1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom thanh táo justicia gendarussa burm f tại trường đại học nông lâm thái nguyên

74 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom thanh táo (Justicia gendarussa Burm.F.)
Tác giả Ma Văn Hưng
Người hướng dẫn ThS. Lương Thị Anh
Trường học Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: MỞ ĐẦU (12)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (12)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (13)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (13)
  • PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu (14)
      • 2.1.1. Cơ sở tế bào học (14)
      • 2.1.2. Cơ sở di truyền học (15)
      • 2.1.3. Sự hình thành rễ bất định (15)
      • 2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom (17)
      • 2.1.5. Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom (25)
    • 2.2. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam (26)
      • 2.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới (26)
      • 2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam (27)
    • 2.3. Một số thông tin chung về loài cây Thanh táo (30)
    • 2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu (31)
      • 2.4.1. Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu (31)
      • 2.4.2. Đặc điểm khí hậu, thời tiết (32)
  • PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (44)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (33)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (33)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm (34)
      • 3.4.2. Thu thập số liệu (38)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (38)
  • PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (0)
    • 4.1. Kết quả về tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, ra chồi của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (44)
      • 4.1.1. Kết quả về tỷ lệ sống của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (44)
      • 4.1.2. Kết quả về khả năng ra rễ của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (46)
        • 4.1.2.1. Kết quả về tỷ lệ ra rễ của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (46)
        • 4.1.2.2. Kết quả về số rễ trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (47)
        • 4.1.2.3. Kết quả về chiều dài rễ trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (48)
        • 4.1.2.4. Kết quả về chỉ số ra rễ trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (49)
      • 4.1.3. Kết quả về khả năng ra chồi của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (49)
        • 4.1.3.1. Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (50)
        • 4.1.3.2. Kết quả về số chồi trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (51)
        • 4.1.3.3. Kết quả về chiều dài chồi trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (52)
        • 4.1.3.4. Kết quả về chỉ số ra chồi trung bình/hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của độ dài hom giâm (53)
    • 4.2. Kết quả về tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, chồi của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của loại hom giâm (54)
      • 4.2.1. Kết quả về tỷ lệ sống của hom cây Thanh táo dưới ảnh hưởng của loại (54)
        • 4.2.2.2. Kết quả về số rễ của hom cây Thanh táo ở các CTTN về loại hom giâm (57)
        • 4.2.2.3. Kết quả về chiều dài rễ trung bình/hom cây Thanh táo ở các CTTN về loại hom giâm (58)
        • 4.2.2.4. Kết quả về chỉ số ra rễ trung bình/hom cây Thanh táo ở các CTTN về loại hom giâm (59)
      • 4.2.3. Kết quả về các chỉ tiêu ra chồi của hom ở các CTTN về loại hom giâm (61)
        • 4.2.3.1. Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom ở các CTTN về loại hom giâm (61)
        • 4.2.3.2. Kết quả về số chồi trung bình/hom cây Thanh Táo ở các CTTN về loại hom giâm (62)
        • 4.2.3.3. Kết quả về chiều dài trung bình/hom cây Thanh Táo ở các CTTN về loại hom giâm (63)
        • 4.2.3.4. Kết quả về chỉ số ra chồi của hom cây Thanh táo ở các CTTN về loại hom giâm (63)
  • PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (65)
    • 5.1. Kết luận (65)
    • 5.2. Đề nghị (66)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Cơ sở tế bào học

Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận và tế bào của cây đều có tính độc lập sinh lý cao, cho phép chúng khôi phục các bộ phận không hoàn chỉnh và hình thành cá thể mới Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hòa tan được vận chuyển từ rễ lên lá qua mạch gỗ, trong khi các sản phẩm hữu cơ từ lá được chuyển xuống gốc qua mạch rây.

Khi cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung tại các tế bào vỏ ở vị trí cắt Những chất hữu cơ này, kết hợp với chất điều hoà sinh trưởng Axin nội sinh từ ngọn cây, sẽ kích thích hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo Từ mô sẹo này, rễ sẽ được hình thành khi gặp điều kiện thuận lợi Quá trình hình thành rễ bất định có thể chia thành ba giai đoạn.

- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng

- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ

Giai đoạn 3 của sự phát triển cây trồng là quá trình sinh trưởng và kéo dài của rễ, khi rễ đâm xuyên qua vỏ để ra ngoài Vào năm 1902, nhà sinh lý thực vật người Đức Haberlandt đã thực hiện thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào thực vật nhằm chứng minh rằng tế bào có tính toàn năng Tính toàn năng này được thể hiện qua việc bất kỳ tế bào hoặc mô tế bào nào từ các cơ quan như rễ, thân, lá đều mang hệ gen giống như các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, và đều có khả năng sinh sản vô tính để phát triển thành cây hoàn chỉnh.

Khả năng hình thành rễ và thân của cây phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng loài, bộ phận cây được sử dụng để làm giống, cũng như loại tế bào đã trải qua quá trình phân hóa.

2.1.2 Cơ sở di truyền học

Sinh vật bậc cao phát triển từ một tế bào hợp tử thông qua nhiều lần phân bào liên tiếp và quá trình phân hóa các cơ quan Phân bào nguyên nhiễm, hay còn gọi là nguyên phân, là hình thức phân chia tế bào mà trong đó số lượng NST của tế bào ban đầu và tế bào con được phân chia một cách đồng đều Kết quả của quá trình này là hai tế bào con có số lượng NST, cấu trúc và thành phần hóa học giống hệt như tế bào ban đầu.

Quá trình nguyên phân đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối đồng đều các nhiễm sắc thể (NST) cho các tế bào con Trong kỳ đầu của nguyên phân, NST tự tái bản theo chiều dọc và sau đó tách theo chiều ngang, đảm bảo rằng các tế bào con có bộ NST giống hệt như tế bào ban đầu Nhờ vào nguyên phân, khối lượng cơ thể tăng lên, và qua quá trình phân hóa các cơ quan trong sự phát triển cá thể, một cây con hoàn chỉnh được hình thành Điều này giúp cây con duy trì các tính trạng di truyền từ cây mẹ.

Hom cây thân gỗ được lấy từ thân hoặc cành non của cây, bao gồm cả chồi vượt Các loại cành giâm phổ biến bao gồm cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ Việc chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất phụ thuộc vào đặc tính loài cây và điều kiện thời tiết khi giâm hom.

2.1.3 Sự hình thành rễ bất định

Nhân giống bằng hom là phương pháp dựa vào khả năng tái sinh và hình thành rễ bất định từ một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp, nhằm tạo ra cơ thể mới.

Rễ bất định là loại rễ được hình thành muộn hơn từ các cơ quan sinh dưỡng như cành, thân và lá Chúng có thể xuất hiện ngay trên các bộ phận này, giúp cây phát triển và thích nghi với môi trường.

Cây nguyên vẹn như cây đa và cây si có thể được nhân bản vô tính khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ, điều này kích thích sự hình thành rễ.

Rễ bất định của nhiều loại thực vật thường xuất hiện sau khi cắt cành khỏi cây mẹ, tuy nhiên, một số loài đã phát triển mầm rễ trong phần vỏ trước đó và chỉ đâm ra khi có sự can thiệp Đối với những loại này, việc nhân giống qua cành giâm hay cành chiết diễn ra dễ dàng Trong hầu hết các trường hợp, rễ bất định được hình thành nhờ vào sự tác động của con người nhằm mục đích nhân giống cây trồng.

Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh

Rễ tiềm ẩn là loại rễ phát triển từ thân hoặc cành cây, nhưng chỉ xuất hiện khi bộ phận này được tách rời khỏi cây mẹ.

Rễ mới sinh là loại rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom Khi cắt, các tế bào tại vị trí bị cắt sẽ bị tổn thương, dẫn đến sự mở ra của các tế bào dẫn truyền đã chết trong mô gỗ Điều này khiến cho dòng nhựa từ lá bị dồn lại, kích thích các tế bào phân chia và hình thành mô sẹo, từ đó tạo ra rễ bất định.

Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt

- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo

- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ

Mô sẹo là khối tế bào có mức độ ligin hóa khác nhau, thường xuất hiện trước khi rễ hom phát triển Nhiều loài cây cho thấy sự xuất hiện của mô sẹo là dấu hiệu tích cực cho khả năng ra rễ, cho thấy mối liên hệ giữa mô sẹo và sự phát triển của rễ.

Gỗ ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ hom, với hom hóa gỗ nhiều hoặc phần gỗ chiếm ưu thế làm giảm khả năng ra rễ Hiện tượng cực tính là một vấn đề thường gặp trong quá trình giâm hom, vì vậy cần chú ý đặt hom đúng chiều khi thực hiện.

Tổng quan nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Nhân giống sinh dưỡng cây rừng đã được áp dụng trong lâm nghiệp hơn 100 năm qua, bắt đầu từ những năm 1840 với việc ghép 10.000 cây Thông Đen bởi Marrier de Boisdyver Năm 1883, Velinski A.H đã công bố nghiên cứu về nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường xanh bằng hom Đến năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới tại Pháp khởi động chương trình nhân giống Bạch đàn, và đến năm 1973, đã có 1ha rừng trồng bằng cây hom Đến năm 1986, diện tích rừng trồng bằng hom đã tăng lên khoảng 24.000 ha, với mức tăng trưởng bình quân đạt 35 m³/ha/năm.

Hiện nay, một số quốc gia đã cải thiện năng suất trồng rừng đáng kể nhờ vào việc kết hợp chọn giống, kỹ thuật tạo cây con bằng mô - hom và thâm canh Cụ thể, năng suất đã tăng từ 5 m³/ha/năm lên 15 m³/ha/năm ngay cả trên đất xấu Tại Zimbabwe và Congo, năng suất bạch đàn đạt 30 m³/ha/năm, trong khi ở Brazil con số này lên tới 50 m³/ha/năm, đặc biệt có nơi đạt từ 75 - 100 m³/ha/năm.

Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (ACFTSC), nghiên cứu và sản xuất hom đã được tiến hành tại các nước Đông Nam Á trong những năm gần đây Tại Thái Lan, ACFTSC đã thực hiện các nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, sử dụng hệ thống phun sương mù tự động không liên tục tại các chi nhánh vườn ươm Kết quả cho thấy, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi, có thể sản xuất được 200.000 cây hom, đủ để trồng cho 455 đến 500 ha rừng.

Nhân giống sinh dưỡng cây họ Sao dầu ở Malaysia đã bắt đầu từ những năm 1970, với nhiều nghiên cứu được thực hiện tại Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia và các trường đại học như Pertanian Mặc dù đã có những báo cáo giá trị về nhân giống, tỉ lệ ra rễ của cây họ dầu vẫn còn thấp Tuy nhiên, sau khi áp dụng các biện pháp cải tiến như vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả, phun sương mù và kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ, tỉ lệ ra rễ đã được cải thiện đáng kể, ví dụ như Hopea odorta đạt 86% và Shorea Leprosula đạt 71%.

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Nhân giống vô tính qua phương pháp giâm hom đang ngày càng phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong công tác chọn giống cũng như bảo tồn nguồn gen Phương pháp này không chỉ được áp dụng rộng rãi trên thế giới mà còn có ý nghĩa đặc biệt tại Việt Nam.

Vào năm 1976, trung tâm nghiên cứu cây có sợi tại Phù Ninh – Phú Thọ đã tiến hành những thực nghiệm đầu tiên về nhân giống hom với một số loài Thông và Bạch đàn, đánh dấu bước khởi đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo tại Việt Nam.

Trong giai đoạn 1983-1984, Viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam) đã tiến hành các thí nghiệm về nhân giống cây trồng bằng hom, tập trung vào các loài cây lâm nghiệp như Mỡ, Lát hoa và Bạch đàn Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cấu trúc giải phẫu của hom, cũng như ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm môi trường và việc xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống và khả năng ra rễ của hom giâm.

Trong những năm 1990 trở lại đây,công nghệ sản xuất cây giống bằng mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Từ

Kết quả ban đầu từ 17 khu rừng trồng bạch đàn và keo lai bằng mô hom cho thấy chất lượng rừng đã được cải thiện rõ rệt, với năng suất rừng tăng đáng kể Điều này cho thấy rằng phương pháp trồng rừng bằng mô hom đang dần thay thế phương pháp trồng bằng hạt ở nhiều địa phương trên cả nước.

Nghiên cứu nhân giống cây bằng hom là một phương pháp thiết thực, giúp tăng tốc độ sản xuất cây con phục vụ cho công tác trồng rừng.

Kỹ thuật giâm cành trên thế giới áp dụng nhiều nền giâm hom khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện giâm, khí hậu của từng vùng, quốc gia, thời vụ giâm, giống cành và loại cành.

Những nền giâm, hay còn gọi là giá thể, hiện nay được sử dụng phổ biến bao gồm cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, và các chất vô cơ như Vanli calete, peclite, dung nhan phun thạch núi lửa Khi giâm hom để ra rễ, giá thể thường là cát thô, trong khi đó, nếu giâm hom trực tiếp vào bầu, giá thể thường là mùn cưa đã mục hoặc sơ dừa băm nhỏ, được sử dụng trong vườn ươm.

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giá thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng ra rễ của hom xoan Cụ thể, các loại giá thể như cát sông, hỗn hợp 50% đất tầng mầu, 20% cát + 50% đất + 30% than chấu, 70% đất + 30% hỗn hợp ruột bầu và 100% đất bầu cho kết quả ra rễ lần lượt là 39.26%, 52.59%, 52.59%, 57.04% và 39.26%.

Như vậy cùng một loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thế khác nhau thì khả năng ra rễ của hom giâm là khác nhau

Chất điều hòa sinh trưởng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm, trong đó Auxin là loại được sử dụng phổ biến nhất Auxin được phân thành hai nhóm chính: Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.

Auxin tự nhiên được biết đến như Axit Indol Axete (IAA)

Các loại Auxin tổng hợp như Axit Indol Butylic (IBA), Axit Indol Propionic (IPA) và Axit Napthalen Axetic (NAA) được sử dụng phổ biến hiện nay Việc áp dụng các chất này phụ thuộc vào loại chất kích thích, nồng độ, thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom khác nhau.

Các loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau ảnh hưởng khác nhau đến sự hình thành rễ của hom Cụ thể, hom cây Mỡ 1 tuổi được xử lý bằng IAA, IBA và NAA với nồng độ 50ppm trong 3 giờ cho tỷ lệ ra rễ lần lượt là 74,1%, 93,8% và 53,3%.

Một số thông tin chung về loài cây Thanh táo

Cây Thanh táo, tên khoa học : Justicia gendarussa Burm.F.; thuộc Họ: Ô rô Acanthaceae; Bộ :Hoa mõm sói Scrophulariales

Cây nhỏ thường xanh, cao từ 1 đến 1,5m, có thân cành non màu xanh hoặc tím sẫm Lá cây mọc đối, hình mác hẹp với gân chính màu tím, bề mặt lá không có lông và thường xuất hiện những đốm vàng hoặc nâu đen do tác động của một loại nấm.

Hoa mọc thành bông ở ngọn hoặc nách lá, được bao bọc bởi nhiều lá bắc hình sợi Đài hoa có 5 lá, hợp ở gốc và cao từ 3 - 5mm Tràng hoa có màu trắng hoặc hồng với đốm tía, chia thành 2 môi Hoa có 2 nhị và bao phấn chia thành 2 ô Quả nang có hình đinh và dài khoảng 12mm.

Phân bố: Loài của Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và

Sinh thái: Cây mọc hoang và thường được trồng khắp nơi Có nhân giống bằng hạt hoặc cành giâm

Thường trồng làm hàng rào các vườn cảnh, công viên, trường học

Cây có vị hơi cay, tính bình Vào kinh can, vị, đại tràng

Tác dụng: Hoạt huyết, giảm đau Trong đơn thuốc trị chứng vàng da thường có cả rễ cây Thanh Táo

Khi vết thương nhiễm trùng, bỏng dùng lá Thanh Táo, lá Mỏ quạ tươi (lượng hai thứ bằng nhau) giã đắp hoặc vắt lấy nước, tẩm gạc đắp

Lá Thanh Táo được sử dụng trong thuốc bó gãy xương nhờ khả năng giảm sưng và thúc đẩy quá trình liền xương nhanh chóng Đặc biệt hiệu quả khi điều trị các chấn thương như trật đả, bầm dập hay bong gân Việc giã nát lá tươi và đắp lên vùng bị thương sẽ giúp giảm đau, hết sưng và tan máu bầm nhanh chóng.

Ngoài tác dụng hoạt huyết, rễ Thanh Táo được dùng trong thang thuốc trị thấp khớp, mỗi ngày 30g khô, nấu uống Đơn thuốc

Chữa sản phụ máu xấu đưa lên choáng váng, mắt mờ: Thanh táo, Mần tưới, Cỏ màn chầu, mỗi vị 20g, sắc uống

Để chữa vết lở, vết thương nhiễm độc chảy máu không dứt hay nhọt lở thối loét, bạn có thể sử dụng lá Thanh táo và lá Mỏ quạ với tỷ lệ bằng nhau Rửa sạch với nước muối, giã nhỏ và đắp lên vết thương, thay thuốc hàng ngày Bên cạnh đó, nên uống nước sắc từ Bạch chỉ nam, Kim ngân hoa, và Bồ công anh, mỗi loại một nắm, đồng thời ăn rau sống hàng ngày Sau một tuần lễ, bạn sẽ thấy có kết quả tích cực.

Tổng quan khu vực nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu đề tài tại mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2.4.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu

Vị trí địa lý: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã

Quyết Thắng, nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây, có vị trí xác định rõ ràng trên bản đồ Thành phố Thái Nguyên.

Phía Bắc giáp với phường Quan Triều

Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán

Phía Tây giáp xã Phúc Hà

Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đất ở đây chủ yếu là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch.

2.4.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Khí hậu Thành phố Thái Nguyên có đặc điểm chung của vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính với hai mùa rõ rệt Mùa nóng diễn ra từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 9, trong khi mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

10 hàng năm Trong thời gian này gió mùa đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều, tháng nóng nhất là tháng 7 [20]

PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hom cây Thanh táo lấy tại trường đại học

Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành nghiên cứu giâm hom cây Thanh táo với các độ dài khác nhau (6cm, 9cm, 12cm) và loại hom đa dạng (hom gốc, hom giữa, hom ngọn) để đánh giá hiệu quả sinh trưởng và phát triển của cây.

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu:

Thí nghiệm được tiến hành tại mô hình của khoa Lâm nghiệp trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên - xã Quyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên

Thí nghiệm tiến hành nghiên cứu từ 19/2/2017 đến 20/4/2017

3.3 Nội dung nghiên cứu Để đáp ứng được mục tiêu, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, ra chồi của hom cây Thanh táo

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, ra chồi của hom cây Thanh táo

Phương pháp kế thừa và chọn lọc đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng các tài liệu hiện có, kết quả nghiên cứu liên quan và các phương pháp nghiên cứu thích hợp cho đề tài Việc áp dụng những nguồn tài liệu này giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và đảm bảo tính chính xác trong quá trình phân tích.

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu được sử dụng toán thống kê trong lâm nghiệp để kiểm tra kết quả

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí Nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng hình thành cây hom Thanh táo

Thí nghiệp gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 30 hom, tổng số hom thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệp bố trí theo khối ngẫu nhiên

Nhắc lại Công thức thí nghiệm

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức độ dài hom giâm với 3 lần nhắc lại

Công thức 1: Hom giâm dài 6cm

Công thức 2: Hom giâm dài 9cm

Công thức 3: Hom giâm dài 12cm

Các công thức đồng đều về điều kiện chăm sóc và thời vụ

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần);

Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu cuối đợt thí nghiệm)

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng hình thành cây hom Thanh táo

Thí nghiệm gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 30 hom, tổng số hom thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệp bố trí theo khối ngẫu nhiên

Các công thức đồng đều về điều kiện chăm sóc và thời vụ

Nhắc lại Công thức thí nghiệm

Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức loại hom giâm với 3 lần nhắc lại

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần);

Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu cuối đợt thí nghiệm)

Chuẩn bị vườn ươm: Nơi làm luống là nơi cao ráo, kín gió, có điều kiện tốt cho giâm hom

Để làm vòm che cho cây, trước tiên cần xây dựng khung vòm bằng tre với chiều cao 1m trên mặt luống cát Hai đầu của vòm được cắm xuống luống, với khoảng cách giữa các que từ 60-70cm Khung vòm được uốn theo hình vòng cung để phủ nilông, tạo thành giàn giâm hom trên luống cát vàng mịn, sạch, đã được khử trùng bằng dung dịch thuốc diệt nấm Mái che được làm từ túi PE trắng và có lưới đen để bảo vệ cành giâm khỏi mất nước, ánh sáng trực tiếp và nhiệt độ cao.

- Chuẩn bị giá thể: Cát mịn, rửa sạch và loại bỏ những tạp bẩn, được làm thành luống

- Hóa chất: Indole-3-acetic acid (IAA) 0,25% [16], thuốc tím

- Chuẩn bị dụng cụ: Thước, dao, kéo, chậu nhựa, chai nhựa đựng thuốc, bình phun sương, dây…

- Luống : Chiều rộng 0,9m, chiều dài 6m

Để xử lý giá thể, cần sử dụng thuốc tím để xử lý ba lần trước khi cắm hom, mỗi lần cách nhau một ngày Sau khi xử lý, nên tưới nước sạch lên luống giâm hom khoảng 1-2 giờ trước khi thực hiện cắm hom.

Bước 2: Chọn cắt hom và xử lý hom

Hom giống được cắt từ cành của cây trưởng thành và cần được bảo quản cẩn thận Sau khi cắt, hom giống nên được cho vào túi nilông buộc kín để ngăn ngừa thoát hơi nước Để bảo vệ túi nilông không bị rách trong quá trình vận chuyển, cần thêm một bao tải bên ngoài Việc bảo quản đúng cách sẽ giúp hom giống được vận chuyển an toàn đến nơi thí nghiệm.

Thời gian lấy hom giâm vào buổi sáng sớm Cắt cành hom và bảo quản giữ ẩm để vận chuyển về nơi tiến hành thí nghiệm

Khi lấy cành làm hom giống, cần chú ý tránh xây xước và sử dụng dao sắc để cắt dứt khoát, nhằm tránh tình trạng cành bị dập hoặc vỡ Nên chọn hom ở giai đoạn nửa hóa gỗ để đảm bảo chất lượng.

Cắt hom là một bước quan trọng trong quy trình nhân giống cây trồng, cần tuân theo công thức thí nghiệm và điều chỉnh kích thước hom cho phù hợp Sử dụng dao thật sắc để cắt vát 45 độ giúp tránh dập nát, đồng thời tạo bề mặt tiếp xúc lớn với thuốc xử lý hom Việc này không chỉ giúp hom dễ dàng ra rễ mà còn tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của mô sẹo.

Với thí nghiệm 1 cắt hom dài 6cm, 9cm, 12cm Với thí nghiệm 2 cắt hom dài 8 cm cho hom ngọn, hom giữa, hom gốc

Cắt giảm 2/3 diện tích các phiến lá đã trưởng thành và loại bỏ hoàn toàn phiến lá đầu tiên cùng các nhánh phụ từ gốc hom, chỉ giữ lại một thân chính để giúp trục thân chính phát triển mạnh mẽ.

Khử trùng hom: Ngâm trong dung dịch thuốc tím nồng độ 1% (10 gam trong 1 lít nước) khoảng 30 phút thì vớt ra cho ráo nước

Tiếp theo đem ngâm gốc hom vào các chất kích thích ra rễ (IAA) 0,25% cấy ngay lên luống giâm[16]

Cắm hom vào giá thể đã chuẩn bị, đảm bảo độ sâu từ 3 - 4 cm và khoảng cách giữa các hom là 5 x 5 cm Sau khi hoàn tất, sử dụng bình phun sương tưới đều để làm chặt gốc và giữ ẩm cho hom.

Sau khi giâm hom xong, toàn bộ hom giâm được phủ bằng nilon trên vòm bên trên mái vòm có lưới đen 50% che phủ bên ngoài

Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm

Chăm sóc hom rất quan trọng để duy trì độ ẩm thích hợp cho luống giâm và toàn bộ hom Để đảm bảo hom không bị khô và mất nước, cần tưới nước sạch ngay sau khi cắm hom dưới dạng phun sương mù Sau khi tưới, nên phủ kín vòm che bằng nilon để giữ ẩm và chống thoát hơi nước Đồng thời, sử dụng lưới che râm để giảm 50% ánh sáng, giúp tạo điều kiện tốt nhất cho sự hình thành mô sẹo.

Khi phun nước cho hom, thời gian phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Trong thời tiết nắng nóng, cần tăng lượng nước phun nhưng tránh phun vào giữa trưa hoặc đầu giờ chiều Ngược lại, trong thời tiết mát, khoảng cách giữa các lần phun có thể giãn ra Hom giâm cần được chăm sóc và phun sương hàng ngày, với số lần và khoảng cách giữa các lần phun tùy thuộc vào thời tiết và giai đoạn giâm Trong điều kiện nắng nóng, hom yêu cầu độ ẩm cao hơn so với khi đã ra rễ, do đó cần phun nước nhiều lần hơn để tránh mất cân bằng giữa cung cấp nước và thoát nước.

Trong 4 tuần đầu, cần tiến hành phun sương 1 lần mỗi giờ trong suốt cả ngày Sau đó, có thể giảm tần suất tưới xuống còn 6 lần mỗi ngày, vào buổi sáng và chiều.

3.4.2 Thu thập số liệu Định kỳ 30 ngày theo dõi một lần, quan sát bằng mắt thường cho chỉ tiêu về: Số hom sống (hom)

Cuối đợt thí nghiêm tiến hành đo, đếm các chỉ tiêu sau:

Số hom ra rễ (hom); Số rễ/hom (cái); Tổng chiều dài rễ (cm)

Số hom ra chồi (hom); Số chồi/hom (cái); Chiều dài chồi (cm)

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Quá trình xử lí số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵn trên máy tính Tiến hành :

Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính

Bước 2 Phân tính vàxử lý số liệu :

- Các chỉ tiêu được theo dõi là:

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại mô hình của khoa Lâm nghiệp trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên - xã Quyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên

Thí nghiệm tiến hành nghiên cứu từ 19/2/2017 đến 20/4/2017.

Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng được mục tiêu, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, ra chồi của hom cây Thanh táo

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, ra chồi của hom cây Thanh táo.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa và chọn lọc là việc sử dụng các tài liệu hiện có, cùng với những kết quả nghiên cứu liên quan và phương pháp nghiên cứu thích hợp để phát triển đề tài.

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu được sử dụng toán thống kê trong lâm nghiệp để kiểm tra kết quả

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí Nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng hình thành cây hom Thanh táo

Thí nghiệp gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 30 hom, tổng số hom thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệp bố trí theo khối ngẫu nhiên

Nhắc lại Công thức thí nghiệm

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức độ dài hom giâm với 3 lần nhắc lại

Công thức 1: Hom giâm dài 6cm

Công thức 2: Hom giâm dài 9cm

Công thức 3: Hom giâm dài 12cm

Các công thức đồng đều về điều kiện chăm sóc và thời vụ

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần);

Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu cuối đợt thí nghiệm)

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng hình thành cây hom Thanh táo

Thí nghiệm gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 30 hom, tổng số hom thí nghiệm là 270 hom Thí nghiệp bố trí theo khối ngẫu nhiên

Các công thức đồng đều về điều kiện chăm sóc và thời vụ

Nhắc lại Công thức thí nghiệm

Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức loại hom giâm với 3 lần nhắc lại

+ Các chỉ tiêu theo dõi:

Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần);

Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu cuối đợt thí nghiệm)

Chuẩn bị vườn ươm: Nơi làm luống là nơi cao ráo, kín gió, có điều kiện tốt cho giâm hom

Để làm vòm che cho luống cát, trước tiên cần tạo khung vòm bằng tre cao 1m, với khoảng cách giữa các que từ 60 - 70cm Khung này được uốn theo hình vòng cung để có thể phủ nilông, tạo thành giàn giâm hom Luống giâm cần chứa cát vàng mịn, sạch và đã được khử trùng bằng dung dịch diệt nấm Để bảo vệ cành sau khi giâm, mái che được làm từ túi PE trắng và lưới đen, giúp giữ độ ẩm, ngăn ánh sáng trực tiếp và giảm nhiệt độ.

- Chuẩn bị giá thể: Cát mịn, rửa sạch và loại bỏ những tạp bẩn, được làm thành luống

- Hóa chất: Indole-3-acetic acid (IAA) 0,25% [16], thuốc tím

- Chuẩn bị dụng cụ: Thước, dao, kéo, chậu nhựa, chai nhựa đựng thuốc, bình phun sương, dây…

- Luống : Chiều rộng 0,9m, chiều dài 6m

Để xử lý giá thể cho hom, cần sử dụng thuốc tím và thực hiện ba lần xử lý trước một ngày, mỗi lần cách nhau một ngày Sau đó, tưới nước sạch lên luống giâm hom khoảng 1-2 giờ trước khi cắm hom.

Bước 2: Chọn cắt hom và xử lý hom

Hom giống được cắt từ cành của cây trưởng thành Để bảo quản hom giống, cần cho vào túi nilông và buộc kín nhằm ngăn chặn sự thoát hơi nước Ngoài ra, nên bọc thêm một bao tải bên ngoài để tránh rách túi, đảm bảo hom giống được bảo quản tốt cho quá trình vận chuyển đến nơi thí nghiệm.

Thời gian lấy hom giâm vào buổi sáng sớm Cắt cành hom và bảo quản giữ ẩm để vận chuyển về nơi tiến hành thí nghiệm

Khi lấy cành làm hom giống, cần chú ý tránh xây xước và sử dụng dao sắc để cắt dứt khoát, nhằm hạn chế tình trạng cành bị dập hoặc vỡ Nên chọn hom có phần nửa hóa gỗ để đảm bảo chất lượng.

Cắt hom là bước quan trọng trong quy trình nhân giống, cần chú ý đến kích thước và hình dạng của hom để phù hợp với công thức thí nghiệm Sử dụng dao sắc để cắt vát 45 độ giúp tránh dập nát, tạo bề mặt tiếp xúc lớn với thuốc xử lý hom, từ đó kích thích mô sẹo và tối ưu hóa quá trình ra rễ.

Với thí nghiệm 1 cắt hom dài 6cm, 9cm, 12cm Với thí nghiệm 2 cắt hom dài 8 cm cho hom ngọn, hom giữa, hom gốc

Cắt giảm 2/3 diện tích của các phiến lá đã trưởng thành, đồng thời loại bỏ hoàn toàn phiến lá đầu tiên và các nhánh phụ từ gốc hom, chỉ giữ lại một thân chính Điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của trục thân chính.

Khử trùng hom: Ngâm trong dung dịch thuốc tím nồng độ 1% (10 gam trong 1 lít nước) khoảng 30 phút thì vớt ra cho ráo nước

Tiếp theo đem ngâm gốc hom vào các chất kích thích ra rễ (IAA) 0,25% cấy ngay lên luống giâm[16]

Cắm hom vào giá thể đã chuẩn bị trước với độ sâu 3 - 4 cm và khoảng cách 5 x 5 cm Sau khi cắm, hãy tưới ẩm cho luống bằng bình phun sương để làm chặt gốc và đảm bảo hom đủ độ ẩm.

Sau khi giâm hom xong, toàn bộ hom giâm được phủ bằng nilon trên vòm bên trên mái vòm có lưới đen 50% che phủ bên ngoài

Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm

Chăm sóc hom rất quan trọng để duy trì độ ẩm thích hợp cho luống giâm và toàn bộ hom Điều này giúp ngăn ngừa tình trạng khô, mất nước, từ đó hỗ trợ hình thành mô sẹo Sau khi cắm hom, cần tưới nước sạch ngay dưới dạng phun sương mù và phủ kín vòm che bằng nilon để giữ ẩm và chống thoát hơi nước Đồng thời, nên phủ lưới che râm để giảm 50% ánh sáng cho hom.

Việc phun nước cho hom cần được điều chỉnh theo điều kiện khí hậu, với lượng nước phun tăng lên trong thời tiết nắng nóng, nhưng cần tránh phun vào giữa trưa hoặc đầu giờ chiều Trong thời tiết mát, khoảng cách giữa các lần phun có thể được giãn ra Hom giâm cần được chăm sóc và phun sương hàng ngày, với số lần và khoảng cách giữa các lần phun phụ thuộc vào thời tiết và giai đoạn phát triển của hom Khi thời tiết nắng nóng với nhiệt độ cao và cường độ ánh sáng lớn, hom giâm yêu cầu độ ẩm cao hơn so với khi đã ra rễ, do đó cần phun nước nhiều lần hơn trong giai đoạn đầu.

Trong 4 tuần đầu, cần phun sương 1 lần mỗi giờ trong suốt cả ngày Sau đó, có thể giảm tần suất tưới xuống còn 6 lần mỗi ngày, vào buổi sáng và chiều.

3.4.2 Thu thập số liệu Định kỳ 30 ngày theo dõi một lần, quan sát bằng mắt thường cho chỉ tiêu về: Số hom sống (hom)

Cuối đợt thí nghiêm tiến hành đo, đếm các chỉ tiêu sau:

Số hom ra rễ (hom); Số rễ/hom (cái); Tổng chiều dài rễ (cm)

Số hom ra chồi (hom); Số chồi/hom (cái); Chiều dài chồi (cm)

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Quá trình xử lí số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵn trên máy tính Tiến hành :

Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính

Bước 2 Phân tính vàxử lý số liệu :

- Các chỉ tiêu được theo dõi là:

Tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom ra rễ là những yếu tố quan trọng trong quá trình nhân giống cây trồng Chiều dài rễ trung bình và số rễ trung bình mỗi hom cũng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của cây Chỉ số ra rễ được tính bằng cách nhân số rễ trung bình mỗi hom với chiều dài rễ trung bình, giúp đánh giá hiệu quả của quá trình ra rễ.

+ Tỷ lệ hom ra chồi28

+ Chiều dài rễ trung bình + Số chồi trung bình/hom+ Chỉ số ra chồi = (Số chồi trung bình/hom × Chiều dài chồi trung bình)

Để đánh giá ảnh hưởng của từng công thức thí nghiệm đến khả năng ra rễ của hom, tôi đã áp dụng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố nhằm kiểm tra kết quả thí nghiệm.

Trong đó tôi coi: Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)

Giả sử nhân tố A được phân chia thành a cấp độ khác nhau, với mỗi cấp độ có bi lần quan sát lặp lại Kết quả được ghi lại trong bảng 3.1.

Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai 1 nhân tố Các trị số quan sát

Kết quả trung bình của các lần nhắc lại S i A Xi A

- Cột 1: Các cấp của nhân tố A

- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân tố A)

- Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp

- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát

Trong nghiên cứu, số trung bình chung của n trị số quan sát được xác định với giả thuyết H0:  1   2   3  , cho thấy nhân tố A tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm Ngược lại, giả thuyết H1:  1   2   3   chỉ ra rằng nhân tố A tác động không đồng đều, tức là ít nhất một số trung bình tổng thể  i khác biệt so với các số trung bình tổng thể còn lại.

- Tính biến động tổng số:

VT là biến động của n (ab) trị số quan sát trong trường hợp số lần nhắc lại b i bằng nhau được xác định bằng công thức:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 09/06/2021, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Thị Mai và CS (2005), Một số kết quả ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống cây lâm nghiệp. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống cây lâm nghiệp
Tác giả: Đoàn Thị Mai và CS
Năm: 2005
2. Hoàng Minh Tấn và CS (2009), Giáo trình sinh lý thực vật, Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý thực vật
Tác giả: Hoàng Minh Tấn và CS
Năm: 2009
4. Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (1998), Giáo trình cải thiện giống cây rừng, Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cải thiện giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng
Năm: 1998
5. Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn (1996), Nhân giống Mỡ bằng hom. Tạp chí Lâm Nghiệp số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống Mỡ bằng hom
Tác giả: Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
Năm: 1996
6. Nguyễn Đăng Cường (2012), Bài giảng thống kê toán học trong lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thống kê toán học trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đăng Cường
Năm: 2012
8. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến (2005), Kết qủa giâm hom hồng tùng phục vụ trồng rừng bảo tồn nguồn gen. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết qủa giâm hom hồng tùng phục vụ trồng rừng bảo tồn nguồn gen
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến
Năm: 2005
9. Phạm Văn Tuấn (1992), Sản xuất cây giống bằng phương pháp mô hom, ý nghĩa và ứng dụng, Thông tin chuyên đề số 11, trang 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Tuấn (1992), "Sản xuất cây giống bằng phương pháp mô hom, ý nghĩa và ứng dụng
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1992
10. Phạm Văn Tuấn (1996), Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom. Bản tin hội khoa học kĩ thuật Lâm Nghiệp Việt Nam, số 4, trang 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Tuấn (1996), "Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1996
11. Phạm Văn Tuấn (1997), Nhân giống cây rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam. Tổng luận chuyên khảo khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
12. Phạm Văn Tuấn (1997), Nhân giống cấy rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam. Tổng luận chuyên khảo khoa học kĩ thuật Lâm Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Tuấn (1997), "Nhân giống cấy rừng bằng hom, thành tựu và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
13. Phạm Văn Tuấn (1997), Phương pháp mới trong việc nhân giống bằng hom cây họ Dầu ở Indonesia. Tạp chí Lâm nghiệp số 1, trang 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp mới trong việc nhân giống bằng hom cây họ Dầu ở Indonesia
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1997
14. Phạm Văn Tuấn (1998), Nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu bằng hom ở vùng Đông Nam Á. Tài liệu dịch trung tâm giống cây rừng Asean Canada (ACFTSC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Tuấn (1998), "Nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu bằng hom ở vùng Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Văn Tuấn
Năm: 1998
15. Trung tâm Giống cây rừng (1998), Tài liệu tập huấn kĩ thuật nhân giống keo lai bằng hom.II. Tài liệu trích dẫn từ INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn kĩ thuật nhân giống keo lai bằng hom
Tác giả: Trung tâm Giống cây rừng
Năm: 1998
3. Hoàng Minh Thư (2014), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Gáo (Anthocephalus chinensis (Lam) Khác
7. Nguyễn Đình Dự (2014), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Sao Đen (Hopea odorata Roxb) tại trường đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
16. Vafs.gov.vn/wp-content/uploads/sites/2/2011/04/8ghepXoan.pdf Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w