu vào trongmột doanh nghiệp
Đánh giá được tác động của sự biến động giá cả đầu vào đến các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh mỳ ăn liền nói chung và của nhà máy mỳ Hapro nói riêng
Làm rõ nguyên nhân của sự biến động và dự báo xu hướng giá đầu vào trongthời gian tới của nhóm ngành sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền
Đưa ra được những định hướng phát triển và một số giải pháp nhằm hạn chế sựtác động của sự biến động giá đầu vào trong nhóm ngành sản xuất mỳ ăn liền
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về sự biến động giá cả các đầu vào của một sốđầu vào cơ bản là: giá điện nước, giá xăng dầu, giá bột mỳ( nguyên liệu chính), tiềnlương nhân công trong thời gian từ năm 2008 tới năm 2010, và tác động của nó tớidoanh thu, lợi nhuận, chi phí sản xuất kinh doanh của nhà máy mỳ Hapro Từ đó đưa
ra được một số giải pháp nhằm hạn chế sự biến động này
1.5. Một số khái niệm và nội dung nghiên cứu của đề tài
1.5.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan tới đề tài
1.5.1.1 Khái niệm về biến động giá
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 3Quan điểm của Mác cho rằng giá cả là sự biểu hiện bằng tiền giá trị xã hội củamột hàng hóa nhất định, là hình thức biểu hiện giá trị xã hội của hàng hóa thông quaphương tiện là tiền tệ.
Theo Lenin, giá cả là sự biểu hiện bằng tiền giá trị xã hội của một hàng hóanhất định, của một đợn vị giá trị sử dụng nhất định
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, giá cả là sự biểu hiện bằngtiền của giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, đồng thời cũng biểu hiện tổng hợp cácmối quan hệ lớn trong nền kinh tế quốc dân như quan hệ tích lũy đối với tiêu dùng,quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, quan hệ giữa các ngành các vùng trong nềnkinh tế, quan hệ giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội với nhau….(trích từ “ giáo trình
cơ sở hình thành giá cả” trang 25- Nhà xuất bản tài chính 2007)
Biến động là thước đo thống kê cho thấy khuynh hướng của một thị trường sẽtăng hay giảm giá trong một thời gian nhất định
Biến động giá nguyên liệu đầu vào là sự gia tăng hay giảm giá của các nguyênliệu đầu vào trong một thời gian nhất định Các nguyên liệu đầu vào chủ yếu như điện,nước, xăng dầu… sự biến động này có thể gây ra tác động tiêu cực hoặc tích cực tớihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụngcác nguyên liệu đầu vào có sự biến động lớn về giá cả.( Trang web Bộ Xây dựngwww.moc.gov.vn)
Các loại biến động giá đầu vào:
Tiền thuê đất đai được coi là tiền mà doanh nghiệp phải trả cho việc sử dụngđất đai đó phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lượng tiềnnày thường được trả trong thời gian dài, từ 1 năm cho tới 50 năm, và được tính vào chiphí cố định của doanh nghiệp, do vậy có thể coi giá thuê đất đai không biến động
Tiền công lao động hay tiền lương:
Theo Mác, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tiền lương là giá cả của sức laođộng, biểu hiện ra bên ngoài như giá cả lao động
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương là một phần thu nhập củaquốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tê, được nhà nước phân phối một cách có kếhoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ cốnghiến
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là số lượng tiền mà người sửdụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ
sở thỏa thuận( theo hợp đồng lao động)
Trang 4Theo điều 55 chương “ Tiền lương” của Bộ luật lao động Việt Nam ban hànhnăm 1994 thì tiền lương của người lao động do 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng laođộng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả của công việc.
Biến động giá đầu vào cơ bản: là sự biến động giá, tiền mua, chi phí để sử dụngcác yếu tố đầu vào cơ bản phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thểnhư điện, nước, xăng dầu…
1.5.1.2 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
a) Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh: là một phạm trù kinh tế phảnảnh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuấtkinh doanh đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất Hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp thường được biểu hiện qua lợi nhuận Đơn giản nhất hiệu quảkinh doanh được tính theo công thức:
H =kết quả đầu ra/ chi phí đầu vào
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằng cách
lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ Đơn
vị tính là % Công thức tính tỷ số này như sau:
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu = 100%
- Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh
lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần Lợi nhuận trong tỷ số này là lợinhuận ròng dành cho cổ đông Còn vốn cổ phần trong tỷ số này là bình quân vốn cổ phần phổthông Công thức của tỷ số này như sau:
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = 100%
x
Lợi nhuận ròng Bình quân vốn cổ phần phổ thông
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu củacông ty cổ phần này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận Nếu tỷ số này mang giá trịdương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 5Tỷ số doanh thu trên lao động trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấy tổngdoanh thu trong kỳ chia cho tổng số lao động tham gia vào quá trình sản xuất trong kỳ đó.Đơn vị tính là % Công thức của tỷ số này như sau:
Tỷ số doanh thu trên lao động = 100% x Doanh thu
Số lao động
Tỷ số doanh thu trên lao động cho biết cứ 100 lao động tạo ra bao nhiêu doanhthu cho công ty Nếu tỷ số này mang giá trị dương thì hiệu suất làm việc của lao độngtăng và tạo ra doanh thu cho công ty, và ngược lại nếu tỷ số này âm thì hiệu suất làmviệc của lao động âm và không tạo doanh thu cho công ty
Tỷ suất doanh thu trên vốn trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấy
tổng doanh thu trong kỳ chia cho tổng lượng vốn bỏ ra trong kỳ đó Đơn vị tính là %.Công thức của tỷ số này như sau:
Tỷ số doanh thu trên vốn = 100%
x
Doanh thu Tổng vốn
Tỷ số doanh thu trên vốn cho biết cứ 100 đơn vị vốn tạo ra bao nhiêu doanh thu chocông ty Nếu tỷ số này mang giá trị dương thì công ty đã sử dụng vốn hiệu quả, và ngược lạinếu tỷ số này âm thì công ty đã sử dụng vốn không hiệu quả
b) Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp bao gồm các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan Các nhân tố kháchquan gồm: nhân tố môi trường quốc tế và khu vực, nhân tố môi trường nền kinh tếquốc dân, nhân tố môi trường ngành Các nhân tố chủ quan gồm: bộ máy quản trị củadoanh nghiệp, lao động và tiền lương, tình hình tài chính của doanh nghiệp, đặc tínhcủa sản phẩm và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu và công tác chuẩn
bị nguyên vật liệu, cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Các nhân tố khách quan:
Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực: Các xu hướng chính trị trên thếgiới, các chính sách bảo hộ và mở cửa của các nước trên thế giới, tình hình chiếntranh, sự mất ổn định chính trị, tình hình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng nhưviệc lựa chọn và sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Do vậy mà nó tác độngtrực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường kinh tế ổnđịnh cũng như chính trị trong khu vực ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp trong khuvực tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh
Trang 6 Nhân tố môi trường nền kinh tế quốc dân: gồm nhân tố môi trườngchính trị pháp luât, môi trường văn hóa xã hội, môi trường kinh tế, điều kiện tự nhiên
và cơ sở hạ tầng, môi trường khoa học kĩ thuật
Nhân tố môi trường ngành bao gồm: sự cạnh tranh giữa các doanhnghiệp có trong ngành, khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp, sản phẩm thaythế, người cung ứng và người mua
dễ đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn
Tình hình tài chính của doanh nghiệp: doanh nghiệp có tình hình tàichính mạnh không những giúp cho doanh nghiệp có thể đảm bảo cho hoạt động sảnxuất kinh doanh hiện tại ổn định và liên tục, mà còn giúp cho doanh nghiệp có khảnăng đổi mới công nghệ, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh theo cả chiềurộng và chiều sâu Hơn nữa doanh nghiệp có tài chính tốt sẽ tạo được uy tín tốt đối vớikhách hàng tiêu dùng và các đối tác
Đặc tính của sản phẩm và công tác tiêu thụ sản phẩm: đặc tính của sảnphẩm giúp cho công ty định vị được thị trường hoạt động của doanh nghiệp, các nhân
tố đặc tính sản phẩm quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó ảnhhưởng tới doanh thu doanh số bán hàng và lợi nhuận, hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.5.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài
1.5.2.1 Nguyên nhân của biến động giá đầu vào đối với nền kinh tế.
Biến động giá đầu vào có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng trongphạm vi nghiên cứu của đề tài này, em xin đưa ra một số nguyên nhân làm cho giá đầuvào biến đổi Đó là do lạm phát, do cung cầu
Nguyên nhân do lạm phát: lạm phát là sự gia tăng mức giá chung trong nền
kinh tế(theo Kinh tế học vĩ mô- David Begg trang 167- Nhà xuất bản Thống kê năm2008) Ngay trong khái niệm chúng ta hiểu được rằng lạm phát là một nguyên nhânlàm biến động mức giá Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, mức giá chung của nền kinh
tế tăng lên, điều này đồng nghĩa với việc giá các nguyên liệu đầu vào sản xuất kinh
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 7doanh cũng tăng lên Như vậy lạm phát làm cho giá đầu vào biến đổi Việc biến đổinày được tính theo thông số chỉ số giá tiêu dùng viết tắt tiếng anh là CPI Theo thống
kê của Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước sự gia tăng rấtnhanh của chỉ số giá tiêu dùng kể từ hơn 10 năm trở lại đây
Bảng 1: biểu đồ CPI qua các tháng
Biểu đồ CPI qua các tháng năm 2007-2010 Nguồn: GSO, NDHMoney Nguyên nhân do quan hệ cung thị trường với giá cả: khi có sự gia tăng cung
ứng nguyên vật liệu đầu vào sản xuất do lượng hàng nhập khẩu tăng lên, hoặc dolượng hàng hóa dùng để xuất khẩu giảm xuống và các yếu tố khác không đổi và cuốicùng dẫn đến gia tăng sản lượng cung ứng và làm đường cầu dịch chuyển sang phải,
và dẫn đến giá cả giảm xuống Trong trường hợp này, mức sản lượng gia tăng từ Y0
đến Y1 có xu hướng làm giảm chi phí biên cho một đơn vị đầu ra, dẫn đến đường cungthoải hơn hay đường cung thay đổi độ dốc Tuy nhiên, mức giá thay dổi nhiều hay íttùy thuộc vào độ dốc đường cầu Giá cả giảm xuống từ P0 xuống P1, điểm cân bằngdịch chuyển từ E0 đến E1
Trang 8Hình 1.1 giá cả thay đổi do sự tăng đột biến về cung.
Song có thể do thiên tai, mất nguồn hàng nhập khẩu, giảm lượng sản xuất tạinhà máy,… lượng cung NVL đầu vào giảm bất thường, để sản xuất thêm một đơn vịsản phẩm, các doanh nghiệp phải huy động thêm nguồn lực vào quá trình sản xuất, chiphí cho một đơn vị sản phẩm tăng, đường cung có độ dốc lớn Cụ thể là khi cung sụtgiảm, đường cung dịch chuyển sang trái,sản lượng giảm từ Y1 xuống Y2, làm giá tăng
từ P1 đến P2.
Hình 1.2 giá cả thay đổi do sự giảm đột biến của cung
Nguyên nhân do quan hệ cầu thị trường và giá cả: khi ngành công nghiệp thực
phẩm phát triển, nhu cầu sử dụng các sản phẩm ăn nhanh như mỳ ăn liền tăng cao, cónhiều doanh nghiệp nhà máy đầu mạnh vào trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mỳ ănliền làm cho nguồn cầu về NVL đầu vào cho sản xuất mỳ ăn liền tăng lên đáng kể.Đồng nghĩa với đó là việc tăng giá của NVL đầu vào khi cầu tăng, và ngược lại giảmgiá NVL đầu vào khi cầu giảm Biến động của thị trường mỳ ăn liền sẽ trực tiếp gây rabiến động giá của NVL đầu vào sản xuất, biểu hiện cụ thể qua sự dịch chuyển củađường cầu do ảnh hưởng của các nhân tố ngoài giá Khi Cầu về NVL đầu vào trên thịtrường tăng lên, sản lượng tăng từ Y1 đến Y2, đường cầu dịch chuyển sang phải, từ đódẫn đến tăng từ P1 đến P2 Ngược lại, khi cầu sụt giảm, sản lượng giảm từ Y1 xuống Y3,
đường cầu dịch chuyển sang trái Kết quả là giá giảm xuống từ P1 xuống P3 Tuy nhiên,việc tăng hay giảm của mức giá và sản lượng như thế nào còng tùy thuộc vào co giãncủa cầu với sản lượng
Trang 9Hình 1.3 tác động của cầu thị trường tới giá cả.
1.5.2.2 Tác động của biến động giá đầu vào đối với nền kinh tế:
Khi xảy ra hiện tượng biến động giá nguyên vật liệu nói chung thì có sự tác động không nhỏ đến nền kinh tế, đời sống xã hội, tác động xấu đến sản xuất kinh doanh, đến chính sách vĩ mô, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa đó
Ảnh hưởng của biến động của giá NVL đến nền kinh tế, cụ thể:
- Đối với cơ cấu kinh tế: Biến động giá nguyên vật liệu có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế do khi giá nguyên vật liệu tăng thì đã có không ít các nhà đầu tư nước ngoài đã phải bỏ ý đồ đầu tư tại Việt Nam hay làm dãn tiến độ thi công, một số nhà thầu sau khi trúng thầu nhưng không thực hiện … tất cả đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu kinh tế
- Đối với hiệu quả kinh tế: Biến động giá có thể tạo ra một số tác động làm cho việc sử dụng nguồn lực trở nên kém hiệu quả do:
Biến động giá làm sai lệch tín hiệu: giá là tín hiệu quan trọng để giúp cho ngườimua có được quyết định tối ưu Khi giá nguyên vật liệu thay đổi quá nhanh khiến các nhà đầu tư không bắt kịp được giá thị trường và đã gây ra tình trạng là lỗ
- Đối với cơ cấu đầu tư: Khi giá cả có diễn biến thất thường sẽ làm giảm hiệu quả của các khoản đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư dài hạn Hiện tượng thoái lui đầu tư diễn ra do các nhà đầu tư không tin tưởng vào hiệu quả của các dự án đó mang lại thay vào đó là xu hướng dự trữ những tài sản hoặc hàng hóa có giá trị hơn là giữ tiền mặt cũng như đầu tư nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với tài sản của
họ Giá cả tăng cao khuyến khích các hoạt động đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất Cơ cấu các nguồn lực được phân bổ lại một cách kém hiệu quả từ
đó ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung
Trang 10- Đối với nguồn nhân lực: Sự biến động tăng lên của giá NVL đã làm dãn tiến độ thi công, điều chỉnh làm ảnh hưởng đến tình trạng công nhân không có việc làm, công
nhân bị thất nghiệp không thời hạn.
1.5.2.3 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền
Kinh tế Việt Nam trong vài năm gần đây luôn chịu tác động của các cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính 2008 -2009 Nền kinh tếthế giới khủng hoảng làm cho giá cả tất cả các mặt hàng tăng lên Giá các nguyên liệuđầu vào cũng tăng, do quá trình sản xuất khó khăn Hàng hóa khan hiếm, làm cho thịtrường ảm đạm Các doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc Các doanh nghiệptrong nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng chung từ tình hình phát triển của nền kinh tế
đó Nếu nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, thì các doanh nghiệp cũng có nhiềuthuận lợi trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm bán ra dễ tiêu thụ hơn, lượng lao động
ổn định hơn, nhờ đó có khả năng đạt được doanh thu và lợi nhuận cao Ngược lại, nếunền kinh tế nước đó ảm đạm, luôn trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp cũngkhó thể phát triển được Tình hình kinh tế suy thoái làm cho việc tiêu dùng giảm đi,mức sống giảm, lượng hàng hóa tiêu thụ giảm, do đó doanh nghiệp không thể mở rộngquy mô sản xuất Từ đó doanh nghiệp khó đạt được lợi nhuận và doanh thu cao
Lạm phát cũng được coi là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Lạm phát làm cho giá các yếu tố sản xuất tăng cao,gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc mua đủ nguyên liệu phục vụ cho quy môsản xuất sẵn có, chứ chưa nói tới việc mở rộng quy mô Hơn nữa lạm phát làm ảnhhưởng chung tới tiêu dùng trong nền kinh tế, giảm tiêu dùng, làm ảnh hưởng tới hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Ngành công nghiệp sản xuất mỳ ăn liền ở Việt Nam đạt được nhiều bước pháttriển mạn trong nhiều năm trở lại đây Tốc độ tăng trưởng của ngành này luôn ở mứccao, dao động từ 20% trong năm 2008 cho tới 17% năm 2009 và 16.8% trong năm
2010 Sản lượng của ngành này cũng tăng đáng kể với mức tiêu thụ trong năm 2008đạt hơn 5 tỷ gói mỳ, năm 2009 là 5,85 tỉ gói, năm 2010 là xấp xỉ 6,9 tỉ gói Chính sựphát triển mạnh của ngành này làm cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng như cáccông ty trong nước đẩy mạnh đầu tư vào sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền Rất nhiềunhà máy mỳ ăn liền được xây dựng thuộc các hãng khác nhau như của Massan( HànQuốc), Acecook, Vifon… điều này đã tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng nhưngquyết liệt giữa các nhà máy, các hãng, các thương hiệu mỳ ăn liền tại lãnh thổ ViệtNam
Với đặc thù của ngành là phải nhập nguyên liệu bột mỳ, nên tỷ giá hối đoái ảnhhưởng lớn tới việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khi tỷ giá hối đoái biếnđộng cũng làm cho việc nhập khẩu nguyên liệu gặp khó khăn
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 111.5.2.4 Ảnh hưởng của biến động giá đầu vào đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền
Tác động tới doanh thu bán hàng: giá NVL đầu vào tăng lên làm cho giá thànhsản phẩm tăng lên, điều này làm tăng giá bán của sản phẩm Mức giá bán tăng cao giátiền lương biến động ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi tiềnlương tăng lên, nhân viên có tâm lý thoải mái hơn, nên có xu hướng tập trung nhiềuhơn vào cho công việc, dẫn tới kết quả kinh doanh có khả năng tăng cao
Tác động đối với chi phí sản xuất trực tiếp: giá các đầu vào biến đổi, làm thayđổi trực tiếp tới tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Tổng chi phí của doanhnghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh như: chiphí thuê nhà xưởng, đất đai, chi phí thuê nhân công, chi phí mua nguyên liệu sản xuất,chi phí điện nước… Khi mà các yếu tố đầu vào có sự biến động về giá, tổng chi phísản xuất kinh doanh cũng bị ảnh hưởng theo Sự ảnh hưởng này tuân theo quy luậtđồng biến, giá đầu vào tăng lên, làm cho tổng chi phí sản xuất trực tiếp cũng tăng lên
và ngược lại Ví dụ, đối với doanh nghiệp dịch vụ vận chuyển, khi giá xăng dầu tănglên, làm cho chi phí để thực hiện một chuyến hàng 100km cũng tăng lên so với trướclúc giá xăng dầu tăng lên Hay là việc tăng giá bột mỳ nguyên chất cũng làm tăng chiphí sản xuất trực tiếp của các doanh nghiệp sản xuất mỳ ăn liền
Trang 12Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích tình hình biến động giá đầu vào đến hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng mỳ Kuksu của nhà máy mỳ
Hapro.
2.1 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khácnhau, nhưng chủ yếu là hai phương pháp: phương pháp thu thập số liệu và phươngpháp xử lý phân tích số liệu
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.
Các dữ liệu cần thu thập trong quá trình nghiên cứu gồm:
Giá một số đầu vào cơ bản như: giá điện, giá nước, xăng dầu, lươngcông nhân và chi phí nguyên vật liệu
Các số liệu liên quan đến chi phí sản xuất
Các thông tin đánh giá của các chuyên gia về nguyên nhân dẫn tới sựbiến động giá đầu vào trong việc sản xuất sản phẩm mỳ ăn liền
Các giải pháp hạn chế sự biến động giá đầu vào từ phía Nhà nước và từphía các doanh nghiệp
Các dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau:
- Từ các trang web chính thức của Bộ Công thương, Tổng cục Thống kê…
- Qua sách báo, tạp chí, phương tiện thông tin đại chúng…
- Trực tiếp tìm hiểu tại nhà máy mỳ Hapro thông qua hoạt động thực tập, thamgia hội chợ và tìm hiểu giá cả mặt hàng mỳ ăn liền tại các siêu thị thuộc hệ thống siêuthị của Hapro, hệ thống siêu thị Fivimart…
- Thực hiện phỏng vấn một số cán bộ chủ chốt trong công ty nơi thực tập thôngqua phiếu điều tra, đặt câu hỏi trực tiếp
2.1.2 Phương pháp xử lý phân tích dữ liệu.
Từ những dữ liệu đã thu thập được đi tiến hành phân tích các dữ liệu Đầu tiêncần tổng hợp lại các dữ liệu đã thu thập được, sau đó minh họa các dữ liệu dưới dạngbảng cột để thấy được rõ sự biến động giá đầu vào trong thời gian qua
Sau đó, cần sử dụng phương pháp định tính để đưa ra được những nhận xétđánh giá về tình hình, dự báo xu hướng biến động giá trong thời gian tới và đưa rađược một số giải pháp nhằm hạn chế sự biến động giá đầu vào cho hoạt động sản xuấtkinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền nói chung, và nhà máy mỳ Hapro nói riêng
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 132.2 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới sự biến động giá đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền.
2.2.1 Tổng quan về tình hình về sự biến động giá đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền.
2.2.1.1 Các vấn đề kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới biến động giá đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh mỳ ăn liền:
Tăng trưởng kinh tế: Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sựphục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Hình 1 cho thấy
có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010 Tốc độ tăng GDP quý I đạt5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và quý IV đạt 7,41% GDP cả năm
2010 tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%) Trong bối cảnh kinh tế thế giớivẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạtđược tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công Với kết quả này tốc
độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốcdân bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 1.160 USD
Lạm phát và giá cả: Năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp Từđầu năm đến cuối tháng 8 chỉ số giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng ổn định ởmức tương đối thấp, trừ hai tháng đầu năm CPI ở mức cao do ảnh hưởng bởi nhữngtháng Tết Tuy nhiên, lạm phát đã thực sự trở thành mối lo ngại từ tháng 9 khi CPItăng bắt đầu xu hướng tăng cao Đến hết tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới9,58% Nguyên nhân của lạm phát là do nhiều nguyên nhân Thứ nhất, sự phục hồi củanền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ đều tăng cao, cộng với thiên tai,
lũ lụt ở các tỉnh miền Trung lại càng làm tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, vậtliệu xây dựng… Thứ hai, giá của một số mặt hàng nhập khẩu của nước ta trên thịtrường thế giới tăng lên do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu làm tăng chi phí sản xuất
Trang 14của nhiều doanh nhiệp Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiền nội tệ mất giá làmcho chi phí nhập khẩu tăng lên đẩy mặt bằng giá nhiều hàng hóa tăng theo.
Tỷ giá hối đoái: Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước(NHNN) kiên trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ Diễnbiến tỷ giá trong năm 2010 là khá phức tạp Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giáliên ngân hàng hai lần vào tháng 2 và tháng 10, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và
tỷ giá trên thị trường tự do luôn ở mức cao Tỷ giá chính thức có thời điểm thấp hơn tỷgiá trên thị trường tự do tới 10% Đến cuối tháng 11 năm 2010, tỷ giá trên thị trường
tự do đã đạt mức 21.500 đồng/USD Mức tỷ giá cao này gây khó khăn cho các doanhnghiệp trong việc nhập khẩu nguyên liệu( chủ yếu là bột mỳ) để phục vụ cho sản xuấtmặt hàng mỳ ăn liền
Biến động giá cả đầu vào: các đầu vào cơ bản như điện, xăng dầu, bột
mỳ đều có biến động về mặt giá cả đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền Chỉ riêng đối với mặt hàng xăng dầu, trong năm
2010, mặt hàng này đã được điều chỉnh giá tăng giảm 3 lẩn Lần 1 vào ngày 03/3 vớimức điều chỉnh giảm xuống Lần 2 vào ngày 08/6, giá xăng dầu được điều chỉnh giảmxuống 500đ/lít Điều này giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu được một phần nhỏchi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên đến 09/8, giá xăng dầuđược điều chỉnh tăng lên 410đ/lít với tất cả các loại xăng, làm cho doanh nghiệp chịuthêm chi phí đầu vào, từ đó tăng gánh nặng chi phí sản xuất Đối với giá của bột mỳ,
do chúng ta chủ yếu phải đi nhập bột mỳ từ các nước khác Trong năm 2009 bột mỳluôn tăng giá, đã làm tăng đáng kể chi phí sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh mỳ ăn liền Nguyên nhân tăng giá bột mỳ liên tục là do trong năm 2009, hạnhán xảy ra nhiều, sản lượng ngũ cốc giảm sút mạnh mẽ, các nước xuất khẩu bột mỳcũng chịu nhiều khó khăn khi không đủ sản lượng, tình trạng khan hiếm kéo dài Việc
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 15giá bột mỳ tăng cao, khiến cho chi phí sản xuất tăng, do trong sản xuất mỳ ăn liền, bột
mỳ chiếm tỉ trọng lớn trong gói mỳ Ngoài ra việc nhà nước điều chỉnh lương cơ bảntrong các năm làm cho quỹ tiền lương của doanh nghiệp tăng lên Điều này cũng gâythêm gánh nặng về chi phí sản xuất, từ đó ảnh hưởng tới giá thành của sản phẩm, vàliên quan kéo theo là ảnh hưởng tới doanh số bán hàng, doanh thu và lợi nhuận của cácdoanh nghiệp
Bảng 2: giá lúa mì trong thời gian qua( đơn vị cent/bushel) nguồn tổng hợp từ CME group
2.2.1.2 Chính sách vĩ mô liên quan tới việc biến động giá đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền.
Chính sách tỷ giá: trong vài năm gần đây, ngân hàng nhà nước luôn kiên trì việcbình ổn tỷ giá theo chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ USD.Việc ngân hàng nhà nước tiến hành điều chỉnh tỉ giá tăng lên làm cho việc nhập khẩunguyên liệu bột mỳ gặp nhiều khó khăn Đồng USD tăng giá làm giá thành nhập khẩubột mỳ tăng Nguyên liệu chủ yếu của mỳ ăn liền tăng giá, làm cho chi phí sản xuấttăng theo
Chính sách tiền tệ thắt chặt: ngân hàng nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ thắtchặt làm cho lãi suất ngân hàng tăng lên Điều này làm cho chi phí vay mượn để sảnxuất kinh doanh tăng lên, hay chi phí sử dụng vốn tăng lên Doanh nghiệp sẽ phải gánhthêm chi phí do lãi suất tăng Phần chi phí này sẽ được doanh nghiệp tăng thêm vàotrong giá thành sản phẩm, làm cho giá sản phẩm tăng cao
2.2.2. Tổng quan tình hình kinh doanh mặt hàng mỳ ăn liền ở Việt Nam.
2.2.2.1 Về nguồn cung.
Nguồn cung mỳ ăn liền ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng về các loại sảnphẩm như hảo hảo, miliket, số đỏ, tiến vua, kuksu và đa dạng về hương vị như chuacay, thịt băm… Theo thống kê hiện tại trên thị trường Việt Nam có khoảng hơn 50doanh nghiệp đã và đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mặt hàng mỳ
Trang 16ăn liền với hàng trăm nhãn hiệu khác nhau Tốc độ tăng trưởng của ngành này tươngđối cao, luôn trong khoảng từ 15% đến 20% mỗi năm, và đạt doanh số kỉ lục từ 5 tỷgói trong năm 2008 đã lên tới xấp xỉ 7 tỷ gói trong năm 2010 Trong đó các doanhnghiệp đang chiếm đa số với các hãng lớn như Vina Acecook, Asia food, Vifon… vớitổng chiếm lĩnh hơn 90% thị phần Tổng sản lượng tiêu thụ của các hãng trong nướcnày đạt xấp xỉ 5 tỉ gói mỗi năm Phần còn lại được chia cho các hãng nước ngoài khác.Đối với thị phần các doanh nghiệp, Vina Acecook là doanh nghiệp chiếm thị phần lớnnhất với gần 65% thị phần Ngay sau đó là Asia food với hơn 20% thị phần với cácthương hiệu Gấu đỏ, Hello… Kênh phân phối của các doanh nghiệp trong nước phânphối rộng khắp trên mọi miền, từ thành thị tới nông thôn, từ vùng đồng bằng tới vùngnúi, đâu đâu cũng có thể bắt gặp gói mỳ ăn liền của các hãng khác nhau.
Mặc dù mỳ ăn liền là một hàng hóa thông thường, nhưng thị trường mỳ ăn liềncũng có sự phân khúc rõ ràng giữa các sản phẩm bình dân với giá từ 1.500đ/gói tới2.500đ/gói cho tới các sản phẩm cao cấp với giá trên 6000đ/gói Ngoài ra thị trường
mỳ ăn liền cũng có sự phân hóa theo khu vực miền Cụ thể người miền Bắc có xuhướng thích tiêu dùng các sản phẩm có sự đơn giản về khẩu vị như Miliket 4 tôm, cònngười miền Nam lại ưa chuộng các loại mỳ ăn liền có nhiều chất béo, nhiều gia vị đậm
đà, và người miền Trung lại ưa chuộng các loại mỳ có độ cay cao như Hảo Hảo…
Dù chia làm nhiều phân khúc thị trường khác nhau, nhưng theo đánh giá tổngquan của các chuyên gia, thị trường cấp thấp và trung cấp( với mức giá từ 1500đ/góitới 2500đ/gói) chiếm ưu thế vượt trội so với thị trường cao cấp( mức giá trên6000đ/gói) Lý giải điều này, nhiều người cho đều đồng tình với việc mỳ ăn liền chỉ làsản phẩm được lựa chọn vì tiện lợi, còn với mức giá cao ở phân khúc thị trường caocấp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn được nhiều sản phẩm thay thế có hàm lượngdinh dưỡng cao hơn như phở, hủ tiếu, cháo, xôi…
Dẫn đầu phân khúc thị trường cấp thấp và trung cấp trong vài năm gần đây phải
kể tới Hảo Hảo, Hảo 100 và Gấu đỏ với hơn 50% ngân sách của ngành và mật độ baophủ dày đặc Để có được sự tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều năm như vậy, cácdoanh nghiệp đã thực hiện tốt trong việc quảng cáo để chiếm được lòng tin của ngườitiêu dùng Với mỗi doanh nghiệp họ chọn cách tiếp thị, quảng cáo, chiếm lĩnh thịtrường khác nhau Ví dụ Vina Acecook nhấn mạnh tới yếu tố chất lượng, được đảmbảo với tiêu chuẩn của Nhật Bản, quốc gia xuất sứ của mỳ ăn liền Trong khi đó Vifontạo dựng sức mạnh từ thương hiệu lâu đời nhất Việt Nam Ngoài ra có nhiều nhãn hiệucũng tạo được sự đột phá trong cách tiếp cận tới người tiêu dùng, như Omachi với đặctính không sợ nóng, hay Tiến vua với khẩu hiệu không dùng dầu chiên đi chiên lạinhiều lần… điều này cũng tạo được ấn tượng tốt trong lòng người tiêu dùng Theonhận định của các chuyên gia kinh tế, thị trường mỳ ăn liền Việt Nam sẽ tiếp tục pháttriển mạnh trong năm 2011 với lượng tiêu thụ ước đạt gần 8 tỷ gói Đồng thời cácdoanh nghiệp sẽ có xu hướng sản xuất theo chiều sâu, đa dạng các sản phẩm, không
SV: Trần văn Vượng Lớp K43F4
Trang 17ngừng nâng cao chất lượng của các sản phẩm, để tăng tính cạnh tranh, thay vì lựa chọnhướng phát triển theo chiều rộng.
2.2.2.2 Về nhu cầu.
Có thể nói nhu cầu về tiêu dùng sản phẩm mỳ ăn liền của Việt Nam đang tănglên một cách chóng mặt Với dân số hơn 80 triệu người, mà tốc độ tiêu thụ mỳ luôn đạt
ở mức cao, năm 2008 là 5 tỷ gói, năm 2009 là 5,85 tỉ gói, và năm 2010 là 6,9 tỉ gói
Đó đều là những con số đáng ngạc nhiên cho thấy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm mỳ ănliền ở nước ta Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành, nhu cầu tiêu dùng sảnphẩm mỳ ăn liền ở nước ta sẽ tăng thêm khoảng 6 đến 7 tỳ gói nữa trong vòng chưa tới
3 năm tới Ngoài ra, nhu cầu được sử dụng các sản phẩm an toàn, đảm bảo dinhdưỡng, và không nóng của người tiêu dùng ngày càng tăng cao Trước kia người tiêudùng lựa chọn sản phẩm mà ko đắn đo quá kĩ càng, thì nay lại khác Họ chuyển dầnsang quan tâm tới các loại mỳ phù hợp với bản thân hơn, như không gây nóng, không
sử dụng dầu chiên đi chiên lại nhiều lần Phân khúc thị trường cao cấp tăng lên, trongkhi thị trường trung cấp và cấp thấp vẫn ổn định do các sản phẩm thuộc phân khúc đóphù hợp với túi tiền của đa số người tiên dùng
2.2.2.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh mỳ ở nhà máy mỳ Hapro.
Phân tích chung về tình hình kinh doanh mặt hàng mỳ của nhà máy mỳ Hapro.Nhà máy mỳ Hapro chính thức được đi vào hoạt động từ năm 2008, với quy mô
120 công nhân sản xuất mỳ ăn liền tại nhà máy mỳ Hapro thuộc khu công nghiệpHapro tại xã Lệ Chi huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội Tuy mới đi vào hoạt độngnhưng nhà máy mỳ Hapro đã đạt được nhiều thành công trong việc phát triển thịtrường, chiếm lĩnh thị trường tại khu vực miền Bắc Sản phẩm của nhà máy mỳ Hapro
đa dạng về các chủng loại như mỳ Kuksu, mỳ bò hầm, mỳ gà, mỳ thịt bò… và nhiềuhương vị khác nhau như vị chua cay, vị kim chi, vị thịt băm…
Khách hàng chủ yếu mà nhà máy mỳ Hapro hướng tới là người tiêu dùng ở các tỉnhmiền Bắc, chủ yếu các tình Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên,Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh…, và đối tượng chủ yếu mà nhà máy hướng tới làtầng lớp bình dân với dòng sản phẩm mỳ gói, tầng lớp cao cấp với dòng sản phẩm mỳbát
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà máy mỳ Hapro sử dụng chủ yếu các đầuvào như bột mỳ, gia vị, hương liệu, dầu ăn, xăng dầu, điện nước, lao động phổ thông.Trong đó thì bột mỳ, xăng dầu, điện nước, và lao động phổ thông là các đầu vào chiếm
tỉ trọng cao trong việc quyết định giá thành sản phẩm mỳ ăn liền của nhà máy mỳHapro Trong đó bột mỳ chiếm tới 80% thành phần của gói mỳ, và chiếm tới 80% chiphí sản xuất mỳ của nhà máy mỳ Hapro Các đầu vào còn lại chiếm phần nhỏ chi phítrong cấu thành giá bán của gói mỳ, xăng dầu chiếm 5%, lương công nhân chiếm 7%,chi phí điện nước chiếm 4%