Trẻ lứa tuổi này rất dễ nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điềuhọc được ở trường, hình thành dấu ấn lâu dài, giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo sẽ góp phầ
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON NGA YÊN
Người thực hiện: Phạm Thị Phương Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Nga Yên SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 22.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 32.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 52.3.1 Tuyên truyền, phối hợp phụ huynh chuẩn bị cơ sỏ vật chất,
phục vụ chăm sóc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm 52.3.2 Xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và an toàn thực
2.3.3 Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
thông qua hoạt động trong ngày ở mọi lúc mọi nơi 8
2.3.5.Lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng thông qua tổ
2.3 6 Phối hợp với Trạm y tế Xã khám sức khỏe và cân đo theo
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài sáng kiến đã được xếp loại
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1.Lý do chọn đề tài
Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là vấn đềnóng bỏng, là mối quan tâm của toàn xã hội Trong những năm gần đây, đã cónhiều vụ xảy ra ngộ độc thực phẩm ở các địa phương các bếp ăn tập thể trong cảnước làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người
“Các cơ sở giáo dục mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ cònyếu ớt, chưa chủ động, ý thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm” Vì vậy ngành học mầm non đã đưa nội dung “Giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm” vào chương trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo
dục trẻ ở lứa tuổi này [1]
Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo ngành học mầm non đã đưanội dung chuyên đề giáo dục dinh dưỡng, Vệ sinh an toàn thực phẩm vàochương trình chăm sóc giáo dục trẻ Đây là việc làm vô cùng cần thiết, nó tạođược sự liên thông chăm sóc nuôi dưỡng từ độ tuổi mầm non cho đến lứa tuổihọc đường Chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ là một quá trình tác động có mụcđích, có kế hoạch lên tình cảm, lý trí của trẻ nhằm thay đổi nhận thức, thái độ,hành động để trẻ tự giác chăm lo đến vấn đề ăn uống, vệ sinh sức khỏe, cá nhân,tập thể và cộng đồng
Như vậy giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầmnon là việc làm cần thiết, đối với trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổinói riêng Trẻ lứa tuổi này rất dễ nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điềuhọc được ở trường, hình thành dấu ấn lâu dài, giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo sẽ góp phần quan trọng tạo ra lớp người mới
có sự hiểu biết đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, biết lựachọn ăn, uống hợp lý, đúng cách, đảm bảo sức khoẻ tốt, thân thể hài hòa, cânđối
Với tầm quan trọng của việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thựcphẩm cho trẻ mầm non, bản thân tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi những biện pháp, thủthuật trong quá trình giáo dục trẻ, lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động dinhdưỡng, sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm mọi lúc, mọi nơi một cách tíchcực, đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy năm học này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài
“Một số giải pháp lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 - 6 tuổi Trường Mầm Non Nga Yên”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Nâng Cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩmcho trẻ trong trường mầm non Nga Yên, trên thực tế để phân tích tìm hiểu biệnpháp khắc phục hạn chế nhằm giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thựcphẩm cho trẻ trong trường
- Thu hút sự quan tâm của các cấp các nghành, các bậc phụ huynh quantâm đến việc giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ tại trường mầm non, đểtừng bước chuẩn hóa, đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng, dụng cụ,… nhằm tạo chotrẻ môi trường tốt phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng
và VSATTP cho trẻ Từ đó giúp trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động mộtcách tốt hơn
Trang 4- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc giáo dục dinh dưỡng vàVSATTP trong trường để phân tích thực trạng một số biện pháp giáo dục dinhdưỡng và VSATTP ở đơn vị.
- Rút ra các bài học về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh ATTP cho trẻ
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm Non Nga Yên - Nga Sơn – ThanhHóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này Tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp đàm thoại: Phương pháp này được sử dụng để phụ huynh
và giáo viên trong trường thảo luận về các ý tưởng để phục vụ chăm sóc giáodục dinh dưỡng và VSATTP
- Phương pháp nghiên cứu: Bản thân tôi đã tiến hành đọc tham khảo tài
liệu liên quan để tìm ra một số biện pháp lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục
và VSATTP cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày của trẻ ở mọi lúc mọinơi Phân tích tổng hợp hệ thống hóa để xây dựng cơ sở khoa học của đề tài
- Phương pháp thực hành:Từ những kiến thức, những kinh nghiệm đã
nghiên cứu, thu thập được, thực hành làm ra được nhiều đồ dùng đồ chơi phục
vụ giáo dục dinh dưỡng và VSATTP, phục vụ giáo dục phát triển cho trẻ
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để sử lý số
liệu đã khảo sát giúp ứng dụng trên trẻ, giúp cho việc đánh giá kết quả thựctrạng được chính xác
- Phương pháp tuyên truyền: Sử dụng tuyên truyền để phụ huynh tham
gia phối kết hợp chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc giáo dục dinh dưỡng
và VSATTP cho trẻ
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống quốc dân, sự pháttriển của trẻ thời kỳ này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục thế hệtrẻ, có vai trò quyết định, tạo tiền đề vững chắc cho phát triển về sau, xuyên suốt
cả một đời người Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh
mẽ và hoàn thiện dần Vì thế cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc vàmất cân đối Do vậy trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu như được chăm sóc mộtcách hợp lý Bên cạnh đó sức khỏe của trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:Chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền, môi trường Trong đó dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sựphát triển của trẻ em
Chính vì vậy để giúp cơ thể khỏe mạnh, tăng sức đề kháng giúp phòngbệnh cho trẻ em cần có chế độ ăn uống cung cấp đủ năng lượng, protein vàkhoáng chất, uống đủ nước, hoạt động thể lực hợp lý Chất đạm là nguyên liệuquan trọng để tạo ra các kháng thể có từ thưc phẩm thịt, cá, trứng, sữa, thủy hảisản và đậu đỗ… ngoài ra cần cung cấp đủ các vitamin và muối khoáng cần thiếtnhư vitaminA, C, D,E, sắt, kẽm, selen và các chất chống oxy hóa như Flavonid
Ăn đủ số lượng thực phẩm theo tháp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ 3-5 tuổi củaViện Dinh Dưỡng [2]
Trang 5Trong thời đại của nền văn minh trí tuệ giáo dục mầm non đang có nhữngchuyển biến mới về chất lượng, đổi mới chung của ngành giáo dục Dưới ánhsáng của nghị quyết về công tác cải cách giáo dục điều lệ trường mầm non cũng
đã nêu lên nhiệm vụ hàng đầu trong 4 nhiệm vụ của trường mầm non, vì vậyviệc chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhằm phát triển cân đối hài hòa, nhằm chống đỡbệnh tật Vì thế nếu chúng ta chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh không tốt về cá nhântrẻ, môi trường trong và ngoài lớp đều gây cho trẻ ốm đau, bệnh tật, dẫn đến sựphát triển về thể chất bị kìm hãm, các quá trình tâm sinh lý đang trên đà hìnhthành và phát triển cũng không thể nào phát triển trên một cơ thể gầy còm, ốmyếu
Mặt khác, năm học 2020 – 2021 là năm thứ sáu thực hiện chuyên đề pháttriển vận động nên việc lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày là việc làm vô cùng quantrọng vì sức khỏe vốn là quý, qua đây tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt cả vềthể lực và trí tuệ sau này Vì vậy nếu trẻ được chăm sóc, ăn uống đầy đủ, ngủ đủgiấc, được tham gia các hoạt động học tập, vui chơi phù hợp thì trẻ sẽ phát triểntoàn diện nhân cách trẻ
2.2 Thực trạng.
2.2.1 Thuận lợi:
* Đối với nhà trường:
- Trường mầm non Nga Yên là trường chuẩn quốc gia, tổ chức nuôi bán trú100% tại trường nên có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chăm sócnuôi dưỡng, giáo dục trẻ và thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm đạt hiệu quả
- Được sự quan tâm của Đảng Ủy, UBND Xã Nga Yên, trường mầm nonNga Yên được xây dựng bếp ăn một chiều đảm bảo theo đúng yêu cầu củangành giáo dục Với sự quản lý tham mưu, chỉ đạo chặt chẽ của BGH nhàtrường đã vận động được sự ủng hộ của các ban ngành đoàn thể, hội cha mẹ họcsinh trong việc đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tácchăm sóc giáo dục trẻ tương đối đầy đủ
- Trường có khuôn viên thoáng mát, sạch sẽ có hệ thống cống rãnh hợp vệsinh, có nguồn nước sạch phục cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
* Đối với bản thân:
Năm học 2020 - 2021 tôi được phân công đứng lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi Với
15 năm kinh nghiệm chủ nhiệm cùng một độ tuổi và trực tiếp chăm sóc nuôi dạytrẻ, đây là điều kiện tốt để tôi tìm tòi ra những giải pháp hay dạy trẻ một cáchphù hợp và hiệu quả hơn Đặc biệt là những kinh nghiệm để lồng ghép nội dungdinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
* Đối với học sinh:
Trẻ cùng độ tuổi, đa số các cháu đều nhận biết và gọi tên các loại thựcphẩm sẵn có ở địa phương Các cháu có một số kỹ năng tự phục vụ trong ănuống và vệ sinh cá nhân
* Đối với cha mẹ:
Luôn sát cánh cùng nhà trường cho nên công tác phối kết hợp giữa gia đìnhtrẻ và cô giáo đạt hiệu quả cao
Trang 62.2.2 Khó khăn:
Tuy nhiên, trong thực tế trường vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn:
* Đối với nhà trường: Giá cả thị trường không ổn định, tình hình dịch bệnhgia súc, gia cầm tăng Do đó nguồn thực phẩm tươi ngon phục vụ cho trẻ trở nênkhan hiếm và đắt đỏ hơn, gây nhiều khó khăn cho công tác nuôi dưỡng trẻ tạinhà trường
* Đối với bản thân: Bản thân chưa chú trọng đến khả năng gây hứng thúcho trẻ vào các hoạt động, nhất là hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh antoàn thực phẩm còn nhiều hạn chế
* Đối với học sinh :
- Trẻ lớp tôi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu biết về dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế Những món ăn trẻ được tiếp xúc còn ít,nhiều trẻ còn chưa biết mình thích ăn món gì nhất
- Sự hiểu biết về ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khoẻ và phòng tránhbệnh tật còn nhiều hạn chế
* Đối với cha mẹ: Một số bậc cha mẹ chưa thực sự quan tâm đến sức khoẻcủa trẻ để trẻ ăn, ngủ, vệ sinh tuỳ thích, mất vệ sinh Từ đó dẫn đến số trẻ suydinh dưỡng còn nhiều và mắc một số bệnh tật như: Sâu răng, còi xương, ngoài
da, đau mắt, tiêu chảy, hô hấp
* Xuất phát từ thực tế đó tôi nhận thấy và đã tiến hành tổng hợp kết quảcân đo, khám sức khỏe trẻ lần 1 và khảo sát về nhận biết dinh dưỡng giúp conngười khỏe mạnh, chống đỡ được các loại bệnh tật cũng như hiểu biết về vệ sinhcủa trẻ trong lớp Kết quả cho thấy: Tổng số có 26 cháu trong đó 16 trẻ gái và 10trẻ trai Trong đó:
* Kết quả cân đo, chấm biểu đồ:
<-3SD
TL
%
Thừacân(2SD<Z-SCORE<
3SD)
TL
%
KênhBT
TL
%
KênhTC
TL% Bệnh khác TL%
26 0 0 2 7,7 2 7,7 4 15 3 11,5 0 0 3 11,5 0 0
* Kết quả khảo sát đầu năm trên trẻ về nhận thức,thói quen dinh dưỡng và
vệ sinh ATTP.
Trang 75 Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn uống đơn
6 Có thói quen vệ sinh văn minh trong
ăn uống, có thói quen vệ sinh cá nhân 26 21 81 5 19
(Kết quả khảo sát từng trẻ: Xem phụ lục 1)
Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả chung trên trẻ còn thấp:
- Tỷ lệ trẻ đạt chưa cao và tỷ lệ trẻ chưa đạt còn nhiều
Từ thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm cho trẻ tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các hìnhthức giáo dục phù hợp giúp trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái Từ đógiúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Thông qua thực trạng trên tôi đã đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhất phùhợp với thực tế của trường, của lớp và của địa phương
2.3.1 Tuyên truyền, phối hợp cha mẹ chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh ao toàn thực phẩm.
Hàng năm vào dịp đầu năm học trường tôi tổ chức buổi họp phụ huynhriêng của mỗi lớp tận dụng cơ hội này tôi đã tuyên truyền tầm quan trọng củadinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ để cha mẹ cùng nghe vàhiểu được như: Muốn có một cơ thể khỏe mạnh cần ăn uống hợp lý
và được chăm sóc sức khỏe đầy đủ Trẻ em ở lứa tuổi này cơ thểđang phát triển mạnh nhu cầu dinh dưỡng rất lớn, nếu thiếu ăntrẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả về các bệnh vềdinh dưỡng … Dinh dưỡng là cơ sở của sức khỏe, ăn uống theođúng yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực và trí tuệ phát triển tốt, trẻ
em mạnh khỏe học giỏi thông minh phát triển toàn diện theo 5lĩnh vực: Đức, Trí, Lao, Thể, Mỹ
Trang 8Từ việc hiểu được tầm quan trọng của dinh dưỡng đối vớicon em mình tôi đã cho phụ huynh biết được thực trạng thiếuthốn cơ sở vật chất phục vụ cho chăm sóc giáo dục dinh dưỡngcủa trường để cha mẹ biết và phối hợp cùng nhà trường đầu tưmua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dưỡng chăm sóc giáodục dinh dưỡng cho trẻ đảm bảo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ý kiến đóng góp của tôi đã được Ban giám hiệu và toàn trường thống nhấtcao và đưa vào nội dung hội nghị phụ huynh toàn trường đầu năm học ĐượcPhụ huynh nhất trí 100% và tham gia hưởng ứng rất cao
* Kết quả: Cha mẹ đã đồng tình hưởng ứng chăm lo cho sức khỏe cũng
như sự an toàn cho con em khi ở trường Đã đóng góp mua một tủ ga nấu cơmkhay, lắp toàn bộ hệ thống bếp ga công nghiệp, đóng tủ kính đựng bát thìachống bụi cho mỗi lớp 1 ngăn, mua mới toàn bộ xoong, nồi, ấm nhôm, xô chậu,bát , thìa, cốc inox, khăn mặt… Mua các loại đồ dùng tranh ảnh lô tô về 4 nhómthực phẩm, đồ chơi hoa quả, con vật nuôi trong gia đình, dưới nước, trong rừng,rau củ,…xây dựng tạo góc chơi cho trẻ được trải nghiệm với các đồ chơi giađình bán hàng bằng nhựa
2.3.2 Xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm phong phú phù hợp với chủ đề.
* Xây dựng môi trường trong lớp:
Môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trẻ, nó thúc đẩy và cótác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển đến tất cả các mặt của trẻ Vớiđặc điểm của trẻ mầm non là “học bằng chơi, chơi mà học” Chính vì vậy môitrường trong lớp là nơi để trẻ trải nghiệm, khám phá thế giới xung quanh thôngqua các góc chơi của môi trường giáo dục
Ngay từ đầu năm học tôi đã vận động cha mẹ cùng tham gia làm đồ dùng
đồ chơi trang trí lớp, nhằm giúp trẻ tích cực khám phá tìm tòi phục vụ trong quátrình học tập của trẻ thông qua 6 góc chơi trong lớp
Trong lớp tôi đã trang trí làm nổi bật góc “Bé tập làm nội trợ” đây là góc
hoạt động xuyên suốt cả năm và hoạt động mọi lúc mọi nơi cho trẻ Với nhiềunội dung phong phú gắn liền với từng chủ đề thực hiện Ở góc này, tôi đã cùngcha mẹ mua sắm những đồ chơi bằng nhựa và đồ chơi tự làm như bộ nấu ăn:xong, nồi, bát thìa, bộ đồ chơi những loại rau, quả, các nhóm thực phẩm phục vụcho việc chơi cũng như việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ Bên cạnh đó trẻ cònđược thực hiện các quy trình thông qua các góc mở
Ở góc xây dựng: Tôi đã chuẩn bị những đồ dùng đồ chơi cho trẻ xây dựngnhững trang trại, những vườn rau sạch phù hợp với từng chủ đề trong năm học
Ở góc khám phá khoa học: Tôi cho trẻ quan sát sự nảy mầm của hạt Đồngthời giáo dục trẻ biết gieo hạt, hạt nảy mầm thành cây và cây được lớn lên như thếnào? Từ đó trẻ được quan sát, khám phá trải nghiệm và hiểu được lợi ích của cây.Tại góc bác sĩ: Tôi đã chuẩn bị cho trẻ bộ đồ khám sức khỏe để trẻ hoạtđộng, qua đó tuyên truyền giáo dục cho trẻ cách phòng tránh bệnh tật, bảo vệsức khỏe cho mình cũng như mọi người xung quanh
Trang 9Ở góc sách: Cùng với cha mẹ tôi đã sưu tầm được những tranh ảnh, họabáo về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ xem, quan sát, để từ đógiúp trẻ tiếp thu kiến thức về dinh dưỡng được tốt hơn.
Trong góc bán hàng: Tôi cũng đã chuẩn bị những đồ dùng đồ chơi như:Các loại thực phẩm, các loại rau quả, để trẻ được thực hành vai chơi của mình.Tất cả những đồ dùng đồ, đồ chơi chế biến dinh dưỡng tôi đều sắp xếp ởcác góc chơi một cách khoa học để giúp trẻ dễ thấy, dễ lấy, và dễ cất
* Xây dựng môi trường ngoài lớp:
- Góc tuyên truyền với cha mẹ: Ở góc này tôi đã xây dựng góc trao đổi cha
mẹ để cha mẹ biết về sức khỏe phát triển của trẻ theo giai đoạn có kế hoạchchăm sóc dinh dưỡng phù hợp: Với các nội dung sau:
+ Biết nội dung chương trình hoạt động trong ngày của trẻ, biết nhu cầu dinhdưỡng của trẻ 5- 6 tuổi Biết khẩu phần ăn như thế nào là đầy đủ và hợp lý…
Ví dụ: Số lượng đơn vị ăn khuyến cáo cho trẻ mẫu giáo theo tháp dinh
dưỡng hợp lý cho trẻ 3-5 tuổi, số lượng thực phẩm khuyến nghị cho một ngày ăncủa trẻ như sau:
- Ngũ cốc, khoai củ và các sản phẩm chế biến: Ăn trung bình từ 5 – 6 đơn
vị ăn ngũ cốc, khoai củ và sản phẩm chế biến trong một ngày Trong mỗi bữa ănnên có sự phối hợp giữa ngũ cốc và khoai củ
- Rau lá, rau củ quả: Ăn hai đơn vị rau lá, rau củ quả một ngày Bữa ăn nênphối hợp nhiều loại rau, củ, quả để cung cấp đa dạng các loại vitamin và chấtkhoáng khác nhau
- Trái cây/ quả chín: Ăn hai đơn vị trái cây/ quả chín một ngày Nên chotrẻ ăn đa dạng các loại trái cây, quả chín
- Thịt, thủy sản, trứng và các loại hạt giàu đạm: Ăn 3,5 đơn vị thịt, thủysản, trứng và các loại hạt giàu đạm một ngày Bữa ăn cần đa dạng các loại thựcphẩm giàu đạm, cần cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật
- Sữa và chế phẩm sữa: Có thể sử dung 4 đơn vị sữa và chế phẩm sữa 1ngày Nên phối hợp 3 loại sản phẩm sữa để tối ưu hóa thành phần dinh dưỡngtrong sữa và chế phẩm sữa
- Dầu mỡ: Sử dụng dưới 5 đơn vị ăn dầu/mỡ 1 ngày (dưới 25 ml dầu/mỡ 1ngày)
- Đường: Sử dụng dưới 3 đơn vị 1 ngày (dưới 15g đường)
- Muối: Sử dụng 6 cốc nước và dịch lỏng (mỗi cốc nước tương đương với200ml nước).Không nên cho trẻ uống nước ngọt
- Tăng cường vận động: Ở nhà, cha mẹ nên khuyến khích trẻ tập làm việcnhà như sắp xếp đồ chơi sau khi chơi, quét nhà và tự gấp quần áo Cần hạn chếthời gian trẻ ngồi, xem ti vi và chơi game [3]
+ Biết được những điều cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm
+ Biết giá trị dinh dưỡng của các loại thực phẩm thông thường có ở địaphương Biết được 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý mới của Bộ y tế vừa banhành
Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Thế giới thực vật” và chủ đề “Thế giới động vật” tôi tuyên truyền với các bậc cha mẹ cho trẻ được làm quen với các loại rau
củ quả tại gia đình Hay còn phô tô sưu tầm các bài thơ, bài hát, câu chuyện có
Trang 10nội dung về dinh dưỡng và sức khỏe để các bậc cha mẹ cho trẻ học tại nhà như:Câu chuyện hai anh em, cây khế, sự tích quả dưa hấu, sự tích bánh chưng, bánhgiày.Thơ: Bắp cải, đồng giao bác bầu, bác bí ; Bài thơ nàng tiên ốc, tìm ổ, rong
và cá ; Bài hát tôm, cá, cua thi tài, năm ngón tay ngoan, tập đếm, tập rửa mặt,mời bạn ăn Cứ như vậy sẽ giúp trẻ khắc sâu kiến thức nhanh nhất
Hình ảnh minh họa 1 (kèm theo phụ lục hình ảnh 1 giải pháp 2.3.2) Góc tuyên truyền của lớp.
* Kết quả: Qua việc tuyên truyền đến các bậc cha mẹ giúp cha mẹ hiểu rõ
về vai trò quan trọng của giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm chotrẻ, đồng thời phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình quan tâm đếnvấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
- Môi trường bên ngoài giáo dục trẻ: Ở đây nếu tháng nào thực hiện chuyên
đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thì tôi chuyển lô tô, tranhảnh sách báo những hình ảnh về nội dung chuyên đề này Bên cạnh đó tôi đã lên
kế hoạch 1 tháng/1 lần tổ chức các hoạt động học có lồng ghép nội dung giáodục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm dưới nhiều hình thức câu đố, tròchơi, thơ truyện,…giúp trẻ hứng thú tham gia học tập tốt Mời cha mẹ đến thamgia, từ đó cha mẹ nắm được kiến thức cũng như kỹ năng cùng phối hợp với côgiáo để giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn phẩm cho trẻ đạt kết quả tốt
Trong năm học với khu vực vườn rau của bé: Được nhà trường đã phâncông mỗi nhóm lớp một luống Tôi đã cùng với các bác cha mẹ của lớp trồngmùa nào rau đấy, gồm các loại rau: Muống, đay, mồng tơi, cải bắp, cải thìa, càrốt… Để trẻ cùng cô hàng ngày tưới, chăm sóc Đặc biệt là trẻ biết được đây lànguồn rau sạch, an toàn, biết được phải lao động vất vả mới có rau ăn, được tìmhiểu về tác dụng của các loại rau đối với cơ thể con người…
Việc xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp theo các chủ đề, xuyênsuốt cả năm học trong đó có kế thừa đồ dùng đồ chơi của chủ đề trước sang chủ
đề sau Đặc biệt là xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toànthực phẩm, giúp cho 100% cha mẹ hiểu để cùng với cô giáo dạy trẻ nhận biếtgiá trị của các chất dinh dưỡng và giữ được vệ sinh an toàn thực phẩm Hơn nữatrong các đợt nhà trường tổ chức chấm điểm trang trí lớp và xây dựng môitrường giáo dục lớp tôi đều xếp loại tốt
2.3.3 Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày ở mọi lúc mọi nơi.
Muốn đứa trẻ phát trển toàn diện thì điều kiện đầu tiên chúng ta nhắc đến
đó là “sức khỏe” do đó dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi conngười Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực, trí tuệ và góp phần pháttriển toàn diện nhân cách cho trẻ Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốtcủa mọi người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡngthích hợp, việc được chăm sóc sức khỏe đầy đủ có môi trường sống hợp vệ sinh.Trên cơ thể nhận thức được tầm quan trọng của giá trị dinh dưỡng và điềukiện kinh tế hiện nay, là một giáo viên mầm non tôi cần tuyên truyền giáo dụcdinh dưỡng cho mọi người, nhất là giáo dục dinh dưỡng đối với trẻ ngay ở độtuổi mầm non
Trang 11Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạchđến tình cảm, lý trí con người nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để
đi đến tự giác.Chăm lo vấn đề ăn uống và sức khỏe cá nhân, tập thể cộng đồng
Từ thực tiễn trên tôi đã lồng ghép giáo dục dinh dưỡng thông qua một sốhoạt động trong ngày vì: Giáo dục dinh dưỡng là biện pháp nhằm hướng đếnhình thành những thuộc tính tâm lý và năng lực chung của trẻ, nhằm phát triểntoàn diện nhân cách ban đầu ở trẻ, kích thích, thu hút, lôi cuốn trẻ tham gia giảiquyết những nhiệm vụ học tập như khám phá mối liên kết giữa hành vi và sứckhỏe, củng cố sự hiểu biết của trẻ về dinh dưỡng sức khỏe Chính vì vậy tôi đãđưa hoạt động giáo dục dinh dưỡng vào các hoạt động trong ngày
2.3.3.1 Giờ đón - trả trẻ.
- Tôi trò chuyện với trẻ về các loại thực phẩm mà trẻ biết tác dụng của thựcphẩm đó đối với sức khoẻ con người phù hợp với chủ đề, giáo dục trẻ giữ gìn vệsinh cá nhân, vệ sinh chung
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới thực vật ” tôi trò chuyện với trẻ về các loại rau,
quả như tên gọi, đặc điểm, là thực phẩm chứa nhiều chất vitamin, chất khoáng,
ăn các loại rau quả giúp cho cơ thể tăng sức đề kháng, phòng chống bệnh tật.Trước khi ăn phải làm sạch, gọt vỏ… các loại thực phẩm, rửa tay, rửa các dụng
cụ chế biến
- Tôi cho trẻ làm quen với đồ dùng, đồ chơi mới, từ đó giới thiệu thêm một
số thực phẩm mới cho trẻ biết về tên gọi các chất có trong các loại thực phẩm đógiúp trẻ có thêm kiến thức về các loại thực phẩm mà địa phương không có
Ví dụ: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi cho trẻ làm quen với đồ chơi mới
do bản thân tôi tự làm về các loại cá nước lợ, nước mặn mà ở địa phương tôikhông có như cá chim, cá thu, cá hồi Sau đó tôi giới thiệu về tên gọi của từngloại cá và cho trẻ biết các loại cá này sống ở biển và vùng gần biển nên ở địaphương không có các loại cá này là thực phẩm chứa nhiều chất đạm
Ngoài ra tôi còn cho trẻ kể tên các món ăn mà trẻ biết và để trẻ tự kể mìnhthích ăn món gì nhất, qua đó tôi cũng tranh thủ giới thiệu thêm các món ăn khác
để góp phần làm tăng vốn hiểu biết phong phú về các món ăn cho trẻ
* Kết quả:
+ Trẻ biết tên gọi, đặc điểm của một số thực phẩm của địa phương và ở địaphương không có thông qua giờ đón – trả trẻ
+ Trẻ biết tác dụng của thực phẩm đối với sức khỏe con người
+ Biết được một số tên các món ăn và món ăn mình thích
2.3.3.2 Lồng ghép nội dung GDDD và VSATTP thông qua các HĐ có chủ định.
Tổ chức các giờ hoạt động có chủ định là hoạt động chủ đạo để giúp tôilồng ghép, tích hợp giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻmột cách tốt nhất Bởi vậy, căn cứ vào nội dung cụ thể của từng hoạt động màtôi tiến hành lồng ghép phù hợp như sau:
* Với hoạt động khám phá khoa học, khám phá xã hội :
Nhằm củng cố, hệ thống hóa, chính xác hóa những kiến thức về dinhdưỡng mà trẻ đã làm quen ở mọi lúc mọi nơi, phát triển trí tuệ cho trẻ
- Dạy trẻ biết tên gọi đặc điểm cấu tạo của đối tượng trẻ biết được thành
Trang 12phần các chất và giá trị dinh dưỡng của đối tượng đó đối với cơ thể con người.Trẻ biết được tác dụng của các chất Prôtít, Lipít, Gluxít, các loại vitamin vàmuối khoáng với cơ thể con người.
- Khi sử dụng các hình thức này cần đạt các yêu cầu sau:
+ Phát huy tính tự giác, chủ động của trẻ, đảm bảo không khí vui tươi thoảimái nhẹ nhàng, không gò bó áp đặt
+ Giờ học phải có trọng tâm, tránh dàn trải, lan man, cần biết phối hợp giữacác phương pháp một cách linh, hợp lý
Ví dụ: “Bài một số con vật nuôi trong gia đình có 4 chân đẻ con”(độ tuổi
Giáo dục: Trẻ có ý thức biết chăm sóc giáo dục vật nuôi, biết giá trị dinhdưỡng của một số con vật nuôi đối với sức khỏe con người
Hình thức này tạo điều kiện cho trẻ được vận động như bắt chước tiếngkêu, dáng đi của các con vật nuôi
- Giúp trẻ hiểu thêm về môi trường xung quanh, phát triển ở trẻ khả năngquan sát và khiếu thẩm mỹ
+ Thông qua hình thức này để giáo dục trẻ đối với thiên nhiên con người
- Đối tượng quan sát phải đảm bảo phù hợp với nội dung bài học, đảm bảothẩm mỹ
- Qua hình thức này trẻ sẽ được tiếp xúc trực tiếp với các loại thức ăn thựcphẩm Do vậy giáo dục cho trẻ tức là giáo dục trẻ hiểu được các thành phần vaitrò ở từng loại lương thực thực phẩm cụ thể nhanh hơn chính xác hơn
+ Hình thức ngoài tiết học gồm nhiều hình thức: dạo chơi, hoạt động vuichơi, các hoạt động khác, ăn trưa và ăn chiều…
- Các tổ chức khác nhau sẽ hỗ trợ giúp đỡ nhau cho việc giáo dục trẻ hiệuquả cao hơn
Đây là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các loạithực phẩm, các chất dinh dưỡng - sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về các loại rau, củ, quả các loại,các con vật nuôi trong gia đình Tôi dạy trẻ biết gọi tên các loại thực phẩm, têngọi các món ăn chế biến từ các loại thực phẩm ấy và giúp trẻ biết được nguồngốc các loại thực phẩm các chất có trong các thực phẩm ấy
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình cụ thể là
con gà mái trẻ biết được gà mái đẻ ra trứng, trứng là thực phẩm có nhiều chấtđạm ăn trứng giúp cơ thể trẻ nhanh lớn Qua đó động viên những trẻ chưa thích
ăn trứng để trẻ tự giác ăn, đồng thời giáo dục những trẻ thích ăn trứng gà ăn ởmức độ vừa phải nếu ăn trứng gà hàng ngày sẽ bị mắc bệnh không tốt cho sứckhoẻ Trứng có thể chế biến thành các món ăn: Trứng rán, trứng luộc, trứng đúcthịt, trứng làm chả rán, trứng có thể dùng nấu canh cà chua…
Tôi cũng cho trẻ biết một số loại thực phẩm giàu các chất dinh dưỡng như:
Trang 13Chất đạm,chất béo,chất bột đường,chất vitamin và muối khoáng tôi củng cốkiến thức dưới dạng trò chơi
Ví dụ: Trò chơi chọn nhóm thực phẩm
Tôi chia các cháu ra thành 5 tổ, mỗi tổ sẽ vận chuyển thực phẩm về theo yêucầu của cô Các rổ chất này đã được trộn lộn nhau, rổ của tổ nào cũng đủ 4 nhómnhưng trẻ chỉ được chọn 1 nhóm chất qui định của tổ mình
+ Tổ 1: Chọn những thức ăn giàu chất bột đường
+ Tổ 2: Chọn những thức ăn giàu chất béo
+ Tổ 3: Chọn những thức ăn giàu chất đạm
+ Tổ 4: Chọn những thức ăn giàu vitamin và muối khoáng
+ Tổ 5: Chọn những thức ăn giàu vitamin A [4]
* Với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học:
Như chúng ta đã biết văn học là tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ của vănhọc là ngôn ngữ biểu cảm lôi cuốn người nghe, các tác phẩm văn học có các tìnhhuống hấp dẫn thu hút sự chú ý của trẻ Chính vì vậy những hoạt động làm quennội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm một cách nhẹ nhàng
và thoải mái từ đó trẻ lĩnh hội nhanh những kiến thức mà cô truyền thụ
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Hạt gạo làng ta” nếu lồng dinh dưỡng bằng cách:
Sau khi đọc bài thơ cô hỏi: Gạo dùng để làm gì? Gạo được chế biến thành nhữngmón ăn gì? Gạo cung cấp chất gì? Tôi thiết nghĩ giáo dục dinh dưỡng lúc này làkhông hợp lí, tuy nói lồng ghép ở mọi lúc mọi nơi nhưng phải lồng ghép ở từnghoàn cảnh sao cho ý nghĩa của nó không sai lệch
Để lồng ghép phù hợp tôi đã đưa giáo dục dinh dưỡng vào phần giới thiệu bài
hát: “Hạt gạo làng ta” sau khi cho trẻ nghe xong tôi hỏi bằng câu hỏi mở.
+ Bài thơ nói về gì?
+ Các con có nhận xét gì về hạt gạo?
Từ đó hướng lái để trẻ biết gạo giàu chất bột đường cung cấp năng lượnggiúp cơ thể khỏe mạnh, gạo còn được chế biến ra nhiều món ăn khác nhau Giáodục trẻ biết bác nông dân làm một nắng hai sương vất vả mới làm nên hạt gạonên phải biết ơn bác nông dân và quí trọng hạt gạo Rồi sau đó tôi cho trẻ quansát một số loại gạo như: Gạo nếp, gạo tẻ rồi sau đó dẫn trẻ vào bài
Ví dụ: Khi cho trẻ học bài thơ “Bắp cải xanh” Đến phần củng cố tôi cho
trẻ đóng các vai về rau, củ, quả để tự giới thiệu về mình như:
Tôi là “Bắp cải ” tôi mang trong mình rất nhiều vitamin và muối khoáng,
các bạn có thể chế biến tôi thành nhiều loại thức ăn khác nhau như: Xào, luộc,nấu lẩu cũng rất ngon và tôi luôn hết mình phục vụ các bạn
Hay “Tôi là cà rốt” da dẻ hồng hào dáng hình nhỏ nhắn nhưng tôi lại cung
cấp rất nhiều vitamin A giúp cho mắt các bạn sáng hơn, sau đó tôi mới dẫn dắtđến với bài mới, làm như vậy các hoạt động học sẻ trở nên sinh động hơn và hấpdẫn hơn nhiều
* Với hoạt động tạo hình:
Thông qua hoạt động tạo hình tôi cũng khéo léo lồng ghép giáo dục dinhdưỡng: Giúp trẻ biết thêm về các thực phẩm, tên thực phẩm, đặc điểm thựcphẩm các chất có trong thực phẩm đó Trẻ được trực tiếp tham gia hoạt độngnhư vẽ, nặn, cắt, xé dán từ đó giúp trẻ nhớ lâu các loại thực phẩm đó
Trang 14Ví dụ: Với hoạt động nặn “Quả Cam” Tôi cho trẻ gọi tên các loại quả,
màu sắc của các loại quả, giáo dục trẻ ăn quả cung cấp cho ta nhiều vitamin,giáo dục vệ sinh cho trẻ trước khi ăn quả phải rửa sạch gọt vỏ bỏ hạt, sau khi
ăn phải bỏ vỏ hạt vào thùng rác khi rửa quả phải biết tiết kiệm nước để tiếtkiệm năng lượng
* Thông qua hoạt động làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng:
Ví dụ: Làm quen với Toán: Cho trẻ đếm đến 9, nhận biết nhóm có 9 đối
tượng , nhận biết số 9
chủ đề thế giới động vật tôi sử dụng các nhóm đồ vật gồm 9 con thỏ và 9
củ cà rốt để trẻ nhận biết và lập số 9 sau đó tôi lồng ghép giáo dục dinh dưỡngbằng cách: Trò chuyện với trẻ thỏ rất thích ăn cà rốt vì ăn cà rốt cung cấp chấtVTM giúp gia dẻ hồng hào, khỏe mạnh Các con có thích ăn cà rốt không? Ăn
* Thông qua hoạt động Âm nhạc:
Ví dụ: Dạy hát bài “Quả gì ” tôi khéo léo lồng ghép giáo dục trẻ để trẻ được
biết có rất nhiều loại quả khác nhau, trẻ kể tên các loại quả có trong bài hát vàgiáo dục cho trẻ biết trong các loại quả chứa nhiều vitamin và chất khoáng khi
ăn thì phải rửa sạch gọt vỏ, bỏ hạt
2.3.3.3 Hoạt động ngoài trời.
Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời cũng có ý nghĩa rất quan trọng trẻđược trực tiếp thăm quan, dạo chơi ngoài trời, cho trẻ quan sát thực tế là rất cầnthiết giúp trẻ ghi nhớ có chủ định
Ví dụ1: Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi tổ chức cho trẻ đi quan sát trang
trại chăn nuôi của bác nông dân gần trường Đưa ra các tình huống cũng như câuhỏi mở như:
- Các con có nhận xét gì về trang trại của bác nông dân: Rất sạch đẹp, nuôirất nhiều các con vật: Gà, Vịt, Ngan, Bò, Lợn…
- Ích lợi của các con vật này như thế nào? Các con vật lớn lên sẽ đẻ con, đẻtrứng, cung cấp nhiều chất đạm bổ dưỡng cho cơ thể
Ví dụ 2: Quan sát vườn rau trẻ được gọi tên các loại rau, quan sát đặc điểm
của các loại rau,… Biết rau là loại thực phẩm cung cấp chất vitamin và muốikhoáng cho cơ thể
Ví dụ 3: Cho trẻ quan sát vườn ngô của bác nông dân Tôi cùng trẻ quan sát
và nhẹ nhàng hỏi trẻ những câu hỏi gợi mở như:
- Các con có biết đây là vườn cây gì? Cây ngô
- Lợi ích của bắp ngô là gì? Cung cấp chất bột đường cho cơ thể con người.Qua việc cho trẻ quan sát ngoài trời tôi đã giúp trẻ biết được công việc củacác bác nông dân là vất vả, một nắng hai sương mới có thể làm ra những sảnphẩm lương thực, thực phẩm cho chúng ta ăn hàng ngày, từ đó giúp trẻ yêu quýbác nông dân và những sản phẩm làm ra của các bác
Trang 15Việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, tạo điều kiện để trẻ tiếp thu và phảnánh những hiểu biết của mình về dinh dưỡng là hoạt động hết sức quan trọng.Trẻ được tiếp xúc với các đồ vật đồ chơi, qua trò chơi tạo điều kiện để trẻ tự họchỏi nhau, thể hiện sự hiểu biết của mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thựcphẩm Qua các trò chơi tôi tạo điều kiện để trẻ vui chơi với đồ chơi, khi trẻ gọitên các thực phẩm, trẻ học cách chế biến món ăn và trẻ được thực hiện các thaotác chế biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cánhân và vệ sinh chung.
ăn và pha chế thức uống như dao, thìa, cốc, chén…
Ví dụ: Trước và sau khi cho trẻ chế biến các món ăn tôi thường tập cho trẻ
thói quen vệ sinh dụng cụ nấu, dao thớt, bát thìa, bát thìa được lau rửa sạch sẽ.Tôi đặt ra câu hỏi mở:
- Trước và sau khi chế biến chúng ta cần làm những công việc gì? Lau rửasạch dụng cụ nấu, dụng cụ sơ chế, chế biến
- Vì sao phải làm như vậy? Để đảm bảo vệ sinh, tránh vi khuẩn xâm nhậpvào thức ăn, đồ uống sẽ rất mất vệ sinh và gây đau bụng
Sau đó, hướng dẫn trẻ thực hành từng bước trên sản phẩm Dạy trẻ biết sửdụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống, tạo ra một số món ăn, nước uống đơn giản:Như pha nước chanh, vắt nước cam…
Sau mỗi món ăn được hình thành tôi hỏi trẻ món ăn này cung cấp chất gì?Cung cấp chất vi ta min và muối khoáng
Hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt, thích thú với các món ăn do mìnhtạo ra và giúp trẻ có thói quen vệ sinh, hành vi văn minh, lao động tự phục vụ ởtrẻ, hình thành kĩ năng sống cơ bản của trẻ
* Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” ở góc đóng vai.
Qua hoạt động “Tập làm đầu bếp” trẻ được thực hành, học tập một cách tích
cực các bài học về dinh dưỡng như cách ăn, cách chọn thức ăn giàu dinh dưỡng Động viên khuyến khích, huy động sự tham gia của các bậc cha mẹ trong
việc tổ chức cho trẻ thực hiện các nội dung “Tập làm nội trợ” như: Đóng góp
các thực phẩm để trẻ thực hành (Rau, củ, quả, tiền….) thu thập các tài liệu, tranh
ảnh có liên quan, tham gia “Triển lãm” tranh “Bé tập làm nội trợ”, tham gia tổ
chức liên hoan sinh nhật, lễ, tết với trẻ, trò chuyện hướng dẫn trẻ thực hành
“Tập làm nội trợ” qua các trò chơi.
Ví dụ: Trẻ chơi đóng vai ở chủ đề:”Gia đình” Tổ chức bữa tiệc mừng sinh
nhật con gái Trẻ đóng vai mẹ và con đi chợ Trẻ biết tạo tình hình chơi nhưngười mẹ nói chuyện với con: Để nấu món canh rau ngót chúng ta phải lựa chọnrau tươi, lá to và không bị sâu, mua thêm ít xương ống cho ngọt nước….rồi trẻnói lên món canh rau ngót cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng đặc biệt là vitami
A và muối khoáng…
Trang 16Hình ảnh minh họa 3 (kèm theo phụ lục hình ảnh 3 giải pháp 2.3.3.4).Bé tập làm nội trợ ở góc đóng vai.
Đối với những trẻ không thích món ăn các món ăn khác nhau mà chỉ nhấtnhất một món ăn, qua chơi sẽ kích thích trẻ muốn ăn và ăn hết xuất và muốn ăn.Như vậy vấn đề khẩu phần ăn của trẻ sẽ được cải thiện, tình trạng trẻ suy dinhdưỡng sẽ giảm hơn
* Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được
trải nghiệm hoạt động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻhiểu biết thêm về dinh dưỡng
- Qua hoạt động góc: Trẻ gọi tên các thực phẩm, biết đặc điểm của các loạithực phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn Biếtcách tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vivăn minh
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ mua hàng, muốn mua loại thực phẩm gì thì hỏi
người bán hàng “Bác ơi, bác có bán trứng không? ” Người bán hàng nhớ đặcđiểm của trứng mà lấy bán cho người mua hàng Từ đó giúp trẻ biết tên và nhớloại thực phẩm
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ đóng vai con hỏi trẻ đóng vai mẹ “Mẹ ơi, mẹ nấu
món gì đấy?” Mẹ trả lời “Mẹ nấu món trứng rán” Từ đó giúp trẻ biết trứng đượcchế biến thành nhiều các món ăn khác nhau
Cũng ở góc phân vai trẻ được trực tiếp chơi với những dụng cụ nấu ăn bằng
đồ chơi và biết cách thao tác các dụng cụ khi chế biến thực phẩm
Ví dụ: Muốn nấu món cá kho thì phải làm thịt cá, đánh vẩy, bỏ ruột, cho gia
vị vào kho
Ở góc xây dựng giúp trẻ biết cách tạo ra thực phẩm tự trồng rau quả, nuôicác con vật qua trò chơi xây dựng vườn rau, quả, khu chuồng trại Ở góc thiênnhiên trẻ lại được trực tiếp trồng và chăm sóc rau quả, chăm sóc các con vậtnuôi, ở góc học tập, góc nghệ thuật trẻ được chơi lô tô, được ra những bức tranh,được đọc thơ, ca dao, đồng dao, vè về các loại thực phẩm
Từ đó giúp trẻ nhớ thêm về các loại thực phẩm, biết các loại thực phẩmđược làm ra từ 4 nhóm, trẻ biết thêm được tầm quan trọng của các chất đối với
sự phát triển của trẻ Việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ởhoạt động góc có hiệu quả vô cùng to lớn để lại ấn tượng cho trẻ rất tốt
2.3.3.5 Thời điểm cho trẻ ăn.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩmvào các hoạt động trên việc giáo dục dinh dưỡng ở giờ ăn cũng rất quan trọng vàrất thiết thực đối với trẻ
Ở giờ ăn: Tôi đã trò chuyện trao đổi với trẻ về bữa ăn hàng ngày như: Hàngngày trước khi ăn chúng ta phải làm gì? (Phải rửa tay) vì sao phải rửa tay? Trẻhọc cách tự phục vụ bản thân, lấy ghế, bát, thìa trẻ còn giúp nhau kê bàn ghế,biết vệ sinh cá nhân trước khi ăn, biết chào mời người khác trước khi ăn, khi ăntrẻ biết giữ vệ sinh chung và những hành vi văn hóa khác
Vào giờ chia ăn tôi tranh thủ giới thiệu các món ăn cho trẻ và thành phầncác món ăn chứa nhiều chất gì? Tác dụng của chất đó đối với cơ thể của trẻ,động viên trẻ ăn món đó tập ăn dần, lúc đầu ăn ít sau đó ăn đủ
Trang 17Hình ảnh minh họa 4 (kèm theo phụ lục hình ảnh 4 giải pháp 2.3.3.5) Giờ ăn trưa của lớp.
Ví dụ: Tôi giới thiệu: Các con ơi! Hôm nay, các cô dinh dưỡng nấu cho các
con ăn món “Cá súp cà chua” ăn cá chứa nhiều chất đạm giúp cơ thể các connhanh lớn, thông minh, học giỏi vì vậy các con nên ăn cá nhé
Khi chiều mát tôi cùng trẻ ra nhổ cỏ, tưới cho luống rau của lớp đã đượctrường phân công Vừa làm cô vừa cùng trẻ đàm thoại để trẻ hiểu được rau tựtrồng sẽ cung cấp thực phẩm sạch, an toàn phục vụ cho bữa ăn của các controng trường Và hỏi trẻ vì sao phải ăn rau? (Vì rau cung cấp chất Vitamin vàmuối khoáng, giúp da dẻ hồng hào thân hình khỏe mạnh, chóng lớn )
* Kết quả: Trẻ lớp tôi thể lực được nâng lên, nhận biết, phân biệt thành thạo 4
nhóm chất dinh dưỡng và biết được lợi ích của các chất dinh dưỡng đối với cơ thểcon người Biết sử dụng thành thạo, và vệ sinh các dụng cụ ăn uống trước và saukhi chế biến Thực hành được các thao tác, quy trình chế biến một số món ăn đơngiản, có thói quen vệ sinh tốt trong ăn uống cũng như vệ sinh cá nhân…
2.3.4 Làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩmcho trẻ vào các hoạt động trên tôi luôn tìm tòi sáng tạo ra những đồ dùng đồchơi đẹp, hấp dẫn, có tính thẩm mỹ cao có đầy đủ số lượng và có nhiều chủngloại để trẻ được học, được trực tiếp hoạt động với đồ dùng đồ chơi giúp trẻ nhớlâu và hiểu thêm về những thực phẩm có trong cuộc sống của chúng ta
Ví dụ 1: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi dùng lá xoài khô, bẹ ngô, đĩa
CD, làm những con cá sống ngoài biển, như cá thu, cá chim, làm những con vật,
ở địa phương không có để cho trẻ được làm quen Từ đó tôi củng cố kiến thứccho trẻ bằng sự luyến lái gợi ý như: Thịt lợn, thịt gà, cá, tôm thì cung cấp chấtgì? Có tác dụng gì đối với cơ thể chúng ta? Để đảm bảo vệ sinh thì chúng ta phảilàm gì? (Cung cấp chất đạm, chất béo, giúp cho cơ thể chúng ta nguồn nănglượng để phát triển khỏe mạnh cân đối, trước khi ăn phải làm sạch nấu chín vàkhông ăn thực phẩm ôi thiu…)
Ví dụ 2: Tôi đã dùng xốp màu vàng, màu xanh và hộp nhựa để làm quả dứa
và trẻ được chơi, được trực tiếp hoạt động
Ví dụ 3: Làm vườn rau bắp cải từ xốp màu xanh và vỏ thạch
- Tôi dùng các loại giấy màu phù hợp để bồi thành hình các loại quả cho trẻhọc và chơi như quả xoài, quả cam, quả na, quả đu đủ, quả khế…
- Ngoài ra tôi cũng đã dùng các loại phế liệu sẵn có ở địa phương để cắt tạo
ra những con vật, những loại quả… phục vụ cho các hoạt động học tập, hoạtđộng chơi và trưng bày tại môi trường xung quanh lớp đẹp, hấp dẫn, phù hợpvới chủ đề như: Vườn rau, bộ ấm chén, lợn con, đàn vịt… tôi còn cắt tỉa các hộp