1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đạo đức trong triết học của i kant và ý nghĩa thời đại

109 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kant chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều giá trị, trong đó có những quan điểm về đạo đức của ông đã để lại dấu ấn lâu dài và sâu đậm không chỉ trong lịch sử triết học phương Tây mà còn có

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố

ở bất ký công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đinh Ngọc Hoàng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu đề tài 4

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC I KANT 7

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA I KANT 7

1.1.1 Tiền đề ra đời của triết học I Kant 7

1.1.2 Các thời kỳ phát triển của triết học I Kant 20

1.2 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG TRIẾT HỌC CỦA I KANT 25

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC I KANT 33

2.1 ĐẠO ĐỨC VÀ LÝ TÍNH 35

2.1.1 Lý tính và quan niệm của I Kant về lý tính 35

2.1.2 Mối quan hệ giữa đạo đức và lý tính 37

2.2 ĐẠO ĐỨC VỚI TƯ CÁCH LÀ HÀNH VI CỦA LÝ TÍNH 42

2.2.1 Hành vi đạo đức và các nguyên tắc xác định hành vi đạo đức 43

2.2.2 Mệnh lệnh tuyệt đối- Quy luật cơ bản của lý tính thuần tuý thực hành 45

Trang 5

2.3 ĐẠO ĐỨC VÀ THỰC TIỄN 49

2.3.1 Quan niệm của I Kant về đời sống thực tiễn 49

2.3.2 Đạo đức và mối quan hệ với các lĩnh vực trong đời sống thực tiễn 51

2.4 ĐẠO ĐỨC VỚI ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN 63

2.4.1 Cá nhân và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong triết học đạo đức của I Kant 63

2.4.2 Đạo đức và vấn đề sinh hoạt đạo đức 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA THỜI ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC I KANT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC 70

3.1 Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA TRIẾT HỌC ĐẠO ĐỨC I KANT 71

3.1.1.Triết học của I Kant là triết học vì con người và cho con người 72

3.1.2 Quan niệm về việc xây dựng một nền hòa bình vĩnh cửu cho nhân loại 73

3.1.3 Quan niệm về sự tác động mang tính hai mặt của khoa học đối với đạo đức 76

3.1.4 Sự phân hóa giàu nghèo với vấn đề tha hóa về mặt đạo đức 81

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC I KANT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC 82

3.2.1 Sự ảnh hưởng của triết học đạo đức I Kant đối với triết học G.W.Hegel 83

3.2.2 Sự ảnh hưởng của triết học đạo đức I Kant đối với triết học Karx Marx 86

Trang 6

3.2.3 Ảnh hưởng của triết học đạo đức I Kant đối với triết học Hermann Cohen 91 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (bản sao)

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ (bản sao)

BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1 (bản sao) BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 2 (bản sao) BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Triết học I Kant có một vị trí quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây Tính chặt chẽ trong hệ thống triết học của I Kant cùng với việc nghiên cứu con người như một chủ thể nhận thức và một chủ thể hành động đã đưa nền triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học phương Tây nói chung lên một tầm cao mới Theo đánh giá của Hegel thì triết học của I Kant là nền tảng và

là điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại

Là người kế thừa có phê phán và phát triển phép biện chứng của triết học phương Tây hết sức tiêu biểu cho thời đại của mình, I Kant đã xây dựng một

hệ thống triết học đồ sộ chủ yếu thể hiện trong ba tác phẩm: Phê phán lý tính

thuần túy, Phê phán lý tính thực tiễn và Phê phán năng lực phán đoán Những

quan điểm triết học của I Kant được ông thể hiện trên ba khía cạnh cơ bản của con người, đó là: Con người trong mối quan hệ với tự nhiên; Con người trong mối quan hệ với con người, xã hội; Con người trong mối quan hệ với chính bản thân mình Trong hệ thống triết học đồ sộ của I Kant, ông luôn suy tư nhằm trả lời cho câu hỏi: Tôi có thể nhận thức cái gì? Tôi phải làm gì? Tôi có thể hy vọng vào cái gì? I Kant cũng đã từng khẳng định mạnh mẽ rằng, mục đích quan trọng của triết học là về vận mệnh con người và nền triết học về vận mệnh con người chính là vấn đề đạo đức Triết học I Kant nói chung, những quan điểm về đạo đức của ông nói riêng có chỗ đứng quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây Các nhà nghiên cứu đã ví I.Kant là “ông hoàng của Phúc âm mới” khi đề cập đến vấn đề đạo đức trong triết học của ông Quan niệm về đạo đức của I Kant hoàn toàn đối lập với quan niệm ích kỷ, vụ lợi, thực dụng, hẹp hòi, và nó hướng đến những gia trị chung toàn nhân loại

Trang 8

Những quan điểm về đạo đức trong triết học I Kant thể hiện khát vọng của con người hướng tới cái thiện, tới hạnh phúc cho mọi người

Nếu loại bỏ tất cả những gì là ảo tưởng, những gì là trừu tượng và những gì là sai lầm duy tâm trong hệ thống triết học của I Kant chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều giá trị, trong đó có những quan điểm về đạo đức của ông đã để lại dấu ấn lâu dài và sâu đậm không chỉ trong lịch sử triết học phương Tây mà còn có ý nghĩa đối với thời đại ngày nay

Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được nhiều nhiều thành tựu trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển là sự xuống cấp của đạo đức xã hội trong một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt trong xã hội hiện nay đang tồn tại một loại hình “văn hóa không nhúc nhích” cần được sớm xóa bỏ như phát biểu của người đứng đầu Chính phủ tại lễ phát động phong trào “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” ngày 19/5/2019 Bởi vậy, việc nghiên cứu hệ thống triết học của I Kant nói chung, quan điểm về đạo đức trong triết học của ông nói riêng để thấy được lý do vì sao những quan niệm về đạo đức của

I Kant vẫn còn sức sống mãnh liệt trong thời đại ngày nay là công việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Vì lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề đạo đức trong triết học của

I Kant và ý nghĩa thời đại” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Luận văn phân tích các quan điểm cơ bản về vấn đề đạo đức trong triết học của I Kant để qua đó chỉ ra các giá trị mang ý nghĩa thời đại mà I Kant

đã để lại cho nhân loại

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khái quát bối cảnh hình thành các quan niệm về đạo đức

trong triết học của I Kant

Thứ hai, trình bày các dung cơ bản về vấn đề đạo đức trong triết học

của I Kant

Thứ ba, đánh giá các giá trị của vấn đề đạo đức trong triết học I Kant

và ảnh hưởng của nó đối với các nhà triết học sau này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

+ Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu nội dung cơ bản vấn đề đạo đức trong triết học của I Kant và ý nghĩa thời đại của nó

+ Phạm vi nghiên cứu: những quan niệm về đạo đức trong hệ thống

triết học của I Kant, chủ yếu tập trung trong tác phẩm Phê phán lý tính thực

tiễn (1788) và một số tác phẩm khác như: Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán năng lực phán đoán (1790)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận: Để thực hiện đề tài, Luận văn dựa trên lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, lôgích và lịch sử, đối chiếu và so sánh, hệ thống hóa,

Trang 10

để làm rõ nội dung tư tưởng, những mặt khoa học và hạn chế, cũng như các giá trị hiện thời trong triết học đạo đức của I.Kant

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương và 8 tiết

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu đề tài

Triết học và triết học đạo đức của I Kant đã được các nhà nghiên cứu,

đề cập ở nhiều cấp độ, phạm vi và lập trường khác nhau Nó là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học và là đề tài của các hội thảo quốc tế Mặc dù cùng nghiên cứu các quan điểm về triết học đạo đức của I Kant, nhưng do cách tiếp cận từ góc độ thế giới quan và lập trường tư tưởng khác nhau, nên

có nhiều đánh giá khác nhau, thậm chí là đối lập nhau Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về triết học của I.Kant nói chung và triết học đạo đức của ông nói riêng, cụ thể như:

Tác phẩm Triết học Kant của Trần Thái Đỉnh, Nxb Văn mới, (1974)

Sau hơn 40 năm, vẫn còn giữ nguyên giá trị như một số rất hiếm hoi các công trình tiên phong và rất bổ ích về lĩnh vực này Triết học I.Kant là triết học nhân bản với ba câu hỏi lớn được ông đề ra: Tôi có thể biết gì? Tôi phải làm gì? Và Tôi được phép hi vọng gì? I.Kant đã trả lời thứ tự ba câu hỏi đó thông

qua ba quyển “Phê phán Lý tính thuần túy”, “Phê phán Lý tính thực hành”

và “Phê phán năng lực phán đoán” Bằng việc trình bày một cách cô đọng nhưng không kém phần cặn kẽ về ba quyển “Phê phán”, Triết học Kant của

Trần Thái Đỉnh đã cho ta một cái nhìn bao quát về triết học I.Kant Tất nhiên triết học I.Kant rất rộng, có nhiều nội dung ta chưa thấu hết tư tưởng của ông, cùng với đó là giới hạn của lịch sử cho nên công trình này phải tạm dừng ở mốc những năm 70 của thế kỷ trước

Trang 11

Tác phẩm Immanuel Cantơ của Nguyễn Văn Huyên, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, (1996) Tác phẩm đã khái quát những nét tổng quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của I.Kant Tác giả đã nêu lên những Antinomia của lý tính con người trong quá trình nhận thức, phân tích cách giải quyết các Antinomia đó và tính biện chứng còn được thể hiện ở mặt hình thức của các mối liên hệ các phạm trù, các nhóm phạm trù và tác giả cũng đề cập qua một số quan niệm về Vật tự nó của I.Kant

Tác phẩm Triết học đạo đức của I Kant và ảnh hưởng của nó đối với

triết học Đức thế kỷ XIX của Ngô Thị Mỹ Dung, Nxb Chính trị quốc gia sự

thật, Hà Nội, (2018) Tác giả đã trình bày và phân tích một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong triết học đạo đức của I.Kant như: Cơ sở xác định hành vi của đạo đức, mệnh lệnh tuyệt đối, đạo đức học ứng dụng và ảnh hưởng của nó đến các khuynh hướng triết học Đức trong thế kỷ XIX Tuy nhiên, tác giả chưa có những đánh giá về những giá trị trong triết học đạo đức của I.Kant, đặc biệt là những giá trị mang tầm thời đại

Trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Triết học cổ điển Đức: Nhận thức luận và đạo đức học” của Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, có 45 tham luận, báo cáo trong nước và quốc tế nghiên cứu, trong đó có 23 tham luận, báo cáo viết về triết học đạo đức của I Kant Ngoài ra những nội dung nghiên cứu liên quan đến triết học đạo đức của I Kant còn được đăng trên các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả khác nhau Vì là hội thảo nên hầu hết các tham luận đều có khuynh hướng phân tích chuyên sâu các khía cạnh khác nhau khi luận giải về triết học đạo đức của I.Kant, mà ít mang tính hệ thống

Tóm lại, vấn đề triết học đạo đức của I Kant trong lịch sử triết học nói

chung, triết học cổ điển Đức nói riêng vẫn là đề tài có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nghiên cứu Nhưng để đánh giá một cách có hệ thống, sâu sắc vấn đề

Trang 12

vẫn cần có những chuyên đề đi sâu vào những nội dung cụ thể Dựa trên những nguồn tài liệu, những công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố, những kiến thức học được trên giảng đường, tôi cố gắng tìm hiểu, đi sâu và trình bày một cách có hệ thống triết học đạo đức của I Kant từ đó rút

ra những quan điểm có tính thời đại trong hệ thống triết học đạo đức của ông

Trang 13

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG

TRIẾT HỌC I KANT

1.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA I KANT

1.1.1 Tiền đề ra đời của triết học I Kant

Lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại nói chung và triết học nói riêng là một quá trình từ thấp đến cao, mỗi giai đoạn phát triển của nó luôn xuất hiện và gắn liền với các nhà tư tưởng vĩ đại, họ với tư cách là các nhà

tư tưởng lớn vạch ra các vấn đề mang tính thời đại, là dấu gạch nối giữa các giai đoạn phát triển, các quan điểm và tư tưởng của họ như hòn đá tảng trong nấc thang của quá trình nhận thức Là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức, I Kant (1724- 1804) là nhà triết học lớn của thế kỷ XIX, các quan điểm triết học của I Kant đã thống trị trong giai đoạn đó và là ngọn nguồn cảm hứng của nhiều trào lưu triết học của thời đại Các nhà triết học khai sáng của Pháp và Đức đã dành cho I Kant một địa vị quan trọng trong dòng chảy tư tưởng triết học nói chung và triết học cổ điển Đức nói riêng Như Trần Thái Đỉnh đã nhận xét:

Cho dù một triết gia được người đời sau cải tiến, phát triển sáng tạo hay

bị ngộ nhận đến thế nào đi nữa, thì lịch sử triết học sau I Kant, về một phần cơ bản, phải được hiểu như lịch sử ảnh hưởng, như sự tiếp thu và tiếp tục phát triển, như sự tái tạo, phê phán và tái tiếp thu những tư tưởng của Kant Dự phóng về triết học phê phán siêu nghiệm dường như chứa đựng một tiềm lực tư duy không thể tát cạn, có lẽ đến đây vần chưa thể đo lường hết được [7, tr.16]

I Kant xuất thân từ một gia đình rất sùng đạo làm thợ thủ công, kinh tế không mấy giàu có ở thành phố Königsberg, một vùng đất thuộc miền Đông

Trang 14

nước Phổ Ông sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724, là người con thứ tư trong chín người con của gia đình, ông là người có tư chất ốm yếu, rụt rè, hay bị cảm lạnh và cao không quá 1m53 I Kant theo học triết học, toán học, vật lý học

và thần học ở trường đại học Königsberg từ năm 1740 Sau khi hoàn thành xong chương trình đào tạo đại học, ông đã có thời gian dài làm nghề gia sư Năm 1755, I Kant đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ của mình với đề tài:

Về lửa, sau đó được bổ nhiệm làm công tác giảng dạy ở trường đại học

Königsberg Năm 1770, I Kant được phong hàm giáo sư lôgíc học và siêu hình học, ông đảm nhận công tác giảng dạy siêu hình học, lôgíc học, triết học đạo đức, vật lý học và toán học tại đại học Königsberg Ông sống độc thân cả

đời và mất ngày 12-2-1804 Trong lời giới thiệu tác phẩm “Phê phán lý tính

thực hành” Bùi Văn Nam Sơn đã nhận xét: “Suốt đến cuối đời, Kant là một

huyền thoại sống, chiếm lĩnh mọi giảng đường đại học châu Âu và ảnh hưởng của ông kéo dài sâu đậm mãi đến tận ngày nay…đọc Kant là một sự vất vả cần thiết, hiểu biết ít nhiều về Kant là hành trang bắt buộc phải mang theo trong mọi nẻo đường suy tưởng” [18, tr.16]

Đời sống cá nhân của I Kant không có gì nổi bật, bởi vì ông ít có các mối quan chính trị hệ xã hội và không có đi đâu xa, nhưng trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu ông lại vô cũng thành công với các công trình nghiên cứu rất

có giá trị khoa học của mình Phương pháp giảng dạy của ông không lấy những kiến thức trong sách giáo khoa đã có sẵn làm nền tảng mà chỉ sử dụng chúng như điểm khởi đầu cho tư tưởng riêng mà thôi Với phương pháp ấy ông đã tạo

ra sự khác biệt cơ bản với những đồng nghiệp của ông lúc bấy giờ Theo đuổi

sự khát khao chân lý, ngay trong tác phẩm đầu tiên, I Kant đã tự đưa ra châm ngôn định hướng con đường sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu sau này của mình: Giờ đây ta có thể dám mạnh dạn xem những phán đoán của Newton và

Trang 15

Leibniz chẳng là gì cả nếu nó đối lập với sự khám phá chân lý, và không vâng theo những lời thuyết phục nào khác hơn là con đường của trí tuệ

Triết học I Kant, với tư cách là một sản phẩm của tư duy lý luận nó không xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà nó là một lăng kính phản ánh phần nào bức tranh xã hội, lịch sử của dân tộc Đức lúc bấy giờ Sự ra đời của triết học I Kant không chỉ chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế -

xã hội nước Đức mà còn gắn liền với sự phát triển của các thành tựu khoa học

tự nhiên và những tư tưởng nhân văn ở các nước châu Âu, nhất là tư tưởng của các nhà triết học khai sáng Pháp lúc bấy giờ

* Hoàn cảnh kinh tế chính trị - xã hội của nước Đức trong giai đoạn thế kỷ XVII- XVIII

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và phát triển mạnh mẽ hầu hết ở các nước Tây Âu Thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra bước nhảy vọt thần kỳ trong sự phát triển của nền sản xuất, tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ, qua đó khẳng định tính ưu việt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa so với tất cả các nền sản xuất của các chế độ xã hội trước đó Các thành tựu về kinh tế, văn hóa, khoa học

nở rộ ở các nước Ý, Pháp, Anh…đã chứng minh cho năng lực vô tận của việc nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người Trong khi đó nước Đức vẫn đang nằm trong vòng kìm hãm của chế độ phong kiến

Cách mạng công nghiệp Anh được coi như một biến cố kinh tế quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội tư bản lúc bấy giờ Bên cạnh đó, các cuộc cách mạng xã hội thế kỷ XVII - XVIII đã mở đường cho sự phát triển các tư tưởng tiến bộ, đẩy đến cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) Hai cuộc cách mạng nói trên có ý nghĩa lịch sử lớn lao với thời đại Với ý nghĩa lớn lao

đó, hai cuộc cách mạng đã ảnh hưởng lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở

Trang 16

các nước châu Âu, chấm dứt sự thống trị của chế độ phong kiến hàng nghìn năm với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt khe, mở đầu cho sự ra đời của chế độ tư bản Đó là tiền đề quan trọng thúc đẩy khoa học nói chung và triết học nói riêng phát triển, đặc biệt là với triết học đạo đức Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, hệ thống thần học và chủ nghĩa kinh viện giáo điều với những

lý luận hướng con người tới một thế giới ảo tưởng, xa rời hiện thực cuộc sống

đã bị cởi bỏ, triết học thâm nhập và khám phá cuộc sống Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những quyền mà hệ tư tưởng phong kiến tước bỏ như: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc Con người phải vươn tới trí tuệ và tự do đích thực

Nước Đức là một quốc gia phong kiến với nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu có hai đặc điểm nổi bật là sự bất ổn về chính trị và sự chia tách, cát cứ về lãnh thổ với các cuộc chiến tranh giữa Hoàng đế và các nước chư hầu, cùng với đó là sự lạc hậu về kinh tế Các cuộc chiến tranh, xung đột đã gay ra nhiều tai họa cho vương quốc này, các cuộc chiến đã tàn phá nhiều thành thị và hầu hết các vùng nông thôn Sự chia cắt về mặt lãnh thổ làm cho nền sản xuất của nước Đức lúc bấy giờ lâm vào tình trạng đình đốn, ngưng trệ bởi mỗi tiểu vương quốc đều có một hệ thống pháp luật riêng, có chế độ đo lường riêng, có đồng tiền riêng, đặc biệt là giữa biên giới các vùng lãnh thổ có một hệ thống trạm thuế quan vì vậy nó tạo ra hàng rào ngăn cản sự lưu thông của nền sản xuất Tình hình thực tế của vương quốc Đức lúc bấy giờ được Friedrich Engels đánh giá là thời kỳ yếu hèn nhất của lịch sử dân tộc Đức: “Đấy là cả một đống những cái chán chường, mục nát và tan rã Không ai cảm thấy dễ chịu Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực Nông dân, thợ thủ công hay chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải: chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều” [29, tr.754]

Trang 17

Đặc biệt hơn cả là tình trạng tái diễn chế độ nông nô lần thứ hai trong thế kỷ XVII ở các vùng phía bắc và đông bắc nước Đức, trong đó có vương quốc Phổ, quê hương của I Kant, đã đẩy người nông dân đến chỗ cùng cực Hầu hết nông dân đều bị nông nô hóa và chịu sự cai trị hết sức tàn nhẫn của giai cấp quý tộc địa chủ Người nông nô bị tước đoạt hầu hết các quyền tự do,

bị đem bán hoặc cầm cố như một món hàng Sự thống trị và bóc lột dã man của giai cấp địa chủ quý tộc luôn được nhà nước chuyên chế Phổ bảo vệ, vì vậy đời sống của nông nô bị bần cùng hóa, giá trị, nhân phẩm con người bị chà đạp Chính thực tại phũ phàng đó đã tác động đến sự hình thành tư tưởng của I Kant về ý chí tự do, về nhân phẩm con người, về vấn đề chiến tranh và hòa bình, về việc cần xây dựng một liên minh giữa các quốc gia nhằm bảo đảm một nền hòa bình thực thụ, lâu dài cho toàn thể nhân loại Có một điều thú vị là, mặc dù bất ổn về chính trị, chia tách về lãnh thổ, lạc hậu về kinh tế, nhưng vương quốc Đức trong thời kỳ này lại có một sự phát triển vượt bậc, tạo ra những thành tựu chưa từng có trong lĩnh vực triết học, văn hóa, nghệ thuật với nhiều đại biểu tiêu biểu như Johann Gottlieb Herdre, Johann Wolgang Von Goethe, Friedrich Schiller Hầu hết các tác phẩm đã thể hiện

sự phẫn nộ đối với sự mục nát của nhà nước quân chủ chuyên chế, độc đoán, tham nhũng, bất công, đồng thời qua đó họ đã khơi dậy năng lực lý tính của con người và hướng con người sống và hành động vươn đến tự do

* Sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên

Cùng với tình hình kinh tế chính trị và xã hội ở nước Đức, sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải xem xét lại về mặt học thuật phải đánh giá lại các di sản tinh thần đã đạt được

Và phải có cái nhìn mới về thế giới cũng như con người Triết học I Kant là một hiện tượng nằm trong bối cảnh phát triển của khoa học tự nhiên giai đoạn cận đại, biểu thị những đặc điểm của một chặng đường phát triển của quá

Trang 18

trình nhận thức về giới tự nhiên và ngay cả bản thân con người Hệ thống triết học của I Kant có liên hệ chặt chẽ với toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên thời cận đại với những phát minh tiêu biểu như thuyết nhật tâm của nhà bác học Balan Nikolaus Copernicus, ba định luật về sự chuyển động của các hành tinh của nhà thiên văn học Đức Johann Kepler và định luật hấp dẫn vũ trụ của Isaac Newton, đã giúp I Kant nhận ra những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình vốn thống trị trong nhiều thế kỷ qua

Sự phát triển của khoa học tự nhiên cùng với những thành tựu của nó

đã chỉ ra rằng, thế giới vật chất là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại và vận động theo những quy luật vốn có của nó, “Bản tính vạn vật là sự hiện hữu của vạn vật xét như sự hiện hữu này được xác định bằng những quy luật phổ

quát” [7, tr.16] Nhà thiên văn học người Hi Lạp Ptolemy cho rằng trái đất là

trung tâm của vũ trụ, còn mặt trời, mặt trăng hay các hành tinh khác đều phải xoay xung quanh trái đất và điều này được nhà thờ giáo hội ủng hộ và thừa nhận, vì họ cho rằng vũ trụ là do thượng đế tạo lập ra để phục vụ con người,

và trái đất nơi con người sinh ra phải là trung tâm của vũ trụ

Năm 1543, với tác phẩm: Về sự xoay tròn của các thiên thể,

Copernicus, một nhà thiên văn học đã tạo ra một bước ngoặt mới trong việc luận giải lịch sử hình thành của vũ trụ Chính Copernicus chứng minh trung tâm của thái dương hệ là mặt trời, còn trái đất cũng như các hành tinh khác chuyển động xung quanh nó Kepler đã công khai ủng hộ quan điểm của Copernicus, đáng chú ý nhất của Kepler là ba định luật về sự chuyển động của các hành tinh với nội dung luận giải sự chuyển động của các hành tinh không phải theo vòng tròn mà theo hình bầu dục với việc lấy mặt trời làm trung tâm, khi chuyển động gần mặt trời thì tốc độ chuyển động của các hành tinh tăng lên, đồng thời qua đó xác định công thức toán học cho khoảng cách giữa các

Trang 19

hành tinh với mặt trời, cũng như thời cgian cần thiết để chúng chuyển động xung quanh mặt trời

Như vậy, so với Copernicus thì các định luật của Kepler đã lý giải sự chuyển của các hành tinh chính xác hơn Các định luật của Kepler đã chỉ ra rằng

sự tồn tại và vận hành của vũ trụ luôn tuân theo và chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, nhưng còn một vấn đề đặt ra nữa là tại sao trong quá trình chuyển các hành tinh không bị đẩy ra khỏi quỹ đạo chuyển động của nó

Với định luật vạn vật hấp dẫn của Newton thì vấn đề đó đã được luận giải, theo quan điểm của Newton, mỗi hành tinh đều có một lực hấp dẫn,

mà sức hút của nó tùy thuộc vào khối lượng và vị trí tồn tại của nó trong vũ trụ và định luật này được dùng để tính toán về sự chuyển động và vị trí của các hành tinh, đặc biệt là trái đất

Các phát minh và thành tựu khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đã chứng minh thế giới vật chất là một chỉnh thể thống nhất, chúng tồn tại và vận động tuân theo các quy luật khách quan Từ đó xuất hiện ý tưởng xem xã hội của loài người - với tư cách là một phần của thế giới cũng tuân theo các quy luật

tự nhiên Vấn đề là các quy luật đó là gì? Phương pháp khoa học, con đường nào để nhận thức các quy luật đó và I Kant là một trong những nhà tư tưởng tham gia công cuộc tìm kiếm quy luật chi phối đời sống xã hội

Triết học là sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa trên lôgíc, các tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của tri thức khoa học tự nhiên, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận Triết học đặt nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích tự nhiên, xem xét thế giới như một chỉnh thể

Những giải thích của nó về thế giới chủ yếu là dựa trên những phỏng đoán và giả định Nhưng bắt đầu từ thời Phục hưng và đặc biệt là trong các

Trang 20

thế kỷ XVII - XVIII, sự phát triển của khoa học, nhất là các khoa học tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Mối quan hệ triết học - khoa học có sự đổi chiều Khoa học tự nhiên từ chỗ phụ thuộc, bị dẫn dắt bởi triết học, thì giờ đây, nó độc lập trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, hơn nữa còn tác động quyết định đến khuynh hướng phát triển của triết học và phương pháp tư duy Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác động lên xu hướng phát triển và tư duy của triết học

Sự phát triển của khoa học tự nhiên nhất định sẽ đưa đến những kết luận triết học chung như là một sự tổng kết lý luận Những kết luận triết học rút ra từ các phát minh của khoa học tự nhiên thường do chính các nhà khoa học tự nhiên thực hiện Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưa đến những kết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực, phản khoa học

Những thành tựu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đã giúp I Kant nhận ra những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình đang thống trị từ nhiều thế kỷ trước đó, từ đó đưa ra phương pháp tư duy mới - phương pháp tư duy biện chứng, nó đòi hỏi phải nghiên cứu, xem xét sự tồn tại, vận động, tương tác và chuyển hóa của sự vật, hiện tượng trong trạng thái biến đổi không ngừng Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên, mà chủ yếu là trong lĩnh vực vật lý học, thiên văn học, I Kant đã giải thích nguồn gốc của thái dương hệ từ mối quan hệ giữa lực hút và lực đẩy vốn có trong các kết cấu vật chất, mà không cần đến “cú hích ban đầu của Thượng đế” như cách luận giải của Descartes và Newton Từ những luận chứng do khoa học tự nhiên đem lại, I Kant đưa ra nhận định rằng giới tự nhiên tồn tại trong tính vô cùng, vô tận và theo quy luật vốn có của nó, mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quy luật phát sinh, phát triển và tiêu vong

Trang 21

* Các tiền đề tư tưởng, lý luận

Xã hội Tây Âu vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, bên cạnh sự dịch chuyển trong phương thức sản xuất, cùng với các thành tựu của khoa học

tự nhiên thì trong lĩnh vực tư tưởng cũng có nhiều biến chuyển, đó là các quan điểm của chủ nghĩa duy lý với các đại biểu như Descartes, Spinoza, Leiniz và chủ nghĩa duy nghiệm với đại biểu như Locke, Berkeley, Hume về các vấn đề liên quan đến con người và bản chất nhận thức của con người, cùng với đó là các quan điểm mang tính nhân văn của các nhà triết học Khai sáng như Rousseau đã ít nhiều tác động tới các quan điểm triết học của I Kant

Chủ nghĩa duy lý lấy nền tảng là các kết luận về mặt lý thuyết trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, cho nên các quan điểm của trường phái này thường đề cao vai trò của lôgic toán học và họ cho rằng nguồn gốc duy nhất của tri thức là

lý tính Chủ nghĩa duy lý đề cao và tuyệt đối hóa tư duy lôgic cũng như tính tất yếu phổ biến của nó, đồng thời hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính, chính vì

lẽ đó các nhà triết học thuộc trường phái duy lý khẳng định, con người chỉ đạt tới tri thức về các thực tại tiên nghiệm bằng cách đi từ ý niệm này sang ý niệm khác giống như cách suy luận trong toán học Đối lập với các quan niệm của trường phái duy lý, chủ nghĩa duy nghiệm cho rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất của tri thức Cảm tính có trước lý tính, như cách mà nhà triết học Hume từng khẳng định “mọi nhận thức của con người đều đến từ kinh nghiệm, vì vậy con người không thể nào có tri thức về bất kỳ thực tại tiên nghiệm nào” [4, tr.19]

Nếu tán thành quan điểm của chủ nghĩa duy nghiệm thì phải thừa nhận rằng, mọi tri thức khoa học chỉ là những biểu hiện vụn vặt, ngẫu nhiên, cho nên trong các vấn đề cần phải giải quyết của siêu hình học như vấn đề tự do,

về Thượng đế thì chủ nghĩa duy nghiệm cho rằng không thể có tri thức về chúng được Ngược lại, nếu nhất trí với quan điểm của chủ nghĩa duy lý thì

Trang 22

đương nhiên phải thừa nhận mọi tri thức khoa học đều là kết quả sáng tạo đơn thuần của trí tuệ con người mà không cần đến cơ sở là hiện thực khách quan

Cả chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm đều quan tâm đến vai trò tích cực của chủ thể nhận thức Nhưng “cái tôi tư duy” của Descartes khi bị tách

ra khỏi thế giới hiện thực thì tri thức mà nó có được bị mất chỗ dựa ở kinh nghiệm và đương nhiên trở thành các quan niệm trống rỗng, không có sự tương thích với thực tiễn sống động Còn đối với Berkeley thì “cái tôi tri giác” chỉ đem lại các cảm giác đơn lẻ, mang tính ngẫu nhiên Do tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức cảm tính nên khi đi chứng minh giá trị khách quan của chân lý ông đã tìm đến Thượng đế như là nguyên nhân tuyệt đối của mọi cảm giác trong ý thức của chủ thể

Sự đấu tranh tác động qua lại giữa các quan điểm đối lập của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII về nguồn gốc

và bản chất của tri thức đã tạo ra động lực bên trong thúc đẩy quá trình nhận thức về mặ triết học phát triển, nó đặt ra cho thực tiễn nhận thức cần phải có những quan niệm toàn diện, khoa học nhằm khắc phục các quan điểm mang tính phiến diện, không đầy đủ như hiện nay Với tham vọng dung hòa các quan niệm của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm vào chung một hệ thống triết học, đồng thời khắc phục các mặt sai lầm trong nhận thức của hai quan điểm trên, triết học lý luận I Kant ra đời

Kế thừa các quan điểm của các nhà triết học duy nghiệm, I Kant khẳng định quá trình nhận thức của con người luôn khởi đầu từ kinh nghiệm, mặt khác ông lại cho rằng, không phải vì thế mà tất cả bắt đầu từ kinh nghiệm Ở phương diện này I Kant đã kế thừa quan điểm của các nhà triết học duy lý về tính độc lập của chủ thể nhận thức “cái tôi tư duy trong triết học lý luận của Kant cũng bắt nguồn từ cái tôi tư duy của Descartes” [4, tr.21]

Trang 23

Đối với David Hume, thì I Kant có nhận xét “Hume là người đã đặt những bước chân đầu tiên vào đúng con đường của chân lý và Hume có lẽ là đại biểu xứng đáng, tài ba nhất trong các triết gia theo thuyết hoài nghi; các tác phẩm và phương pháp của ông quả thật đã gay được ảnh hưởng sâu sắc nhất, đánh thức việc nghiên cứu về năng lực của bản thân lý tính” [19, tr.91] Khi nghiên cứu các đối tượng của tri thức, Hume đưa ra nguyên tắc liên tưởng, tất

cả những gì mà đối tượng đem lại được liên kết thành một biểu tượng thống nhất trong tư duy, sự liên kết này nó nằm ở chính trong bản thân sự vật, trong tri giác cụ thể hoặc trong quá trình diễn dịch của lý tính Đó là những gì I Kant tiếp thu từ quan điểm của Hume cho sự phê phán triết học của mình Tuy vậy I Kant lại không đi theo kết luận đó, bởi vì nó chưa giải đáp được một cách thuyết phục câu hỏi làm thế nào để có được tri thức khoa học

Nước Phổ chỉ là một tiểu vương quốc thuộc vương quốc Đức, nhưng

do nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, cùng với các chính sách phát triển công - thương nghiệp hợp lý nên vương quốc Phổ trở thành một quốc gia cường thịnh trong vương quốc Đức về tất cả các lĩnh vực công - thương nghiệp, giao thông, khoa học, nghệ thuật, giáo dục….chính vì lẽ đó vương quốc Phổ có điều kiện giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hóa, tư tưởng tiến bộ của các nhà Khai sáng nhất là các quan điểm của nhà Khai sáng nổi tiếng Rousseau Đó là các quan điểm của Rousseau về quá trình hình thành và phát triển của lịch sự xã hội loài người, quan điểm về tự do, về sự tha hóa bản chất tự nhiên của con người, quan điểm về giáo dục… đã ảnh hưởng sâu sắc đến các quan điểm về triết học đạo đức của I Kant

Thông qua tác phẩm: Luận về nguồn gốc và bản chất của sự bất bình

đẳng giữa người và người, Rousseau khẳng định, lịch sử của nhân loại là

kết quả của hoạt động con người trong trạng thái tự nhiên con người bình đẳng về quyền lợi và cơ hội Nhưng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu,

Trang 24

cùng với sự hoàn thiện về mặt nhận thức, sự bất bình đẳng giữa người và người trong xã hội bắt đầu xuất hiện Nền văn minh vật chất càng phát triển, sự hoàn thiện của công cụ lao động ngày càng tăng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về mặt đạo đức xã hội

Trong các mối quan hệ xã hội con người cảm thấy xa lạ với chính bản thân mình, tự đánh mất mình và bị tha hóa, cho nên để con người trở nên bình đẳng như trong trạng thái tự nhiên theo quan điểm của Rousseau nhà nước ra đời cùng với khế ước của nó Khế ước xã hội là biểu hiện của ý chí tự do, nó

là kết quả của quá trình nhận thức và hành động mang tính lịch sử do con người tạo ra Việc khế ước xã hội ra đời con người mất đi cái tự do tự nhiên làm những gì mình muốn, nhưng lại có được tự do trong sự quy định của pháp luật Sự phục tùng khế ước xã hội không phụ thuộc vào ý chí của người khác

mà nó phụ thuộc vào ý chí của chính mình “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do tiên thiên và cái quyền hạn chế được làm những điều muốn làm mà làm được, nhưng mặt khác con người lại thu được quyền tự do dân sự

và quyền sở hữu những cái mà anh ta có” [8, tr.74]

Theo Rousseau, trong cuộc sống xã hội với nhiều sự cám dỗ về mặt vật

chất, con người có thể đánh mất mình Vì vậy, trong tác phẩm: Emile hay là

về giáo dục, ông chủ trương khôi phục lại các giá trị tiên thiên của con người

thông qua con đường giáo dục Trong môi trường giáo dục con người có được kinh nghiệm riêng, biết sẻ chia, hiểu được giá trị của lao động, biết đồng cảm với mọi người Đặc biệt, thông qua giáo dục con người có thể học cách làm người, tự tin hơn, yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm trong việc xây dựng một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái

Các quan điểm mang tính nhân văn của Rousseau đã tạo ra một sức hấp dẫn đối với thời đại lúc bấy giờ và nó đã cảm hóa được I Kant, và nó đã giúp

Trang 25

I Kant nhận thức được tầm quan trọng của khoa học thực tiễn và chính Rousseau đã tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời nghiên cứu của I Kant Chuyển

từ nghiên cứu khoa học tự nhiên sang việc nghiên cứu con người cũng với các mối quan hệ xã hội phức tạp của nó Đánh giá về ảnh hưởng của Rousseau đối với cuộc đời nghiên cứu của mình, I Kant viết:

Tôi là người nghiên cứu theo khuynh hướng riêng của mình Tôi khao khát tri thức, ước vọng vươn lên không mệt mỏi và đôi lúc tôi cảm thấy thỏa mãn với những thành quả mà mình đạt được Đã có lúc tôi nghĩ rằng điều này có thể đưa lại niềm vinh dự cho nhân loại, và tôi khinh miệt những kẻ tiện dân không có tri thức Rousseau đã cảm hóa tôi Những mặc cảm mù quáng và tính kiêu ngạo trong tôi mất dần Tôi bắt

đầu tôn trọng mọi người và thấy mình có ích hơn trước [38, tr.721]

Cũng như Rousseau, I Kant cho rằng tự do là quyền tự nhiên duy nhất hiện hữu, là quyền làm người mà pháp luật thừa nhận Nếu tự do theo cách hiểu của Rousseau là tự đặt mình vào sự quy định của pháp luật, là tự do dân

sự, thì I Kant cũng cho rằng, về mặt pháp luật, tự do là hành động theo những điều kiện chung, là tự do chính trị Nếu như Rousseau quan niệm tiếng nói của lương tâm không phải từ Thượng đế mà nó xuất phát từ bản tính tự nhiên khi chưa bị tha hóa của con người, thì I Kant lại nhấn mạnh đến tính tự trị của ý chí, láy sự tự do làm nền tảng cho đạo đức cá nhân và cho rằng cái quy định ý chí chỉ có thể là lý tính thực tiễn mà thôi Bên cạnh việc nhất trí với những quan điểm của Rousseau, thì I Kant vẫn có nhiều sự khác biệt, tuy vậy trong toàn bộ triết học thực tiễn của I Kant luôn luôn có dấu nét sâu đậm tư tưởng của Rousseau Do vậy, khi nhận xét về triết học của I Kant, C.Mác viết

“…triết học I Kant là lý luận Đức của cách mạng Pháp” [28, tr.131]

Trang 26

Tóm lại, hệ thống triết học của I Kant nói chung và triết học đạo đức

của ông nói riêng là một bức tranh phản ánh một cách chân thực thực tiễn các nước Tây Âu và vương quốc Đức lúc bấy giờ, toàn bộ hệ thống tư tưởng của

I Kant nằm trong dòng chảy của tư tưởng nhân loại, nó được sinh ra từ hiện thực sinh động chứ không phải từ một mảnh đất trống không

1.1.2 Các thời kỳ phát triển của triết học I Kant

Với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức, hệ thống triết học của I Kant phát triển từ thấp đến cao, mỗi giai đoạn phát triển của hệ thống triết học của ông không chỉ gắn liền với quá trình nhận thức mà còn chịu sự chi phối bởi thực tiễn sinh động thay đổi hàng ngày Về cơ bản thì triết học của I Kant được phát triển và phân chia làm hai thời kỳ “tiền phê phán” (1746 - 1769) và thời kỳ “phê phán” ( 1770 - 1804) Ở thời kỳ “tiền phê phán”, I Kant chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan trong lĩnh vực khoa học tự nhiên như toán học, thiên văn học và đã đạt được thành công với nhiều phát minh nổi tiếng Thời kỳ “phê phán” là thời kỳ mà I Kant chuyển hướng nghiên cứu sang lĩnh vực triết học và có nhiều cống hiến xuất sắc cho nền triết học cổ điển Đức nói riêng và triết học của nhân loại nói chung

* Thời kỳ “tiền phê phán” 1746 - 1770

Triết học của I Kant ra đời trong bối cảnh mà các quan niệm duy tâm, máy móc đang thống trị trong lý luận nhận thức, đặc biệt là các quan niệm của Newton và Descartes Trước 1770, các tác phẩm của I Kant chủ yếu bàn

về các vấn đề trong khoa học tự nhiên Vì vậy, bên cạnh những quan niệm duy tâm, thần bí, về cơ bản I Kant mang tinh thần lạc quan của một nhà khoa học chân chính Ông từng tuyên bố “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là, hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy, thế giới

đã ra đời từ vật chất như thế nào” [3, tr.353]

Trang 27

Từ năm 1755, với sự đời của tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời, hay là thử trình bày kết cấu và nguồn gốc cơ học của toàn vũ trụ theo những nguyên tắc của Newton, I Kant bắt đầu xác lập thế giới quan độc lập của riêng mình Theo I Kant, thế giới này được cấu tạo từ vật chất, chúng luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng, tất cả các sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy Thế giới hiện tại là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao của tự nhiên, với xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn Dựa trên định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, I Kant yêu cầu phải nghiên cứu giới tự nhiên trong một chỉnh thể thống nhất vô cùng, vô tận của nó I Kant đã nghiên cứu mối quan hệ mặt trăng và sự tự quay của trái đất và đi đến kết luận trái đất tự do quay quanh trục nó, nhưng do sức hút của mặt trăng đối với thể lỏng trên bề mặt trái đất nên việc tự quay của trái đất bị chậm lại Sức hút này tị lệ thuận với khối lượng và tị lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa mặt trăng và trái đất

Nếu như Newton quan niệm quán tính là thuộc tính chung của mọi vật thể, cho nên mọi vật thể sẽ duy trì trạng thái đứng im hay chuyển động thẳng đều cho tới khi nó thoát khỏi trạng thái đó do tác động của một lực bên ngoài I Kant cho rằng vận động bắt đầu do có sự hiện diện của lực đẩy và lực hút vốn có trong bản thân nội tại vật chất Với quan niệm này, I Kant đã bỏ qua “cú hích đầu tiên” của Thượng đế để lý giải nguồn gốc của vận động Đánh giá ý nghĩa của tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời của I Kant, F Engels viết:

I Kant đã mở đầu sự nghiệp khoa học của ông bằng việc biến thái dương hệ vĩnh viễn và bất biến của Newton, sau khi đã có cái hích đầu tiên nổi tiếng kia, thành một quá trình lịch sử: Đó là quá trình xuất hiện mặt trời và tất cả mọi hành tinh từ khối tinh vân đang xoay chuyển Từ

Trang 28

đó, ông rút ra được kết luận là sự nảy sinh của thái dương hệ cũng giả

định sự tiêu vong tất yếu của nó trong tương lai [31, tr.39]

I Kant đã luận giải một cách biện chứng về giới tự nhiên khi ông cho rằng bản thân giới tự nhiên tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, sự phát sinh, phát triển và diệt vong đều do cách quy luật khách quan chi phối Với lập luận đó, I Kant đã luận giải sự hình thành, tồn tại, phát triển của giới tự nhiên theo quan điểm của một nhà duy vật, đánh giá về vấn đề này, trong tác

phẩm Chống Đuyrinh, Friedrich Engels khẳng định: “Học thuyết của Cantơ

cho rằng tất cả các thiên thể hiện tại đều sinh ra từ những khối tinh vân đang xoay tròn, là một thành tựu mới nhất của khoa thiên văn từ thời Côpécních đến nay Lần đầu tiên, có quan niệm cho rằng giới tự nhiên không có lịch sử

trong thời gian, đã bị lung lay” [31, tr.85]

Trong thời kỳ “tiền phê phán”, khái niệm nhân - quả của Davis Hume chưa được I Kant tiếp cận, cho nên các quan niệm của siêu hình học được hình thành trên cơ sở lý tính vẫn được ông cho là đúng đắn Mặc dù I Kant cho rằng ngoài luận cứ của mình thì không thể có một cơ sở nào để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế một cách thuyết phục hơn Tuy vậy I Kant cho rằng việc chứng minh này bằng con đường nhận thức khoa học là không cần thiết Nhìn chung trong thời kỳ “tiền phê phán” mặc dù còn chịu ảnh hưởng lớn bởi các tư tưởng của chủ nghĩa duy lý ở Tây Âu nói chung và quan niệm duy tâm thần học của Lebniz nói riêng trong việc lý giải về sự tồn tại của Thượng đế, song trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, I Kant đã có bước tiến dài so với các nhà khoa học trước đó Với các quan niệm biện chứng về giới tự nhiên, I Kant là người đầu tiên làm sụp đổ các quan niệm siêu hình và lối tư duy siêu hình khi nhận thức về sự tồn tại, vận động của thế giới vật chất cả vô cơ và hữu cơ Chính I Kant là người “đã phá vỡ một

Trang 29

cách hết sức khoa học đến mức hiện nay phần những lý lẽ của ông đã dùng

để chứng minh vẫn còn có giá trị” [31, tr.86]

* Thời kỳ “phê phán” 1770 - 1804

Từ sau 1770, triết học của I Kant chuyển sang một thời kỳ phát triển mới- Thời kỳ phê phán hay còn gọi là Triết học phê phán Trong giai đoạn này thế giới quan triết học của I Kant đã có nhiều sự thay đổi do sự tác động của các biến cố xã hội Đức cũng như các quan niệm triết học của Lebniz và đặc biệt là của Hume, I Kant viết “Hume đã đánh thức tôi khỏi cơn mê của chủ nghĩa giáo điều” Triết học I Kant thời kỳ này đã đóng góp cho nhân loại nhiều tư tưởng có giá trị với sự ra đời của các tác phẩm như:

Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán năng lực phán đoán (1790)

Thời kỳ này được gọi là thời kỳ “phê phán” bởi vì trong giai đoạn này

I Kant đã đề ra nhiệm vụ là nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học từ trước đến nay trên tinh thần phê phán Theo I Kant, các nhà triết học từ trước đến nay có vẻ như đã quên mất một vấn đề quan trọng nhất là con người Vì vậy, I Kant đặt ra nhiệm vụ hàng đầu cho bản thân mình là xác định đúng bản chất thực sự của con người trên tinh thần nghiêm túc, khoa học về con người Điều này sẽ quyết định các vấn đề triết học phải tập trung vào giải quyết như vấn đề về đời sống và hoạt động thực tiễn của con người Theo I Kant, triết học phải mang lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới mẻ, phải chi ra các nguyên tắc cơ bản của đời sống để qua đó giúp cho con người sống đúng với bản chất của nó

I Kant cho rằng để phát hiện ra được bản chất đích thực của con người thì không thể dừng lại ở các quan niệm của Hume là đưa toàn bộ các vấn đề cơ bản của triết học vào trong vấn đề tâm sinh lý, mặc dù quan niệm

Trang 30

này của Hume ít nhiều mang tính hợp lý, tuy nhiên các yếu tố của đời sống

xã hội cũng chiếm một vị trí quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi con người Vì vậy, con người cần phải được tiếp cận và nghiên cứu

từ nhiều phương diện chứ không đơn giản chỉ tiếp cận ở mỗi phương diện hoạt động nhận thức, cần phải xem con người là một chủ thể hoạt động, bởi

vì sự thông thái, hiểu biết của mỗi con người về cơ bản phải được bộc lộ trong hành động thực tiễn hơn là trong hoạt động nhận thức Triết học là biểu hiện của sự thông thái, nó phải có nhiệm vụ “xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới, từ đó con người có thể học được cái điều

mà ai cũng phải học để làm người” Như vậy, theo I Kant, nhiệm vụ của triết học là làm rõ được bản chất của con người Điều đó chỉ có thể thực hiện khi triết học giải đáp được các vấn đề lớn: Tôi có thể biết cái gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hi vọng vào cái gì?

Những câu hỏi đó được I Kant đưa ra là được khái quát từ thực tiễn cuộc sống hàng ngày được mọi người quan tâm Đó là các khía cạnh cơ bản của mối quan hệ giữa con người và thế giới xung quanh Việc luận giải cho ba vấn đề đó nếu xét đến cùng là nó giải đáp cho câu hỏi lớn hơn “Con người là gì”? “Tôi có thể biết gì?” được I Kant luận giải một cách rõ ràng và tị mỉ

trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, đây chính là phần triết học lý

luận của I Kant Câu hỏi thứ hai “Tôi cần phải làm gì?” được I Kant trình

bày trong tác phẩm “Phê phán tính thực tiễn”, đây là triết học thực tiễn Câu

hỏi thứ ba là phần mỹ học “Tôi có thể hi vọng vào cái gì?” là vấn đề bao trùm

cả lý luận và thực tiễn, được I Kant đề cập trong “Phê phán lý tính thực tiễn

và Phê phán năng lực phán đoán”

Việc I Kant xác định con người là đối tượng nghiên cứu của triết học, cùng với quan điểm của ông về thuộc tính phổ quát và tất yếu của tri thức khoa học được xem là một đóng góp quan trọng trong sự phát triển

Trang 31

của lý luận nhận thức nói chung và toàn bộ triết học nói riêng Việc xem con người như một chủ thể hoạt động tích cực trong quá trình nhận thức cũng như trong đời sống xã hội của I Kant đã tạo nên sự dịch chuyển quan trọng trong tư duy triết học từ đó trở về sau Với việc chỉ ra năng lực nhận thức của con người là một quá trình thống nhất từ thấp đến cao, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức giác tính, cũng như luận giải của I Kant về mối liên hệ biện chứng giữa các quá trình đó được xem là bước nhảy vọt trong tiến trình phát triển của nhận thức nhân loại giai đoạn cận đại Tuy nhiên, I Kant lại phủ nhận thuộc tính khách quan của không gian và thời gian khi ông cho rằng chúng là năng lực nhận thức đặc biệt tồn tại có trước trong bản thân mỗi con người, ở điểm này thì triết học lý luận của I Kant lại biểu hiện rõ quan điểm duy tâm chủ quan

Với mục đích xuyên suốt là cố gắng tạo dựng cho con người cái nhìn mới về thế giới xung quanh, về chính bản thân mình vì thế triết học của I Kant là một nền triết học chan chứa tinh thần nhân đạo, bao dung, nó thể hiện những khát vọng cao cả mà mỗi con người trong cuộc sống hàng ngày luôn láy đó làm mục tiêu hướng tới và mong muốn đạt được hạnh phúc “Đó cũng

là khởi đầu và cũng là kết thúc của một tâm hồn triết học Đức trong việc xây

dựng một hệ thống triết học thực sự mới của riêng mình” [8, tr.357]

1.2 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG TRIẾT HỌC CỦA I KANT

Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của triết học phương Tây, nó có ảnh hưởng sâu rộng đối với toàn bộ hệ thống triết học hiện đại, nó bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX ở Đức Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức với các đại biểu tiêu biểu như

Trang 32

Herder, Lesing, Schiller, Goethe, Fichte, Schelling, Hegel, Feurbach, đặc biệt

là I Kant được xem là điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại

Hệ thống triết học của I Kant bao gồm triết học lý luận và triết học thực tiễn Trong triết học thực tiễn, I Kant xem triết học đạo đức là nền tảng, “Tôi càng suy ngẫm nhiều thì có hai điều làm cho tâm hồn tôi kinh ngạc và tôn kính hơn là: bầu trời ở trên đầu tôi và quy tắc đạo đức ở trong tôi” [3, tr.352] Nếu như trong triết học luân lý I Kant tập trung luận giải vấn đề: Làm thế nào để có thể có một siêu hình học thực sự khoa học, thì trong triết học thực tiễn, I Kant muốn chứng minh có một siêu hình học thực sự khoa học, đó là siêu hình học về đạo đức, tức là những nguyên tắc mang tính phổ quát và tất yếu, “chỉ có đạo đức học là chứa đựng những quy luật điều chỉnh hành vi có thể được rút ra từ các nguyên tắc hoàn toàn tiên nghiệm Cho nên siêu hình học về đạo đức là đạo đức học duy nhất có tính thuần túy vì không cần dựa vào các căn cứ hay nghiên cứu nhân loại

học hoặc thường nghiệm khác” [19, tr.848]

Triết học đạo đức của I Kant là một khoa học thật sự bởi vì nó mang tính phổ quát và tất yếu Phổ quát bởi vì các quy luật đạo đức không chứa những nội dung mang tính kinh nghiệm, tính tất yếu bởi vì các quy luật đạo đức bắt buộc con người phải hành động vì bổn phận, và vì sự tôn trọng đối với các quy luật đạo đức Các quan niệm về đạo đức của I Kant không phải dạy con người biết làm thế nào để thỏa mãn khát vọng sống hạnh phúc, mà

nó dạy cho mỗi con người cần phải làm thế nào để xứng đáng với hạnh phúc, xứng đáng với phẩm giá làm người, “nếu như tồn tại một khoa học thực sự cần cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang dạy, cụ thể là, xác định cho con người vị trí xứng đáng trong thế giới từ đó có thể học được cái điều mà ai cũng phải học để làm người” [4, tr.48] Mục đích tối cao của triết

Trang 33

học là tìm lời giải cho câu hỏi: Con người là gì? Và con người cần phải làm

gì để xứng đáng với phẩm giá làm người?

Để minh chứng cho quan điểm đó, I Kant cho rằng cần phải chứng minh được tính hiện thực của tự do, với tư cách là khát vọng và giá trị cao nhất của con người, bởi vì sứ mệnh và lịch sự của loài người luôn luôn gắn liền với tự do I Kant viết:

Trong chừng mực tính hiện thực của khái niệm tự do được chứng minh bằng một quy luật tất nhiên của lý tính thực tiễn, thì lúc đó nó làm nên viên đá cuối cùng của toàn bộ ngôi nhà của một hệ thống lý tính thuần túy, kể cả lý tính tư biện; và mọi khái niệm khác (về Thượng đế và sự bất tử của linh hồn) vốn không có chỗ dựa trong lý tính thuần túy nếu chỉ là những ý niệm đơn thuần, nay cũng tự gắn mình với khái niệm này, và nhờ đó nhận được sự vững chắc và thực tại khách quan, nghĩa

là, khả thể của chúng được chứng minh, bởi tự do là hiện thực, vì ý

niệm tự do tự bộc lộ thông qua quy luật đạo đức [ 19, tr.9-10]

Khi luận giải mối quan hệ giữa tự do và quy luật đạo đức, I Kant cho rằng tự do đương nhiên là cơ sở tồn tại của các quy luật đạo đức, nhưng các quy luật đạo đức là cơ sở nhận thức của tự do, nếu không có tự do, thì đương nhiên không có các quy luật đạo đức trong cuộc sống hàng ngày Với cách lập luận như vây, Immnuel Kant cho rằng, trong các mối quan hệ

xã hội, con người là tự do và là một thực thể tự do, con người cần phải hành động theo các quy luật đạo đức mang tính phổ quát và tất yếu Mặt khác, theo I Kant thì tự do còn giữ vai trò nền tảng trong đạo đức học ứng dụng như triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, triết học lịch sử Trong các lĩnh vực đó, tự do nó là thước đo để đánh giá phẩm giá con người, là

Trang 34

tiêu chí để so sánh sự tiến bộ của xã hội này với xã hội khác, của giai đoạn lịch sử này với giai đoạn lịch sử khác

Trong hệ thống triết học pháp quyền, tự do được I Kant định nghĩa

là quyền tự nhiên bẩm sinh và là quyền làm người của mỗi cá nhân Để bảo đảm cho quyền tự do cá nhân đó, mỗi cá nhân phải nhận thức rõ về quyền

và nghĩa vụ của mình là quyền của một con người, không được để bản thân tha hóa Mặt khác, quyền tự do cũng cần phải được đảm bảo về mặt pháp lý thông qua hệ thống pháp luật và quyền lực của nhà nước Cả triết học đạo đức và triết học pháp quyền đều đề cập tới bổn phận, nhưng triết học đạo đức là những bổn phận bên trong, còn triết học pháp quyền là những bổn phận bên ngoài Cơ sở để phân biệt tính đạo đức và tính hợp pháp trong hành vi, theo I Kant là dựa vào động cơ của chủ thể hành động, “Sự phù hợp hay không phù hợp của một hành vi với quy luật mà không quan tâm đến động cơ của nó gọi là sự hợp pháp; nhưng nếu trong sự phù hợp đó, ý tưởng về bổn phận xuất phát từ quy luật đồng thời là động cơ của hành vi

thì gọi là đạo đức” [18, tr.23]

Tiếp thu tư tưởng của các nhà triết học Khai sáng, đặc biệt là của Rousseau, về quyền tự nhiên của mỗi con người, I Kant quan niệm, quyền

tự nhiên là quyền bẩm sinh, vốn có của mỗi con người, nó tự nhiên mà có và

nó độc lập với các luật ban hành Khi con người được sinh ra là tự do, nhưng đồng thời tự do cũng là quyền mà được luật pháp đem lại Khác với tự do bẩm sinh, tự do có được thông qua pháp luật được xem là “sự độc lập đối với sự độc đoán cưỡng bức” của những người khác Trong chừng mực tự do của mỗi người có thể hợp nhất với tự do của người khác theo một quy luật chung, thì đó là quyền hiện hữu duy nhất, khởi đầu đem lại cho con người quyền làm người

Trang 35

Trong triết học lịch sử của I Kant, tự do là một phạm trù trung tâm Sự vận động biến đổi của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, mỗi cá nhân đều có thể tự do lựa chọn cách sống riêng bản thân mình, cùng với sự tiến bộ của xã hội con người ngày càng độc lập với giới tự nhiên để hòa nhập vào đời sống cộng đồng xã hội, từ đó lịch sử của loài người không đơn thuần là lịch sử tiến

bộ về việc đáp ứng các nhu cầu cá nhân mà còn là lịch sử phát triển và hoàn thiện các giá trị về mặt đạo đức Lịch sử của loài người theo I Kant là “lịch

sử phát triển của tự do, nó là tiêu chí hàng đầu để phân định và đánh giá sự tiến bộ của xã hội Ông quan niệm, ai lấy hạnh phúc của cá nhân làm tiêu

chuẩn thì người đó chỉ được phép nói về một sự thụt lùi của lịch sử” [4, tr.52]

Trong triết học tôn giáo, theo I Kant sự tồn tại của Thượng đế cũng phải cần đến đạo đức Bởi vì chỉ có đạo đức mới đảm bảo được tính phổ quát và tất yếu trong mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên Trong đời sống tôn giáo, những gì được xây dựng trên nền tảng đạo đức thì mới có giá trị tiên nghiệm, với cách luận giải như vậy thì tôn giáo theo quan niệm của I Kant không phải

là tôn giáo mang tính tự nhiên mà nó là thần học đạo đức, các quy tắc đạo đức được đưa ra như là những yêu cầu của Thượng đế Với mục đích tất cả vì con người, hãy sống cho xứng đáng với nhân phẩm của một con người, con người

là tối cao, đừng bao giờ xem con người là một công cụ để đạt được mục đích nào đó, hãy tin là có tự do, có sự bất tử của linh hồn và sự tồn tại của Thượng

đế để qua đó thực hiện bổn phận của mình cho phù hợp với các quy luật đạo đức Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể nói vấn đề đạo đức trong triết học của I Kant đã trở thành một khoa học về đạo đức

Tóm lại, hệ thống triết học của I Kant là một hệ thống đồ sộ, đề cập

nhiều vấn đề với nhiều khía cạnh khác nhau Từ việc chỉ ra các sai lầm của phương pháp tư duy giáo điều, máy móc của chủ nghĩa duy lý và phương pháp hoài nghi của chủ nghĩa duy nghiệm trong lĩnh vực nhận thức, I Kant đã

Trang 36

xây dựng nên siêu hình học với tư cách là một khoa học với phương pháp tư duy tiên nghiệm Trong triết học tiên nghiệm, I Kant đã có sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các giá trị của chủ nghĩa duy lý lẫn chủ nghĩa duy nghiệm, đồng thời qua đó I Kant chỉ ra tính tích cực của chủ thể nhận thức trong quá trình tư duy cũng như giới hạn của nó đối với đối tượng siêu nhiên Trong triết học tiên nghiệm của I Kant còn nhiều hạn chế bởi thế giới quan duy tâm, nhưng các quan niệm biện chứng về giới tự nhiên, mối quan hệ giữa chủ thể

và khách thể trong lĩnh vực nhận thức, giữa cảm tính và lý tính lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của tư duy triết học sau này

Sự ảnh hưởng của những tư tưởng Khai sáng, đặc biệt là của Rousseau

đã tác động rất lớn đến khuynh hướng cũng như nhận thức triết học của I Kant về các vấn đề lịch sự phát triển của xã hội, về tự do, về sự tha hóa bản chất tự nhiên của con người và phương pháp giáo dục để khôi phục giá trị tự nhiên đó Trong thời kỳ “Phê phán” I Kant đã có nhiều nghiên cứu có giá trị, đóng góp rất nhiều cho nền triết học cổ điển Đức và cho triết học nhân loại Với khát vọng đi tìm lời giải cho câu hỏi: Con người là gì, và bản thân con người cần phải làm gì để xứng đáng với nhân phẩm làm người, triết học của I Kant như chiếc chìa khóa mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử triết học phương Tây Việc xác định vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề con người và triết học đạo đức phải thực sự là một khoa học, vì lẽ đó triết học đạo đức của I Kant không chỉ là mục đích, mà nó còn là cơ sở nền tảng của toàn

bộ triết học thực tiễn của I Kant

Trang 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Hệ thống triết học nói chung và triết học đạo đức của I Kant nói riêng, được xem là một hiện tượng thú vị trong tư duy triết học đương thời và thậm chí còn cho tới bây giờ Từ khi bộ ba tác phẩm Phê phán của I Kant ra đời,

nó đã được ví như tiếng nổ Big bang trong giới triết học Mọi thứ bắt đầu được làm lại hoàn hảo hơn dựa trên chất liệu là những mảnh vỡ của những gì đã bị phá hủy trước đó và những chất liệu mới do I Kant sáng tạo

ra Lịch sử triết học với những trường phái đã được xét lại Ông không có tham vọng phê phán, chê bai và tẩy trừ tất cả thành tựu trước đó Vì nếu đã làm như vậy thì học thuyết của ông chỉ được người ta nhìn bằng ánh mắt ghê

sợ đối với một con mãnh thú hung hãn Ông đã không làm thế, mà chỉ “xem xét” như một người công tâm, không bị chi phối bởi động cơ tốt – xấu nào

Immaneul Kant - với sức sáng tạo mới, đã thiết lập nên nền Siêu hình học thực hành mà trước đó nó chỉ ở dạng tiềm ẩn trong những định đề chưa một ai phát biểu Tất nhiên, không điều gì được tạo ra mới hoàn toàn mà không phải dựa trên những gì đã có trước I Kant đã nhờ học thuyết duy nghiệm, duy lý, duy vật, duy tâm, rồi xem xét nó qua công cụ là lăng kính suy nghiệm, thiết lập nên một học thuyết mới - học thuyết phê phán, mà đối tượng của nó là lý tính Bởi lý tính, theo I Kant là một đặc ân, một khả năng vốn có luôn hiện hữu nơi mỗi con người Nó chính là công cụ xây dựng hạnh phúc cho con người, và chính nó, chứ không phải là một đấng toàn năng nào có thể mang lại hạnh phúc Xét cho cùng, dù con người có làm gì, có đề ra bao nhiêu

ý tưởng cũng cùng hướng đến mục tiêu này Nhưng hạnh phúc, con người - với vị thế cao tột trong muôn loại phải làm gì để thành tựu đúng nghĩa? Những nội dung trình bày trên cũng đủ nói lên ý nghĩa này

Trang 38

I Kant đã dành cả cuộc đời mình, như rất nhiều triết gia khác, phải dò dẫm đi mở đường, san lấp những hố sâu ngăn cách con người với nhau, ngăn cách con người đi đến đời sống hoàn hảo, đó là một thành quả xứng đáng mà con người đáng được hưởng đã bị lãng quên sau bao tháng ngày chìm đắm trong cơn cám dỗ của Thần học và ham muốn tầm thường ích kỉ

Trang 39

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC I KANT

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, nó là phương thức điều chỉnh hành vi của con người một cách tự nguyện thông qua hệ thống các giá trị, nguyên tắc và chuẩn mực Các phạm trù của đạo đức như

lẽ sống, hạnh phúc, tự do, nghĩa vụ đạo đức, lương tâm, thiện, ác… là các khái niệm đạo đức cơ bản nhất, bao trùm nhất, phản ánh những đặc tính, những quan hệ của đời sống thực tiễn

Trong lịch sử triết học phương Tây có thể khẳng định, Socrate chính là triết gia đầu tiên nêu lên vấn đề đạo đức con người Socrate đã không chủ trương xây dựng một vũ trụ luận như các triết gia trước ông như Empédocle hay Heraclitus Vì theo ông, chính con người phải chú ý những gì trực tiếp với mình “Hãy tự biết mình”, được coi là châm ngôn cho tinh thần nhân bản của Socrate Quan niệm của ông là không ai có thể cố tình làm điều ác hay người ta không thể muốn điều ác nếu người ta có tri thức chính xác về điều thiện Theo nhà triết học Xenophane thì chủ trương đạo đức của Socrate là tri thức và đạo đức là một, nghĩa là muốn sống đạo đức phải tri thức và chỉ cần

có tri thức về nhân đức là sống nhân đức

Đến thời Plato, ông cũng thừa nhận rằng biết điều tốt là làm điều tốt, ngược lại, bất kì ai cư xử vô đạo đức là vì không hiểu biết Từ đó Plato quan niệm con người đạo đức là con người hạnh phúc thật sự, và bởi vì những cá nhân luôn luôn khát khao hạnh phúc cho riêng mình, nên họ luôn luôn khát khao làm điều đạo đức

Theo Aristotle nhà triết học vĩ đại nhất thời kỳ cổ đại quan niệm hạnh phúc là mưu cầu của bất kì cá nhân nào và có thể đạt được nó thông qua nhiều con đường Đạo đức là cái vốn có của con người, trong đó quan

Trang 40

trọng nhất là phẩm hạnh Ông chia phẩm hạnh thành hai loại, đó là phẩm hạnh trí tuệ, phẩm hạnh này là kết quả của giáo dục và phẩm hạnh luân lý, phẩm hạnh này là sản phẩm của thói quen, tập quán Con người cần phải hoàn thiện cả hai loại này để có một đời sống đạo đức Điểm hạn chế của ông là không coi nô lệ là người

Trong thời Trung cổ, Thiên chúa là hiện hữu và đạo đức chính là tuân theo những lời răn của Ngài thông qua Kinh thánh, và con người vốn

là sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp, thụ động, trĩu nặng tội tổ tông, ăn năn sám hối trong kiếp làm người

David Hume đã cho rằng, hành động đạo đức được đánh giá như một chuỗi biến cố bắt đầu với hành vi của tác nhân hành động đến người nhận, và hành động đó được quan sát bởi người thứ ba Tác nhân này được thúc đẩy bởi tính cách đạo đức hay xấu xa Ông chia tính cách này làm hai, đó là tính bản năng và tính nhân tạo Nếu tác nhân đó gây đau khổ cho người nhận thì tôi, với

tư cách của người quan sát sẽ đánh giá được đó là tội lỗi, trái ngược với đức hạnh Theo ông, hành vi đạo đức thường thuộc vào bốn phạm trù Đó là:

Thứ nhất, những phẩm tính có ích cho người khác, bao gồm tốt bụng,

hiền lành, đồng cảm, trung thành và trung thực;

Thứ hai, những phẩm tính hữu ích cho chính mình, bao gồm cần cù,

bền bỉ và kiên nhẫn;

Thứ ba, những phẩm chất ngay lập tức gây cảm giác dễ chịu cho người

khác, bao gồm thông minh, hùng biện và tính sạch sẽ;

Thứ tư, những phẩm chất làm cho chính mình thấy dễ chịu, gồm có tính

hài hước, tự trọng và kiêu hãnh

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w