giải pháp phát triển dịch vụ, thanh toán xuất khẩu giầy dép, phát triển dịch vụ sau bán, giải pháp phát triển thị trường, giải pháp nâng cao hiệu quả, nâng cao chất lượng buồng phòng
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐÔ THỊ VIỆT NAM – VINACITY”
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Lãi suất - một biến số quan trọng được theo dõi chặt chẽ trong nền kinh tế Lãisuất trong những năm qua có nhiều biến động phức tạp, những biến động của lãi suất đãảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt động, lợi íchcủa các doanh nghiệp nói riêng Lãi suất là một trong những phạm trù trung tâm của nềnkinh tế tác động đến chi phí sản xuất, quyết định tổng mức đầu tư và tổng cầu tiền tệ Từviệc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lãi suất, thấy rõ tầm quan trọng của lãi suất, từ
đó vận dụng thực tiễn vào Việt Nam nhận thấy lãi suất được điểu hành dưới hình thứccác chính sách lãi suất Tùy vào từng thời điểm nhất định thì lãi suất cần phải được điềuchỉnh một cách linh hoạt để đảm bảo có thể kích thích tăng trưởng kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, việc đầu tư phát triển là việc làm tất yếu đối với cácdoanh nghiệp Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường là đầu tư, sử dụngcác nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường Mục đích hoạtđộng của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường là đạt được hiệu quả cao nhất có thể mộtcách lâu bền Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh nhữnglợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp với các phần nguồn lực huy động, sửdụng (chi phí) cho các lợi ích đó Để tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng nhưhạn chế được những rủi ro gặp phải khi lãi suất liên tục biến động đòi hỏi phải có sựnghiên cứu kỹ lưỡng và hoạch định chiến lược mục tiêu rõ ràng, các doanh nghiệp phảinhạy cảm trước tình hình biến đổi thất thường của lãi suất
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity,qua sự tìm hiểu điều tra, phỏng vấn các chuyên gia tại doanh nghiệp cũng như ngoàidoanh nghiệp thì phần lớn ý kiến cho rằng lãi suất có ảnh hưởng đến hiệu quả của cáchoạt động tại doanh nghiệp Với đề tài nghiên cứu “Phân tích tác động của chính sách lãisuất tới hoạt động đầu tư của công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity” có thểgiúp hiểu thêm những tác động của chính sách lãi suất đến hoạt động đầu tư của doanhnghiệp Qua đó có thể đưa ra các giải pháp hạn chế tác động của lãi suất đến doanh
Trang 2nghiệp, để phần nào giúp doanh nghiệp có thể đối phó với những biến động phức tạp củalãi suất nhằm đảm bảo hoạt động của công ty được ổn định trong tương lai.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong để tài
Đề tài nghiên cứu giúp hiểu được những vấn đề: Thứ nhất là thực trạng biến độnglãi suất ở Việt Nam? Thứ hai là chính sách lãi suất tác động như thế nào đến hoạt độngđầu tư của doanh nghiệp? Thứ ba là những giải pháp nào hạn chế tác động của chính sáchlãi suất đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp?
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Khái quát về thực trạng lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua, cụ thể là từ năm
2007 đến nay Qua đó đánh giá, phân tích những tác động của chính sách lãi suất đến nềnkinh tế nói chung và đến công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity nói riêng
Qua việc phân tích các tác động của chính sách lãi suất có thể đưa ra một số kiếnnghị, đề xuất các giải pháp hạn chế tác động của chính sách lãi suất đến hoạt động đầu tưcủa doanh nghiệp
Bên cạnh những giải pháp được đề xuất cũng nên hoàn thiện những giải pháp cósẵn của doanh nghiệp nhằm tạo ra các giải pháp tối ưu nhất phục vụ cho vấn đề nghiêncứu
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Chủ đề nghiên cứu : tác động của chính sách lãi suất đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và những biện pháp hạn chế những tác động đó
Đối tuợng nghiên cứu : Công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam - Vinacity
Phạm vi nghiên cứu : Địa bàn Hà Nội
Thời gian nghiên cứu : Từ năm 2008 đến nay
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Một số khái niệm cơ bản
1.5.1.1 Khái niệm lãi suất
Khái niệm
Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến các phạm trùkinh tế khác, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn) với chủthể sở hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi ở thịtrường vốn ở một thời điểm nhất định Nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền được
Trang 3sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.Lãi suất được sinh ra là bởi người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinhlợi của mình (trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng) trong khi người chovay đã hi sinh quyền đó Đánh đổi cho sự hi sinh quyền được sử dụng tiền tệ ngày hômnay của người cho vay chính là lãi suất.
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của nhà nước nhằmđiều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh củacác đơn vị kinh tế
Phân loại lãi suất
Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất được phân loại:
- Lãi suất thương mại: Áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hìnhthức mua bán chịu hàng hóa
- Lãi suất tiền gửi: Là lãi suất được trả cho các khoản tiền gửi của người đi vay
- Lãi suất tiền vay: Là lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng do việc sửdụng vốn vay của ngân hàng
- Lãi suất chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thứcchiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn thanh toán củakhách hàng, được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá trị và đượckhấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng
- Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng trung ương tái cấp vốn cho cácngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hay các giấy tờ cógiá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán cho các ngân hàng, được tính bằng tỷ lệ phần trămtrên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung ươngcấp vốn tiền vay cho Ngân hàng
- Lãi suất liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay trên thịtrường liên ngân hàng
- Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở ổn định mứclãi suất kinh doanh của mình
Trang 4 Phân loại theo giá trị thực của tiền lãi
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ hay nóicách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát
- Lãi suất thực: Là lãi suất điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạmphát Nói cách khác, lãi suất thực là loại lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát
Quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa được phản ánh bằng phương
trình Fisher : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
1.5.1.2 Khái niệm đầu tư
Khái niệm
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt độngnào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu
tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tưphải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Các nguồn lực phải hy sinh cho hoạt động đầu tư cóthể là tiền , tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ của con người
Phân loại đầu tư
Theo tính chất
- Các việc đầu tư hữu hình, vào tài sản vật lý (đất, bất động sản, máy móc, thiết bị )
- Các việc đầu tư vô hình là việc đầu tư chưa thấy ngay hoặc chưa thấy rõ hiệuquả (bằng sáng chế, chi tiêu về nghiên cứu, phát triển, đào tạo )
- Các việc đầu tư về tài chính (phát hành các loại chứng khoán tham gia góp vốn)
Theo mục đích
- Các việc đầu tư để đổi mới nhằm duy trì năng lực sản xuất nhất định
- Các việc đầu tư để hiện đại hóa hay thay thế nhằm tăng sản xuất, chống hao mòn
vô hình
- Các việc đầu tư “chiến lược”, không thể trực tiếp đo lường ngay hiệu quả, có thểgắn với nghiên cứu phát triển, với hình ảnh nhãn hiệu, với đào tạo và “chất lượng cuộcsống”, bảo vệ môi trường
Trang 5 Theo nội dung kinh tế
- Đầu tư vào lực lượng lao động (đầu tư phát triển nhân lực) nhằm mục đích tăng
cả về số lượng và chất lượng lao động
- Đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo hoặc nâng cao mức độ hiện đại tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp, như việc xây dựng mới nhà xưởng, đầu tư cho máy móc thiết bị, côngnghệ
- Đầu tư vào tài sản lưu động (tạo nguồn vốn lưu động để đáp ứng nhu cầu vốnlưu động) nhằm đảm bảo sự hoạt động liên tục, nhịp nhàng của quá trình kinh doanh, nhưđầu tư vào công cụ lao động nhỏ, nguyên nhiên vật liệu, tiền tệ để phục vụ quá trình kinhdoanh
Theo phạm vi
- Đầu tư bên ngoài là các hoạt động đầu tư phát sinh khi doanh nghiệp mua tráiphiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác với mục đíchsinh lời
- Đầu tư bên trong là những khoản đầu tư để mua sắm các yếu tố của quá trìnhsản xuất (tài sản cố định, tài sản lưu động, phát triển con người )
Theo thời đoạn kế hoạch
- Đầu tư ngắn hạn (đáp ứng lợi ích trước mắt)
- Đầu tư trung hạn (đáp ứng lợi ích trung hạn)
- Đầu tư dài hạn (đáp ứng các lợi ích dài hạn và đón đầu tình thế chiến lược)
1.5.1.3 Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư
Lượng cầu về hãng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất, để có một dự án đầu tư có lãi,lợi nhuận thu được phải cao hơn chi phí Vì lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ chođầu tư, việc tăng lãi suất làm giảm số lượng dự án đầu tư có lãi, bởi vậy nhu cầu về hãngđầu tư giảm do đó đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất
Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận địnhđầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải là lãi suất danh nghĩa Mối quan hệgiữa lãi suất thực tế (r) và đầu tư có thể biểu thị bằng phương trình sau: I = I(r)
Trang 6Phương trình này hàm ý đầu tư phụ thuộc vào lãi suất
Hình 1 – Mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất
Đồ thị biểu thị hàm đầu tư, nó dốc xuống vì khi lãi suất tăng lượng cầu về đầu tưgiảm Nếu mối quan hệ này bị vi phạm lợi ích của người đi vay sản xuất không được giảiquyết thỏa đáng sẽ làm giảm ý muốn đầu tư sản xuất, không mở rộng được quy mô, tốc
độ phát triển của nền kinh tế Đồng thời người ta thích gửi tiền hơn và hình thành một lớpngười thực lợi, sống vào lãi suất tiết kiệm
1.5.2 Phân định nội dung nghiên cứu
1.5.2.1 Vai trò của lãi suất đối với sự phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của lãi suất hết sức mờ nhạt
và lệ thuộc nhiều yếu tố Nhiều khi được hiểu như là một sự phân phối cuối cùng của sảnphẩm giữa người đi vay và người cho vay Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường, lãi suất đã giữ một vai trò hết sức quan trọng, tác động đến tất cả lĩnh vực của nềnkinh tế
Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư
I = I(r)
0 Lượng đầu tư
I r
Trang 7Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết kiệmcủa các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế Theo lýthuyết tài chính ta có phương trình về thu nhập như sau: Thu Nhập = Tiết Kiệm + Tiêudùng Như vậy, lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia tỷ lệ giữa tiêu dùng
và tiết kiệm
Khuyến khích đầu tư: Nhà nước có chính sách nhằm khuyến khích người dân
tiết kiệm nhiều hơn làm dịch chuyển đường cung về vốn vay sang phải từ S1 đang S2 Kếtquả làm lãi suất cân bằng giảm, lãi suất thấp hơn kích thích đầu tư
Hình 2 – Lãi suất khuyến khích đầu tư
Khuyến khích tiết kiệm: Nếu thuế đầu tư giảm kích thích các doanh nghiệp đầu
tư nhiều hơn Thì cầu về vốn vay sẽ tăng Kết quả làm lãi suất cân bằng tăng, lãi suất caohơn kích thích tiết kiệm
S2
D
i1
↓
i2
Trang 8Hình 3 – Lãi suất khuyến khích tiết kiệm
Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước nhằmđiều tiết lưu thông tiền tệ, kích thích và điều hướng hoạt động sản xuất kinh doanh củacác đơn vị kinh tế Lãi suất phải trả cho các khoản vay là chi phí của doanh nghiệp Dovậy, lãi suất thấp sẽ khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh vay vốn đầu tư mở rộng sảnxuất và ngược lại lãi suất cao sẽ khiến doanh nghiệp hạn chế vay vốn đầu tư Lãi suất làcông cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các Doanh nghiệp đầu tư vào các ngành sảnxuất các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế thông qua các ưu đãi vềlãi suất, về điều kiện cung cấp tín dụng và thời hạn thanh toán
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Lãi suất là khoản chi phí của người đi vay, nên sự thay đổi của lãi suất sẽ ảnhhưởng tới quyết định đầu tư và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp và các thành phầnkinh tế Do đó có thể tác động đến mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô:
Ví dụ điển hình là trong điều kiện nền kinh tế rơi vào tình trạng phát triển quánóng Muốn kiềm chế được tình trạng này, nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ và chínhsách tài khoá thắt chặt, trong đó có sự điều chỉnh linh hoạt mức lãi suất làm giảm hoạtđộng chi tiêu và đầu tư của các thành phần trong nền kinh tế
D1
S
0
Lãi suất
Trang 9Hình 4 – Sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và tiền tệ chặt
Lãi suất cao→ giảm thiểu đầu tư, hạn chế tiêu dùng→ giảm tổng cầu→ sản lượnggiảm, giá giảm, thất nghiệp tăng→ đồng nội tệ có xu hướng tăng so với ngoại tệ
Khi cần thúc đẩy hơn nữa các hoạt động đầu tư, tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởngnền kinh tế, thì việc điều chỉnh giảm lãi suất được xem như là một công cụ hữu:
Hình 5 – Sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và tiền tệ lỏng
Lãi suất thấp→ kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng→ tăng tổng cầu→ sảnlượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→ đồng nội tệ có xu hướng giảm so với ngoại tệ
Trang 10Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt độngkinh tế phát triển Tương tự, NHNN có thể tăng lãi suất khi muốn thực hiện chính sáchthắt chặt tiền tệ, giảm bớt lượng khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng hoạt động sảnxuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng.
Lãi suất là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng triệt để các nguồn lực của nền kinh tế.
Khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển một ngành nghề quan trọng nào đótrong nền kinh tế, Nhà nước có thể thực hiện bằng cách ưu đãi về lãi suất cho vay (nhưgiảm lãi suất cho vay ), và ngược lại khi muốn hạn chế phát triển của các ngành chưacần thiết để dành nguồn lực cho các ngành khác thì Nhà nước có thể tăng lãi suất cho vaycủa ngành đó Như vậy, những ngành được hỗ trợ sẽ phát triển hơn còn các ngành bị hạnchế sẽ ít phát triển hơn Do đó chính sách lãi suất là một công cụ để phân phối cơ cấu củanền kinh tế nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực
Lãi suất là công cụ đo lường nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn phát triển thì lãi suất thường có xu hướng tăng
do cung cầu quỹ cho vay đều tăng, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc
độ tăng của cung quỹ cho vay Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái lãi suất thường có xuhướng giảm Do đó khi nhìn vào sự biến động của lãi suất ta có thể thấy được tình trạngcủa nền kinh tế Lãi suất lại là một biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế.Căn cứ vào sự biên động của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố khác của nềnkinh tế như tính sinh lời của các dự án đầu tư, mức độ lạm phát, mức độ thiếu hụt ngânsách và qua đó còn có thể dự báo được tình hình nền kinh tế trong tương lai
1.5.2.2 Vai trò của hoạt động đầu tư.
Tác động của đầu tư trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
Đầu tư tác động đến tổng cung, tác động đến tổng cầu: đầu tư là một yếu tố chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu Ngân hàng thế giới, đầu
tư thường chiếm khoảng 24% - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tổng cầu của tất cả cácnước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn Với tổng cung chưakịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng
Trang 11Hình 6 – Tác động đầu tư đến tổng cầu
Khi đầu tư có hiệu quả, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt
là tổng cung dài hạn tăng lên
Trang 12Hình 7 – Tác động của đầu tư tới tổng cung
Đầu tư tác động đến các cơ sở sản xuất kinh doanh
Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định dến cả sự ra đời, tồn tại
và phát triển của mỗi cơ sở Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra đời của bất kì
cơ sở nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết
bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phíkhác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa đượctạo tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sản xuất kinhdoanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kĩ thuật củacác cơ sở này đã hao mòn, hư hoảng Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định
kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sựphát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắmcác trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư
1.5.2.3 Tác động của lãi suất đến đầu tư của công ty cổ phần.
Công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity chuyên cung cấp các thiết bị,vật tư ngành xây dựng Để có được các mặt hàng tốt nhất phục vụ hoạt động kinh doanhcần phải có sự kiểm định chất lượng một cách kỹ lưỡng Việc đầu tư thu mua hàng hóacần phải có nguồn cung ứng và chịu sự tác động trực tiếp của sự thay đổi giá cả từng mặthàng Việc lựa chọn lượng vốn vay và thời điểm vay vốn hợp lý là yêu cầu rất quantrọng Vì trên thị trường tiêu thụ luôn có nhiều biến động về nhu cầu tiêu dùng của kháchhàng nên các sản phẩm hàng hóa kinh doanh của công ty phải luôn đảm bảo được chấtlượng Với việc đầu tư của doanh nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thìcần phải có một nguồn vốn khá lớn và yếu tố lãi suất tác động không nhỏ đến các quyếtđịnh trong việc đầu tư của doanh nghiệp Do sản phẩm có giá trị tương đối cao và khốilượng sản phẩm kinh doanh khá lớn đòi hỏi việc chọn khối lượng tiền vay và thời hạn trảlãi phù hợp giúp cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách ổn định và đảm bảo đượcnguồn cung ứng
Trên địa bàn Hà Nội, công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity là mộtcông ty thiết kế, tư vấn xây dựng nên việc ung ứng các sản phẩm hàng hóa thuộc ngànhxây dựng cũng trở nên dễ dàng hơn Với uy tín nhiều năm của công ty nên công ty có lợithế cạnh tranh cao trong ngành này, và nhận được nhiều hợp đồng có giá trị kinh tế cao.Với đặc điểm là một công ty có quy mô tương đối lớn, với đa dạng các chủng loại sản
Trang 13phẩm và dịch vụ thì công ty cần phải tính toán hợp lý hoạt động vay vốn sao cho phùhợp với thời điểm vay và mức lãi suất vay tại thời điểm vay vốn.
Trang 14CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐỀN HOẠT DỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐÔ THỊ
VIỆT NAM – VINACITY 2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề
2.1.1 Phương pháp thu nhập dữ liệu
Đề tài nghiên cứu tác động của chính sách lãi suất tới hoạt động đầu tư của công ty
cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam – Vinacity, đây là đề một đề tài mang tính thức tiễn cao
và để đạt được hiệu quả và tận dụng được tính ưu việt của các phương pháp đòi hỏi phải
có sự kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Vì vậy phương phápđược sử dụng để thu thập số liệu là:
- Thu thập số liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra trắc nghiệm, phỏng vấn các cán
bộ trong công ty để tìm hiểu tổng quan và chuyên sâu tình hình kinh doanh của công ty
- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các thống kê, tài liệu nghiên cứu trước, cácquyết định, nghị định thông tư của chính phủ về vấn đề lãi suất
- Thu thập dữ liệu qua báo cáo kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty
2.1.2 Phương pháp xử lý, phân tích tổng hợp số liệu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu sau:
- Phương pháp thống kê: xác định mức thay đổi, biến động ở mức tuyệt đối vàtương đối các chỉ tiêu cần phân tích
- Phương pháp phân tích dữ liệu thông qua bảng biểu, hình vẽ mô tả các chỉ tiêucần phân tích
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê và phân tích để đánh giá thực trạng tác độngcủa chính sách lãi suất tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp như thế nào, trên cơ sở đóđưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm năng gặp phải do những tác động xấu và
đề xuất, kiến nghị, định hướng đầu tư cho doanh nghiệp Bên cạnh đó chuyên đề còn sửdụng phương pháp điều tra phỏng vấn, trắc nghiệm để đưa ra được những giải pháp hiệuquả nhất Đối tượng phỏng vấn là cán bộ công nhân viên, các cấp lãnh đạo trực tiếp làmviệc và nghiên cứu sự ảnh hưởng của lãi suất Tất cả các ý kiến, nhận định được tổng hợplại và làm cơ sở phân tích đánh giá
Trang 152.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường.
2.2.1 Thực trạng tình hình biến động lãi suất từ 2007 đến nay ở nước ta.
Năm 2008 là một năm đáng buồn với toàn bộ nền kinh tế thế giới, đây được coi lànăm kinh tế tồi tệ nhất trong vòng 70 năm qua kể từ sau cuộc đại suy thoái những năm 30
thế kỷ trước Trong bối cảnh đó, Việt Nam - một đất nước đang ở thời kỳ đầu hội nhập
với nền kinh tế thế giới, dù chưa phải đón nhận một con số tăng trưởng âm của nền kinh
tế nhưng cũng phải gồng mình chống đỡ vô số những sức ép, khó khăn Bên cạnh đó,mặc dù tỷ giá trị đồng Đôla Mỹ liên tục mất giá trên thị trường quốc tế nhưng giá Đôlathị trường tự do vẫn có lúc tăng một cách đáng ngại, thêm đó là sự khó khăn của các nềnkinh tế bên ngoài khiến cho việc xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, tổng giá trị xuấtnhập khẩu giảm đáng kể so với năm 2007 Việc chỉ số lạm phát luôn duy trì trên 1% saumỗi tháng và đạt tới khoảng 22% cho cả năm 2008 thực sự là một con số đáng báo độngcho toàn nền kinh tế, đe dọa nghiêm trọng khả năng hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng
mà Đảng và Nhà nước đã đề ra do những tác động trực tiếp tới tổng cung tiền tệ, giá vốn,kim ngạch xuất nhập khẩu, giá cả tiêu dung, cũng như tâm lý e ngại đầu tư
Trước tình hình trên, NHTW với tư cách là một thành viên quan trọng của chínhphủ đã có những sự điều chỉnh thích hợp, đúng lúc giúp chặn đứng lạm phát, đưa đấtnước từng bước vững chắc thoát ra khỏi khó khăn, giữ vững đà tăng trưởng Điểm nhấn
cụ thể nhất trong giai đoạn này là sự điều chỉnh liên tục, kịp thời, luôn theo sát mọi diễnbiến của thị trường tiền tệ Cụ thể, chỉ trong một thời gian trở lại đây, NHTW đã liên tụcthay đổi lãi suất cơ bản từ mức 8,25%/năm ngày 01/01/2008 lên tới mức cao nhất14%/năm ngày 11/06/2008 và bắt đầu hạ dần từ ngày 21/10/2008 xuống 11%/năm Trongnăm 2009 lãi suất biến động không đáng kể, lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 7%/năm
Từ ngày 1/12/2009, lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng
từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm
Bảng 1 – Bảng thống kê sự thay đổi lãi suất của NHNN năm 2008-2009
Trang 16Lãi suất cơbản
Lãi suất táichiết khấu
Lãi suất táicấp vốn
Lãi suất thịtrường mở
Lãi suất liênngân hàng
Những tháng đầu năm 2011, theo NHNN, trung tuần tháng 3/2011, lãi suất huyđộng VND của tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 13,5%-14%/năm Lãi suất cho vay VNDvới lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn, xuất khẩu là 14,5%/năm; lĩnh vực sản xuất kinhdoanh là 16%-18%/năm; phi sản xuất là 18%-22%/năm
Trang 17Chính sách lãi suất như hiện nay chưa khuyến khích được các tổ chức tín dụng chovay trung hạn và dài hạn Thực tế cho thấy, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng rất lớntrong tổng số nguồn vốn cho vay của các ngân hàng Do đó các dự án đầu tư trung hạn vàdài hạn thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ ngân hàng Và vớiviệc duy trì lãi suất như hiện nay sẽ dẫn đến sự lên giá của nội tệ, điều này sẽ hấp dẫn cácluồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước Nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suấtngoại tệ sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư sẽ chuyển hóa lượng ngoại tệ sang đồng nội tế đểhưởng lãi suất cao hơn Điều này làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường và đồng ngoại tệ
có xu hướng giảm giá trên thị trường Qua đó làm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu làmcho cán cân thương mại có nguy cơ thâm hụt
2.2.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoạt động đầu tư của công ty.
2.2.2.1 Môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lí bao gồm các luật và các văn bản dưới luật Mọi quy định vềkinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Môi trườngpháp lí tạo ra sân chơi để các doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động kinh doanh, vừacạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau Mọi định hướng, mục tiêu của doanh nghiệp khi đưa rađều dựa trên cơ sở các luật định của Nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động dưới sự địnhhướng của Nhà nước thông qua các luật định Do vậy, hoạt động đầu tư của doanh nghiệptrong mỗi thời kì hoạt động nên dựa trên quy định của các văn bản pháp luật, tuỳ theođịnh hướng phát triển kinh tế của đất nước để đề ra phương hướng cho đầu tư của doanhnghiệp mình
Môi trường kinh tế
Các nhân tố kinh tế có vai trò quyết định trong việc hoàn thiện môi trường kinhdoanh và ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Môi trường kinh tế là mộtnhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói chung
và hoạt động đầu tư nói riêng Môi trường kinh tế vừa tạo ra các cơ hội phát triển cho cácdoanh nghiệp, vừa có thể là nhân tố đầu tiên và chủ yếu trong việc chấm dứt hoạt độngcủa doanh nghiệp nếu định hướng và hoạt động của doanh nghiệp không tuân theo quyluật phát triển của nó Đây chính là nhân tố tác động trực tiếp nhất đến định hướng kinhdoanh và phát triển của doanh nghiệp Do đó, khi đưa ra một chiến lược đầu tư cho doanh
Trang 18nghiệp mình, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều phải phân tích kĩ càng các biến độngcủa môi trường kinh tế mà doanh nghiệp mình tham gia.
Môi trường khoa học công nghệ
Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thế giới làm cho các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng phải đầu tư thay đổi mới công nghệ mới Sự thayđổi nhanh chóng đó đã làm cho tuổi thọ của các thiết bị kĩ thuật ngày càng phải rút ngắn
do công nghệ kĩ thuật của chúng theo thời gian ngày càng không đáp ứng đáp ứng đượcvới đòi hỏi của thị trường và thời đại Vì vậy trong định hướng đầu tư của doanh nghiệpphải có sự suy xét chu đáo, lựa chọn các loại máy móc sao cho vừa phù hợp với trình độphát triển và yêu cầu của thời đại vừa phù hợp với kế hoạch phát triển và ngân sách đầu
tư có thể cho phép của doanh nghiệp
2.2.2.2 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong.
Lực lượng lao động bên trong công ty
Do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và khoa học trên thế giới, nhân tố conngười ngày càng trở nên quan trọng, là nhân tố đảm bảo sự thành công của đơn vị Cácdoanh nghiệp muốn thành công thì cùng với sự đầu tư về máy móc thì doanh nghiệp cũngcần phải đầu tư cho yếu tố con người Trong bất cứ thời đại nào thì nhân tố con ngườicũng luôn là nhân tố quan trọng nhất trong mỗi khâu sản xuất Đặc biệt trong thời đạingày nay, khi công nghệ khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại thì việc nâng cao trình độ,kinh nghiệm của đội ngũ nhân lực cho phù hợp với trang thiết bị hiện đại trong mỗidoanh nghiệp càng trở lên quan trọng hơn hết Do đó, trong chiến lược đầu tư của bất kìmột doanh nghiệp nào, nhân tố con người cũng phải được đưa lên hàng đầu Cùng vớicác biện pháp đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên tại doanhnghiệp thì doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chính sách, đề ra các biện pháp thuhút nhân tài cho sự phát triển của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần cócác chính sách đãi ngộ, thưởng phạt rõ ràng đối với người lao động để họ gắn bó và đónggóp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của doanh nghiệp
Khách hàng
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế, tính cạnh tranh giữa các doanhnghiệp ngày càng khốc liệt xoay quanh việc giành khách hàng - nhân tố quyết định đếndoanh thu của bất kì một doanh nghiệp nào Trong chính sách đầu tư của các doanhnghiệp, đầu tư mở rộng thị trường, chế độ chính sách thu hút khách hàng đến với sản
Trang 19phẩm của doanh nghiệp mình luôn được chú trọng đầu tư phát triển Đối với bất kì cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, việc thu hút chăm sóc khách hàng đã trở thànhnhân tố quyết định sự sống còn của chính doanh nghiệp Vì vậy, khách hàng chính là mộtnhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp, là nhân tố định hướngcho việc đầu tư của doanh nghiệp.
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động củamỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cùngvới thời gian và sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học kĩ thuật hiện đại, cơ sở vật chấtcủa doanh nghiệp cũng ngày càng bị mài mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp để chế tạo
ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thời đại Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộngsản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của doanh nghiệp mình thì trong chiến lược đầu tưphải chú trọng cả việc hiện đại hoá và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật phù hợp với địnhhướng sản xuất kinh doanh
Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp
Trong một môi trường kinh tế phát triển mạnh và luôn biến động như hiện nay,các doanh nghiệp luôn luôn bị đe doạ bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ môi trường kinh tế,doanh nghiệp nào biết cách làm chủ những biến động đó thì sẽ hoạt động an toàn hơn và
có nhiều cơ hội tồn tại, phát triển hơn so với các doanh nghiệp khác Việc xây dựng các
kế hoạch, mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp chính là phương thức hữu hiệu để loại
bỏ bớt các yêú tố rủi ro do môi trường kinh tế đem lại Vì vậy, bất kì doanh nghiệp nào đivào hoạt động đều có các mục tiêu, chiến lược và các định hướng phát triển, chúng lànhân tố chủ quan chính ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, mục tiêu vàchiến lược của doanh nghiệp trong từng thời kì tác động đến việc đầu tư của doanhnghiệp, hoạt động đầu tư phải dựa vào định hướng phát triển của doanh nghiệp Đâychính là cơ sở cho việc đầu tư của doanh nghiệp, các kế hoạch đầu tư được xây dựng dựatrên mục tiêu phát triển, các kế hoạch đầu tư chính là việc hiện thực hoá dần các mục tiêu
đã đề ra của doanh nghiệp
Đặc điểm về quản trị doanh nghiệp
Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao lãnh đạo doanhnghiệp có vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của doanh nghiệp Các nhà quản trị làngười hoạch định chính sách, chiến lược phát triển cho doanh nghiệp trong từng thời kì