Do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hướng giảm.. T[r]
Trang 1Nghiên cứu về cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2007-2008
1.Nguyên nhân
Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2010 xuất phát từ Mỹ có nguồn gốc
từ sự tập trung thái quá đầu tư với lãi suất rẻ và cho vay thế chấp dưới chuẩn vào thị trường bất động sản đồng thời có sự bùng nổ các công cụ nợ phát sinh trên thị trường này nhằm thu các khoản lợi nhuận cơ hội Khi thị trường bất động sản đảo chiều, trì trệ, bất động sản xuống giá các khoản nợ đáo hạn mất khả năng thanh toán dẫn đến những đổ vở tín dụng và dẩn đến khủng hoảng kinh tế - tài chính
2 Những tác động mà cuộc khủng hoảng gây ra cho các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng:
2.1 Đối với Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng Ngay khi bong bóng nhà ở vỡ cuối năm 2005, kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu tăng trưởng chậm lại Bong bóng vỡ đã dẫn tới các khoản vay không trả nổi của người đầu tư nhà ở đối với các
tổ chức tài chính ở nước này Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản Giá chứng khoán Hoa Kỳ bắt đầu giảm dần Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 năm 2008 khi ngay cả những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG… cũng lâm nạn Tình trạng đói tín dụng xuất hiện làm cho khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào tình thế khó khăn, điển hình là cuộc Khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010
Trang 2Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007 Cơ quan quốc gia về nghiên cứu kinh tế Mỹ (NBER) dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Bình quân mỗi tháng từ tháng 1 tới tháng 9 năm
2008, có 84 nghìn lượt người lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm
Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng Đến lượt nó, tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các
hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công Hôm 12 tháng 12 năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do dollar Mỹ là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá Điều này làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại
Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục từ
cuối quý III năm 2007
Trang 32.2 Đối với thế giới
Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh
tế suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông Á Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại
Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy thoái Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ
Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm Điều này lại làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra
đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng Các nhà đầu tư chuyển danh mục đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như dollar Mỹ, yên Nhật, franc Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so với nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ ở một số nước buộc họ phải xin trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi won liên tục mất giá từ đầu năm 2008
Trang 4Giá dầu (USD/thùng) giảm mạnh từ giữa năm 2008 do lượng cầu
giảm khi kinh tế thế giới xấu đi
2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam:
Mở cửa kinh tế và hội nhập đã mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam nhưng đồng thời cũng khiến chúng ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ hơn khi xảy ra biến động Tác động của cuộc khủng hoảng này có tính hai mặt, song chủ yếu là tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu cũng như của Việt Nam Do hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới nên Việt Nam cũng chịu những tác động nhất định, tuy không trực tiếp
- Tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế:
Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới công bố ngày 8/10/2008 của IMF, tốc
độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ chậm lại và thất nghiệp gia tăng Dự kiến lúc đầu tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2008 sẽ đạt khoảng 6,7%, thấp hơn chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là 7% Tuy nhiên, thực tế năm 2008, tốc độ này chỉ đạt 6,23%, mức thấp nhât trong 9 năm qua Khủng hoảng tác động tới mọi tầng lớp dân cư của Việt Nam, trong đó tầng lớp công nhân lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp Sản xuất bị thu hẹp, số người thất nghiệp gia tăng, thu nhập bị giảm sút
- Tác động đến FDI:
Trang 5Những quan điểm ban đầu về tác động của khủng hoảng đến FDI vào Việt Nam: Nghiên cứu tình hình FDI vào Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng, về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác động lớn đến Việt Nam, do dòng vốn đầu tư vào đây đa số đều bắt nguồn từ các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Xin-ga-po, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan Các nước châu Á chiếm tới 80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 4,1 tỉ USD Mặt khác, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam thường mang tính dài hạn nên sẽ không bị ảnh hưởng nhiều lắm Mặc dù vậy, về dài hạn, khủng hoảng tài chính thế giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu
Tuy nhiên, cũng có ý kiến to ra lo ngại hơn về nguồn vốn FDI vào Việt Nam Thứ nhất, do nguồn tín dụng của thế giới đang dần trở nên cạn kiệt, nên các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp sẽ suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng Hơn nữa, do nhu cầu tiêu thụ giảm sút, nên việc giải ngân FDI sẽ chậm lại đáng kể.Theo ý kiến một số chuyên gia, trong 2 năm 2006 và 2007 nguồn FDI vào Việt Nam đã tăng bất thường, không có cơ sở chắc chắn: Việt Nam không thể tiêu thụ quá 5 tỷ đôla/năm với hạ tầng, môi trường kinh doanh như hiện nay Bởi vậy trong tương lai, chính Việt Nam sẽ không thể tiếp nhận nhiều vốn FDI hơn những gì đã diễn ra
Trái với tất cả nhiều dự đoán ban đầu, nếu nhìn trên các con số, tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2008 đã tăng cao kỷ lục trong hơn 20 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu nỗ lực thu hút FDI Kết thúc năm 2008, theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam tính đến ngày 19/12/2008 đạt hơn 64 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2007 Vốn giải ngân trong năm 2008 của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007
- Tác động tới xuất khẩu của Việt Nam:
Xuất khẩu của Việt Nam đã bị ảnh hưởng khá nhiều từ cuộc khủng hoảng Kinh tế Mỹ suy thoái đã có tác động tới xuất khẩu của Việt Nam, do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Suy thoái hay tăng trưởng kinh tế chậm lại ở Mỹ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm thu nhập và sức mua của người dân Mỹ Yếu tố này kết hợp chính sách đồng Đô la yếu nhằm giảm thâm hụt cán cân thương mại của chính phủ Mỹ đã khiến xuất khẩu của nhiều nước vào Mỹ giảm
Trang 6Ngay từ những tháng đầu năm 2008, đã xuất hiện xu hướng giảm tốc độ xuất khẩu sang Mỹ Trong 9 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% của năm 2007 Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã giảm từ 24% của năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm 2008
Cũng cần phải đặt tình hình thương mại của Việt Nam trong mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ: Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc Sức tiêu dùng của người dân Mỹ giảm sẽ tác động tiêu cực đối với hàng Trung Quốc xuất sang
Mỹ Tiêu dùng tại Mỹ giảm, khiến hàng Trung Quốc rẻ hơn và cạnh tranh hơn với hàng Việt Nam tại thị trường Mỹ Đồng thời, khi hàng Trung Quốc tiêu thụ ở Mỹ giảm đi, nó chuyển hướng sang các thị trường khác tìm đầu ra mới, có thể đưa vào tiêu thụ tại Việt Nam nhiều hơn, gây áp lực lớn cho nền kinh tế Việt Nam
Đồng thời, cuộc khủng hoảng đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và châu Âu Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hướng giảm Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5%, trong khi năm 2007 là 18%
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cũng đã gây ra những biến động chưa từng có về giá cả xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Trong nửa đầu năm 2008, giá hàng hóa trên thị trường thế giới leo thang, gây áp lực tăng chi phí nhập khẩu và đẩy nhập siêu lên cao Từ cuối tháng 7/2008, giá hàng trên thị trường thế giới bắt đầu bước vào một đợt thoái trào mạnh, đặc biệt từ tháng 9/2008 Theo đó, xuất khẩu chịu ảnh hưởng nặng Những biến động của giá cả trên đã đánh đổ hầu hết các dự báo và tính toán của doanh nghiệp, cũng như hoạch định, dự kiến của nhà điều hành chính sách Điều này càng gây thêm khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam
Tình hình trên đã đưa đến kết quả là xuất khẩu cả năm 2008 chỉ đạt khoảng 64
tỉ USD, tăng 31,8% so với năm 2007 Xuất khẩu đã giảm không chỉ về số lượng các đơn hàng, mà cả về giá bán của hàng hóa xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn do tiêu thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư
3.Những giải pháp ứng phó với cuộc khủng hoảng của các nước và Việt
Nam:
Trang 73.1 Các nước
Để ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, nhiều biện pháp đã được chính phủ các nước thực thi Nhìn lại những biện pháp ấy, ta thấy được chúng gồm những nhóm chính sau:
STT Các biện pháp ứng phó của Chính phủ các nước
01 Quốc hữu hóa toàn bộ hoặc một phần ngân hàng và quỹ tư nhân
02 Kiểm soát các quỹ đầu tư
03 Mua cổ phần hoặc tài sản từ các tổ chức tài chính
04 Bãi bỏ thuế đối với các khoản đầu tư nước ngoài
05 Hạ lãi suất cơ bản
06 Vay tiền từ tổ chức tài chính quốc tế
07 Bảo lãnh tất cả các khoản tiền gửi, trái phiếu và nợ của một số ngân hàng lớn trong 02 năm
08 Khuyến khích sáp nhập ngân hàng yếu kém
09 Cho phép một số ngân hàng tuyên bố phá sản
10 Mua lại các khoản nợ của các ngân hàng đang có vấn đề hoặc bị phá sản
11 Cấp tiền cho ngân hàng để trả các khoản nợ nước ngoài
12 Huy động tiền từ các nhà đầu tư toàn cầu để chống đỡ cơn khủng hoảng
13 Nới lỏng quy định cho phép các công ty mua cổ phiếu của chính họ
3.2 Việt Nam:
Chính phủ Việt Nam đã đề ra 05 nhóm giải pháp cơ bản như sau:
- Giải pháp thúc đẩy sản xuất - kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu
- Giải pháp đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng
- Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt
- Thực hiện sâu rộng chính sách an sinh và xã hội
Trang 8- Phối hợp tốt trong tổ chức chỉ đạo, điều hành.
4.1 Bài học cho Việt Nam
Thứ nhất, là bài học về giám sát tài chính và sự thận trọng trong chạy theo thời cuộc và “thời thượng” Việt Nam cần đặc biệt quan tâm hơn đến việc xây dựng tốt những nền tảng cơ bản cho phát triển hệ thống và thị trường tài chính (như khuôn khổ pháp lý về giám sát và tổ chức giám sát tài chính, việc phát triển các định chế đầu tư dài hạn, định mức tín nhiệm, hệ thống động lực, việc tổ chức lại hai sàn giao dịch chứng khoán ) Hiện tại, thông tin minh bạch và sự phân công, phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan giám sát tài chính là đặc biệt quan trọng
Thứ hai là bài học về xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng Bởi nhiều khi
sự đỗ vỡ của ngân hàng bắt nguồn từ tâm lý hoảng loạn thái quá của dân chúng Bài học này liên quan đến việc sử dụng tốt một công cụ kiểm soát là bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Tổ chức BHTG cần phát huy tốt vai trò của mình để tạo được niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng và tham gia ngăn chặn,
xử lý những rủi ro nhằm hạn chế sự đổ vỡ mang tính dây truyền
Công chúng tin tưởng hơn vào hệ thống tài chính, ngân hàng nếu họ nhận thức được rằng có một tổ chức tài chính thay mặt Chính phủ giám sát thường xuyên tổ chức tín dụng mà họ gửi tiền chứ không chỉ thực hiện việc chi trả tiền gửi cho họ khi tổ chức đó bị đổ vỡ Điều quan trọng hơn, niềm tin đó góp phần ổn định về chính trị, xã hội thậm chí kể cả trong trường hợp xảy ra khủng hoảng
Thực tế, trong thời gian vừa qua khi khủng hoảng tài chính diễn ra trên thế giới, để bảo vệ người dân, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội, hàng loạt các Chính phủ
đã điều chỉnh chính sách BHTG kịp thời như cam kết đảm bảo và nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tại Mỹ và một số nước Châu Âu khác Với sự phản ứng nhanh nhạy đó, mặc dù thị trường tài chính các nước này biến động mạnh song, công chúng gửi tiền không hoảng loạn vì tiền gửi của họ đã được đảm bảo phần lớn hoặc toàn bộ bởi tổ chức BHTG
Nhận xét:
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới 2007-2010 đã tác động sâu rộng vào mọi mặt của nhiều nền kinh tế trên thế giới Nhiều quốc gia đã và vẫn đang gánh chịu những tổn thất nặng nề do cuộc khủng hoảng này gây ra: đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp Tuy nhiên, cùng với những nổ lực đối phó mang tính toàn cầu của các nước, vào cuối năm 2009 đầu năm 2010, Kinh tế thế giới đã bước đầu có những dấu hiệu phục
Trang 9hồi: từ mức tăng trưởng âm năm 2008, năm 2009 kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức 1.1% và Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kinh tế thế giới năm
2010 sẽ tăng trưởng 3,1% Mặc dù vậy vẫn là thấp hơn nhiều so với mức trên 5% của hai năm 2006, 2007 và các mức 4,9% và 4,5% của năm 2004, 2005 (là giai đoạn trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra) Tuy nhiên đây cũng là một dấu hiệu khả quan cho thấy kinh tế thế giới đang ở vào giai đoạn phục hồi Cùng với sự phát triển năng động của các nước Châu Á (đặc biệt là Trung Quốc) cũng như sự ấm dần lên của thị trường chứng khoán, dầu mỏ toàn cầu, các chuyên gia dự đoán kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phục hồi nhanh trong những năm tới