STT Nội dung Trang2.2 Thực trạng về sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, Huyện Bá Thước.. Bản
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TẠO SỰ MẠNH DẠN, TỰ TIN
TRONG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI A1 Ở TRƯỜNG MẦM NON THÀNH LÂM HUYỆN BÁ THƯỚC
Người thực hiện: Phạm Thị Thu
Trang 2STT Nội dung Trang
2.2 Thực trạng về sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng
Việt của trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 ở
trường mầm non Thành Lâm, Huyện Bá Thước
3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để tạo sự mạnh dạn, tự tin trong giao
tiếp bằng Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5 –
6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, huyện Bá Thước
6
2.3.1 Giải pháp 1: Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ
của trẻ 5 – 6 tuổi Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm
các thông tin trên mạng intenet, dự giờ kiến tập đồng nghiệp,
học hỏi kinh nghiệm
6
2.3.2 Giải pháp 2: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu –
thực hành
7
2.3.3 Giải pháp 3: Tăng cường sự tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng
Việt thông qua các hoạt động trò chơi, vui chơi
10
2.3.4 Giải pháp 4: Hình thành sự tự tin cho trẻ khi sử dụng tiếng
Việt ở mọi lúc mọi nơi
132.3 5 Giải pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh 162.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Từ khi sinh ra, trẻ em vùng dân tộc thiểu số chỉ quen với việc nghe – nói
các âm, thanh của tiếng mẹ đẻ ( tiếng dân tộc thiểu số ) Khi đến trường buộc trẻphải làm quen với một ngôn ngữ mới hoàn toàn, hòa nhập vào môi trường TiếngViệt Chính vì vậy, trẻ đã gặp phải rất nhiều những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu.Khi nói, trẻ thường nói ngọng, phát âm chưa chuẩn dẫn đến nhầm lẫn từ và hiểukhông chính xác nội dung giao tiếp Từ đó dẫn đến tình trạng trẻ xấu hổ, rụt rè,ngại giao tiếp với cô giáo và các bạn Bản thân tôi tuy là một giáo viên mới vẫncòn rất nhiều bỡ ngỡ trong nghề, nhưng nhờ được sinh ra và lớn lên ở vùng miềnnúi là con em của đồng bào dân tộc, nên tôi rất thấu hiểu những khó khăn do ràocản ngôn ngữ mang lại khi giao tiếp đối với trẻ em dân tộc thiểu số Trong khi
đó ngôn ngữ lại đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục và phát triểncủa trẻ ở lứa tuổi mầm non Nhưng đối với trẻ em dân tộc thiểu số ở thời điểmnày ngôn ngữ của các em chỉ đang được ví như một cái nụ hoa, cái nụ ấy có thể
nở bung thành những bông hoa rực rỡ sắc màu hay không là hoàn toàn phụthuộc vào sự dạy dỗ có chủ định của các thầy cô giáo ở trường, vì khi ở nhà bố
mẹ của các em rất vất vả, họ bận lên nương, lên rẫy để kiếm cái ăn, cái mặc,không có nhiều thời gian chăm lo cho con cái Bởi đối với họ cái ăn, cái mặccòn quan trọng hơn rất nhiều so với cái chữ Mà thậm chí ngay cả bản thân của
họ cũng không biết cách phải giao tiếp sao cho chuẩn Tiếng Việt, thì thử hỏi làmsao họ biết cách dạy dỗ các em phát âm chuẩn Tiếng Việt để trở nên mạnh dạn,
tự tin hơn trong giao tiếp được đây?!
“Trường mầm non là nơi tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn vẹn về nhâncách, trong đó vai trò của các thầy cô giáo và hoạt động tích cực của từng cácnhân trẻ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và phát triểnngôn ngữ của từng trẻ nói riêng ”[1] Song trên thực tế để giúp trẻ phát triểnngôn ngữ giáo viên mầm non đã làm gì để cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú,dạy trẻ phát âm chuẩn? Hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữgiáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyên tậpkhả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mìnhtrong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ chưa ?…
Những lý do trên khiến tôi đã rất nhiều lần tự đặt ra câu hỏi cho bản thân
“ Tôi đã làm được những gì cho sự khó khăn về rào cản ngôn ngữ của các em? ”
Từ đó hằng ngày khi đến trường, ngắm nhìn những khuôn mặt ngây thơ, hồnnhiên của các em tôi lại càng thấy bản thân mình cần cố gắng nhiều hơn nữagiúp các em có được đầy đủ hành trang về ngôn ngữ để bước vào cuộc sống mộtcách mạnh dạn, tự tin nhất Tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi ở rất nhiều
nơi từ trên thực tế đến các phượng tiện truyền thông để cố gắng tìm ra “ Một số giải pháp để tạo sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, huyện Bá Thước” nhằm giúp các em học sinh lớp tôi - mẫu giáo 5 – 6 tuổi A1
trường mầm non Thành Lâm với 100% các em là con em dân tộc thiểu số có thể
tự tin trong giao tiếp để tiếp nhận tri thức một cách tốt nhất và đầy đủ nhất Từ
Trang 4đó sẽ tạo nên một nền móng vững chắc cho sự phát triển của các em ở nhữngcấp học tiếp theo.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi khi viết sáng kiến này là mong muốn tìm ra được các giảipháp hiệu quả nhất để tạo sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cho trẻ dân tộcthiểu số lớp mẫu giáo lớp 5 – 6 tuổi Tôi mong rằng các em thành thạo TiếngViệt sớm hơn, từ đó tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng, đầy đủ nhất và đó sẽ làtiền đề giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục và đây cũng là một nềnmóng tốt cho trẻ phát triển một cách toàn diện Đồng thời giúp bản thân có thêmnhiều kinh nghiệm hơn trong những năm tháng công tác tiếp theo
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến là “ Một số giải pháp để tạo sự mạnhdạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, huyện Bá Thước ”
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Kinh nghiệm đúc rút từ cáctài liệu tham khảo, học hỏi từ các cấp lãnh đạo, qua các đợt tập huấn, chuyên đề
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế thu thập thông tin:
+ Khảo sát các hoạt động của trẻ trong lớp để nhận biết về khả năng tiếpthu và nhận thức của trẻ
+ Trao đổi với đồng nghiệp về vấn đề tăng cường Tiếng Việt cho trẻnhằm thu thập thông tin và làm sáng tỏ các thông tin thu thập được từ phươngpháp điều tra
- Phương pháp thống kê, sử lý số liệu: Thống kê, sử lý số liệu trong bảng khảosát trước và sau khi áp dụng biện pháp
- Đi tìm hiểu thực tế ở địa phương và các buổi sinh hoạt ở nhà văn hóa cộngđồng tại các làng, xóm
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
“ Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sựtồn tại, phát triển của xã hội loài người Là phương tiện nhận thức thế giới xungquanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy ” [2]
Đối với trẻ em dân tộc thiểu số ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũngđặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhâncách; là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thếgiới xung quanh thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các
sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng củachúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thứccủa trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xungquanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành
Là giáo viên làm việc trong nhà trường, đồng thời cũng là một người conlớn lên từ núi rừng tôi luôn suy nghĩ làm sao để các cháu đồng bào dân tộc cũngvui tươi, hồn nhiên, mạnh dạn học tập, hòa đồng được với đám đông như trẻ em người Kinh
Trang 5Chúng ta phải thừa nhận một điều là trẻ con các đồng bào dân tộc ngày nay
đã thông minh hơn, hoạt bát hơn, lém lỉnh hơn Nhưng khi cháu vào lớp học thìcác cháu không dám nói lên những điều trẻ thích, không dám mạnh dạn sinhhoạt trong tập thể, giao tiếp với người lớn theo suy nghĩ của mình Chỉ có một số
ít cháu dám nói lên những suy nghĩ, trò chuyện cùng cô và khách đến lớp nhưngcũng không thể bằng các cháu người Kinh được Đây là trăn trở của một ngườilàm công tác giáo dục của một đơn vị trường đa số học sinh là con em các đồngbào dân tộc vì vậy tôi đã tìm ra các các câu hỏi và phải có câu trả lời
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất,cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộcthiểu số cụ thể hơn là trẻ em dân tộc Thái tại lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi trườngMầm non Thành Lâm nơi tôi đang công tác tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữchính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp với xã hội Do đó bắt buộc trẻ phảihọc ngôn ngữ thứ hai khi bước vào ngưỡng cửa trường mầm non với một hìnhthức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là côgiáo và các bạn Trẻ học ngôn ngữ Tiếng Việt song song với việc học tri thức vàbước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tưduy của mình…
“ Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khácnhau mà người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nóiđến người nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiênnhiên hoặc truyền bá tri thức….” [3] Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ củangười dân tộc thiểu số chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầutrong cộng đồng Chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự pháttriển của xã hội
Căn cứ vào Kế hoạch chỉ đạo chuyên môn trường mầm non Thành Lâm
về việc nghiên cứu thực trạng của nhà trường và đưa ra các giải pháp, nhằmnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ từ 5 - 6 tuổi trong nhà trường
2.2 Thực trạng về sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số lớp 5 - 6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, Huyện Bá Thước.
Trường mầm non Thành Lâm là một trường thuộc xã vùng sâu vùng xa,vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trong đó dân tộc thiểu số chiếm chủyếu trên 95% Tập quán sinh hoạt còn tương đối lạc hậu Nhân dân sinh sốngchủ yếu là nghề nông nghiệp, ngày này lên nương, lên rẫy bán mặt cho đất, bánlưng cho trời để kiếm cái ăn, cái mặc cho bản thân, cho con cái, gia đình Là xãkhó khăn trên địa bàn huyện nên thu nhập bình quân trên đầu người còn rất thấp
Tỉ lệ hộ đói nghèo vẫn còn cao, địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong
xã chưa thông thạo tiếng phổ thông, cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã đượcquan tâm đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân
Vì thế người dân hằng ngày vẫn phải đầu tắp mặt tối lo kiếm cái ăn, không cònthời gian dành cho con cái, dẫn đến việc trẻ ít nhận được sự giáo dục từ gia đình.Còn khi đến lớp học, giáo viên chưa thật sự tạo sự giao tiếp gần gũi giữa cô vàtrẻ Cô thường hay chỉ chú ý đến một số trẻ khá giỏi còn với một số trẻ khác dù
Trang 6các cô đã động viên, nhắc nhở nhưng các cháu vẫn nhút nhát chỉ ngồi im mộtchỗ, không giao lưu với cô và các bạn khác Vì vậy đã dẫn đến một số nguyên nhân:+ Gây nên sự thụ động, ít nói, không thích giao tiếp, ỷ lại ở trẻ.
+ Trẻ sợ phải giao tiếp khi chưa hiểu tiếng Tiếng Việt
+ Cô ít cùng cháu chuyện trò khi hoạt động hay đàm thoại bàn bạc những vấn đềxảy ra xung quanh Ít hỏi han trẻ nên không hoà đồng, không vui vẻ khi đến lớp.+ Có lúc giáo viên còn dùng mệnh lệnh ra lệnh cho trẻ Thậm chí muốn cháuvào nề nếp nhanh cô hay rầy la áp đặt, có khi làm thay cho trẻ để xong chuyện.+ Qua một số hoạt động như: Văn học, Âm nhạc, Khám phá khoa học, vui chơi, hay ở các hoạt động khác cô giáo ít tạo điều kiện cho trẻ được nói và nêu nhữngthắc mắc của mình
2.2.1 Thuận lợi:
Bản thân là giáo viên có trình độ chuyên môn chuẩn với năng lực chuyênmôn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ Có khả năng tiếp thu những kinhnghiệm và vận dụng vào giảng dạy một cách linh hoạt, có nhiều ý tưởng, luônmong muốn có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhàtrường, có một nhiệt huyết bùng cháy đối với tuổi thơ đầy gian khổ của các emnhỏ vùng núi xa xôi đó là một thuận lợi lớn trong việc thực hiện đề tài
Giáo viên trong trường đều là người bản địa, thông thạo tiếng dân tộc nên
dễ dàng hơn trong việc giao tiếp, trao đổi với trẻ Giáo viên không ngần ngạidành thêm các thời gian ngoài giờ làm việc đến tận nhà trẻ để gặp gỡ, trò chuyệnthân mật với các cháu giống một người bác, người dì trong cuộc sống
Lớp học rộng rãi, thoáng mát đảm bảo cho công tác chăm sóc giáo dụctrẻ, lớp học có ti vi, máy tính, nhà trường có máy trình chiếu có thể kết nối vớimáy tính xách tay, lớp được trang bị các tài liệu, sách truyện để làm tài liệu dạy
Bản thân đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Trẻ trong lớp có cùng độ tuổi, sĩ số học sinh đảm bảo phù hợp với điềukiện của lớp và nhà trường, tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao
Trường được xây dựng ở khu trung tâm xã thuận tiện cho việc đi học của họcsinh Khang trang, sạch sẽ có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị cho trẻ hoạt động
Trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, hăng say vớicông tác giáo dục, ham học hỏi, ham tìm tòi Tỷ lệ trình độ cán bộ, giáo viêntrên chuẩn cao so với mặt bằng chung Có sự đoàn kết, sẵn sàng đóng góp, chia
sẻ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc
Ban giám hiệu có trình độ chuyên môn và quản lý cao luôn tạo điều kiện
và quan tâm sát sao đến những khó khăn của giáo viên
2.2.2 Khó khăn:
Dân cư sống không tập trung Địa hình phức tạp việc đi đến lớp học củatrẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn 100% học sinh trong lớp là dân tộc Tháinên khả năng giao tiếp bằng Tiếng Việt của các em còn rất hạn chế
Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào việcdạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình Họ thậm chí còn không nhận thức được tầmquan trọng của Tiếng Việt đối với sự hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ
Trang 7Do điều kiện kinh tế khó khăn để có tiền cho con ăn học nhiều bậc cha,
mẹ đã đi xa làm thuê, làm mướn ở xa Trẻ phải ở nhà với ông bà nên chưa thật
sự nhận được sự quan tâm đúng đắn từ gia đình
Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ chưa phong phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo
Ngôn ngữ nói Tiếng Việt của trẻ còn hạn chế dẫn đến tình trạng trẻ chậmchạp, nhút nhát, chưa tự tin
Đặc điểm sinh lý của trẻ giai đoạn này là nhanh nhớ nhưng cũng mauquên nên trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu cũng như trật tự các từtrong câu Vì thế, xu hướng trẻ thường bỏ bớt từ và âm khi nói
Để có cơ sở cho việc nghiên cứu của mình, tôi đã tiến hành khảo sát tìnhhình của trẻ ở lớp tôi đầu năm với tổng số 31 trẻ Qua khảo sát kết quả cho thấynhư sau:
Kết quả khảo sát khi chưa áp dụng các giải pháp
Trẻ đạt Trẻ chưa đạt Số
Trẻ nói chuẩn Tiếng Việt, không
pha lẫn tiếng dân tộc khi giao
tiếp
3 Trẻ hứng thú tham gia vào hoạtđộng học và trò chuyện cùng cô. 31 11 35,5 20 64,5
4 Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầucủa cô khi ở lớp. 31 20 64,5 11 35,55
Trẻ biết một số từ đơn giản trong
giao tiếp diễn đạt những yêu cầu,
mong muốn của bản thân
6 Trẻ đọc thơ và kể chuyện mộtcách mạch lạc. 31 8 26 23 74
7 Trẻ tự tin thể hiện, trao đổi trò chuyện cùng cô hay người lạ 31 5 16,1 26 83,9Nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng trên: Do đầu năm cô vẫn chưa
có phương hướng về công tác dạy trẻ làm quen Tiếng Việt
Nguyên nhân khách quan: Với đặc thù trường có 100% trẻ theo học là dântộc thiểu số, hầu hết giao tiếp của trẻ đều được thực hiện bằng tiếng mẹ đẻ(Tiếng dân tộc ) Chỉ khi đến trường trẻ mới bắt đầu bập bẹ học nói Tiếng Việt
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệudành riêng giáo viên dạy vùng Dân tộc
- Đa số phụ huynh chưa thành thạo tiếng Việt, việc trao đổi trò chuyện vớitrẻ bằng tiếng phổ thông tại gia đình trẻ chưa có sự chú trọng
Từ những thực trạng trên bản thân là một người giáo viên nhận được sựtin tưởng của Đảng nhà nước, của nhà trường và đặc biệt là các bậc phụ huynh
Trang 8tôi luôn nung náu ý nghĩ phải cố gắng nắm được tâm lý và nguyện vọng của trẻ
để từ đó xây dựng các biện pháp giúp các em học sinh dân tộc thiểu số của lớpmình mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp bằng Tiếng Việt
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để tạo sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1 ở trường mầm non Thành Lâm, huyện Bá Thước
2.3.1 Giải pháp 1: Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet, dự giờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm.
Để có biện pháp phù hợp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách hiệu quảnhất trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻmẫu giáo 5-6 tuổi Qua một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, bản thân nhận thấy
rõ đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói chung, trẻ mẫugiáo 5 – 6 tuổi trường mầm non Thành Lâm lớp tôi phụ trách nói riêng, cụ thểnhư sau:
- Đặc điểm phát âm: Trẻ bắt chước ngữ điệu câu nói một cách dễ dàng,
tiếp thu học từ mới nhanh, nghe hiểu và trả lời được nhiều loại câu hỏi Hoànthiện về mặt phát âm Tuy nhiên, vẫn còn một số cháu phát âm chưa đúng phụ
âm đầu hoặc âm cuối, một số cháu còn nói ngọng, bắt chước cách nói chuyệnpha lẫn tiếng dân tộc thiểu số và Tiếng việt vào một câu nói của người lớn
Ví dụ: âm “k” được cháu phát âm thành âm “t”: cơm – tơm, cá – tá…
- Đặc điểm vốn từ:
+ Ở lứa tuổi này số lượng từ tăng lên không chỉ phụ thuộc vào tháng tuổi
mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác
+ Số lượng và tỉ lệ các loại từ phát triển theo quy luật: trẻ càng lớn thì tỉ lệdanh từ, động từ càng giảm, tỉ lệ các từ loại khác tăng lên
- Đặc điểm ngữ pháp: Trẻ không còn sử dụng câu 1 từ mà sử dụng các loại
câu: câu cụm từ, câu đầy đủ 2 thành phần, câu đơn mở rộng các thành phần, câuphức (đẳng lập và chính phụ) Mặc dù đã có những tiến bộ lớn trong việc tiếpnhận và sử dụng các loại câu trong hệ thống câu Tiếng Việt, song trẻ còn mắcmột số lỗi sau: trật tự câu chưa đúng, thiếu từ trong câu, dùng từ sai…
Ví dụ: Khi trẻ thấy bên cạnh mình có ghế trống thừa không có ai ngồi, trẻthường nói: “Cô giáo ơi! ở đây thiếu một cái ghế”
Sau khi đã nắm được các đặc điểm phát triển ngôn ngữ đó của trẻ tronglớp, tôi sẽ đưa ra các cách giáo dục phù hợp để giúp trẻ phát triển ngôn ngữTiếng Việt một cách tốt nhất
Thời gian gần đây, với sự phát triển kinh tế nhanh chóng và sự bùng nổ của Internet thì ngoài việc tham khảo các tài liệu trên sách báo theo kiểu truyền thống chúng ta còn có thể có được rất nhiều kiến thức bổ ích, thông qua tìm kiếm trên mạng Internet, đây là một công cụ thuận tiện để tiếp cận nhanh và dễ dàng đến một lượng thông tin khổng lồ và phong phú trên khắp thế giới, trong mọi lĩnh vực Bên cạnh đó việc tham quan, kiến tập dự giờ học hỏi kinh nghiệm
từ đồng nghiệp cũng là một yếu tố rất quan trọng giúp bản thân lĩnh hội thêm nhiều kiến thức thực tế mà trên sách vở hay Internet không có Do đó ngoài việc
Trang 9tự trau dồi, bổ sung kiến thức của bản thân qua sách báo hay Internet tôi thường xuyên trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp của mình.
Hình ảnh:Giáo viên tham gia học chuyên đề về tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
2.3.2 Giải pháp 2: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe–hiểu– thực
hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt,tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của
cô đều Với mục đích giúp trẻ hiểu nghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt.Yêu cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻnói Tiếng Việt mà không hiểu nghĩa Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùngtrực quan, hành động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách
cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chínhxác vấn đề
Ví dụ: Trong khi giao lưu với trẻ bằng Tiếng Việt nếu có câu từ nào khó hiểu,trừu tượng không có hình ảnh minh họa thì tôi thường dùng tiếng mẹ đẻ ( tiếng dândộc thiểu số) để giải thích nghĩa của từ và câu đó cho trẻ hiểu trước sau đó mớihướng dẫn trẻ phát âm bằng Tiếng Việt Dù vậy tôi thường khéo léo vận dụng đểkhông quá lạm dụng vào tiếng mẹ đẻ khi trao đổi với trẻ Tôi thường xuyên dùngnhững từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú
và chăm chú nghe cô nói
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗiđược vấn đề hơn:
Ví dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “Con gì đây” và “đây làcon gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đótrẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật.Vì vậy khi cho trẻtiếp súc đối
tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễhiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ
Trang 10Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựachọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻphải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể.
Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên họcnhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biệnpháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏitrẻ cô có gì đây? Một số trẻ trả lời “Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng và cho
cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rấtnhanh và hiệu quả cũng rất cao
Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làmcho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiệntượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻcũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó
Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vịcấu trúc âm tiết khác nhau, nghe biểu cảm về phương diện âm thanh
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay
từ những ngày đầu trẻ tới lớp là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quenvới ngôn ngữ tiếng Việt Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe
từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thíchthú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò truyện giaotiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung
cô cần truyền đạt Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng,mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ,
ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nộidung Kể cho trẻ nghe các câu truyện trong chủ đề kèm phần mềm các silePowerpoint minh họa câu chuyện trên máy, hay bằng tranh ảnh, sa bàn gây hứngthú cho trẻ
Trang 11Hình ảnh: Cô đang đọc thơ cho trẻ nghe kết hợp sa bàn và phần mềm các sile
Powerpoint trên máy tính
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tính phù hợp,chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảotính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền
+ Trẻ học Tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằmgiúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, khônggượng ép Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cáchriêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt Phong cách riêng chính là nền tảng củachất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em Nắm bắt được đặc điểm nàytôi đã không ngừng học hỏi, sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí,thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nộidung từng chủ điểm
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
- Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to Để 3 cáihộp rỗng vào Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác Cô nóivới Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé Để cho thuyền ra khơi, cần cógió đẩy thuyền đi Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!” Điều quan trọng là theodõi việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô Để kích thíchkhẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”,
“Con thấy mặt nước trông như thế nào?”… cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ cáctrẻ khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạncùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những conthuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưngtrẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”,
“thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô
và các bạn
Hình ảnh: Trẻ đang chơi trò chơi “những chiếc thuyền”
Trang 12- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội đểgiáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựngcủa mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻnêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên
cô, tên các đồ dùng đồ chơi
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng xung quanh để trò truyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khácthường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váymới…
2.3.3 Giải pháp 3: Tăng cường sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng Tiếng Việt thông qua các hoạt động trò chơi, vui chơi.
Ngôn ngữ của trẻ nói chung và trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đều có quan hệmật thiết với các hoạt động vui chơi của trẻ, không thể phát triển ngôn ngữ chotrẻ nếu tách rời trẻ khỏi các hoạt động Hoạt chủ đạo của trẻ mẫu giáo nói chung
là hoạt động vui chơi Chính vì thế mà tôi chọn tổ chức trò chơi là cách pháttriển vốn từ, khả năng vận dụng vốn từ vào việc luyện câu cho trẻ dân tộc thiểu
số lớp mình Nội dung này tôi sẽ phổ biến và khuyến khích các đồng nghiệptrong trường tổ chức thường xuyên trong các lớp học của mình, và đặc biệt làtăng cường cho các trẻ dân tộc thiểu số chơi nhiều hơn Trò chơi thì có rất nhiềuloại, tuy nhiên phải chọn ra các trò chơi lành mạnh và phù hợp với trẻ Mang
tính giáo dục cao, đúng mục đích Tăng cường sự tự tin trong giao tiếp bằng
Tiếng Việt thông qua các hoạt động trò chơi, vui chơi Cho trẻ lối suy nghĩ
chững chạc hơn, giao tiếp đúng mực, cố gắng để phối hợp tốt với bạn bằng cáchphát âm chuẩn hơn Các trò chơi được tôi sử dụng nhiều thường là các trò chơidân gian, trò chơi học tập, trò chơi sáng tạo…
Ví dụ 1: Trò chơi dân gian:
Có rất nhiều các loại trò chơi dân gian dành riêng cho trẻ em, bởi trò chơidân gian thường đơn giản, dễ chơi, dễ hòa nhập Ở bất cứ đâu chúng ta cũng đều
có thể lựa chọn được các loại trò chơi dân gian phù hợp: Ở sân nhỏ thì có thểchơi “ Ô ăn quan, Đá Cầu”… Sân rộng hơn thì chơi “ Bịt mắt bắt Dê, Rồng rắnlên Mây, trốn tìm, Mèo đuổi Chuột…” Khi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dângian tôi thường kết hợp với các bài đồng giao mộc mạc, vui tươi, ngộ nghĩnh, dễnhớ nhằm rèn luyện khả năng hiểu, ghi nhớ và phát âm mạch lạc của trẻ Nhưvậy sau mỗi lần chơi sẽ cung cấp thêm được rất nhiều vốn từ cho trẻ