- Trên cơ sở học sinh đã lĩnh hội các thông tin, các nội dung kiến thức bằng việc tự nghiên cứu, học sinh cần có kỹ năng phân tích đánh giá nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu của bạn khác thôn
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG”, Ở MÔN VẬT LÝ 11 CHO HỌC SINH TRƯỜNG
THPT BA ĐÌNH.
Người thực hiện: Nguyễn Văn Thanh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Vật Lí
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài 1 1.2 Mục đích nghiên cứu 1 1.3 Đối tượng nghiên cứu 1 1.4 Phương pháp nghiên cứu 1 1.5 Những điểm mới của SKKN 1
2 Nội dung
2.2 Thực trạng của vấn đề 2 2.2.1 Về tinh thần và ý thức học tập 2 2.2.2 Về kết quả học tập 2 2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 3 2.3.1 Các kỹ năng cần rèn luyện 3 2.3.2 Các giải pháp để rèn luyện kỹ năng 4 2.4 Hiệu quả của sáng kiến với hoạt động giáo dục 13 2.4.1 Về tinh thần ý thức tự học 13 2.4.2 Về kết quả học tập 14
3 Kết luận,
Kiến nghị
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay trong nhà trường khâu tự học chưa được coi trọng đúng mức Thực
ra, tự học thì kiến thức sẽ sâu hơn, bền hơn và thực chất hơn Do nhiều nguyên nhân, học sinh hiện nay đều ỷ lại thầy cô giảng Tự học là con đường đi tới mọi thành công trong cuộc sống
Tự học giúp ta chủ động tìm hiểu, thu thập kiến thức, tự làm giàu kho kiến thức của mình Tự học lúc còn học phổ thông sẽ là tiền đề tốt cho việc tự học ở bậc đại học, sau đại học sau này
Mỗi phụ huynh thử ngồi tính thử thời gian mà con mình tự học chiếm tỷ lệ thế nào so với thời gian đi học (học có thầy cô giảng hoặc có gia sư kèm)? Nếu
tỷ lệ quá thấp thì khó có thể hy vọng con mình mai kia sẽ trở thành học sinh có học lực tốt
Mỗi thầy cô cũng thử tính xem, trong mỗi tiết dạy của mình thì học sinh được
tự học bao nhiêu phút? Có khá nhiều bài viết đề cập tới vấn đề giáo viên cần giảm nói trên lớp để thêm thời gian cho học sinh tự suy nghĩ, tìm tòi Nếu dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh mà thầy nói nói suốt cả tiết dạy thì thật khó đạt được mục tiêu này
Tuy nhiên nếu không được rèn luyện thì học sinh cũng không dễ có được kỹ năng tự học và sẽ cảm thấy khi ngồi tự học không hiệu quả, chóng chán và thậm chí rất lười học
Hiện nay cũng đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực nhưng chỉ là trên lí thuyết giáo viên chỉ sử dụng khi thao giảng, học sinh không được tiếp cận
thường xuyên dẫn đến không hiệu quả
Kết luận: Với những lí do trên bản thân tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài:
“Giải pháp rèn luyện kỹ năng tự học một số nội dung chương “Dòng điện trong các môi trường”, ở môn Vật lý lớp 11 cho hoc sinh trường THPT Ba Đình ” Đề tài được đúc rút từ thực tế giảng dạy và kinh nghiệm của bản thân
tôi xin được chia sẻ với hội đồng khoa học các cấp và bạn bè đồng nghiệp, để đề tài được hoàn thiện hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Thế nào là tự học và tự học có vai trò gì
- Thực trạng của việc tự học hiện nay
- Đề xuất các biện pháp thông qua một vài nội dung bài học ở môn vật lý 11 để từng bước nâng cao năng lực tự học cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Giải pháp rèn luyện kỹ năng tự học một số nội dung chương “Dòng điện trong các môi trường”, ở môn Vật lý lớp 11 cho hoc sinh trường THPT Ba Đình
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Phương pháp thống kê, đánh giá
1.5 Những điểm mới của SKKN.
Trang 4- Chỉ tập trung đi sâu vào một số bài học trong chương, chứ không phân bố nội dung cả chương
2 NỘI SUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến.
- Tự học hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phương tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê… để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
- Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục) Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông
2.2 Thực trạng vấn đề.
2.2.1 Về tinh thần và ý thức tự học: Để có sự nhìn nhận tổng thể về khả năng tự
học của học sinh , vào đầu năm học 2019-2020 tôi đã tiến hành khảo sát với 91 học sinh ở lớp 11A, 11C thông qua phiếu trắc nghiệm với các câu hỏi như sau: Câu 1: Ở nhà lúc rảnh rỗi em thường làm gì
A Chơi điện tử, xem phim… B Học và làm bài thầy cô giao
C Ngủ D Dọn dẹp nhà cửa…
Câu 2: Mỗi ngày em dành bao nhiêu thời gian cho việc học?
A 1 giờ B 2 giờ
C Nhiều hơn 2 giờ D Không học
Câu 3: Lý do em không học ở nhà là gì?
A Phụ giúp gia đình B Thích đi chơi hơn
C Không ai ép học D Bạn hay rủ đi chơi
Câu 4: Việc học ở nhà của em là do:
A Ba mẹ nhắc học B Sợ bị điểm kém
C Tránh làm việc nhà D Học để củng cố và nâng cao kiến thức
Câu 5: Để nâng cao kiến thức , em sẽ lựa chọn phương án nào sau đây để học tập
A Chỉ tập trung nghe giáo viên giảng bài và ghi chép
B Tăng cường tự học ở nhà và trên lớp dưới sự định hướng của giáo viên
C Chỉ cần tự học
D Không cần học
- Kết quả cho thấy:
Tổng số học sinh Số học đã tự học Số học sinh chưa tự học
91 20 (21,9%) 71(78,1%)
2.2.2 Về kết quả học tập:
Khi chưa vận dụng các giải pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh thì kết quả học tập của 2 lớp 11 ( 11A và 11C) tôi trực tiếp dạy như sau:
Trang 5Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu
91 25(27.5%) 30 (33%) 30(33%) 6(6.5%)
Từ những kết quả ban đầu trên cùng với việc trao đổi, nắm bắt thông tin của nhiều học sinh tôi thấy học sinh ít học ở nhà cũng như khả năng tự học của các
em còn yếu là do nhiều nguyên nhân như: Do đặc điểm lứa tuổi, do hoàn cảnh sống và môi trường tác động, bản thân học sinh chưa có động lực để học tập Ngoài những nguyên nhân khách quan trên cũng còn một phần là do kiến thức môn vật lý trừu tượng, khó tiếp thu đối với học sinh, số lượng bài tập nhiều và khó cũng góp phần tạo nên sự chán nản nơi học sinh
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện.
2.3.1 Các kỹ năng cần rèn luyện.
2.3.1.1 Kỹ năng định hướng, xác định mục tiêu nội dung trọng tâm cần học
Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công học sinh cần thiết lập cơ sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà học sinh
có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo
kế hoạch Để có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi:
- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…
- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa
- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân
2.3.1.2 Kỹ năng tiếp cận, xử lý và vận dụng thông tin của bài học.
Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một
số kỹ năng sau:
- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt
- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
2.3.1.3 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm.
- Trên cơ sở học sinh đã lĩnh hội các thông tin, các nội dung kiến thức bằng việc tự nghiên cứu, học sinh cần có kỹ năng phân tích đánh giá nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu của bạn khác thông qua việc chấm bài, hỏi đáp chéo theo từng
Trang 6cá nhân hoặc nhóm học sinh dưới sự điều hành của giáo viên, từ đó cũng đánh giá được chính mình
2.3.2 Các giải pháp thực hiện để rèn luyện kỹ năng
2.3.2.1 Các bài tập, ví dụ minh chứng
Ví dụ 1:Trong bài “Dòng điện trong kim loại”, nhiệm vụ mà học sinh cần
nắm được là: bản chât dòng điện là gì, những ứng dụng như thế nào Do vậy để học sinh nắm được các nội dung cốt lõi trên với tinh thần tự nghiên cứu, giáo viên cần đưa ra các câu hỏi định hướng và giao nhiệm vụ cho học sinh nghiên cứu, cụ thể như sau:
- Bước 1: Giáo viên dành 5 phút yêu cầu học sinh đọc bài học sau đó nêu được những nội dung chính cần tìm hiểu là gì
+ Học sinh cần tìm ra thông qua cấu trúc của bài học, gồm có các phần: Bản chất dòng điện trong kim loại, phụ thuộc điện trở suất vào nhiệt độ, hiện tượng siêu dẫn và pin nhiệt điện
Bước 2: Giáo viên định hướng để học sinh tự tìm hiểu:
+ Phần 1: Bản chất của dòng điện trong kim loại: Học sinh cần tìm ra hạt tải điện là chỉ là êlêctrôn chứ không phải là hạt nào khác Học sinh khá giỏi có thể làm rõ vì sao kim loại lại có đặc điểm như vậy
+ Phần 2: Học sinh đọc sách giáo khoa và trả lời được mối liên hệ điện trở suất hay điện trở của kim loại phụ thuộc vào nhiệt đôn theo hàm số bậc nhất + Phần 3: Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà nghiên cứu
+ Phần 4: Giáo viên thông báo, giới thiệu thí nghiệm, học sinh tiếp nhận công thức sách giáo khoa
Bước 3: Giáo viên dành 5 đến 10 phút để tổ chức và làm trọng tài cho các học sinh, nhóm học sinh tự đặt ra câu hỏi đề thảo luận, trả lời các nội dung ,kiến thức học được từ các phần trên
- Kết quả đạt được: Đa số học sinh tự tìm ra cấu trúc của bài học gồm các phần: Bản chất dòng điện trong kim loại, phụ thuộc điện trở suất vào nhiệt độ, hiện tượng siêu dẫn và pin nhiệt điện Nhiều em đã giải thích được cơ chế tạo ra dòng điện trong kim loại và nêu bật được những ững dụng của nó, các em đã rất hào hứng khi tự đặt câu hỏi cho bạn và có trách nhiệm tìm câu trả lời qua đó cũng khắc sâu kiến thức cho các em
Ví dụ 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu và thực hiện các bài
tập sau đây:
Bài 1: Dây tóc bóng đèn 220V – 100W chế tạo bằng bạch kim khi sáng bình
thường ở 2500 0 C, điện trở của nó 25 0 C bằng 40,3Ω Tính hệ số nhiệt điện trở
α ? Coi rằng điện trở suất của bạch kim trong khoảng nhiệt độ này tăng tỉ lệ bậc nhất theo nhiệt độ.
- Học sinh thực hiện các bước sau:
Trang 7+ Bước 1: Đọc và tóm tắt đề bài Ở phần này học sinh cần nghiên cứu , tìm ra vấn đề cần giải quyết là gì, Vạch ra sơ đồ cần giải quyết, tìm giả thiết và kiến thức liên quan
+ Bước 2: Trình bày lời giải, học sinh cần vận dụng kiến thức , kỹ năng trình bày, tính toán để giải quyết vấn đề
Điện trở của dây tóc đèn ở t = 25000 C khi đã sáng bình thường là :
R=U2/P=2202/100 = 484(Ω).)
Do điện trở suất của bạch kim trong khoảng nhiệt độ này tăng tỉ lệ bậc nhất nên :
ρ = ρ0[1+α(t−t0)] ⇒ R = R0[1+α(t−t0)]ρ = ρ0[1+α(t−t0)] R = R⇒ 0[1+α(t−t0)]
⇒ α = 4,45.10−3(k−1)[1+α(2500−25)] α= 4,45.10⇒ −3(k−1)
Vậy hệ số nhiệt điện trở của bạch kim là α = 4,45.10−3(k−1)
+ Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện.ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh khác, nhận xét và tự đánh giá bằng việc cho điểm, qua đây giáo viên cũng nắm bắt được khả năng của cả hai đối tượng học sinh
Bài 2: Tính cường độ dòng điện do electron quay tròn quanh hạt nhân nguyên
tử Hiđrô ? Electron có điện tích e = -1,6.10 -19 C, khối lượng m = 9,1.10 -31 (kg)
và bán kính quỹ đạo tròn r = 5,3.10 -11 (m)
- Học sinh thực hiện các bước sau:
+ Bước 1: Đọc và tóm tắt đề bài Ở phần này học sinh cần nghiên cứu , tìm ra vấn đề cần giải quyết là gì, vạch ra sơ đồ cần giải quyết, tìm giả thiết và kiến thức liên quan
+ Bước 2: Trình bày lời giải, học sinh cần vận dụng kiến thức, kỹ năng trình bày, tính toán để giải quyết vấn đề
Lực tĩnh điện đóng vai trò là lực hướng tâm : F=ke2 /r2 = mv2 /r v⇒ 2=ke2/mr Thay số ta được v = 2,19.106 (m/s)
Chu kỳ quay của êlectrôn : T = 2π.r/v = 1,52.10−16(s)
Cường độ dòng điện do êlectrôn quay tròn quanh hạt nhân nguyên tử Hiđrô :
I = e/T = 1,05(mA)
+ Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện, ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh khác, nhận xét và tự đánh giá bằng việc cho điểm, qua đây giáo viên vũng nắm bắt được khả năng của cả hai đối tượng học sinh
- Kết quả đạt được: Các em đã có kỹ năng liên hệ, xâu chuỗi kiến thức vận dụng tốt khâu tính toán, tìm tòi công thức phù hợp theo các tiến trình khác nhau
để tính toán và đi đến kết quả đúng Các em hiểu sâu hơn lý thuyết về dòng điện
Trang 8trong kim loại Các em đã có kỹ năng đánh gíá, phân tích, so sánh khi được chấm bài cho bạn, qua đây các em cũng học hỏi được nhiều hướng đi khác nhau của các bạn
Ví dụ 3: Bài “dòng điện trong chất điện phân”, tương tự như cấu trúc của bài
“dòng điện trong kim loại”, học sinh cần tìm hiểu và nêu được trọng tâm của bài gồm: Bản chất dòng điện trong chất điện phân là gì? và ứng dụng như thế nào?
Do vậy để học sinh nắm được các nội dung cốt lõi trên với tinh thần tự nghiên cứu, giáo viên cần đưa ra các câu hỏi định hướng và giao nhiệm vụ cho học sinh nghiên cứu, cụ thể như sau:
- Bước 1: Giáo viên dành 5 phút yêu cầu học sinh đọc bài học sau đó nêu được những nội dung chính cần tìm hiểu là gì
+ Học sinh cần tìm ra thông qua cấu trúc của bài học, gồm có các phần: Thuyết điện li, bản chất dòng điện trong chất điện phân, các hiện tượng diễn ra ở điện cực - hiện tượng dương cực tan, các định luật Farađây, ứng dụng của các hiện tượng điện phân
- Bước 2: Giáo viên định hướng học sinh tìm hiểu:
+ Phần 1 : Giáo viên thông báo về nội dung thuyết điện li
+ Phần 2: Bản chất dòng điện trong chất điện phân, học sinh cần tìm hiểu hạt tải điện trong chất điện phân là gì Học sinh khá giỏi có thể làm rõ vì sao kim loại lại có đặc điểm như vậy
+ Phần 3: Giáo viên giảng về hiện tượng xảy ra ở các điện cực, thông qua việc trình bầy thí nghiệm, học sinh tự tìm hiểu nội dung về dương cực tan thông qua phân tích thí nghiệm, từ đó rút ra điều kiện để có hiện tượng này
+ Phần 4: Nội dung về các định luất Farađây, học sinh cần nắm được biểu thức và phát biểu được nội dung của các định luật
+ Phần 5: Từ những đặc điểm của phần 3 giáo viên định hướng để học sinh tìm hiểu các ứng dụng của hiện tượng điện phân
Bước 3: Giáo viên dành 5 đến 10 phút để tổ chức và làm trọng tài cho các học sinh, nhóm học sinh tự đặt ra câu hỏi đề thảo luận, trả lời các nội dung ,kiến thức học được từ các phần trên
- Kết quả đạt được: Đa số học sinh tự tìm ra cấu trúc của bài học gồm các phần:Thuyết điện li, bản chất dòng điện trong chất điện phân, các hiện tượng diễn ra ở điện cực - hiện tượng dương cực tan, các định luật Farađây, ứng dụng của các hiện tượng điện phân Nhiều em đã giải thích được cơ chế tạo ra dòng điện trongchất điện phân, so sánh được với dòng điện trong kim loại và nêu bật được những ững dụng của nó, các em đã quen và có kỹ năng khi tự đặt câu hỏi kiểm tra các bạn và có trách nhiệm tìm câu trả lời một lần nữa khắc sâu kiến thức cho các em
Trang 9Ví dụ 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu và thực hiện các bài tập
sau đây:
Bài 1: Một bình điện phân đựng dung dịch đồng sunfat ( CuSO4 ) với a nốt bằng đồng (Cu) Điện trở của bình điện phân là R = 10 Hiệu điện thế đặt vào hai cực là U = 40V.
a) Xác định cường độ dòng điện đi qua bình điện phân.
b) Xác định lượng đồng bám vào cực âm sau 1 giờ 4 phút 20 giây Cho biết đối với đồng A = 64 và n = 2.
- Học sinh thực hiện các bước sau:
+ Bước 1: Đọc và tóm tắt đề bài Ở phần này học sinh cần nghiên cứu , tìm ra vấn đề cần giải quyết là gì, vạch ra sơ đồ cần giải quyết, tìm giả thiết và kiến thức liên quan
+ Bước 2: Trình bày lời giải, học sinh cần vận dụng kiến thức , kỹ năng trình bày, tính toán để giải quyết vấn đề
a) Cường độ dòng điện qua bình điện phân:
Áp dụng định luật Ôm: A
R
U
5
20
b) Khối lượng đồng bám vào cực âm:
Áp dụng định luật Fa ra đây: It
n
A F
m1 4 5 , 12 ( )
2
64 96500
+ Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện, ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh khác, nhận xét và tự đánh giá bằng việc cho điểm, qua đây giáo viên cũng nắm bắt được khả năng của cả hai đối tượng học sinh
Bài 2: Một bình điện phân đựng dung dịch bạc nitrat ( AgNO3 ) với a nốt bằng bạc (Ag ) Sau khi điện phân 30 phút có 5,04g bạc bám vào ca tốt Xác định cường độ dòng điện đi qua bình điện phân.Cho biết đối với bạc A = 108 và n=1.
- Học sinh thực hiện các bước sau:
Trang 10+ Bước 1: Đọc và tóm tắt đề bài Ở phần này học sinh cần nghiên cứu , tìm ra vấn đề cần giải quyết là gì, vạch ra sơ đồ cần giải quyết, tìm giả thiết và kiến thức liên quan
+ Bước 2: Trình bày lời giải, học sinh cần vận dụng kiến thức, kỹ năng trình bày, tính toán để giải quyết vấn đề
Cường độ dòng điện qua bình điện phân:
Áp dụng định luật Fa ra đây:
5 , 2 1800 108
1 96500
04 , 5
1
A t
A
n F m I It n
A
F
+ Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện.ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh khác, nhận xét và tự đánh giá bằng việc cho điểm, qua đây giáo viên cũng nắm bắt được khả năng của cả hai đối tượng học sinh
Bài 3: Cho mạch điện như hình vẽ Nguồn điện có
suất điện động E= 9V, điện trở trong r = 2,
R1 = 6, R2 = 9 Bình điện phân đựng dung dịch
đồng sunfat có điện cực bằng đồng, điện trở của
bình điện phân là Rp = 3 Tính:
a) Cường độ dòng điện qua mạch và qua các điện trở, bình điện phân.
b) Khối lượng đồng bám vào ca tôt sau 32 phút 10 giây.
Biết đối với đồng A = 64, n = 2.
- Học sinh thực hiện các bước sau:
+ Bước 1: Đọc và tóm tắt đề bài Ở phần này học sinh cần nghiên cứu, tìm ra vấn đề cần giải quyết là gì, vạch ra sơ đồ cần giải quyết, tìm giả thiết và kiến thức liên quan
+ Bước 2: Trình bày lời giải, học sinh cần vận dụng kiến thức, kỹ năng trình bày, tính toán để giải quyết vấn đề
a) Cường độ dòng điện qua mạch, qua các điện trở và bình điện phân:
Áp dụng định luật Ôm cho toàn mạch: I r
N
R E
3 9 6
) 3 9 ( 6
2 1
2 1
p
p
N R R
R R R
R 1
E,r