1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh trong truyện kiều của nguyễn du

126 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 21,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học đơn thuần kể về cuộc đời lưu lạc của nhân vật Vương Thúy Kiều hay phản ánh tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX

Trang 1

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan nghiên cứu của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGUYỄN DU 10

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẦU THẾ KỶ XIX 10

1.1 1 Tình hình kinh tế 10

1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội 12

1.1.3 Tình hình văn hóa, tư tưởng 15

1.2 NHÂN TỐ CHỦ QUAN NGUYỄN DU 17

1.3.1 Nguyễn Du - Thân thế và sự nghiệp 17

1.3.2 Hệ thống trước tác và tư tưởng 21

1.3 NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ MẶT LÝ LUẬN 25

1.3.1 Khái quát về triết lý và triết lý nhân sinh 25

1.3.2 Triết lý nhân sinh trong văn hóa phương Đông 27

1.3.3 Triết lý nhân sinh trong lịch sử dân tộc 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGUYỄN DU TRONG "TRUYỆN KIỀU" 42

Trang 4

2.1 KHÁI QUÁT "TRUYỆN KIỀU" VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG

"TRUYỆN KIỀU" 42 2.1.1 Khái quát "Truyện Kiều" 42 2.1.2 Thế giới nhân vật trong "Truyện Kiều" 47 2.2 BIỂU HIỆN TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG "TRUYỆN KIỀU" CỦA NGUYỄN DU 56 2.2.1 Quan niệm về thuyết "định mệnh" của Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" 57 2.2.2 Quan niệm về thuyết "tài mệnh tương đố", “hồng nhan bạc mệnh” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều 62 2.2.3 Chủ nghĩa nhân đạo - tư tưởng nhân sinh chủ yếu của Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" 70 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG "TRUYỆN KIỀU" CỦA NGUYỄN

DU 79

3.1 MỘT SỐ GIÁ TRỊ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG "TRUYỆN KIỀU" CỦA NGUYỄN DU 79 3.1.1 Chủ nghĩa nhân đạo cao cả - Nét đặc sắc của triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều 79 3.1.2 Ý nghĩa xã hội đương thời của triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều 81 3.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG "TRUYỆN KIỀU" CỦA NGUYỄN DU 84 3.2.1 Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy tâm 84 3.2.2 Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều không chỉ ra được con đường đúng đắn để giải phóng con người khỏi sự đau khổ, bất hạnh 89

Trang 5

3.3 Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG

"TRUYỆN KIỀU" CỦA NGUYỄN DU VỚI BỐI CẢNH XÃ HỘI HIỆN NAY 93 3.3.1 Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều hướng con người vươn tới giá trị chân, thiện, mỹ 93 3.3.2 Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều khuyến khích con người sống yêu thương nhau, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn 97 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99

KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, tư tưởng nhân sinh

về yêu thương, nhân nghĩa, về khát vọng tự do vươn tới những điều tốt đẹp luôn là sợi chỉ đỏ gắn bó giữa người với người, giúp dân tộc ta kề vai sát cánh bước qua bao thăng trầm của thời đại, lúc chiến tranh cũng như khi hòa bình Chúng ta từng tự hào khi đọc những câu thơ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô

đại cáo: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo" hay xúc động trước những lời nói dản dị và sâu sắc của Bác Hồ: "Dân ta có

một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta" [22]

Suy cho cùng, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, chính nghĩa, yêu nước ấy đều xuất phát từ tình người mà ra, bởi có biết yêu thương, biết căm giận, biết phải trái, biết đúng sai mới biết cư xử để làm người

Chúng ta có cả kho tàng ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ, truyện kể dân gian nhằm bồi dưỡng tâm hồn và trí tuệ con người Chúng ta cũng có rất nhiều những tác phẩm văn học ngợi ca sức mạnh, tình yêu, ngợi ca sự công bằng, chân lý, đấu tranh cho tự do, hạnh phúc Trong số những tác phẩm đó không thể không nhắc đến Truyện Kiều của Nguyễn Du Bởi Truyện Kiều là tinh hoa văn hóa dân tộc, là sự kết hợp tuyệt vời giữa ngôn ngữ, thể thơ dân tộc và chứa đựng tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam

Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng nói: "Một nước không thể không có

quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta Một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta Một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta" [32, tr.30] Chưa một tác phẩm nào từ

trước tới giờ có thể phổ biến rộng rãi, thấm nhuần trong lòng quần chúng nhân dân hơn Truyện Kiều Bất kể tầng lớp vua quan, trí thức hay nông dân

Trang 7

lao động đều thuộc Kiều, ngâm Kiều như một món ăn tinh thần không thể thiếu:

Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, "lẩy" Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ đời thường Kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngân nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn [32, tr.34]

Sở dĩ Truyện Kiều đi vào lòng quốc dân bởi đằng sau cô Kiều là cả một tấm lòng mà Nguyễn Du muốn gửi gắm Đó là tấm lòng yêu thương con người, trân trọng tài năng, đức hạnh của người phụ nữ, căm ghét xã hội phong kiến bất công trà đạp lên con người, đồng thời nói lên ước mơ về công lý, nhân quả báo ứng và sự giải phóng con người khỏi những áp bức, bất công của chế độ xã hội ấy Đây cũng là tiếng lòng của quảng đại quần chúng nhân dân trong xã hội phong kiến bao đời nay

Nhưng Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học đơn thuần kể

về cuộc đời lưu lạc của nhân vật Vương Thúy Kiều hay phản ánh tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mà những vấn đề do nó đặt

ra vẫn còn có ý nghĩa thời sự đối với xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong bối cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế thị trường đã nảy sinh rất nhiều các vấn đề liên quan đến con người và xã hội, đặc biệt là các vấn đề về đạo đức Đâu đó là sự lên ngôi của đồng tiền, coi đồng tiền ở vị trí thống trị;

là lối sống thực dụng, ích kỷ của một số cá nhân, vì tiền mà sẵn sàng băng hoại các chuẩn mực đạo đức xã hội, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Những kẻ như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hà, Bạc Hạnh, Khuyển, Ưng xuất hiện ngày càng nhiều với các thủ đoạn lọc lừa tinh vi hơn … Công lý dưới tay một bộ phận không nhỏ những cán bộ quan chức như Hồ Tôn Hiến hay những viên quan lại xử án trong Truyện Kiều đã bị bẻ cong, gây oan khiên cho biết bao số phận, bao gia đình Lối sống ích kỷ, vô

Trang 8

cảm như một bệnh dịch lan truyền một cách âm thầm đe dọa tới truyền thống gắn bó, đoàn kết của dân tộc

Trong Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã khẳng định:

Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người [51]

Chính vì vậy, cần tìm hiểu, phân tích và vận dụng tư tưởng tích cực về nhân sinh quan trong các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, tác phẩm

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du nói riêng nhằm bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của mỗi một con người, biết phân biệt phải trái, đúng sai Từ đó khuyến khích con người làm việc thiện, tránh xa việc ác, tự chịu trách nhiệm với những hành vi cá nhân … góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, lành mạnh hơn, hướng con người đến giá trị chân - thiện - mỹ là việc làm hết sức cần thiết

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du" để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của

mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích của đề tài

Trang 9

Trên cơ sở nghiên cứu nội dung triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều, luận văn khẳng định những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và ý nghĩa hiện thời của nó đối với xã hội hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở hình thành tư tưởng triết lý nhân sinh của Nguyễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều

- Phạm vi nghiên cứu: Sử dụng văn bản Truyện Kiều và các văn bản diễn

giải Truyện Kiều

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc

Mác-Luận văn sử dụng sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử - cụ thể, khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, văn bản học

Trang 10

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh, về Nguyễn Du

và Truyện Kiều nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Trong đó, có một

số bài viết, cụ thể như sau:

* Một số công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh

- Lê Kiến Cầu (2008), người dịch Chu Quý: "Triết lý nhân sinh", Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá cụ thể các vấn đề về nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau như: , sinh mệnh của con người, cuộc sống của con người, phương hướng của con người Qua đó người đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả

- Nguyễn Xuân Huy, Đại đức Thích Minh Nghiêm (2010): "Đạo giáo -

Triết lý nhân sinh", Nhà xuất bản Thời đại Công trình trình bày sự hình

thành, quan niệm của Đạo giáo về triết lý nhân sinh và những vận dụng tư tưởng nhân sinh của Đạo giáo trong đời sống xã hội

- Kim Định (1970): "Tâm tư hay là khoa siêu lý viễn đông", Nhà xuất

bản Khai trí Tác giả nghiên cứu về triết lý và nhân sinh trên nhiều bình diện

và đi tới khẳng định "Đời sống triết lý nhân sinh phải là một đời sống có thống nhất mọi hành vi cử chỉ phải quy hướng theo một tiết điệu, một đích điểm Đích điểm đó trong triết lý nhân sinh chính là Tính Bản Nhiên con người"

- Nguyễn Lan Anh (2008): "Nhân sinh quan phật giáo và ảnh hưởng của

nó đến xã hội Việt Nam thời Lý - Trần", Luận văn thạc sỹ Triết học, Trường

Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình

đã nghiên cứu chi tiết về tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo, những ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần ở nước ta

Trang 11

* Một số công trình nghiên cứu về cuộc đời Nguyễn Du và những ảnh hưởng của nó đến tư tưởng sáng tác cũng như sự nghiệp văn chương của ông, có các công trình tiêu biểu sau:

- Vương Trí Nhàn (2009): "Nguyễn Du thơ và đời", Nhà xuất bản Giáo

dục Trong bài viết này tác giả đi sâu lý giải về tâm hồn, tính cách Nguyễn Du thể hiện qua một số tác phẩm của ông như Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh ký, Văn tế thập loại chúng sinh, thơ chữ Hán Nguyễn Du Qua đó nhấn mạnh, tấm lòng thương người, tâm hồn giàu tình cảm của ông đã tạo nên tính nhân đạo trong hầu hết các tác phẩm

- Võ Phúc Châu (2002): "Văn tế thập loại chúng sinh" và chủ nghĩa nhân

văn của Nguyễn Du, Nhà xuất bản Giáo dục Bài viết thể hiện quan điểm tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du mang màu sắc phật giáo, là tấm lòng thương cảm của Nguyễn Du dành cho mọi kiếp người

- Lê Thị Lan (2012): "Quan điểm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân

phận con người", Nhà xuất bản Giáo dục Tác giả bài viết cho rằng, quan

điểm về cuộc đời và thân phận của con người của Nguyễn Du dựa trên tư tưởng của Nho, Phật, Đạo giáo kết hợp Trong đó Nguyễn Du dành sự quan tâm đặc biệt tới số phận của người tài và người phụ nữ

- Lê Thước, Trương Chính (2001): "Đôi nét về thân thế và thời đại của

Nguyễn Du", Những chân dung Truyện Kiều, Nhà xuất bản Thanh niên Các

tác giải đã liệt kê chi tiết về bối cảnh lịch sử thời đại Nguyễn Du, về gốc gác, gia thế, cũng như tố chất, tài năng thiên bẩm của ông Cảnh ngộ ấy đã ảnh hưởng đến tâm tính và tư tưởng sáng tác văn chương của Nguyễn Du

- Nguyễn Đình Giang: "Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều theo một

phương pháp mới", Tạp chí Đại học Huế (số 3-1959) Công trình đã phân tích

và đánh giá tính cách Nguyễn Du dưới góc độ khoa học tâm lý và cho rằng Truyện Kiều thể hiện rất rõ tính cách đa sầu đa cảm của Nguyễn Du

Trang 12

- Đỗ Đức Dục: "Tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Du", Tạp chí Văn học

(số 2 - 1984) Nội dung bài viết phân tích về tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn

Du thể hiện qua các tác phẩm của ông và cho rằng, Nguyễn Du là người mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, mặc dù chủ nghĩa hiện thực ở bước đầu đó còn có những hạn chế do điều kiện lịch sử xã hội và thế giới quan của nhà thơ

- Felích Pita Rođriget - nhà văn Cuba trong bài diễn văn đọc trong Lễ kỷ niệm Nguyễn Du được tổ chức tại Cuba ngày 11 tháng12 năm1965 đã bày tỏ

sự tôn kính với những giá trị thơ ca của ông Nhà văn đã khẳng định tính nhân đạo và tinh thần nhân văn sâu sắc trong Truyện Kiều đã tạo nên giá trị trường tồn của tác phẩm và thể hiện rõ tính cách, con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

* Một số công trình, bài viết nghiên cứu về chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân sinh trong các sáng tác của Nguyễn Du, gồm có các công trình tiêu biểu sau:

- Cao Huy Đỉnh (2013): "Triết lý đạo phật trong Truyện Kiều", Nhà xuất

bản Văn hóa thông tin Trong bài viết này, tác giả phân tích tư tưởng Phật giáo được Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều là tư tưởng đã được biến đổi khi du nhập vào Việt Nam Vì vậy, triết lý đạo Phật trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận với quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam

- Nguyễn Lộc (2013): "Cảm hứng chủ đạo và nội dung xã hội của

Truyện Kiều", Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Trong bài nghiên cứu, tác giả

phân tích cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là "một chủ nghĩa nhân đạo cao cả, chừng mực nào đó có tính chiến đấu chống phong kiến, là nền tảng vững chắc cho tác phẩm vĩ đại sau này"

- Hồ Ngọc Anh (2014): "Nhân sinh quan Phật giáo trong "Truyện Kiều"

của Nguyễn Du - Giá trị và hạn chế", Luận án tiến sỹ triết học, chuyên ngành

Trang 13

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mã số 62228005 Luận án trình bày chi tiết về nhân sinh quan phật giáo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều về cơ sở hình thành, cách thức biểu hiện, giá trị và hạn chế của nhân sinh quan phật giáo ấy

- Hoài Thanh (1949): "Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du", Hội Văn hóa Việt Nam Trong bài viết, Hoài Thanh đi sâu vào

phân tích hai nhân vật là Thúy Kiều và Từ Hải và phân tích xã hội phong kiến thời bấy giờ để thấy được cách nhìn nhận, thái độ của Nguyễn Du đối với con người và xã hội Theo tác giả, Nguyễn Du đã thể hiện một thái độ không minh bạch, đầy mâu thuẫn, vừa cảm thông với nỗi đau khổ của con người (Thúy Kiều) bị chà đạp, vừa mơ ước được sống mạnh mẽ, phóng túng (như Từ Hải) nhưng chung quy lại vẫn chịu nhún nhường, thất bại dưới thế lực phong kiến (Hồ Tôn Hiến, quan lại ) và quay ra đổ lỗi cho số phận, định mệnh

- Trương Tửu (1956): "Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du" (Phê bình

văn học), Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội Cuốn sách gồm ba phần nghiên cứu sâu về Truyện Kiều và Thời đại Nguyễn Du Theo đó, tác giả nhấn mạnh, toàn bộ ý thức về cuộc đời của Nguyễn Du hình thành song song với quá trình thành bại của phong trào Tây Sơn Đồng thời khẳng định tinh thần nhân đạo sâu sắc, bất diệt của nhân dân ta được Nguyễn Du phản ánh trong Truyện Kiều

- Lê Nguyên Cẩn (2011): "Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa",

Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông Tác giả cho rằng, "Truyện Kiều không đơn thuần nói về cuộc đời một con người mà nó trải rộng ra với một tấm lòng, một cốt cách và tinh thần Việt Nam" "Truyện Kiều tạo ra cách nhìn dân tộc, làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam, làm say đắm lòng người độc giả mỗi thời đại"

Trang 14

Ngoài ra, còn một số công trình khác (sách tham khảo, bài đăng trên các tạp chí khoa học ) cũng đề cập đến Truyện Kiều của Nguyễn Du như: Trịnh

Bá Đĩnh (2002): "Nguyễn Du - Về tác giả và tác phẩm", Nhà xuất bản Giáo dục; Ngô Quốc Quýnh (2010), "Thử tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua

Truyện Kiều", Nhà xuất bản Giáo dục; Trần Nho Thìn (2004): "Cảm nhận của Nguyễn Du về xã hội trong Truyện Kiều", Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5

(tr 25-40) và số 6 (tr 17- 40); Mai Phương Chi (tuyển soạn) 2005: "Truyện

Kiều và lời bình", Nguyễn Khắc Viện, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh Nhà

xuất bản Hội nhà văn; Đỗ Lai Thúy (2005): "Nhìn lại Nguyễn Du và Truyện

Kiều", "Kỷ niệm 240 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du", Tạp chí Xưa và

nay, Số 249, tr 9-10; "Nguyễn Du và Truyện Kiều dưới cái nhìn của phê bình

văn hóa lịch sử", Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 11-2006, tr 38-43

Thông qua những công trình này, tác giả phần nào nắm được cơ sở lý luận về triết lý và triết lý nhân sinh; về thân thế, sự nghiệp, tài năng của Nguyễn Du cũng như bối cảnh thời đại ông đang sống Đồng thời, tác giả cũng hiểu thêm về Truyện Kiều dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy các công trình đó đã đề cập về triết lý nhân sinh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều dưới nhiều góc độ nhưng hiện chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về triết lý nhân sinh của Nguyễn Du biểu hiện trong Truyện Kiều Trên

cơ sở những công trình đã nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã kế thừa, hệ thống lại và phát triển nội dung luận văn dưới góc độ triết học để tìm hiểu sâu

về triết lý nhân sinh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Qua đó thấy được giá trị, hạn chế và ý nghĩa thời đại của tư tưởng ấy đối với lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam

Trang 15

Trong những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nền kinh tế nước

ta rơi vào tình trạng sa sút nghiêm trọng Các thế lực phong kiến thực hiện tư hữu lớn về ruộng đất Chiến tranh và sự bất lực của nhà nước đã dẫn đến sự thu hẹp của ruộng đất công làng xã Bên cạnh đó, chế độ tư hữu tư nhân về ruộng đất ngày càng phát triển Ngoài tầng lớp phong kiến, quý tộc, hình thành hàng loạt những "địa chủ" có trên 100 mẫu ruộng, nhiều người trong số

đó có trên 1000 mẫu Làng xã, chùa chiền cũng trở thành chủ một số ruộng lớn gọi dùng làm "ruộng thầy", "ruộng học", "ruộng thưởng" Số ruộng này

do nhiều người đã cúng ruộng tư của mình cho làng hay cho chùa với mong muốn được thờ cúng sau khi chết Đứng trước tình hình gia tăng và chiếm ưu thế của ruộng đất tư, năm 1722 chúa Trịnh thực hiện cải cách chế độ tô thuế, bắt đầu đánh thuế ruộng tư nhưng lại miễn thuế ruộng tư cho quan lại theo thứ bậc Bởi vậy, ruộng đất tư của quan lại địa chủ tiếp tục tăng lên còn nông dân không có ruộng để cày cấy Điều đó dẫn tới đời sống nông dân ngày càng khổ cực

Bên cạnh đó, thiên tai thường xuyên đe dọa, quan lại sách nhiễu nhân dân, đê điều vỡ lở dẫn đến mất mùa đói kém lớn xảy ra liên tục ở nhiều nơi Thêm vào đó, chế độ thuế khóa, lao dịch là một phần gánh nặng trong đời sống nông dân Dân đói kém triền miên trong khi nhu cầu chi tiêu của giới quý tộc tăng lên Sự suy yếu của nhà nước trung ương, chiến tranh phong kiến

Trang 16

đã tạo điều kiện cho tham quan, ô lại lộng quyền, bọn địa chủ, cường hào địa phương thả sức hoành hành, tự tiện đặt trạm thu thuế riêng, tổ chức xét kiện, thu tiền thóc của dân ăn chơi thỏa thích Nhà nước đặt ra lệ mua quan bán chức để thu thóc, tiền, đặt ra cả lệ "tiền thông kinh" Chính những điều này đẻ

ra hàng loạt quan lại tham những, dốt nát nhưng lại được chúa ưu đãi nên họ tha hồ hạch sách, chiếm đoạt ruộng đất của dân, đục khoét nhân dân Nông dân bị đẩy tới bước đường cùng, đói kém, phải bỏ nhà bỏ xứ đi lưu tán khắp nơi Nền sản xuất nông nghiệp bị đình trệ Sử sách ghi lại rằng:

Năm 1713 mùa xuân trời hạn lâu giá lúa cao vọt, dân gian phải ăn vỏ cây rễ cỏ, chết đói đầy đường, làng xóm tiêu điều Mùa thu lụt lội, vỡ đê Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hóa, trôi hàng vạn nóc nhà, nhân dân cơ cực Khoảng đời Cảnh Hưng (1742-1786) Chiêu Thống (1787-1789) luôn mất mùa, đói kém, dân gian trôi dạt, lưu ly, cha con không thể nuôi nhau, anh em không thể nương nhau Mùa thu năm 1776, đại hạn, đồng ruộng cháy khô không sao làm được công việc đồng áng Những người nghèo khó hết qua cửa quyền nọ lại đến nhà sang kia cũng không sao kiếm được một chỗ làm thuê làm mướn [46, tr 104]

Còn theo cuốn Sử ký Đại Nam Việt (do Giáo hội Công giáo xuất bản),

Khoảng năm 1787, “làng nọ đánh làng kia, chẳng biết cậy ai cứu giúp Đâu đâu cũng có kẻ cướp, người ta giết lẫn nhau Vả lại cả năm ấy phải đại hạn, đoạn phải bão cùng lụt cả thể Các đảng đê… về xứ Nam Định vữa hết, hai huyện Quỳnh Lưu và Đông Thành thì càng khốn nạn hơn nữa Bão lớn lắm, cửa nhà sập hết: cây cối cùng sanh hoa đẳng vật hao hại tận tuyệt chẳng còn giống gì… kẻ đã chết đói thì vô ngần vô số kể chẳng xiết… người ta chỉ ăn cỏ như bò hay là ăn những rễ cây gốc chuối thì lại sinh bệnh dịch mà càng thêm chết hơn nữa… trong xứ Nghệ An

Trang 17

có xã chẳng còn sót người nào, hoặc chết đói hoặc chết bệnh hết" [46, tr 105]

Với tình hình sản xuất như vậy đã dẫn đến đời sống kinh tế của nhân dân hết sức khổ cực và khốn đốn Đó chính là căn nguyên của nhiều vấn đề về chính trị, đạo đức của xã hội thời kỳ đó

1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội

Về chính trị, với một nền kinh tế trì trệ và bất ổn đã dẫn đến sự hỗn loạn

về chính trị Đất nước phân chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài

Ở Đàng Ngoài, vua Lê vẫn đứng đầu trên danh nghĩa Trên thực tế, chúa Trịnh nắm mọi quyền hành trong tay Những mâu thuẫn chứa chất lâu ngày trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam đến đây đã có dịp bùng nổ dữ dội Tầng lớp thống trị lục đục, tàn sát lẫn nhau: Trịnh Giang giết vua Lê Duy Phương, giết đại thần Nguyễn Công Kháng, Lê Anh Tuấn; Trịnh Doanh bắt vua Lê Ý Tông nhường ngôi cho Lê Hiến Tông; Trịnh Sâm giết thái tử Lê Duy Vũ, giết em là Trịnh Đệ Năm 1782, nhân khi Trịnh Sâm chết, phe Trịnh Khải nổi dậy giết phe phái của Đặng Thị Huệ, phế em là Trịnh Cán, các quân Tam phủ dựa vào đó thả sức tung hoành, uy hiếp quan lại, giành mọi quyền bính, sử gọi là "Loạn kiêu binh" "Loạn kiêu binh" đánh dấu sự tan rã của thế lực họ Trịnh, gây nên sự đối lập lớn giữa nhân dân và quân sỹ, đồng thời mở đường cho bọn quan lại địa phương vơ vét, đục khoét nhân dân Trong khi đó, dòng họ Lê tìm cách nâng cao uy thế mong khôi phục địa vị ngày xưa Sự suy sụp về chính trị, xã hội của đàng Ngoài ngày càng trầm trọng

Ở đàng Trong, tình trạng ổn định của xã hội diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng rồi những mâu thuẫn cố hữu của chế độ phong kiến cũng dần dần phát huy tác dụng Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Trong lâm vào khủng hoảng chính trị Quan lại quý tộc ra sức xây dựng dinh thự, ăn chơi xa xỉ, nuôi các đội ca kỹ, tuồng chèo phục vụ yến tiệc Sau khi chúa Nguyễn Phúc Khoát

Trang 18

chết, nội bộ chính quyền phân chia bè cánh, chém giết lẫn nhau Phủ, huyện, làng, xã nằm trong tay bọn quan lại, cường hào tham nhũng Nạn "tiền hoang"

do dùng kẽm để đúc tiền thay cho tiền đồng làm giao thương đình trệ Dân Gia Định nhiều thóc nhưng không bán lấy tiền kẽm mà thương nhân cũng không muốn đổi hàng hóa lấy tiền kẽm Buôn bán do đó không thông, thóc gạo miền Nam không ra được Thuận Quảng làm cho giá gạo ở đây tăng vọt lên không cứu vãn được Đời sống nhân dân bị đẩy tới bước đường cùng nhiều nạn đói lớn xảy ra, dân chết nhiều, nông dân buộc phải nổi dậy

Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, các cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi như cuộc khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740 - 1750), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1736 - 1769) và rất nhiều các cuộc khởi nghĩa nông dân khác Tất cả khí thế, sức mạnh của thế kỷ nông dân khởi nghĩa ấy kết tinh vào cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại năm

1771 Cuộc khởi nghĩa này được coi như “Một phen thay đổi sơn hà” Tuy nhiên sau đó, phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập

Nguyễn Du đã sống qua ba thời đại: Lê – Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, trải qua những cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến và các cuộc khởi nghĩa đòi quyền sống của tầng lớp nông dân Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh bãi bể hóa nương dâu, cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị

dã man, tàn ác của giai cấp phong kiến, cảnh đau khổ vì nghèo đói, cảnh đày đọa và những áp bức bất công của đại đa số quần chúng nhân dân…

" Đông tây nam bắc vô sở y

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ?

Thành quách do thị, nhân dân phi,

Trần ai cổn cổn ô nhân y

Trang 19

Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,

Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quỳ

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di…!”

(Phản chiêu hồn - trích trong "Thanh Hiên Thi Tập" - Nguyễn Du) Dịch nghĩa:

"Ðông tây nam bắc không chốn nương tựa,

Lên trời xuống đất đều không được

Còn trở về thành Yên thành Dĩnh làm gì?

Thành quách còn đây, nhân dân đã khác,

Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo,

Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ

Ðứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ

Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc

Mà cắn xé thịt người ngọt xớt"

Chính những thay đổi kinh thiên động địa của lịch sử cũng khiến cuộc đời Nguyễn Du cũng chao đảo Phủ tể tướng huy hoàng năm xưa nay nhà cửa tan hoang, anh em lưu tán khắp nơi, ông đã phải thốt lên: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (trở về Hồng Lĩnh gia đình không còn anh em lưu lạc khắp nơi) Ông gọi quãng thời gian này là “Mười năm gió bụi” (Thập tải phong trần) Cuộc sống phiêu bạt, khốn khó trăm bề đã đem lại cho ông vốn sống thực tế phong phú, cùng với tài năng chưa được phát huy, ông bắt đầu suy ngẫm nhiều về xã hội, về thân phận con người Giáo sư Nguyễn Lộc đã từng nhận định: “Có thể tìm thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du từ Thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, Văn chiêu hồn Nguyễn Du trở thành vĩ đại chính vì Nguyễn Du là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhưng Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc

Trang 20

sống của quần chúng, đã lắng nghe được tâm hồn và nguyện vọng của quần chúng " từ đó ảnh hưởng lớn tới triết lý sáng tác văn chương của ông

1.1.3 Tình hình văn hóa, tư tưởng

Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, Nho giáo vẫn được nhà nước phong kiến bảo vệ, duy trì để làm nền tảng cho các tổ chức chính trị, kinh tế của chính quyền và làm kỷ cương của xã hội Tuy vậy, Nho giáo thời kỳ này

đã bước vào thời kỳ suy đốn dần, không còn được độc tôn như trước Mặc dù chính quyền phong kiến vẫn tổ chức thi cử để tuyển chọn quan lại nhưng việc thi cử đã không còn nghiêm túc nữa Tình trạng mua quan, bán chức diễn ra công khai và phổ biến ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Những người không

có học nhưng có tiền thì dùng tiền mua chức tước Trong thi cử, nhiều vụ hối

lộ và ăn hối lộ đã diễn ra trắng trợn Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá và sự tấn công của đồng tiền vào thành trì lễ giáo phong kiến

đã làm cho ý thức hệ Nho giáo bị rạn nứt dần

Trong khi Nho giáo bước vào thời kỳ suy thoái dần thì Phật giáo lại được phục hưng Các vua, chúa, quý tộc, quan lại cả hai Đàng (Ngoài và Trong) đua nhau tôn thờ đạo Phật, bỏ nhiều tiền của để trùng tu chùa cũ, xây cất nhiều chùa, tháp mới Các chùa Tây Phương, Phúc Long, Thiền Tông, Độc Tông, Sùng Nghiêm, Quỳnh Lâm, Hồ Thiên, Hương Hải, v.v., (ở Đàng Ngoài) và các chùa Thiên Mụ, Hoà Vang, Mỹ An, Thuận Trạch, Kính Thiên,

Hà Trung, Quốc Ân, v.v., (ở Đàng Trong) đều được sửa chữa hay xây dựng trong thời kỳ này Đạo Phật lại được xã hội tôn sùng và phổ biến hơn thời Lê

Trang 21

này có những hoạt động thực tiễn và thảo luận tư tưởng có phần xa rời tinh thần của Nho gia chính thống, dung hợp Phật Ðạo một cách rất tự nhiên Ngô Thì Sĩ, một người từng dâng lên chúa Trịnh nhiều bản điều trần mong muốn chấn hưng nho phong sĩ khí, cầu thực học, theo đuổi kinh bang tế thế đúng theo lý tưởng trí quân trạch dân của nhà nho lại là người lập tượng

thờ cả ba vị Khổng Tử, Thích Ca và Lão Tử, viết bài Ký động Nhị Thanh và bài Ký trùng tu đền Tam giáo, lại viết Sớ hợp tế Tam giáo với tinh thần hoà

hợp tam giáo rất rõ rệt Trạng nguyên Nho học Trịnh Tuệ, người mà một cách hợp pháp, được coi là lực lượng đại diện cho bộ mặt tinh thần của Nho sĩ

đương thời đã viết Tam giáo nhất nguyên thuyết như một tuyên ngôn về quan

điểm hoà đồng tam giáo Lê Quý Ðôn bàn khá nhiều về Phật giáo trong các trước tác Ngô Thì Nhậm người đã từng thể hiện tinh thần chính thống cao độ

nhất của Nho gia đương thời khi viết Xuân thu quản kiến, lại đã viết Ðại chân

viên giác thanh như một thiền sư thực thụ Thậm chí ông còn mang hoài bão

thành một người kế tục vẻ vang sự nghiệp của các vị tổ sư đời Trần Phan

Huy Ích viết bài tựa trong Ðại chân viên giác thanh với thái độ đồng tình ca

ngợi Lê Hữu Kiều từng theo Phạm Viên tu đạo, cuối đời lại theo nghiệp thờ Phật Nguyễn Huy Oánh tương truyền có tham gia viết kinh Ðạo giáo Cuối thế kỷ XVIII, người được giới Nho sĩ tôn là La Sơn Phu tử - Nguyễn Thiếp lại dụng tâm luyện đan dược Những nhân vật nhắc đến ở trên đều là những danh Nho của thế kỷ XVIII, họ là những người có vị trí quan trọng trong lịch

sử Nho học nói riêng và lịch sử tư tưởng thế kỷ XVIII nói chung

Ngoài ra, có thể thấy các tư tưởng luân hồi quả báo, nghiệp chướng tình oan, bàng bạc khắp trong các truyện Nôm tài tử giai nhân, truyền kỳ chí quái

do các nhà nho đương thời sáng tác Rõ ràng, các nhà nho thế kỷ XVIII đã có phần rời xa tư tưởng Nho gia chính thống, từng bước dung hợp Tam giáo

Trang 22

1.2 NHÂN TỐ CHỦ QUAN NGUYỄN DU

1.3.1 Nguyễn Du - Thân thế và sự nghiệp

Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên Ông sinh ngày 3 tháng giêng năm 1766 tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình đại quý tộc và có truyền thống khoa cử lâu đời Họ Nguyễn Tiên Điền là

họ danh vọng nhất thời Lê Mạt, cho nên đương thời có lời truyền tụng:

Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan

Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), làm quan đến chức Tể tướng đương triều Nguyễn Nghiễm có tám vợ và hai mươi mốt con Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), vợ trắc thất của Nguyễn Nghiễm, sinh được bốn trai, một gái Bà là người làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Dòng họ Nguyễn của Nguyễn Du không chỉ thành đạt về đường quan lộ

mà còn rất có truyền thống về văn học Cha ông còn là một sử gia, một nhà thơ Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản cũng rất giỏi thơ Nôm, hay làm thơ đối đáp với chúa Trịnh Sâm Tương truyền, ông là một trong những người có dịch "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn ra tiếng Việt Một người anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề, cháu ông là Nguyễn Thiện, Nguyễn Hành đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Họ Nguyễn Tiên Điền lại thông gia với họ Nguyễn Huy Trường Lưu, cũng là một họ lớn và nổi tiếng văn học ở vùng Nghệ Tĩnh Ảnh hưởng của huyết thống và môi trường như thế nên năng khiếu văn học của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở và phát triển

từ rất sớm

Nguyễn Du đã có một tuổi thơ êm ấm trong cảnh vàng son nhung lụa của gia đình Thế nhưng cuộc sống ấy kéo dài không được bao lâu Những biến cố

Trang 23

dữ dội của thời đại và của gia đình đã nhanh chóng đẩy Nguyễn Du ra giữa cuộc đời đầy bão táp

Nguyễn Du lên mười tuổi thì thân phụ là Nguyễn Nghiễm mất Ba năm sau ông lại mồ côi mẹ Nguyễn Du phải đến ở với người anh cả cùng cha khác

mẹ là Nguyễn Khản, bấy giờ đang làm Tả thị lang Bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây Nhưng chỉ vài năm sau, địa vị của Nguyễn Khản cũng lao đao Năm

1780, Đặng Thị Huệ, thứ phi của Trịnh Sâm, cùng Hoàng Đình Bảo lập mưu giành ngôi Thế tử của Trịnh Tông cho con mình là Trịnh Cán Nguyễn Khản ủng hộ Trịnh Tông Việc bại lộ, Nguyễn Khản bị cách chức và bắt giam Đến khi Trịnh Tông lên ngôi chúa, Nguyễn Khản được phục chức làm Lại bộ Thượng thư rồi thăng Tham Tụng Nhưng kiêu binh không phục, nổi lên chống lại, đã kéo đến phá nhà, toan giết chết ông Nguyễn Khản phải trốn vào phủ chúa rồi cải trang chạy lên Sơn Tây sau đó về quê nhà ở Hà Tĩnh Trong thời gian đầy biến động này, Nguyễn Du còn ít tuổi vẫn tiếp tục đi học Năm

1783, Nguyễn Du đi thi Hương ở Sơn Nam và đậu tam trường Sau đó, có lẽ

do hoàn cảnh gia đình và biến động xã hội nên ông bỏ luôn không đi thi nữa Trước đó có một người họ Hà, làm quan dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu hiệu ở Thái Nguyên, vì không có con trai nên nhận Nguyễn Du làm con nuôi Sau khi người họ Hà mất, ông được kế chân giữ chức ấy

Năm 1789, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, Nguyễn Du và hai người anh em cùng mẹ là Nguyễn Đề, Nguyễn Ức theo vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc nhưng không kịp Nguyễn Du trở về quê vợ ở xã Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, bấy giờ đang làm quan cho nhà Tây Sơn Nhà thơ sống ở đây được mấy năm thì về quê nhà

ở Hà Tĩnh

Trang 24

Năm 1796, Nguyễn Du lên đường vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An, nhà thơ đã bị viên Trấn tướng của Tây Sơn là Quận công Nguyễn Thận bắt giữ Nguyễn Du bị giam ba tháng Sau vì Nguyễn Thận là bạn của Nguyễn Đề, lại mến phục tài năng của nhà thơ nên tha cho ông Từ đấy, Nguyễn Du về ở hẳn Tiên Điền suốt mười năm sau đó Mười năm gió bụi và những năm tháng tại quê nhà dưới chân núi Hồng Lĩnh là thời gian nhà thơ có dịp gần gũi, hiểu biết, cảm thông và đồng điệu với đời sống của quần chúng nhân dân lao động; nhà thơ có cơ hội tiếp cận những giá trị văn hóa dân gian, nơi khơi nguồn cho những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc Có thể nói, thiên tài lỗi lạc Nguyễn Du; những vần thơ lung linh châu ngọc, bất diệt với thời gian của nhà thơ xứ Tiên Điền đã được ấp ủ, nảy nở trong những năm tháng buồn vui tâm sự của nhà thơ tại quê nhà này Tháng 8 năm 1802, bấy giờ Gia Long đã lật đổ được Nguyễn Quang Toản (triều Tây Sơn) và lên làm vua, Nguyễn Du được bổ làm tri huyện Phù Dung (nay là tỉnh Hưng Yên) Tháng 11 năm ấy, thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây) Năm sau, ông được cử lên Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh (Trung Quốc) Năm 1805, Nguyễn Du được thăng Đông các đại học sĩ, tước

Du Đức hầu Năm 1807, được cử làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Năm 1809, được bổ làm Cai bạ dinh Quảng Bình, đây là chức vụ nhà thơ giữ lâu nhất trong thời gian làm quan dưới triều Nguyễn

Năm 1813, Nguyễn Du thăng Cần chánh đại học sĩ và được cử làm chánh sứ phái bộ đi Trung Quốc Sau khi về nước, năm 1815 ông được thăng Tham tri Bộ Lễ Năm 1920 Minh Mệnh lên ngôi vua, định cử ông làm chánh

sứ sang Trung Quốc lần nữa đề cầu phong nhưng chưa kịp đi thì ngày 10 tháng 8 năm canh thìn tức 16 tháng 9 năm 1820 ông mất đột ngột trong một nạn đại dịch

Trang 25

Cuộc đời làm quan của Nguyễn Du được coi là thông đạt Trong thời gian làm quan ông sống rất giản dị, gia phả chép: "Phàm những việc công trong hạt như lính tráng, dân sự, kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng thuế, ông đều bàn bạc thương thuyết với các quan lưu thủ, ký lục để thi hành Ông giữ chức Cai bạ bốn năm chính sự giản dị, không cầu tiếng tăm, nên được sĩ phu và nhân dân yêu mến" Tuy nhiên, hoàn cảnh mồ côi từ thủa nhỏ

và những năm tháng vất vả lưu lạc, sống gần gũi với quần chúng nhân dân là dịp để Nguyễn Du thấu hiểu, cảm thông với những cơ cực của nhân dân Những nỗi niềm thế sự, những u uẩn trong tâm hồn được Nguyễn Du gửi gắm qua các sáng tác văn chương của mình như các tập thơ chữ Hán và đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều, hay còn gọi là “Đoạn trường tân thanh”

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên giữa một thời tao loạn, chứng kiến biết bao cuộc đổi thay Ngay gia đình ông cũng là cả một tấn bi kịch với sự phân hóa quyết liệt: có người mang tâm sự hoài Lê, người nhập cuộc với Tây Sơn, có người chống đối hoặc theo về với nhà Nguyễn Bản thân ông cũng bị dòng đời

xô đẩy, vừa mới được giữ một chức quan nhỏ dưới thời Lê mạt thì phong trào Tây Sơn dấy lên Ông đã hành động như một nhà Nho bị ràng buộc bởi quan niệm "trung thần bất sự nhị quân" (tôi trung không thờ hai chúa) Khi Tây Sơn

ra Bắc lần thứ nhất (1786), Nguyễn Du định chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cái "không kịp" của Nguyên Du là bởi ông đã nhận ra bản chất của triều đại phong kiến Lê - Trịnh,

vị "chúa" mà ông thờ đã có hành động cõng rắn cắn gà Cuối cùng, nhà Lê hoàn toàn bị diệt, chỉ còn lại điêu tàn Bởi vậy, bao trùm trong các bài thơ chữ Hán của ông là tâm trạng chán chường, ngao ngán trước cảnh tang thương dâu

bể không sao cứu vãn được "Sự thất vọng lớn nhất của Nguyễn Du là nhận ra rằng vận nhà Lê đã hết, không phải là từ khi Tây Sơn ra Bắc Hà, mà trước đó, khi mà kiêu binh đã làm cho kỷ cương nghiêng ngửa" [18, tr.11] Bao nhiêu

Trang 26

điều ươn hèn, mục nát, tham tàn Nguyễn Du không thể không biết và đó có

lẽ là nguyên nhân khiến ông không có một bài thơ nào ca ngợi vua Lê, chúa Trịnh hay ca ngợi triều đại phong kiến

Mười lăm năm gió bụi, ông như cánh bèo trôi dạt, khi ở quê vợ Thái Bình, khi về lại núi Hồng, sông Lam, cuộc đời đã trải bao cay đắng, thăng trầm Ðến ngày ra làm quan với nhà Nguyễn và được trọng dùng thì tuổi đã sang chiều, hơn nữa lại phải ở bên "chúa lạ", nơi dẫu sao mình cũng chỉ dự một vai phụ, một chân "chầu rìa" Vì thế, dường như ông luôn bị phân thân,

xa gần thấy triều đại nào mình cũng chịu ân sủng và cũng thấy những điều bất cập, trái chiều, khó có thể tận trung tận hiếu Bao nhiêu ước vọng, bao nhiêu suy tư suy tưởng đành chiếu lệ một lời, đến lúc trút hơi thở cuối cùng vẫn an nhiên coi một kiếp đời thế là "được", thay cho lời nhắn gửi, trối trăng

1.3.2 Hệ thống trước tác và tư tưởng

Ở chặng đường tiếp nối hai thế kỷ, thơ Nguyễn Du là đỉnh cao của tiếng nói nhân văn, đồng hành với những thăng trầm lịch sử và đời sống tinh thần dân tộc Sự nghiệp thi ca của Nguyễn Du trải dài suốt cuộc đời, có cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm, có cả Ðường thi và lục bát dân tộc, cả thơ đoản thiên và trường thiên Nghiệm sinh năm mươi lăm năm trên cõi đời, Nguyễn Du đã để

lại cả một di sản thi ca đồ sộ với ba tập thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam

Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) tổng cộng hai trăm năm mươi bài; với

những bài ca đối đáp đậm chất dân dã một thời tuổi trẻ tinh nghịch (Thác lời

trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu); rồi với Văn tế thập loại chúng sinh sâu thẳm tình người và đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều nổi tiếng

Khác với phần nhiều sáng tác thi ca một thời Nho giáo hưng thịnh từ vài

ba thế kỷ trước, Nguyễn Du hầu như gián cách với lối thơ tụng ca vương triều, tụng ca thánh đế, tụng ca một thời vua sáng tôi hiền và ly tâm cả với lối thơ ngôn chí, xướng họa, đề vịnh quen thuộc Thơ ông bao quát một phạm vi

Trang 27

hiện thực rộng lớn, mở rộng diện đề tài và phản ánh đa dạng số phận con người, từ cảnh ngộ ông lão đói nghèo đến người gảy đàn ở thành Thăng Long,

từ những người thường gặp chung quanh đến những nhân vật chìm khuất trong lịch sử, từ nỗi nhớ người thân đến biết bao cảnh đời trầm luân trên đường đi sứ Trung Quốc Trên tất cả là sự nhập thân, cảm thông sâu sắc của chính tấm lòng Nguyễn Du với mọi kiếp con người Mỗi tứ thơ, mỗi câu thơ của ông đều chan chứa nỗi niềm, bộc lộ tiếng nói cá nhân nghệ sĩ theo một cách nhìn riêng, một điểm nhìn khác biệt trước thực tại Phải có một tâm hồn nghệ sĩ lớn, một năng lực sáng tạo phi thường và "con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời", "lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột" (lời Tiên Phong Mộng Liên Ðường chủ nhân) thì Nguyễn Du mới có được kiệt tác Truyện Kiều và những vần thơ chữ Hán chất nặng suy tư như thế

Trong giai đoạn đầu sáng tác kéo dài đến những năm ra làm quan với

triều Nguyễn, Nguyễn Du có “Thanh Hiên thi tập” bày tỏ tâm trạng hoang

mang, xót xa về thân phận "chân trời góc bể", "mối sầu man mác", "một nhánh cỏ bồng đứt gốc trước gió tây", "người đã đến bước đường cùng"

"Bách niên thân thế ủy phong trần"

(dịch: Thân thế trăm năm phó mặc gió bụi)

(Mạn hứng, I)

"Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng"

(dịch: Chân không bén rễ mặc cho chuyển dời như ngọn cỏ bồng)

(Mạn hứng 2)

"Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp"

(dịch: Ngọn cỏ bồng lìa góc trước luồng gió tây thổi mạnh)

(Tự thán)

Trang 28

Trong thời kỳ này, thơ Nguyễn Du biểu hiện một nỗi niềm cô độc, "nỗi

cô độc của một người không có chính nghĩa, không được chung quanh hưởng ứng" [18, tr.15] Giá trị tố cáo, giá trị hiện thực của các bài thơ giai đoạn này rất hạn chế Bởi tố cáo ai bây giờ? Những kẻ đáng tố cáo (nhà Lê- Trịnh), Nguyễn Du đã trót tôn thờ Còn kẻ thù (nhà Tây Sơn - Nguyễn Huệ), thì không thể không công nhận hành tung, khí phách, sự nghiệp lẫy lừng của họ Đến khi ra làm quan với triều Nguyễn mà tâm trạng Nguyễn Du vẫn còn u hoài, dở dang Một phần vì mình bị coi như kẻ dị thần, một phần tấm lòng nhớ tiếc nhà Lê vẫn còn Nỗi niềm đó thể hiện trong nhiều bài thơ chữ Hán:

"Thù phương độc thác hữu quan thân

Sư lai đồ lệ giai kiêu ngã"

(Cái thân làm quan riêng giữa chốn xa lạ Khi có việc, bọn nha lại đều lên mặt với ta)

(Ngẫu đắc)

Trong tập "Bắc hành tạp lục", bên cạnh mấy bài thơ viết về Thăng Long

dâu bể, xót thương từ một kiếp ca nhi, một nàng hầu và biết bao người xưa cảnh cũ đã phai bạc dần theo năm tháng, còn lại tất thảy đều viết về chuyến đi

sứ Trung Quốc kéo dài qua suốt một năm trời Trong tư cách một vị Chánh

sứ, Nguyễn Du cũng như bao người đi sứ khác thường nói đến nỗi nhớ nhà, tình cảnh nơi đất khách quê người, những cảnh trí lạ lùng mà lần đầu mình được gặp, được biết, thưởng ngoạn Song điều khác biệt là ông thường nhạy cảm quan sát, phản ánh cuộc sống những người dân lao động bình thường như ông cháu người hát rong ở Thái Bình, người kéo xe ở Hồ Nam, thôn, xóm bên trạm Tây Hà, thảm trạng đói rét và việc binh đao làm nghẽn đường, hình ảnh người mẹ với ba đứa con đói khổ đối lập với bữa tiệc phung phí của đám quan lại và một ý nghĩ bất chợt nảy sinh trong nhà thơ: "Ai vẽ bức tranh này/ Dâng lên nhà vua rõ" (Những điều trông thấy) Nhìn chung, ba tập thơ chữ Hán

Trang 29

cho thấy quá trình sáng tác phù hợp với từng chặng đường đời và tư tưởng tác giả Xuyên suốt nội dung các bài thơ là tâm trạng buồn, là tiếng nói trữ tình, tiếng nói nhân văn giữa một thời tao loạn, tiếng nói khắc khoải tìm về giá trị

và ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người Nhà thơ luôn cảm thấy mình

cô độc trong cuộc đời, không có ai là tri âm, tri kỷ Nhà thơ cất tiếng hỏi về một nơi xa xôi, liệu còn ai nhớ tới mình, hiểu cho mình không?

"Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm"

(Ta có một chút tâm sự không biết tỏ cùng ai Dưới chân núi Hồng, sông Quế giang sâu thẳm)

tỏ được quan niệm sáng tác của mình cũng như khái quát được một phương diện quan trọng nhất trong tư tưởng sáng tác của ông: "Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" Từ xót thương, đến cảm

Trang 30

thông cho nỗi khổ đau của mọi kiếp người; từ trân trọng đến đề cao giá trị con người thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du

Ðặt trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, sự nghiệp thi ca Nguyễn Du được kết tinh bởi giá trị truyền thống dân tộc và tinh thần nhân đạo của nhà thơ dành cho con người Nguyễn Du đã tạo ra một bước đột phá mới mẻ trong hình thức và tư tưởng sáng tác so với các tác giả thời kỳ trung đại Sử dụng ngôn ngữ, thể thơ dân tộc để nói về những vấn đề của nhân dân Điều ấy lý giải vì sao, một số tác phẩm của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều lại đi vào lòng nhân dân, trở thành "quốc hồn", "quốc túy", là niềm tự hào của dân tộc ta đến vậy

1.3 NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ MẶT LÝ LUẬN

1.3.1 Khái quát về triết lý và triết lý nhân sinh

Theo Từ điển Tiếng Việt, "triết lý": lý luận triết học: "Quan niệm chung

của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội" [49, tr.1035] Ví dụ: triết

lý đạo Nho, Triết lý đạo Phật hay "thuyết lý về những vấn đề nhân sinh và

xã hội" Ví dụ: người thích nói chuyện triết lý

Còn theo Từ điển danh từ Triết học, "triết lý" là" "Cái lý sâu xa, cái lẽ

huyền diệu của một học thuyết, hay của một sinh hoạt, một một hiện tượng, một cử chỉ" [23, tr.280] Ví dụ: triết lý của sự đau khổ

Khái quát chung, "triết lý" là những quan niệm, cái lý lẽ của con người

về một vấn đề nhân sinh hay xã hội Triết lý có tính triết học nhưng chưa phải

là hệ thống lý luận triết học

Sự hình thành một triết lý thường có ý thức, nhưng cũng có thể vô thức

Dù sao, nghĩa chữ “triết” ở đây cũng tương tự như trong Triết học - đều hàm

ý đẹp, sáng láng, cao minh Khác nhau là một bên lấy tiêu chuẩn khách quan

để đánh giá; còn bên kia, chuyện “sáng láng” là tự đánh giá một cách chủ quan

Trang 31

Xét về nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với triết học, nhưng nó chính là chất liệu cho các hệ thống triết học Có thể khẳng định, văn hóa, triết lý và triết học là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng Các triết lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài hệ thống triết học nhưng chúng lại là cái vốn có trong các nền văn hóa mà ở đó, chưa có sự phát triển của các hệ thống triết học Triết lý thường thể hiện những suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về nhiều mặt trong đời sống Khác với các hệ thống triết học thường do các nhà tư tưởng, các triết gia xác định tạo

ra, các triết lý thường là vô danh xuất hiện và tồn tại trong nhiều hình thức khác nhau như ca dao, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn, kiến trúc, hội họa… Các triết lý có thể còn rời rạc, tản mạn không có tính liên kết lô gic với nhau, nhưng vẫn có tác dụng định hướng và thúc đẩy hoạt động sống và giao tiếp, văn hóa của con người Như vậy, triết lý ít nhiều có tính thế giới quan trong

đó tích trữ những kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được Có triết lý của cá nhân, của nhóm, tầng lớp… thậm chí của cả dân tộc Một dân tộc trải nhiều hiểm họa, nếu vẫn có cách tồn tại, sẽ rút ra một triết lý phù hợp để tồn tại lâu dài, thoát bị đồng hóa hoặc bị diệt Lúc này, triết lý trở thành minh triết Minh triết của Phật, của đức Giêsu, đức Ala… hấp dẫn được hàng tỷ người

"Nhân sinh" là: "cuộc sống của con người" Ví dụ: Vấn đề có ý nghĩa

nhân sinh, nghệ thuật vị nhân sinh Hay, "nhân sinh" là "đời người" Ví dụ: Triết học nhằm mục tiêu tìm hiểu vấn đề về nhân sinh

Theo Lê Kiến Cầu (Tiến sỹ triết học Trung Quốc) (2008), người dịch Chu Quý trong cuốn: "Triết lý nhân sinh", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

coi: "nhân sinh không chỉ bao gồm cuộc sống của con người và sinh mệnh

của con người mà gồm cả nhân tính nữa" Nhân sinh được biểu hiện ở khía

cạnh sau: "sinh mệnh của con người" là yếu tố cơ bản duy trì sự sinh tồn của con người; "cuộc sống của con người" với mục đích sống không chỉ làm tốt

Trang 32

cho mình mà còn làm cho nhân loại sống tốt hơn, cuộc sống ở đây bao gồm cuộc sống nội tâm và cuộc sống ngoại tâm, cũng có thể gọi là đời sống tinh thần và đời sống vật chất; và "phương hướng của con người" nghĩa là hướng

về một mục tiêu nhất định [2, tr.25] Triết lý nhân sinh là những quan niệm về

ba ý nghĩa trên của nhân sinh

Như vậy, "triết lý nhân sinh" có thể hiểu là: những quan niệm, quan điểm trong về cuộc đời con người như sinh mệnh, cuộc sống, phương hướng phát triển

1.3.2 Triết lý nhân sinh trong văn hóa phương Đông

Trong văn hóa phương Đông, tư tưởng triết lý nhân sinh đến từ ba tôn giáo lớn là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo

Phật giáo, là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối

thế kỷ VI trước công nguyên ở miền bắc Ấn Độ Người sáng lập ra đạo Phật

là Siddhattha (Tất Đạt Đa) Học thuyết về nhân sinh quan của Phật giáo gắn

bó chặt chẽ và là hệ quả trực tiếp của quan niệm muôn vật sinh ra, tồn tại rồi mất đi theo quá trình sinh, trụ, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không Tất cả sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Cái nhân nhờ cái duyên mới sinh ra được mà thành quả Quả lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác nhờ có duyên mà thành ra quả mới Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hóa hóa mãi mãi Quá trình thác sinh luân hồi đó đều do “nghiệp” chi phối theo luật nhân duyên Mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng chủ đạo có tính xuyên suốt toàn bộ thuyết nhân sinh là tư tưởng “giải thoát‟ chúng sinh khỏi kiếp trầm luân đau khổ Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn chân lý mà mọi người phải thực hiện Đó là “Tứ diệu đế” gồm: Khổ đế (đau khổ là tất yếu, là chân lý, là điều không thể tránh khỏi của con người), Tập đế (là tập hợp

Trang 33

những nguyên nhân dẫn tới sự đau khổ, bất hạnh của con người), Diệt đế (cái khổ của con người có thể tiêu diệt được), Đạo đế (là con đường để tiêu diệt cái khổ) Thông qua “Tam học” Phật giáo đưa ra quan niệm về con đường giải thoát Nội dung của Tam học gồm: Giới - Định - Tuệ Giới (gồm Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh) là những điều răn cấm, những qui định giúp cho con người trên đường tu hành tránh được những lỗi lầm, trở nên trong sạch Giới luật có những qui chế cụ thể cho từng đối tượng tu hành Định (gồm chính tinh tiến, chính niệm, chính định) là phương pháp giúp cho người tu hành không tán loạn nhân tâm, nhờ đó mà loại trừ những ý nghĩ xấu, tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng Tuệ (gồm chính kiến, chính tư duy): người có trí tuệ sáng suốt diệt trừ được vô minh, tham dục, chứng ngộ được chân lý, làm điều thiện, mưu lợi ích cho chúng sinh

Đạo Phật đề cao vai trò của trí tuệ, xem đó là điều kiện không thể thiếu được để tiến tới giác ngộ giải thoát Phật khẳng định rằng có trí tuệ mới có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác mới có thể tự giải thoát khỏi những ràng buộc của dục vọng cá nhân Phật giáo còn đề cập tới Bát chánh đạo (tám con đường chân chính để đạt đạo) và “lục độ” (6 phép tu) để chủ động thực hiện những điều tốt đem lại lợi ích cho người, cho chính mình Mục đích của việc tu hành trong giáo lý của đạo Phật là nhằm đạt tới sự siêu thoát hướng con người tới cõi Niết bàn (Nirvana) Tứ diệu đế - Tam học - Bát chánh đạo - Ngũ giới - Lục độ - Niết bàn là nội dung cơ bản của giáo lý Phật, thể hiện quan điểm về nhân sinh và con đường giải thoát con người ra khỏi sự trầm luân của “bể khổ” Những tư tưởng đó tuy mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng đến lối sống của cộng đồng trong xã hội

Tư tưởng nhân sinh của Phật giáo đã có những yếu tố duy vật tích cực như: tố cáo chế độ xã hội phong kiến đẳng cấp gây nên những đau khổ cho con người; đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội; nêu lên ước vọng giải

Trang 34

thoát con người khỏi những bi kịch cuộc đời, khuyên răn con người ta phải sống đạo đức, từ bi, bác ái Tuy nhiên, trong luận thuyết về nhân sinh và con đường giải thoát, do chưa giải thích được thực sự đúng đắn bản chất của các hiện tượng lịch sử xã hội mà nguyên nhân đích thực của nỗi khổ mà nhân dân lao động phải chịu đựng, do đó giải thoát trong triết lý Phật giáo chủ yếu dừng lại trên lĩnh vực đạo đức, tinh thần, tâm linh Tư tưởng Phật giáo còn bị hạn chế, đó là mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương

"xuất thế", "siêu thoát" có tính chất duy tâm, không tưởng về những vấn đề xã hội

Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ thứ nhất, khi nước ta phụ thuộc nhà Hán Nhờ những yếu tố tích cực của Phật giáo và trên cơ sở tiếp thu những yếu tố của văn hóa Việt Nam truyền thống mà Phật giáo đã phát triển, bén rễ trong dân chúng và trở thành một trong những yếu tố của văn hóa Việt Nam Phật giáo không chỉ đã khẳng định được tầm quan trọng trong đời sống tâm linh, đạo đức của dân tộc Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến đời sống chính trị, qua tư tưởng "dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm", "thập thiện" Phật giáo được coi như một tôn giáo có ảnh hưởng nhất tới đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay

Nho giáo, là một trong những trường phái triết học chính của Trung

Quốc cổ đại và có ảnh hưởng lớn tới các nước phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551 - 479) Triết lý nhân sinh của Nho giáo thể hiện trong thế giới quan và trong hệ thống học thuyết đạo đức - chính trị của mình

Trong quan điểm về thế giới, xuất phát từ tư tưởng của "Kinh Dịch", Nho giáo cho rằng, vạn vật trong vũ trụ luôn sinh thành, biến hóa không ngừng theo "đạo" của nó "Đạo" là "Thiên lý", đó là thịnh đức, là đạo chí thành của trời đất, là gốc của thiên hạ "Đạo" hay "Thiên lý" là lý huyền vi,

Trang 35

sâu kín, mầu nhiệm, mạnh mẽ, lưu hành khắp vũ trụ, định phép sống cho vạn vật, con người ta không thể nào cưỡng lại được nên gọi là "Thiên mệnh" (mệnh trời) Do tin thiên mệnh nên Nho giáo coi việc hiểu mệnh trời là một điều kiện tất yếu để trở thành người hoàn thiện: "Không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử" ("Luận ngữ", Nghiêu viết, 3) Đã tin có mệnh, biết mệnh thì phải sợ mệnh và thuận mệnh Đó là cái đức của người quân tử:

"Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời thánh nhân" ("Luận ngữ", Quý thị, 8) Do vậy, Nho giáo chủ trương tin vào số mệnh: "Sống chết có mệnh, giàu sang do ở trời" ("Luận ngữ", Nhan Uyên, 5) Tuy nhiên, Nho giáo lại khuyên con người phải luôn nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại thế nào lúc ấy mới do ý trời

Học thuyết về luân lý, đạo đức, chính trị, xã hội là một trong những vấn

đề cốt của tư tưởng triết học Nho giáo Trong đó, những nguyên lý đạo đức căn bản nhất của Nho giáo là: nhân, lễ, trí, dũng cùng những quan điểm về chính trị - xã hội như: Nhân trị, chính danh, thượng hiền, quân tử, tiểu nhân Chữ "nhân" được Nho giáo đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất và là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến xã hội Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức, chính trị khác nhau như một hệ thống triết lý chặt chẽ, tạo thành bản sắc riêng trong triết lý nhân sinh của Nho giáo

"Nhân" là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người, nên

"nhân" chính là đạo làm người: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác); "Kỷ dục lập nhi lập nhân" (mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân); "Kỷ dục đạt nhi đạt nhân" (mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt) ("Luận ngữ", Ung Giã, 28) Người muốn đạt đức "nhân" phải có "trí" và "dũng" Có thể có người “trí” mà không có “nhân”, nhưng không thể có người “nhân” mà thiếu “trí” Nhờ có

Trang 36

“trí” mà con người ta sáng suốt, minh mẫn để hiểu được đạo lý, trau dồi đạo đức và hành động phù hợp theo “thiên lý” “Trí” không tự nhiên mà có mà phải trải qua quá trình học tập, tu dưỡng Mục đích cao nhất của việc học không chỉ để biết đạo, mà để ra làm quan, tham gia việc chính trị quốc gia Nho giáo quan niệm: “Trong lúc xã hội rối ren, không ra làm quan không phải

kẻ trí, không ra giúp đời không phải người nhân” (“Luận ngữ”, Dương Hóa, 1)

Để cải biến xã hội theo hướng tốt hơn, dân tốt, nước yên, xã hội bình trị, Nho giáo đưa ra học thuyết "nhân trị" và "chính danh định phận" Nho giáo phản đối việc nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương

"nhân trị" nghĩa là thương yêu dân, giáo hóa đạo đức cho dân Đồng thời thực hiện chủ nghĩa "chính danh định phận": vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho

ra cha, con cho ra con Mỗi người làm theo đúng danh phận của mình thì xã hội sẽ có trật tự, kỷ cương, thịnh trị Theo học thuyết “chính danh”, xã hội được chia thành những mối quan hệ cơ bản, mỗi quan hệ gọi là một “luân” như: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè Đặc biệt trong luân lý đạo đức, Nho giáo luôn nhấn mạnh đến quan hệ vua tôi và cha con Trong việc cai trị, vua phải chủ trương “đức trị”, "thượng hiền" (dùng người tài cán, hiền đức, vua phải tự mình làm thiện, phải làm trước thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân) Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng “trung”, ấy là “chính danh”, là “phục lễ vi nhân” Trong đạo cha con, Nho giáo cho rằng con đối với cha phải lấy chữ

“hiếu” làm đầu, cha đối với con phải lấy “từ ái” làm trọng

Như vậy, trong triết học của Nho giáo, các phạm trù “nhân”, “lễ”, “trí”,

“dũng”, “chính danh định phận” có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn cố gắng thâm nhập vào mọi lĩnh vực để giải đáp những vấn

đề đặt ra của lịch sử Đây cũng được coi như thành quả kết tinh nhất trong

Trang 37

triết lý nhân sinh của Nho giáo Tuy nhiên, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp, học thuyết triết học của Nho giáo còn chứa đựng những yếu

tố mâu thuẫn, giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô thần với những yếu tố duy tâm; giữa những quan điểm tiến bộ với những tư tưởng bảo thủ, phản ánh tâm trạng giằng xé trước thời cuộc

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc không còn là Nho giáo Khổng - Mạnh nguyên thủy, mà đã được Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) cải tạo cho phù hợp với chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Hán Nội dung Nho giáo du nhập vào Việt Nam gồm những tư tưởng Thiên mệnh, tư tưởng tôn quân đại thống nhất, đề cao quyền uy của Thiên tử, truyền

bá thuyết "tam cương ngũ thường", "tam tòng tứ đức" vừa là công cụ tinh thần phục vụ cho trật tự của bộ máy nhà nước quan liêu, vừa được thần bí hóa, lợi dụng yếu tố mê tín của nhân dân Bởi vậy, Nho giáo được các triều đình phong kiến Việt Nam sử dụng để làm hệ tư tưởng cai trị, đồng thời dùng Nho học để tuyển chọn hàng ngũ trí thức, quan lại cho bộ máy nhà nước

Đạo giáo, là một trong ba trào lưu triết học lớn trong lịch sử Trung Quốc

thời Xuân thu - Chiến quốc Sự hình thành và phát triển của Đạo giáo gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà tư tưởng, tiêu biểu là ba nhà hiền triết có công sáng lập và hoàn thiện Đạo gia là Lão Tử, Dương Chu và Trang Chu Đạo giáo du nhập vào Việt Nam cùng thời với Nho giáo và ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của dân tộc ta theo hai khuynh hướng là Đạo thần tiên và Đạo phù thủy Đạo thần tiên ảnh hưởng tới vua quan, quý tộc ở tư tưởng tiêu dao, khoáng đạt, sống ung dung tự tại, còn Đạo phù thủy lại hòa nhập với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền của nhân dân và tư tưởng phiếm thần bản địa Do đó, suốt chiều dài lịch sử, Đạo giáo đã đã được Việt hóa, và mang một màu sắc riêng của Việt Nam Như tục thờ Tứ bất tử, sử dụng bùa phép để cầu đảo, cầu phúc, gọi hồn, diệt trừ tà ma, bốc thuốc chữa bệnh Đạo giáo ở Việt Nam có sự dung

Trang 38

hợp với Nho giáo và Phật giáo tạo nên tinh thần Tam giáo đồng nguyên Nhà

sư cũng dùng các hình thức cầu đảo, bùa phép để trừ diệt tà ma, thu phục lòng người Mặc dù không có ảnh hưởng nhiều như Nho giáo và Phật giáo nhưng Đạo giáo cũng là một bộ phận trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng dân gian Việt Nam

1.3.3 Triết lý nhân sinh trong lịch sử dân tộc

Nhân dân ta vốn có truyền thống nhân nghĩa từ bao đời nay Điều đó thể hiện trong các tư tưởng về văn hóa, đạo đức, lối sống của quần chúng nhân dân Biểu hiện rõ nhất về tư tưởng nhân sinh của dân tộc ta là ở kho tàng ca dao, dân ca, tục ngữ Chúng là kết tinh những nét tài hoa, trí tuệ, óc sáng tạo

và tinh thần của dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Qua câu

ca dao, dân ca, tục ngữ, nhân dân ta đúc kết lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm sống quý báu, những lời răn dạy về cách sống, về nhân sinh, nhân đức

ở đời Triết lý nhân sinh của dân tộc ta biểu hiện trên một số quan niệm sau: Khuyên con người phải đoàn kết, yêu thương nhau:

"Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng"

"Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"

(Ca dao)

"Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ"

(Thành ngữ) Khuyên con người ăn ở hiền lành, phúc đức, giữ mình trong mọi hoàn cảnh:

"Ai ơi cứ ở cho lành

Trang 39

Tu nhân tích đức để dành về sau”

"Người trồng cây hạnh người chơi

Ta trồng cây đức để đời về sau"

"Khuyên ai ăn ở cho lành Kiếp này chưa gặp để dành kiếp sau"

"Đói lòng ăn hột chà là

Để cơm cho mẹ, mẹ già yếu răng"

"Đói lòng ăn trái ổi non Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa"

"Đôi ta làm bạn thong dong Như đôi đũa bạc nằm trong mâm vàng"

(Ca dao) Phản ánh thực tiễn cuộc sống của nhân dân dưới chế độ phong kiến hà khắc và ước mơ được sống hạnh phúc, công bằng hơn

"Ai ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan"

"Con vua thì lại làm vua

Trang 40

Con sãi ở chùa lại quét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa"

"Trông lên cửu bệ trùng trùng Những là gấm vóc tía hồng nguy nga Nhìn về đồng ruộng bao la Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần"

(Ca dao) Như vậy, triết lý nhân sinh dân tộc được thể hiện rất phong phú trong ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ Nó được đút kết từ cuộc sống lao động và quá trình đấu tranh chống thiên tai, giặc ngoại xâm Nếu tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm sống và lối sống của nhân dân, phản ánh truyền thống tư tưởng và đạo đức của nhân dân lao động, trong đó bao hàm những tư tưởng chính trị xã hội và tư tưởng triết học thì ca dao phản ánh tinh thần nhân đạo và nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam Đây được coi như kho kinh nghiệm sống,

là món ăn tinh thần của nhân dân ta bao đời nay Nó có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa, tập quán, truyền thống dân tộc và tư tưởng sáng tác của các tác giả nhiều thời kỳ

Trong lịch sử văn hóa dân tộc, tư tưởng triết lý nhân sinh cũng được thể hiện qua sáng tác của nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà thơ và các thiền sư Trong thời nhà Lý, Phật giáo dương quang, tư tưởng nhân sinh của Phật giáo là hệ tư tưởng chính, có ba thiền phái chính là thiền phái Tì Đi Na Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông và thiền phái Thảo Đường Tư tưởng của thiền phái

Tì Ni Đa Lưu Chi cho rằng: "mỗi cá nhân xuất hiện là do nghiệp lực, nghiệp duyên thiền sư Từ Đạo Hạnh khi chết, nghiệp duyên chưa hết còn phải tái sinh làm vua Lý Thần Tông Thiền sư Y Sơn trước khi chết, nghiệp duyên đã hết nên ông nói: "Ta không trở lại cõi này nữa" Có nghiệp là do vô minh Vô minh làm

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w