1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số giải pháp nâng cao hiệu quả viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh lớp 9 trường THCS cổ lũng, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa

24 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, văn nghị luận xã hội cóvai trò to lớn thúc đẩy nhận thức của học sinh về các vấn đề xã hội, từ hiểu biết,nhận thức đúng đắn đó giúp các em có những hành động chuẩn mực trong ứ

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (KHOẢNG 200 CHỮ) CHO HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG THCS CỔ LŨNG, HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH

Trang 2

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

2.3.1.Giải pháp1: Làm công tác tư tưởng cho học sinh (định

hướng)khi học viết đoạn văn nghị luận xã hội(khoảng 200 chữ) 4

2.3.2 Giải pháp 2: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh 4 2.3.3 Giải pháp 3: Củng cố kiến thức về đoạn văn nghị luận xã hội

2.3.4 Giải pháp 4: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn nghị luận xã hội

(khoảng 200 chữ) cho học sinh bằng các dạng bài tập 7 2.3.5 Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh cách tìm dẫn chứng cho đoạn

văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ) 13 2.3.6 Giải pháp 6: Hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận xã hội theo

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội chính là tinh hoa của các môn khoahọc xã hội Biết nghị luận là con người biết phán đoán và suy luận, có tư duy logic

để trình bày và bảo vệ quan điểm của mình; đồng thời biết phản bác những quanđiểm, nhận thức sai lệch một cách thuyết phục Rõ ràng việc thể hiện, tranh luận vàbảo vệ hay bác bỏ các quan điểm là một thước đo quan trọng đối với sự trưởngthành của mỗi con người.Trong những năm gần đây kiểu văn nghị luận xã hội đãđược chú trọng trong các nhà trường trung học Trước hết, văn nghị luận xã hội cóvai trò to lớn thúc đẩy nhận thức của học sinh về các vấn đề xã hội, từ hiểu biết,nhận thức đúng đắn đó giúp các em có những hành động chuẩn mực trong ứng xửcủa cuộc sống Văn nghị luận trau dồi cho các em sự phát triển lành mạnh về tâmhồn, định hướng những hành vi chuẩn mực, phù hợp đạo đức lối sống của ngườiViệt Nam ta Bởi vậy văn nghị luận đã trở thành tiêu chí đánh giá đối với học sinhkhông chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 và ngay cả thitốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học Đây là một quy định trong khung đề kiểmtra hoặc đề thi Sự chuyển biến này là cơ hội và cũng là thách thức đối với họcsinh Một thời gian khá dài, làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luậnvăn học khiến cho học sinh cảm thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống Rènluyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bàyquan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề

xã hội Thế nhưng thách thức đặt ra đối với học sinh và giáo viên cũng không phải

là nhỏ Học sinh quá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tàiliệu tham khảo nghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục,nhận diện vấn đề chưa tốt, người viết lại phải dùng kiến thức của mình để giảiquyết về một vấn đề trong cuộc sống chứ không phải cố định ở một văn bản trongsách giáo khoa Như vậy, rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh

sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời sống của họcsinh, mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy nhận thức vấn đề xã hội đồng thờigóp phần rèn giũa, bồi dưỡng phẩm chất nhân cách con người cho các em học sinh

Đó là lí do tôi đã quyết định chọn đề tài:"Một số giải pháp nâng cao hiệu quả viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh lớp 9 trường THCS Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trong những năm qua, bản thân tôi luôn được phân công giảng dạy môn Ngữvăn 9, tôi luôn có ý thức trong việc giảng dạy, đặc biệt đã chú trọng rèn luyện chohọc sinh kĩ năng làm bài nghị luận nói chung và bài văn nghị luận xã hội nói riêng.Nhất là trong cấu trúc đề thi do Sở giáo dục quy định mới nhất năm 2018, tất cảcác bài làm của học sinh từ hai tiết trở lên, đến các bài thi học sinh giỏi, đề thi vào

Trang 4

lớp 10 đều có văn nghị luận xã hội, dưới dạng một đoạn văn (khoảng 200 chữ) Đềtài nghiên cứu của tôi nhằm rèn luyện kĩ năng, từ đó nâng cao hiệu quả viết mộtđoạn văn nghị luận( khoảng 200 chữ) cho học sinh.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng

200 chữ) cho học sinh lớp 9 trường THCS Cổ Lũng, huyện Bá Thước,tỉnh ThanhHóa

1.4 Phương pháp pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, tôi sử dụng một số phương phápnhư:

- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết về văn nghị luận

- Điều tra, vấn đáp khảo sát tình hình thực tế về viết kĩ năng viết văn nghịluận ở học sinh

- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, số liệu

- Phương pháp thực nghiệm…

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong cấu trúc đề thi cấp huyện, cấp tỉnh, hay thi vào THPT môn Ngữ Vănnhững năm gần đây đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức xã hội vàđời sống để viết đoạn văn nghị luận xã hội ngắn khoảng 200 chữ quy về hai dạngbài là:

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làmbài thi cho hiệu quả Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệmcủa bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, tháiđộ của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hànhđộng) cho bản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng nhữngthao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bìnhluận, so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống

xã hội

Khi viết đoạn văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cầntránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua cácbước đi khác của quá trình lập luận

Mặt khác, với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghịluận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tếcho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹkhâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Vì những yêu cầu trên

Trang 5

mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một đoạn văn nghị luận xãhội là một việc làm rất cần thiết.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trường THCS Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa nằm trong địabàn khu vực miền núi khó khăn tỉnh Thanh Hóa với 99% học sinh là người dân tộcThái, trình độ nhận thức của các em không đồng đều, nhiều học sinh còn e dè,chưa mạnh dạn có ý kiến trước tập thể về những chính kiến của mình, còn thụđộng trong việc chiếm lĩnh tri thức

Do mặt trái của cơ chế thị trường, do thiếu định hướng từ gia đình, do sựphát triển ồ ạt của các trang mạng xã hội, do ham chơi, lười học nên ngày càngnhiều học sinh lười học văn, ngại học văn Đặc biệt việc sử dụng mạng xã hội ồ ạt

đã dẫn tới tình trạng học sinh sử dụng ngôn ngữ mạng vào cả trong bài văn, làmgiảm đi chất văn trong bài viết của mình

Kĩ năng viết văn nghị luận xã hội nói chung và viết đoạn văn nghị luận xãhội nói riêng của học sinh lớp 9 trong trường còn nhiều hạn chế: kiến thức về xãhội nghèo nàn, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, nhận diện vấn đề chưa tốt, viếtkhông đúng hình thức đoạn văn, sai so với yêu cầu của đề…

Thực trạng nhận thức của giáo viên

Bản thân tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp thông qua cácbuổi sinh hoạt chuyên môn, được đồng nghiệp dự giờ trao đổi rút kinh nghiệmchân thành nên kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy luôn được đổimới cho phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh mà tôi giảng dạy

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở các khối lớp, tôi nhận thấy rằngcác em học sinh lớp 9 Trường THCS Cổ Lũng, , huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóaphần lớn có ý thức tìm tòi, vươn lên trong học tập, mạnh dạn, hăng hái phát biểu ýkiến xây dựng bài, chuẩn bị bài tương đối đầy đủ trước khi đến lớp Từ đó, tạođộng lực để tôi nhiệt huyết hơn trong giảng dạy bộ môn

Thực trạng về cấu trúc đề thi vào lớp 10 phần nghị luận xã hôi:

Trong cấu trúc đề thi vào lớp 10 THPT từ năm 2018 trong môn Ngữ văn cónhiều điểm mới Đặc biệt, vấn đề nghị luận gắn với tri thức đọc hiểu, học sinhkhông phải chuyển mạch, ngắt mạch suy nghĩ, có thể nhanh chóng xác định nộidung nghị luận Đối với dạng đề này, học sinh nắm vững kỹ năng làm đề nghị luận

xã hội sẽ có kĩ năng làm bài tốt hơn, khả năng vận dụng linh hoạt hơn

Đối với dạng đề viết đoạn văn với dung lượng ngắn (khoảng 200 chữ) họcsinh lớp 9 gặp rất nhiều khó khăn Các em đã quen viết bài văn nghị luận xã hộihoàn chỉnh theo cấu trúc 3 phần của một bài văn Vì vậy, để bài làm của các emvẫn đảm bảo đủ ý trong một đoạn văn, trình bày quan điểm một cách sâu sắc kĩlưỡng, tìm tòi sáng tạo trong diễn đạt là một vấn đề khó khăn, nan giải Một số họcsinh không có kĩ năng viết đoạn văn, thường viết một cách cảm tính thậm chí trình

Trang 6

bày lại tri thức ở ngữ liệu đọc hiểu hoặc nếu không được lưu ý, các em có thể sẽviết không đúng hình thức đoạn văn sai so với yêu cầu của đề.

Kết quả điểm câu nghị luận xã hội trong phần “Tạo lập văn bản”:

em không hiểu đề bài, không biết trình bày những ý gì, bỏ không làm phần này Vềhành văn thì chưa lưu loát, lí lẽ dẫn chứng chưa đủ tính thuyết phục, chưa biết liên

hệ và nêu bài học cho bản thân

2 3 Các giải pháp và tổ chức thực hiện

2.3.1 Giải pháp 1: Làm công tác tư tưởng cho học sinh (định hướng) khi học viết đoạn văn nghị luận xã hội(khoảng 200 chữ)

Trước hết, giáo viên cần phải dập tắt trong các em quan niệm: Văn nghị luận

là loại văn “khô khan” là chưa hợp lí, vì ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấp

dẫn là ở chất lượng Tiểu thuyết mà viết dở thì cũng khô khan mà thôi Chất lượngmột bài văn nghị luận phụ thuộc vào cảm hứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩthuật như: cách lập luận, dùng từ, câu Cảm hứng là yếu tố đầu tiên

Sau là phải có kiến thức: Có thể việc hiểu biết về vấn đề cần bàn càng phong

phú thì càng dễ cho mình “tung hoành” trong bài viết Kiến thức phong phú cũng

có nghĩa là mình nắm được lẽ phải, giúp cho mình đưa ra những luận điểm chắc

chắn, giàu sức thuyết phục, không thể bác bỏ như cố nhân đã tổng kết: “Nói phải

củ cải cũng nghe” Trái lại nếu kiến thức nghèo nàn hay sáo rỗng thì bài văn nhạt

nhẽo, nặng nề, hô khẩu hiệu Cần nhớ rằng văn nghị luận là làm sao để người khác

“Tâm phục khẩu phục” chứ không phải áp đặt cách hiểu của mình cho người khác

Trang 7

Khi kiến thức đã phong phú thì các yếu tố kĩ thuật của văn bản, về cơ bản sẽ

biết sử dụng một cách tự nhiên Bởi vì một triết gia đã nói “Cái gì được quan niệm

rõ ràng thì diễn đạt sẽ mạch lạc”[1] Việc trau dồi và cẩn trọng trong công tác kĩ

thuật thì không bao giờ thừa Luôn luôn phải cân nhắc, sắp xếp cái nào trước, cáinào sau, chọn đi chọn lại từ nào cho chuẩn xác, sinh động

2.3.2 Giải pháp 2: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh

2.3.2.1 Khái niệm:

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầudòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đốihoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành Một đoạn văn có mô hìnhđầy đủ bao gồm ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn Các câu trong đoạnđược kết nối với nhau bằng nhiều phương tiện liên kết như: phép nối, phép lặp,phép thế…

Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữđược dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từđồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời

lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các

câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn

Khi viết đoạn văn, cần đảm bảo yêu cầu diễn đạt mạch lạc Chẳng những từngữ phải dùng chuẩn xác, câu đúng ngữ pháp mà cách trình bày cần đảm bảo tính

lô gic

2.3.2.2 Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn thường sử dụng

* Cách diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ đề

mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội dungchi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiện bằng cácthao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét,đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết

Mô hình trình bày đoạn văn diễn dịch:

* Cách qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi

tiết, cụ thể đến ý khái quát Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Các câu trên được trìnhbày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung

Mô hình trình bày đoạn quy nạp:

Trang 8

1 2 3 4…

n

Câu n: Câu chủ đề, đứng cuối đoạn văn

Câu 1,2,3,4, … là những câu mang ý cụ thể có tác dụng hướng tới làm nổi bật ý

ở câu chủ đề

* Cách tổng hợp - phân tích – tổng hợp (tổng – phân – hợp): là sự phối hợp

diễn dịch với quy nạp Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theokhai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao,

mở rộng Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứngminh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhậnđịnh đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề

Mô hình trình bày đoạn tổng – phân – hợp:

1

1’

Câu 1: Câu chủ đề đứng ở đầu đoạn văn

Câu 2,3,4: Câu mang ý chi tiết

Câu 1’: Câu mang ý tổng hợp, khái quát (không được trùng lặp ý với câu chủđề), đứng ở cuối đoạn văn

Ngoài ra, cũng cần mở rộng hơn một số cách trình bày đoạn khác cho học

sinh khá giỏi qua các giờ bồi dưỡng học sinh giỏi như cách suy luận nhân quả, tương đồng, tương phản, đòn bẩy

2.3.3 Giải pháp 3: Củng cố kiến thức về đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ)

2.3.3.1 Khái niệm: Đoạn văn nghị luận hội là đoạn văn trình bày ý kiến,

quan điểm về một vấn đề xã hội

2.3.3.2 Các bước viết đoạn văn nghị luận

Để viết đoạn văn thành công, cần chú ý tuân thủ các bước:

Bước 1: Xác định yêu cầu của đề

Căn cứ vào yêu cầu của đề bài, xác định rõ nội dung cần trình bày trong đoạn

là gì? (Nội dung đó sẽ được “gói” trong câu chủ đề Và cũng là định hướng để viếtcác câu còn lại) Nội dung đó được trình bày theo cách nào, có yêu cầu nào khác vềhình thức, ngữ pháp

Trang 9

Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn

Căn cứ yêu cầu của đề bài, xác định rõ chủ đề cần bàn luận của đoạn văn làgì? Chủ đề cần được giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn ở phần mở đoạn (viết bằng 1-2câu văn phải nêu được chủ đề của đoạn gồm vấn đề cần nghị luận và quan điểmcủa người viết: đồng tình, phản đối hay có ý kiến riêng nào đó)

Bước 3: Tìm ý cho đoạn (Triển khai ý)

Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức

đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết Nếu bỏ quathao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý

Về nội dung: Dù dài hay ngắn thì đoạn văn cũng phải đầy đủ các ý chính Cụthể:

Câu mở đoạn: có tác dụng dẫn dắt vấn đề Các em nên viết đoạn văn theokiểu diễn dịch, câu chốt nằm ở đầu đoạn, các câu sau triển khai cho câu chủ đề.Đoạn văn nên có 1 câu kết, nêu ý nghĩa, rút ra bài học, hoặc cảm xúc, quan điểm

cá nhân về vấn đề đang bàn luận

Đoạn văn nghị luận về tư tưởng đạo lí cần có các ý: Giải thích (Là gì? Như thế nào? Biểu hiện cụ thể?), Phân tích, chứng minh (tại sao nói như thế?),bình

luận, mở rộng vấn đề, bác bỏ( phê phán) những biểu hiện sai lệch, nêu ý nghĩa, rút

ra bài học nhận thức và hành động

Đoạn văn nghị luận về hiện tượng đời sống cần có các ý: Nêu hiện tượng đó

là hiện tượng gì? biểu hiện? mức độ?) Phân tích tác dụng/ tác hại của hiện tượngtrên, bàn luận về nguyên nhân, giải pháp, …Nêu bài học sâu sắc với bản thân Họcsinh cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh làm bài máy móchoặc chung chung

Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn

Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn Căn cứ vào yêu cầu về kiểudiễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn Ngoài ra,còn đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có)

Giáo viên cho học sinh luyện tập thật nhiều với đoạn văn diễn dịch và quynạp, bởi đây là hai dạng cơ bản nhất:

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

- Nghị luận về một sự việc hiện tượng, đời sống

2.3.4 Giải pháp 4: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh bằng các dạng bài tập

2.3.4.1 Dạng bài 1: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

*Khái niệm:

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng, đời sống xã hội là nêu ý kiến củamình, bàn luận, đánh giá của mình về sự việc, hiện tượng ấy

*Yêu cầu:

Trang 10

- Nội dung: Phải trình bày rõ nội dung, bản chất của sự việc,hiện tượng, phảitrình bày rõ thái độ, ý kiến của người viết về mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hạicủa nó.

- Hình thức: Trình bày thành đoạn văn nghị luận , yêu cầu không quá 200 chữ

- Sự bàn luận, đánh giá phải có luận điểm rõ ràng, được trình bày bằng các luận cứxác thực, bằng các phép lập luận phù hợp Lời văn có sức thuyết phục

* Bố cục: Đoạn văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống cũng phải

đảm bảo các phần chặt chẽ, mạch lạc theo yêu cầu chung của một đoạn văn nghịluận

- Mở đoạn: Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề sẽ bàn luận

- Thân đoạn: Phân tích các mặt của sự việc, hiện tượng, trình bày ý kiến, sự đánggiá của mình

- Kết đoạn: Khẳng định, phủ định, khái quát ý nghĩa của vấn đề nghị luận

*Ví dụ 1: Làm bài nghị luận về sự việc đời sống.

Với nhan đề: “Môi trường sống của chúng ta” Dựa vào những hiểu biết của em

về môi trường, viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày quan niệm của

em và cách làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

Với dạng bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập theo ý

-Về hình thức: Trình bày thành đoạn văn nghị luận , yêu cầu không quá 200chữ

-Về nội dung: Triển khai thành đoạn văn nghị luận bao gồm các ý cơ bản sau:

1.Mở đoạn: (Nêu vấn đề nghị luận)

Môi trường sống của chúng ta thực tế đang bị ô nhiễm và con người chưa có ýthức bảo vệ

2.Thân đoạn:

- Biểu hiện + Xã hội

+ Nhà trường

- Phân tích tác hại:

+ Ô nhiễm môi trường làm hại đến sự sống

+ Ô nhiễm môi trường làm cảnh quan bị ảnh hưởng

- Đánh giá hậu quả:

- Những việc làm đó là thiếu ý thức bảo vệ môi trường, phá hủy môi trườngsống tốt đẹp

- Phê phán và cần có cách xử phạt nghiêm khắc

- Hướng giải quyết

- Phê phán và cần có cách xử phạt nghiêm khắc

- Tuyên truyền để mỗi người tự rèn cho mình ý thức bảo vệ môi trường

- Coi vấn đề bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách của toàn xã hội

Trang 11

3.Kết đoạn: Khẳng định lại vai trò của môi trường.

*Ví dụ 2 : Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Đề bài: “Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và

nở những chùm hoa thật đẹp” Viết một một đoạn văn nghị luận (Khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của em được gợi ra từ hiện tượng trên.

Gợi ý

Với dạng bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập theo ý

*Về hình thức: Trình bày thành đoạn văn nghị luận , yêu cầu không quá 200chữ

*Về nội dung: Triển khai thành đoạn văn nghị luận bao gồm các ý cơ bảnsau:

1.Mở đoạn: (Nêu vấn đề nghị luận)

- Giải thích hiện tượng: là hiện tượng có thể bắt gặp trong thiên nhiên, gợi tảsức chịu đựng, sức sống kì diệu của những loài cây “vẫn mọc lên và nở nhữngchùm hoa thật đẹp” ngay trong “một vùng sỏi đá khô cằn” (có thể đi từ việc giảithích từ ngữ: Vùng sỏi đá khô cằn, chỉ sự khắc nghiệt của môi trường sống; loàicây vẫn mọc lên và nở những chùm thật đẹp; sự thích nghi, sức chịu đựng, sứcsống, vẻ đẹp) Đó là ý chí,nghị lực để vượt qua khó khăn, thử thách

2.Thân đoạn:

- Trình bày suy nghĩ về hiện tượng: Hiện tượng thiên nhiên nói trên gợi suynghĩ về vẻ đẹp của con người trong bất cứ hoàn cảnh nghiệt ngã nào vẫn thể hiệnnghị lực phi thường, sức chịu đựng và sức sống kì diệu nhất Đối với họ nhiều khi

sự gian khổ, khắc nghiệt của hoàn cảnh lại chính là môi trường để tôi luyện, giúp

họ vững vàng hơn trong cuộc sống “Những chùm hoa thật đẹp” “Những chùm hoatrên đá” (Thơ: Chế Lan Viên) Thành công đạt dược thật có giá trị vì nó là kết quảcủa những cố gắng phi thường, sự vươn lên không mệt mỏi Vẻ đẹp của nhữngcống hiến, những thành công mà họ dâng hiến cho cuộc đời lại càng có ý nghĩahơn, càng “rực rỡ” hơn

- Liên hệ thực tế : Không có ai ở Việt Nam không biết đến thầy NguyễnNgọc Kí đã bị liệt cả hai tay, nhưng anh đã kiên trì luyện tập biến đôi bàn chânthành đôi bàn tay kì diệu viết những dòng chữ đẹp, học tập trở thành nhà giáo, nhàthơ

- Nêu tác dụng, ảnh hưởng, bài học rút ra từ hiện tượng : Những con ngườivới vẻ đẹp của ý chí, nghị lực luôn là niềm tự hào, ngưỡng mộ của chúng ta, độngviên và thậm chí cảnh tỉnh những ai chưa biết chấp nhận khó khăn, thiếu ý chívươn lên trong cuộc sống

3.Kết đoạn: Khẳng định ý chí, nghị lực là điều cần thiết trong cuộc sống mỗingười

2.3.4.2 Dạng bài 2: Nghị luận về một vấn đề về tư tưởng đạo lí

Trang 12

- Về hình thức: Đoạn văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lậpluận chặt chẽ, mạch lạc, không quá 200 chữ.

- Lời văn: Rõ ràng, sinh động

* Bố cục: Có bố cục chặt chẽ, hợp lí theo yêu cầu chung của một đoạn văn

nghị luận

- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

- Thân đoạn: Lần lượt giải thích, chứng minh, phân tích các nội dung của vấn đề tưtưởng, đạo lí đó; đồng thời nêu ý kiến bàn luận, đánh giá của mình

- Kết đoạn: Tổng kết, nêu ý nghĩa, bài học của vấn đề nghị luận

Lưu ý:

Khắc sâu để học sinh nắm được kiến thức của từng kiểu bài là hết sức quantrọng để các em vận dụng tốt trong quá trình làm bài cụ thể Tuy nhiên làm đoạnvăn nghị luận xã hội giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh các lưu ý sau:

Thứ nhất: Chú ý đọc kĩ đề bài, xác định dạng đề bài:

Thứ hai: Tăng cường quan sát, cập nhật thông tin:

Thứ ba: Chọn lọc và xử lí thông tin

* Dạng đề trong đó tư tưởng đạo lí được nói tới một cách trực tiếp

Những lưu ý về cách làm bài

- Cách làm bài dạng đề này về cơ bản giống với cách nói trên Ví dụ khi gặp đềbài “Bàn luận về lòng yêu nước”, để đáp ứng được yêu cầu của đề, học sinh trướchết phải giải thích khái niệm “Lòng yêu nước”, nêu và phân tích những biểu hiệncủa “Lòng yêu nước”; ý nghĩa, vai trò của “Lòng yêu nước”đối với đời sống củamỗi con người, mỗi dân tộc, đồng thời phê phán những biểu hiện đi ngược lạivới “Lòng yêu nước”, rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân

* Trình bày bài viết đúng với yêu cầu của đề, không quá 200 chữ

Ngày đăng: 09/06/2021, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Kim Hồi (chủ biên) (1997) Nghĩ từ công việc dạy văn, Đổi mới dạy học bộ môn ngữ văn trong trường PTTH. NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ từ công việc dạy văn, Đổi mới dạy họcbộ môn ngữ văn trong trường PTTH
Nhà XB: NXBGD
3.Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên) (2000), Hiểu văn dạy văn. NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
4. Đái Xuân Ninh (chủ biên) (1997) Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng của ngôn ngừ học hiện đại. NXB Đại Học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng văn dưới ánh sángcủa ngôn ngừ học hiện đại
Nhà XB: NXB Đại Học Sư phạm
1. Hà Minh Đức (chủ biên) (2000), Lý luận văn học, NXBGD Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9 (Tập 1,2), NXB giáo dục – Hà Nội 2005 Khác
7. Ngữ văn 7 nâng cao, Ngữ văn 9 nâng cao – NXB Giáo dục 2005 Khác
8. Nguyễn Xuân Lạc - Kiến thức cơ bản Văn – Tiếng Việt PTCS, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội 1999 Khác
9. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng cộng sản Việt Nam 1996. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.125 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w