1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số giải pháp tạo hứng thú trong giờ học tiếng việt cho học sinh lớp 6 ở trường THCS ngọc khê

22 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 418,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGỌC LẶCSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS... Vì vậy, tôi xin mạnh dạn đưa ra “Một số

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGỌC LẶC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 2

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3.2 Tạo hứng thú trong khâu phân tích ngữ liệu 82.3.3 Tạo hứng thú trong khâu làm bài tập nhanh 11

2.3.5.Tạo hứng thú trong khâu củng cố bài học 15

Trang 4

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học cóvai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn, không những cung cho học sinhnhững kiến thức cơ bản về Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn mà còn rènluyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tạo lập văn bản Khác với các mônhọc khác, môn Ngữ văn gồm có ba phân môn đó là: Văn - Tiếng Việt - Tập làmvăn Trong ba phân môn, thì phân môn Tiếng Việt có chức năng công cụ, hỗ trợđắc lực trong việc học tập hai phân môn còn lại là Văn (đọc – hiểu) và Tập làmvăn

Phân môn Tiếng Việt tuy chiếm một dung lượng vừa phải nhưng lại có vịtrí quan trọng đáng kể cần được quan tâm Bởi chức năng của Tiếng Việt là cungcấp cho học sinh những tri thức cơ bản, khoa học và hữu ích về cách dùng từ,đăt câu; cách lựa chọn diễn đạt chính xác, khoa học và gợi cảm Học Tiếng Việt,học sinh biết sử dụng từ ngữ đúng đến hay trong giao tiếp (nói, viết) hằng ngày;nhờ học tiếng việt giúp học sinh nắm chắc các quy tắc dùng từ, đặt câu, hộithoai… Từ đó để phân tích cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương Cũng nhờnắm được quy tắc dùng từ, đặt câu, các hình thức hội thoại, các phép tu từ… nênhọc sinh học phần Tập làm văn hiệu quả tốt hơn, biết dùng cách từ, đặt câu vàhình thành văn bản Bởi vậy, có thể nói, muốn dạy tốt, học tốt môn Ngữ văntrước hết cần dạy tốt, học tốt phân môn Tiếng Việt

Môn Tiếng Việt có đặc trưng cơ bản của nó, đó là tính khách quan, khoahọc Khác với hai phân môn còn lại, Tập làm văn hướng đến thực hành; Văn(đọc – hiểu) hướng đến cảm – hiểu – rung động sâu sắc với cảm xúc trong tácphẩm, thì Tiếng Việt mang một thiên hướng khác là ngắn gọn, rõ ràng, chínhxác, đòi hỏi phương pháp đặc trưng là qui nạp – thực hành Bởi vậy, đôi lúctrong dạy và học Tiếng Việt, cả người học và người dạy đều có cảm giác nhàmchán, khô khan, cứng nhắc Học sinh không mấy hứng thú với môn học, dẫn đếnchất lượng học môn Ngữ văn chưa cao Vậy làm thế nào để khắc phục đượcnhững hạn chế nêu trên? Làm thế nào để tạo một không khí thoải mái, linh hoạt

và hấp dẫn trong giờ học Tiếng Việt là vấn đề khiến tôi luôn trăn trở và không

ngừng tìm tòi, nghiên cứu Vì vậy, tôi xin mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp

tạo hứng thú trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 6 ở Trường THCS Ngọc Khê”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài này nhằm giúp nâng cao chất học tập phânmôn Tiếng Việt cho học sinh Học sinh nắm vững, hiểu sâu những kiến thứcTiếng Việt trong từng bài học, từ đó nâng cao chất lượng học tập bộ môn, đồngthời tạo cho học sinh một tâm lí học tập thoải mái, hứng thú, khơi gợi tình yêuvăn học

Bên cạnh đó, việc giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, cũng là cơ hội

để giáo viên tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghệm Đó cũng là một hình thức tự

Trang 5

học tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,toàn diện của ngành giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng dạy học mônNgữ văn nói riêng.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các giải pháp cụ thể tạo hứng thútrong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 6 (Lớp: 6A1, 6A2) tại Trường THCSNgọc Khê

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này tôi đã áp dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

- Phương pháp thưc tiễn

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

+ Phương pháp thu thập xử lí thông tin

+ Phương pháp thống kê

+ Phương pháp dạy học thực nghiệm trên lớp

+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận

Đất nước ta đã và đang trên đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa,vấn đề chất lượng nguồn lực con người là vấn đề rất cần được quan tâm Đào tạocon người có đạo đức, có tri thức là nhiệm vụ của ngành giáo dục Trong sự đổimới căn bản, toàn diện giáo dục, thì đổi mới phương pháp dạy học là một trongnhững yêu cầu cấp thiết

Phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đếnchất lượng đào tạo Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện

để giáo viên và người học phát huy hết khả năng trong việc truyền đạt tri thức,lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Phương pháp giảng dạy khoa học sẽ làmthay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo hứng thú, say mê và sáng tạo củangười học

Hứng thú là một trong những yếu tố cần thiết trong công việc nói chung,trong học tập nói riêng Nhà văn M Gorki đã từng khẳng định: “Thiên tài chỉnảy nở từ tình yêu đối với công việc” Đối với học sinh lớp 6 thì hứng thú lạicàng có ý nghĩa hơn, bởi các em còn mang nhiều nét tư duy của học sinh Tiểuhọc – kiểu tư suy hình tượng Cách suy nghĩ của các em còn đơn giản, nên việc

tự học, tự khám phá, chủ động và tích cực trong học tập là không dễ, nhất là khicác em thiếu đi sự hứng thú Tạo hứng thú trong học tập đồng nghĩa với việc tạođộng lực, sự thúc đẩy mạnh mẽ từ bên trong để các em tiếp thu bài hiệu quả hơn

Đối với phân môn Tiếng Việt, nội dung bài học là những ngữ liệu gồm cáccâu văn, đoạn văn rời rạc, những khái niệm mang tính khoa học, trừu tượng,khô khan, thì việc tạo ra hứng thú trong học tập trong giờ lại cần hơn bao giờhết Có hứng thú, người dạy sẽ đi con đường ngắn nhất để giúp học sinh lĩnh hộitri thức; người học sẽ chủ động khám phá, tiếp nhận kiến thức một cách nhẹnhàng và nhanh nhất

Trang 6

Từ những cơ sở trên, tôi nhận thấy việc tìm các giải pháp tạo hứng thúcho học sinh trong giờ học Tiếng Việt lớp 6 là rất cần thiết.

2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Về phía người dạy

Do đặc trưng môn học, một số giáo viên thường có tâm lí chủ quan đốivới phân môn Tiếng Việt, cho rằng đây là môn học tương đối dễ dạy, dễ học, nênkhông thật sự đầu tư, chú trọng vào sự đổi mới phương pháp Cho nên, giờ dạyTiếng Việt thường rập khuôn theo một công thức có sẵn: từ ngữ liệu (trong sáchgiáo khoa) rút ra khái niệm, bài học; từ bài học đến lấy ví dụ và thực hành Bởivậy hiệu quả dạy và học Tiếng Việt đôi khi chưa được như mong muốn Nănglực thực sự của người dạy, người học chưa được phát huy một cách tối đa

Việc đầu tư, làm mới giờ học, tạo hứng thú học tập cho học sinh đòi hỏinhiều công phu, mất nhiều thời gian, công sức Và không phải giáo viên nàocũng dày công tâm huyết chuẩn bị

Việc khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh cần phải sử dụng linh hoạtcác phương pháp và hoạt động dạy học Làm thế nào để không phá vỡ mạchkiến thức là yêu cầu không dễ với các giáo viên dạy văn

2.2.2 Về phía học sinh

Học sinh lớp 6 tuổi còn nhỏ, đa số các em ngoan, biết vâng lời Tuy nhiên,

do mới bước ra từ ngôi trường Tiểu học nên còn nhiều bỡ ngỡ Các em đangtrong giai đoạn làm quen với trường mới, thầy cô, bạn bè mới; làm quen vớicách đánh giá, giao tiếp cùng thầy cô trong tiết học; làm quen với các bộ môn

mà các em chưa từng biết Vừa học vừa làm quen với nhiều điều mới lạ khiếncác em không khỏi lúng túng Điều này ảnh hướng ít nhiều tới tâm lí các em

Không những thế, việc thay đổi phương pháp học tập bộ môn ở cấp Trunghọc cơ sở (THCS) so với Tiểu học, cũng là khó với học sinh lớp 6 Các em sẽphải phát huy tính tự giác cao hơn, chủ động trong lĩnh hội kiến thức Thầy côchỉ là người định hướng, hướng dẫn, còn học sinh phải tự học, tự nghiên cứu Đểhọc sinh làm quen và thực hiện tốt phương pháp học tập mới, không thể trongngày một, ngày hai, mà có khi phải mất vài tháng đến cả năm học

Từ những đặc điểm trên mà tình yêu và hứng thú học tập của học sinh lớp

6 đối với bộ môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng chưa thật

và thậm chí là đáng báo động của học sinh nói chung và học sinh lớp 6 nóiriêng

Điều này thể hiện rất rõ trong kết quả học tập của các em Bản thân tôi đãtiến hành thực hiện khảo sát chất lượng và hứng thú học tập phân môn Tiếng

Trang 7

Việt trước khi chưa vận dụng đề tài vào dạy học ở khối lớp 6 gồm 6A1, 6A2 đơn

vị trường THCS Ngọc Khê năm học 2020-2021

* Kết quả khảo sát chất lượng học phân môn Tiếng Việt của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến:

Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã mạnh dạn đề ra các giải pháp để thay đốisuy nghĩ, tình cảm của các em đối với môn học Nhằm góp phần cải thiện chấtlượng môn Ngữ văn, cụ thể là phân môn Tiếng Việt ở tại đơn vị

2.3 Giải pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học Tiếng Việt lớp 6 ở trường THCS Ngọc Khê.

Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì,nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi Hứng thú được hình thành, duy trì và pháttriển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáoviên Giáo ciên là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành,bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh Hứng thú học tập phải được duy trìtrong tất cả các khâu, các bước của tiến trình một giờ dạy và học

Để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Việt, tôi đã thực hiệncác giải pháp và biện pháp cụ thể sau:

2.3.1.Tạo hứng thú trong khâu khởi động.

Đây là khâu nhiều giáo viên dễ bỏ qua vì xem nhẹ vai trò của nó Khâunày thực hiện tốt sẽ giúp học sinh chuẩn bị sẵn sàng tâm thế cho bài học đồngthời có được hứng thú học tập ngay từ đầu Và cách khởi động hiệu quả, tiếtkiệm thời gian nhất là cách lồng ghép luôn vào kiểm tra bài cũ Tuy nhiên đây làcách không dễ để thực hiện, vì có nhiều bài không hoặc rất ít sự liên kết để liên

hệ Tuy nhiên đây là cách mà nếu làm được sẽ gây được hứng thú với học sinh.Học sinh sẽ có được tâm thế vào bài học tốt và khơi gợi được tâm lí muốn tìm

Trang 8

tòi nội dung bài học Sau đây là một vài hình thức cụ thể trong khâu khởi độngbài mới.

* Khởi động bằng cách tổ chức trò chơi

Trò chơi: Mở ô chữ

Ví dụ: Khi dạy bài Từ mượn (Tiết 15, Ngữ văn 6, học kì 1), tôi đã cho

học sinh chơi như sau:

- Giáo viên trình chiếu ô chữ (nếu có máy), hoặc kẻ sẵn lên bảng phụ các

ô chữ theo hàng ngang, hàng dọc phù hợp với đáp án đã định sẵn

- Giáo viên giới thiệu nội dung và quy luật chơi

Các câu hỏi sẽ cùng xuất hiện một lúc Học sinh sẽ lựa chọn ô hàng ngangbất kì để điền Các câu hỏi như sau:

1 Hàng ngang thứ nhất có 5 chữ cái: Từ chỉ có một tiếng có nghĩa gọilà…(bắt đầu bằng chữ T)

2 Hàng ngang thứ 2 có 6 chữ cái: Từ được tạo bởi hai tiếng đều có nghĩagọi là … (bắt đầu bằng chữ T)

3 Hàng ngang thứ 3 có 8 chữ cái: Tìm một từ láy diễn tả sự rộng lớn, bao

la của không gian? (Bắt đầu bằng chữ m)

4 Hàng ngang thứ 4 có 6 chữ cái: Ôm vật gì đó thật chặt, không chịubuông ra, được diễn tả bằng một từ láy, đó là từ gì? (Bắt đầu bằng chữ K)

5 Hàng ngang thứ 5 có 8 chữ cái: Một từ ghép có hai tiếng, dùng miêu tảmàu da thiếu sức sống, không được hồng hào, không còn tươi tắn (Bắt đầu bằngchữ nh)

6 Hàng ngang thứ 6 có 5 chữ cái: Từ láy diễn tả tiếng khóc nấc lên từnghồi, không kiềm chế được (Bắt đầu bằng chữ n)

Đáp án: lần lượt là Từ đơn, từ ghép, mênh mông, khư khư, nhợt nhạt, nức

nở Ô hàng dọc là Từ mượn.

Sau khi ô hàng dọc xuất hiện, giáo viên dẫn vào bài: Các từ hàng ngang

mà các em vừa tìm ra đều là những từ đọc lên ta hiểu ngay nghĩa của nó Những

từ này do người dân Việt Nam ta sáng tạo ra, gọi là các từ Thuần Việt Vậy còn

cứ

N

Trang 9

“Từ mượn” là những từ như thế nào? Tại sao người ta gọi là từ mượn? Bài họchôm nay chúng ta cùng tìm hiểu nhé!

Với trò chơi này, học sinh không chỉ được ôn lạ kiến thức cũ, mà còn cóhứng thú, tâm lí vui vẻ trước giờ học bài mới

Trò chơi: Thi sáng sác đồng dao

Khi dạy bài Danh từ (Tiết 1, tiết theo PPCT- 41), để tạo sự hấp dẫn, tôi đã

cho học sinh quan sát một bài đồng dao mà tôi đã chuẩn bị sẵn Tôi nhờ một họcsinh đọc bài đồng dao này Nội dung bài đồng dao như sau:

Cào cào có cánh Đòn gánh có mấu

Củ ấu có sừng Bánh chưng có lá Con cá có vây

Ôn thầy có sách Đào ngạch có dao ….

Sau khi nghe bài đồng dao, giáo viên cho học sinh ba tổ thi sáng tác thêmcác câu cho khớp với bài đồng dao này Thời gian khoảng 1 phút 30 giây Sauthời gian trên, thành viên các tổ trình bày phần sáng tác Tổ nào sáng tác đúngvần và được nhiều câu hơn sẽ dành chiến thắng

Học sinh rất thích thú về sự tiếp nối không thể dứt của bài đồng dao này

Từ không khí đó giáo viên gợi dẫn vào bài mới bằng các câu hỏi, như:

- Để sáng tác tiếp các em cần phải có điều kiện gì? (Các em phải nhớ têncác sự vật tiếp theo, càng nhiều càng tốt.)

- Vậy các sự vật được nhắc tới trong bài đồng dao thuộc từ loại nào ta đãhọc ở Tiểu học? (Danh từ)

Như vậy, ngoài việc dùng để gọi tên các sự vật (chức năng định danh), thìdanh từ còn có những đặc điểm nào? Chức năng của chúng trong câu là gì, bàidanh từ mà chúng ta học hôm nay sẽ giúp các em hiểu rõ hơn những điều đó

* Khởi động bằng một bài hát.

Chẳng hạn khi dạy bài Số từ và lượng từ( tiết 50- Ngữ văn 6, kì I), tôi đã nhờ một em trong lớp hát cho cả lớp nghe bài hát Đếm sao Các học sinh khác

vừa nghe vừa quan sát lời bài hát được ghi trên bảng phụ Lời bài hát, trong đó

có đoạn như sau:

Một ông sao sáng, hai ông sáng sao.

Ba ông sao sáng, sáng chiếu môn ánh vàng Bốn ông sáng sao

Kìa năm ông sao sáng Kìa sáu ông sáng sao, trên trời cao.

Đây là bài hát rất quen thuộc mà các em đã được biết từ bậc Tiểu học Saukhi học sinh nghe xong, giáo viên yêu cầu như sau:

- Em hãy cho biết, trong lời của bài hát, có những chữ số nào (gọi là chữ

số vì nó là các số viết dưới dạng chữ, chứ không phải các con số như trong Toánhọc) đã được nhắc tới? (Đó là các số: một, hai, ba, bốn, năm, sáu,…)

Trang 10

- Nếu trong Toán học và một số môn khoa học tự nhiên khác, các con số

sẽ được viết một cách tự nhiên như nó vốn có Ví dụ 1,2,3…và thường dùng đểtính đếm, cộng, trừ, nhân, chia và thường thì nó cũng không biểu thị các ý nghĩasâu xa nào cả Tuy nhiên, trong môn Ngữ văn cũng như trong một số môn nghệthuật khác, thì các con số thường tồn tại dưới hình thức là các chữ hay còn gọi là

từ Chẳng hạn như trong lời bài hát kia, người ta viết “một ông sao”, chứ người

ta không viết là 1 Vậy khi là số từ nó có được dùng để tính đếm như trong Toán

học không, hay dùng để làm gì? Bài học về “Số từ và lượng từ” hôm nay chúng

ta cùng tìm hiểu nhé!

2.3.2 Tạo hứng thú trong khâu phân tích ngữ liệu

Ở khâu này nếu học sinh không chú ý hoặc sự tập trung không tốt thì sẽkhông biết khái niệm sẽ được rút ra như thế nào Sẽ khó cho học sinh nếu phảilấy ví dụ tương tự hoặc vận dụng vào làm bài tập

Đây là khâu dễ gây nhàm chán cho học sinh Nhàm chán có thể từ cáchdẫn dắt của giáo viên, nhàm chán bởi sự quen thuộc của những ngữ liệu đã cósắn trong sách giáo khoa và đôi khi ngữ liệu mà sách giáo khoa cung cấp mớichỉ đáp ứng được yêu cầu tối thiểu là đúng thôi chứ chưa hay chưa hấp dẫn theosuy nghĩ của học sinh Vậy làm sao để tạo được hứng thú, lôi kéo được sự chú ýcủa các em ở khâu này? Theo tôi, các giáo viên nên mạnh dạn làm mới khâu nàytheo hai cách sau đây:

Cách thứ nhất: Giáo viên không nên quá lệ thuộc vào các câu hỏi và tiến

trình mà sách giáo khoa cung cấp Bởi nhiều câu hỏi và tiến trình khai thác kiếnthức mà sách giáo khoa đưa ra, nhiều khi không thật sự phù hợp với tất cả cácđối tượng học sinh Vì vậy giáo viên nên hiểu học sinh của mình và vận dụnglinh hoạt

Chẳng hạn, ở bài Danh từ (tiết 41, Ngữ văn 6 tập 1) Ngay ở yêu cầu đầu

tiên của sách giáo khoa là: Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc Tiểu học, hãy xác định danh từ trong cụm danh từ dưới đây?

Với học sinh lớp 6 Trường THCS Ngọc Khê phần đa các em sẽ không cóhứng thú và không tập trung được vào bài học với yêu cầu này Vì một mặt docâu hỏi có sẵn trong sách, không có gì mới lạ; mặt khác các em còn chưa kịpđịnh hình danh từ là gì, mặc dù các em đã được học Một số em quên do thờigian, còn một số em quên là do chưa bao giờ nhớ Với những em chưa bao giờnhớ, thì khái niệm danh từ là gì sẽ hoàn toàn mới Trong khi đó sách yêu cầungay việc xác định danh từ sẽ là cái khó cho các em

Chính vì vậy, trước khi đưa ra yêu cầu này, giáo viên nên có một yêu cầukhác để, một mặt tạo ra hứng thú, sự khác lạ, đồng thời cho các em biết và nhớlại danh từ là gì Chẳng hạn giáo viên có thể yêu cầu học sinh như sau:

- Em hãy gọi tên những người mà em biết, tên các động vật, thực vật, các vật thể, hiện tượng trong tự nhiên?

Với câu hỏi trên, giáo viên dễ dàng đưa cả lớp vào một hướng tập trungmới lạ Học sinh sẽ tập trung vào trả lời câu hỏi mà quên mất là mình đang học

Từ câu trả lời đơn giản trên, giáo viên cũng dẫn dắt để cả lớp nhớ lại kiến thức

mà các em đã học ở cấp I Vì những sự vật mà các em vừa gọi tên nó ra đó chính

Trang 11

là danh từ Giáo viên gọi một học sinh yếu hoặc kém (nếu có) để trả lời câu hỏinày Vì đây là câu hỏi dễ, cần để cho những em yếu, kém trong lớp có cơ hộiđược tham gia giờ học Khi đã củng cố được kiến thức cũ danh từ là gì, giáoviên mới nêu câu hỏi thứ nhất trong sách giáo khoa.

Cách thứ hai: Giáo viên có thể bổ sung các ngữ liệu và các bước khai

thác ngữ liệu, để bài dạy trở nên phong phú hơn Tôi đã áp dụng các điều đó, cụ

thể trong bài Danh từ (tiết thứ nhất) Mục I của bài Danh từ (Tiết 1) sẽ được thiết

kế như sau:

Hoạt động 1:Hướng dẫn học sinh ôn

lại khái niệm danh từ và tìm hiểu đặc

điểm của danh từ.

- GV đặt câu hỏi để dẫn dắt hs vào bài

? Em hãy gọi tên của những người đang

có mặt trong lớp?

- Học sinh: bạn Trang, bạn Tiên, bạn

Nam,…

? Em hãy kể tên các đồ vật đang có

trong phòng học này, các loài thực vật

mà em nhìn thấy ở sân trường, các động

vật, các hiện tượng của tự nhiên, một

vài khái niệm trong các môn học.(Học

sinh kể)

- GV: Các từ mà các em vừa gọi tên ra

dùng để chỉ người, đồ vật, cây cối, các

hiện tượng, các khái niệm như trên, gọi

là danh từ

? Vậy danh từ là gì, em hãy nhắc lại

khái niệm về danh từ?

- Học sinh: Danh từ là những từ chỉ

người, vật, hiện tượng, khái niệm,

- GV: Ngoài ra danh từ còn dùng để gọi

các yếu tố tình cảm, tinh thần của con

người, như tình yêu, tình mẫu tử, niềm

tự hào, niềm vui, nỗi buồn,…

? Vậy danh từ có đặc điểm gì? Ta sang

phần hai nhỏ, đặc điểm của danh từ

- GV: Cho học sinh quan sát ví dụ trên

bảng phụ, đồng thời yêu cầu một HS

đọc to, cả lớp theo dõi

? Trong các từ in đậm đã cho, em hãy

cho biết, từ nào là danh từ? (Học sinh:

I Đặc diểm của danh từ

1 Khái niệm danh từ:

- Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm,…

2 Đặc điểm của danh từ.

Ngày đăng: 09/06/2021, 12:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w