1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN sử dụng video trong dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh ở môn địa lý lớp 7 trường THCS ngọc phụng, huyện thường xuân

19 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 6,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂNSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG VIDEO TRONG DẠY HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ LỚP 7 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGỌC PHỤNG HUYỆN THƯỜNG X

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG VIDEO TRONG DẠY HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ LỚP 7 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGỌC PHỤNG

HUYỆN THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Trần Thị Thơm Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Ngọc Phụng SKKN thuộc môn: Địa lí

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

8 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

9 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

10 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6

Trang 3

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Công nghệ thông tin và truyền thông là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện nay Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực như sản xuất, giáo dục, đến các hoạt động chính trị, xã hội Vì thế ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày càng trở thành xu thế tất yếu, là công cụ đắc lực hỗ trợ giáo viên và học sinh trong việc đổi mới phương pháp, phương tiện dạy học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục

Môn Địa lí lớp 7 cung cấp cho học sinh các kiến thức về các sự vật, hiện tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội Phần tự nhiên có nhiều khái niệm trừu tượng không gây ấn tượng cho các em trong quá trình lĩnh hội kiến thức, các em khó nhận thức, mau quên Còn kiến thức về kinh tế - xã hội luôn thay đổi và tăng lên hàng ngày, hàng giờ nếu không bắt kịp sự biến đổi đó thì nhanh chóng tụt hậu

Để hỗ trợ việc dạy học các nội dung này, sách giáo khoa có nhiều hình ảnh minh họa, có sơ đồ, biểu đồ, lược đồ, bản đồ, mô hình, … giúp các em hình thành biểu tượng về các hiện tượng địa lí, nhưng đối với những nội dung khó mà giáo viên chỉ dùng lời nói và các hình ảnh tĩnh để minh họa thì học sinh rất khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế Nhiều học sinh rất thuộc bài mà không hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng, hơn nữa khả năng tổng hợp còn hạn chế, khi học xong các em dễ lẫn lộn kiến thức không nắm được đặc điểm nổi bật của từng nội dung mà mình đã học

Đồng thời trong quá trình giảng dạy cho thấy, hiện nay nhiều học sinh chưa có cái nhìn đúng và hứng thú với môn Địa lí Do suy nghĩ đây là môn học thuộc lòng, sau này khó chọn trường thi đại học, cao đẳng rất khó tìm việc làm sau khi ra trường nên các em thường ngại học, học một cách đối phó, miễn cưỡng Điều này khiến chất lượng học tập chưa cao, học sinh dễ quên kiến thức, thiếu những kĩ năng địa lí cơ bản

Làm thế nào để tạo được hứng thú học tập Địa lí cho học sinh? Đó là câu

hỏi mà bản thân tôi vẫn luôn trăn trở, tôi luôn có suy nghĩ làm sao để khơi gợi hứng thú học tập của các em với môn học của mình Những năm gần đây trong quá trình dạy học tôi nhận thấy việc sử dụng lồng ghép các video vào giờ học mang lại nhiều hiệu quả, học sinh đã có những biểu hiện tích cực ở thái độ học tập, có niềm vui, cảm giác mong chờ giờ học từ đó góp phần nâng cao hiệu quả

dạy học Địa lí Chính vì lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài “Sử dụng video trong dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh ở môn Địa lí lớp 7 trường Trung học cơ sở Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Trong quan điểm của phụ huynh và học sinh ngày nay, Địa lí là môn phụ nên không được đầu tư Nó là môn học sinh học để lên lớp Học sinh chỉ sử dụng sách giáo khoa để trả lời những kiến thức “cần” để làm bài thi hoặc thầy,

cô hỏi các em không hứng thú, chú tâm nghe giảng dẫn đến chất lượng bộ môn không cao Để khắc phục thực trạng đó đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên tìm tòi, đổi mới phương pháp, đồng thời môn Địa lí truyền tải lượng thông tin lớn, ở khoảng cách xa người học khó có thể tiếp cận một cách trực tiếp Do vậy việc sử

Trang 4

dụng video lồng ghép vào bài giảng có tác dụng quan trọng trong việc kích thích hứng thú của học sinh trong giờ học, từ đó chất lượng bộ môn cũng được nâng cao

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Sử dụng video trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh được tôi sử dụng ở khối 7 của Trường trung học cơ sở Xuân Thắng năm học

2019 - 2020 và khối 7 ở học kì I tại Trường trung học cơ sở Ngọc Phụng năm học 2020 - 2021 Từ đó nâng cao chất lượng của bộ môn, đồng thời khắc sâu những kiến thức cơ bản về tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư trên thế giới hiện nay, giúp học sinh có thể vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài tôi đã áp dụng các phương pháp: Thu thập thông tin, thống kê, xử lí số liệu, thực nghiệm trong năm học 2019 - 2020 ở trường Trung học cơ sở Xuân Thắng và tiếp tục thực hiện ở học kì I trường Trung học cơ sở Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

2.1.1 Quan niệm về hứng thú và vai trò của hứng thú trong dạy học.

Trong giáo trình tâm lí lứa tuổi và tâm lí sư phạm của Nguyễn Kế Hào -Nguyễn Quang Uẩn đã chỉ ra hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc

Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập, nó biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ và say mê của người học Khi có hứng thú học tập, học sinh sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động học của mình, từ đó tích cực và sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức Mặt khác còn đẩy lùi các cảm xúc tiêu cực như chán học, sợ học, không muốn học

2.1.2 Quan niệm về phim video và vai trò của phim video trong dạy học.

Phim video ra đời sau phim nhựa (phim xinê) nhưng từ những năm 70 của thế kỉ XX cho đến nay, phim video ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động khoa học và đời sống xã hội

Nội dung thông tin của phim video có thể là những bộ phim tài liệu, bộ phim về một sự kiện mà trên thực tế xảy ra như vậy Phim video cũng có thể là những bộ phim dàn cảnh, phim do những người làm phim sáng tạo ra theo một nội dung đã định trước Các bộ phim video cũng có thể là bộ phim kết hợp cả hai hình thức nói trên

Phim video có đầy đủ chức năng của phim nhựa nhưng dễ xây dựng và sử dụng linh hoạt hơn Ngoài ra phim video còn thể hiện được các nội dung phức tạp, hiếm thấy hoặc nguy hiểm mà phim nhựa khó có thể thực hiện được

Ngày nay phim video đã trở nên hết sức quen thuộc được phổ biến rộng rãi và là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống Qua các bộ

Trang 5

phim video trên truyền hình và màn ảnh nhỏ các thông tin văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế, khoa học …của đất nước và thế giới đều đến được với đa số người dân Phim video cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, các ngành khoa học như Thiên văn, Vật lí, Sinh học, Môi trường, Hóa học, Địa lí, Lịch sử… đều sử dụng phim video như một phương tiện nghiên cứu không thể thiếu được

Hiện nay có nhiều phần mềm hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng các đoạn phim video theo đúng nội dung bài học như: Phần mềm video Edit Magic

và phần mềm Herosoft Phần mềm video Edit Magic là một phần mềm nhỏ gọn

dễ sử dụng nhưng hiệu quả vô cùng to lớn Video Edit Magic là những gì người soạn cần có để biên tập lại đoạn phim minh họa một cách hợp lí với nhiều ứng dụng video dễ dàng xuất ra các file (*.mov), (*.avi) một cách nhanh chóng Phần mềm Herosoft dùng để cắt đoạn phim phù hợp với nội dung bài giảng để đưa vào Power Point trình chiếu một cách hiệu quả

Trong hoạt động dạy học phim video có những vai trò đặc biệt quan trọng

đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục thừa nhận là:

Video giúp học sinh nắm vững kiến thức và ghi nhớ kiến thức tốt hơn: Video có khả năng trình bày nội dung bài học bằng hình ảnh kết hợp với âm thanh theo một trình tự liên kết hữu cơ Toàn bộ nội dung bài học được truyền tải một cách sinh động qua hiệu ứng âm thanh tạo cho học sinh hứng thú học tập Không những thế học sinh còn hiểu được toàn bộ quá trình phát sinh và phát triển của các sự vật, hiện tượng

Video giúp học sinh quan sát các hiện tượng và quá trình địa lí một cách toàn diện: Nhờ video, học sinh có thể quan sát gián tiếp được những đối tượng, hiện tượng địa lí không thể quan sát được do kích thước quá nhỏ hoặc quá lớn, học sinh có thể tiếp cận được những đối tượng, hiện tượng phân bố ở nơi rất xa

Nhờ kĩ thuật quay của video học sinh có thể quan sát được những hiện tượng, quá trình diễn ra quá nhanh, hoặc quá chậm, không kịp quan sát trong thực tế Đồng thời với khả năng lưu giữ, video còn giúp học sinh thấy được những âm thanh và hình ảnh vượt không gian và thời gian

Video thể hiện hình ảnh sinh động, hấp dẫn có thể thay thế tranh, ảnh, mô hình, thay thế các cuộc tham quan, dã ngoại về địa lí

Nâng cao hiệu suất dạy học và phát huy tác dụng của mọi hình thức dạy học: Với thời lượng nhất định, video trình bày nội dung kiến thức một cách tối

ưu thông qua những hình ảnh với các cảnh thật, người thật, các biểu bảng, sơ đồ, bản đồ, chữ viết, tiếng động thật và lời thuyết minh sống động sẽ giúp nhịp độ giới thiệu bài được gia tăng, từ đó giáo viên có thêm thời gian tổ chức các hoạt động nhận thức khác cho học sinh Video còn kèm theo lời thuyết minh, giải thích, bình luận hướng sự tập trung chú ý của học sinh vào những vấn đề trọng tâm của nội dung bài học, do đó video có thể phát huy tác dụng trong nhiều hình thức và phương pháp dạy học khác nhau

Học sinh trung học cơ sở ở độ tuổi từ 11 đến 15, 16 tuổi đặc điểm nổi bật của tâm lý nhận thức là ý thức tự khẳng định mình, muốn tự lực, độc lập trong mọi hoạt động Đây là thời kì phát triển mạnh mẽ đến mức thiếu cân đối cả về

Trang 6

cơ thể, thể chất, tâm lý, trí tuệ

Đặc điểm nổi bật trong nhận thức của học sinh trung học cơ sở là có sự chiếm ưu thế của tư duy trừu tượng, nhưng những thành phần hình tượng cụ thể của tư duy bộ phận không giảm xuống mà vẫn được phát triển Do sự phát triển mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là truyền hình, học sinh trung học cơ sở hiện nay phát triển hơn, nhạy bén hơn trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật Nếu giờ dạy chỉ sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống, dẫn đến tiết học kém hấp dẫn, ít gây được hứng thú học tập, hạn chế khả năng phát triển tư duy cho các em

Đặc điểm của nội dung, hệ thống kiến thức Địa lí lớp 7 ở trường trung học cơ sở theo chương trình hiện hành đang triển khai đều liên quan đến nội dung kiến thức chủ yếu đó là:

Phần I: Thành phần nhân văn của môi trường Trình bày đặc điểm dân số

và các chủng tộc, sự phân bố dân cư, các loại hình quần cư trên thế giới

Phần II: Các môi trường địa lí Trình bày về đặc điểm tự nhiên của từng môi trường, hoạt động kinh tế của con người ở mỗi môi trường địa lí

Phần III: Thiên nhiên và con người ở các châu lục Trình bày khái niệm

về thiên nhiên và con người ở các châu lục Các khái niệm này phản ánh những đặc điểm, đặc trưng thiên nhiên, dân cư, kinh tế của các châu lục, các kiểu môi trường địa lí của từng châu lục và một vài quốc gia tiêu biểu

Chương trình đòi hỏi học sinh thành thạo các kĩ năng địa lí: Kĩ năng quan sát, nhận xét các đối tượng địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, kĩ năng tập giải thích một số hiện tượng địa lí thường xảy ra ở môi trường mà các em đang sống, kĩ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống…Các kĩ năng này được đưa vào chương trình bằng một số bài học riêng, chủ yếu là các bài thực hành và tích hợp trong những bài học của khác

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Xuất phát từ quan điểm của xã hội cũng như phụ huynh và bản thân học sinh đều xem môn Địa lí là “môn học phụ”, không phù hợp với xu thế tìm kiếm việc làm trong tương lai Nên trong các giờ học, học sinh không hứng thú học, lười tư duy, ỉ nại, dẫn tới kết quả của các em chưa cao, chưa nắm được kiến thức

cơ bản Vì vậy các em không có khả năng độc lập suy nghĩ, không có tiền đề về kiến thức xã hội đang diễn ra trên toàn cầu

Trường Trung học cơ sở Xuân Thắng đóng trên địa bàn xã có nền kinh tế còn khó khăn, đa số học sinh là con em của các gia đình nông dân hoặc bố mẹ đi làm ăn xa ít có thời gian quan tâm đến việc học tập của con cái, nhất là việc tiếp cận với công nghệ thông tin của học sinh còn hạn chế Nên ảnh hưởng lớn đến việc học tập của học sinh Bên cạnh đó tôi nhận thấy có nhiều học sinh học khá nhưng điểm môn Địa lí lại thấp Vì vậy ngay đầu năm tôi đã tiến hành kiểm tra hứng thú học môn Địa lí ở lớp 7 của học sinh Tôi đã tiến hành trong năm học

2019 – 2020 tại trường Trung học cơ sở Xuân Thắng và khi được điều chuyển

về trường Trung học cơ sở Ngọc Phụng tôi vẫn tiếp tục áp dụng trong học kì I năm học 2020 – 2021

Tôi điều tra hứng thú cho học sinh khối 7 ở hai trường và kết quả như sau:

Trang 7

STT Nămhọc TrườngTHCS TổngHS

Mức độ hứng thú Rất hứng

thú

Hứng thú

Bình thường

Không hứng thú

1 2019-2020 ThắngXuân 56 02 3,6 08 14,3 18 32,1 28 50

2 2020 -2021 PhụngNgọc 61 03 4,9 11 18 20 33 27 44,1

Đồng thời kiểm tra học tập của học sinh, thì kết quả học tập đầu năm ở hai trường như sau:

học

Trường THCS

Tổng

HS SLGiỏi% SLKhá% Trung bìnhSL % Yếu, kémSL %

1

2019-2020

Xuân

2

2020-2021

Ngọc

Với kết quả này bản thân tôi đã không ngừng tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách truyền đạt mới với phương châm lấy học sinh làm trung tâm, tạo hứng thú cho học sinh và giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh giải quyết vấn đề Vì vậy tôi đã sử dụng lồng ghép các video vào trong các giờ học để giờ học Địa lí trở nên sôi động, vui vẻ, không khô khan, áp lực đối với học sinh

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Sử dụng phim video kết hợp một cách hợp lí với các phương tiện dạy học khác cần phát huy những ưu thế của phim video trong việc giải quyết các vấn đề chính sau đây:

Cung cấp những biểu tượng và khái niệm địa lí tương đối khó, trừu tượng, hiếm thấy với học sinh trung học cơ sở Đó là những khái niệm về các quá trình địa lí, phản ánh các sự vật, hiện tượng địa lí ở dạng chuyển động Các khái niệm này là những kiến thức quan trọng của địa lí đại cương: Các hiện tượng địa chất, địa hình, khí hậu, sinh vật của môi trường địa lí …

Sử dụng phim video có thể mô tả tổng hợp địa lí của một khu vực tương đối chính xác Đó là các hiện tượng địa lí và hoạt động kinh tế của con người ở các châu lục, các quốc gia, địa phương Phần lớn các đối tượng địa lí này học sinh không thể quan sát trực tiếp được Đây là những kiến thức chủ yếu của chương trình địa lí các châu lục, các quốc gia trên thế giới

Như vậy nội dung kiến thức địa lí sẽ hoàn chỉnh phong phú thêm thông qua kênh hình với các hình ảnh gần gũi với thực tế được truyền tải qua phương tiện: Đầu video, tivi, truyền hình, máy tính điện tử…Việc sử dụng phim video mới có thể phản ánh đầy đủ các đặc điểm của các đối tượng địa lí này một cách trực quan, dễ hiểu, phù hợp với hứng thú nhận thức của học sinh Nếu chỉ sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống học sinh chỉ có thể nắm được một số đặc điểm của đối tượng bằng hình ảnh dạng tĩnh và qua tưởng tượng

Việc lồng ghép video vào giờ dạy được tiến hành như sau:

Trang 8

2.3.1 Xác định bài dạy có sử dụng video.

Video tuy là phương tiện trực quan tối ưu nhất, nhưng không phải bài học nào sử dụng video cũng mang lại hiệu quả cao nhất Vì vậy cần lựa chọn kĩ lưỡng những bài học sử dụng video để phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền đạt

Xác định mục tiêu bài học gồm:

- Kiến thức: Yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức

cơ bản trong chương trình sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn

- Kênh hình: Biết vận dụng kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, thực hành, có kĩ năng tính toán, vẽ biểu đồ

Xác định nội dung bài học: Mỗi bài có mấy nội dung và nội dung sẽ sử dụng video

Chuẩn bị phương tiện: Sử dụng video bài học, video tư liệu và thiết bị máy chiếu hoặc tivi

2.3.2 Sử dụng video trong tiến trình bài học.

Video được sử dụng trong tất cả các khâu cơ bản của quá trình dạy học: Kiểm tra kiến thức, định hướng, tạo động cơ, hứng thú học tập; truyền thụ kiến thức mới và củng cố kiến thức

Sử dụng video hướng dẫn khai thác từng đơn vị kiến thức trong nội dung bài học: Mỗi đơn vị kiến thức có nội dung khác nhau, trong đó có những nội dung phức tạp, trừu tượng khó diễn tả bằng ngôn ngữ, hình ảnh cũng như sơ đồ thì giáo viên sử dụng video để tổ chức các hoạt động cho học sinh nghiên cứu

2.3.3 Xây dựng kịch bản.

Sơ đồ các bước xây dựng kịch bản bài học có sử dụng video:

Chia bài giảng thành các hoạt động dạy học cơ bản Xác định phương pháp tổ chức hoạt động dạy học Xác định thời gian dự kiến cho mỗi hoạt động

Mô tả các hoạt động theo không gian và thời gian có sử dụng video

Cụ thể tôi sử dụng video để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, thúc đẩy hứng thú học tập trong các tiết học như sau:

Ví dụ 1: Tiết 19 và 20 - Bài 19: MÔI TRƯỜNG HOANG MẠC

Sử dụng video để hình thành các biểu tượng địa lí và mối liên hệ địa lí:

Để hình thành biểu tượng về các sự vật, hiện tượng địa lí trước tiên phải cho học sinh tri giác về các sự vật, hiện tượng đó Có hai cách tri giác là trực tiếp và gián tiếp, cách tốt nhất là tri giác trực tiếp Nhưng do hoang mạc phân bố trong một không gian rộng lớn, tại những vùng lãnh thổ xa xôi, học sinh không

Trang 9

thể tri giác trực tiếp được Video có đầy đủ khả năng giúp học sinh tri giác gián tiếp các hoang mạc một cách rõ ràng và chính xác

Mục 1: Đặc điểm của môi trường: Để học sinh nắm rõ được sự phân bố

của các hoang mạc trên thế giới, giáo viên tổ chức cho học sinh xem đoạn video

về “Cảnh quan hoang mạc” theo các bước sau đây:

Bước 1: Định hướng những nội dung học sinh quan sát được trong đoạn video:

- Chú ý tới tên các hoang mạc Các hoang mạc thường phân bố ở đâu

- Vì sao có hoang mạc ở những nơi đó

Bước 2: Đưa ra câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét:

- So sánh diện tích của hoang mạc với diện tích đất nổi trên bề mặt Trái Đất?

- Các hoang mạc thường phân bố ở đâu?

- Kể tên một số hoang mạc?

- Nguyên nhân hình thành hoang mạc?

Bước 3: Sau khi xem đoạn video và trả lời các câu hỏi, học sinh sẽ có biểu tượng rõ ràng về sự phân bố của hoang mạc trên thế giới, từ đó giáo viên kết luận được kiến thức cần đạt là:

- Hoang mạc chiếm diện tích khá lớn trên bề mặt Trái Đất

- Phần lớn các hoang mạc nằm dọc theo hai chí tuyến hoặc giữa lục địa Á-Âu

- Các hoang mạc trên thế giới: Xa-ha-ra, Gô-bi, Ca-la-ha-ri,

Từ đó học sinh tìm được mối quan hệ nhân quả: Ảnh hưởng của hoang mạc tới cảnh quan, sinh vật? Dân cư sống trong các hoang mạc như thế nào?

Hình 1: Ảnh cắt từ video “Cảnh quan hoang mạc”.

Cảnh quan: Cồn cát, hoặc sỏi, đá; sinh vật (động, thực vật nghèo nàn) và con người sống trong hoang mạc thưa thớt (chủ yếu sống trong các ốc đảo)

Sau khi tìm hiểu được đặc điểm khí hậu giáo viên yêu cầu học sinh dự đoán xem Việt Nam chúng ta có hoang mạc không? Là học sinh chúng ta cần làm gì để bảo vệ môi trường và hạn chế hoang mạc hóa? Sau đó giáo viên kết luận qua một đoạn video nói về hiện tượng hoang mạc hóa ở nước ta hiện nay

Sử dụng video để hình thành các khái niệm địa lí.

Trang 10

Việc hình thành khái niệm địa lí là cơ sở của hoạt động tư duy, là nguyên liệu cơ bản xây dựng quá trình nhận thức

Ở mục 2: Sự thích nghi của thực, động vật với môi trường Giáo viên

cho học sinh xem video “Sự thích nghi của thực, động vật với môi trường hoang

mạc” Để học sinh biết được thực vật, động vật trong hoang mạc sinh tồn bằng

cách nào? Theo các bước:

Hình 2: Một số hình ảnh được cắt từ video“Sự thích nghi của thực vật,động vật

môi trường hoang mạc”.

Bước 1: Hướng dẫn học sinh thu nhận thông tin từ video Những thông tin học sinh có thể quan sát trong video là: Trong hoang mạc có những loài động vật, thực vật nào? Động vật, thực vật trong các hoang mạc là khác nhau

Bước 2: Đưa ra câu hỏi hướng học sinh vào nội dung kiến thức bài học như: Động vật, thực vật đã thích nghi với môi trường hoang mạc bằng cách nào?

Bước 3: Học sinh sau khi trả lời thì giáo viên kết luận thực vật, động vật trong hoang mạc thích nghi với môi trường:

- Tự hạn chế sự mất hơi nước

- Tăng cường dự trữ nước và chất dinh dưỡng trong cơ thể

Bằng cách dạy này sau tiết học tôi nhận thấy học sinh đã thay đổi thái độ với môn học, không khí tiết học thoải mái, có sự mong chờ giờ học tiếp theo

Hoặc khi dạy Tiết 21 và 22 - Bài 21: MÔI TRƯỜNG ĐỚI LẠNH Sau khi dạy xong nội dung của mục 1: Đặc điểm của môi trường ở phần

liên hệ về biến đổi khí hậu dẫn tới băng ở hai vùng cực tan chảy giáo viên cho

học sinh xem đoạn video “Băng hai cực tan chảy ảnh hưởng như thế nào tới

Trái Đất”

Ngày đăng: 09/06/2021, 12:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w