1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nƣớc tại sở tài chính tỉnh sekong CHDCND lào

138 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh chung đó, công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Sekong, cụ thể là được thực hiện tại Sở Tài chính tỉnh Sekong cũng không tránh khỏi các hạn chế nêu trên

Trang 1

SYKHAY LIENG SA VAT

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI

SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

SYKHAY LIENG SA VAT

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI

SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 8.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đoàn Ngọc Phi Anh

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Sykhay Lieng Sa Vat

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Kết cấu luận văn 4

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH 9

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước 12

1.1.3 Chức năng của Ngân sách nhà nước 14

1.1.4 Vai trò của Ngân sách nhà nước 15

1.2 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG NSNN Ở LÀO 17

1.2.1 Phân cấp NSNN 17

1.2.2 Cơ cấu NSNN 22

1.2.3 Trách nhiệm đối với NSNN 25

1.3 NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH 29

1.3.1 Tổng quan công tác lập dự toán thu chi NSNN 29

1.3.2 Quy trình lập dự toán thu chi NSNN 32

1.3.3 Công tác lập dự toán thu chi NSNN tại Sở Tài chính Tỉnh 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

Trang 5

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 39

2.1.1 Đặc điểm tổ chức quản lý tại Sở Tài chính 39

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 41

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 43

2.2.1.Căn cứ lập dự toán thu chi NSNN tại tỉnh Sekong 43

2.2.2.Công tác lập dự toán các khoản thu NSNN 51

2.2.3.Công tác lập dự toán các khoản chi NSNN 58

2.2.4.Tổng hợp và phê duyệt dự toán thu chi NSNN 66

2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 74

2.3.1 Kết quả đạt được 74

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 86

3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NSNN TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 86

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NSNN TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SEKONG 86

3.2.1 Ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời, cụ thể và rõ ràng hơn 87

3.2.2 Nâng cao chất lượng nhân sự, ứng dụng công nghệ thông tin 87

3.2.3 Quy định phương pháp tính, định mức phân bổ chi phí 88

3.2.4 Tăng cường công tác phối hợp, trao đổi rút kinh nghiệm 93

Trang 6

3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu 96

KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 01 TỔNG HỢP DỰ TOÁN THU CHI NSNN TỈNH SEKONG 2019

PHỤ LỤC 02 CHI TIẾT DỰ TOÁN CHI NSNN TỈNH SEKONG 2019 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 7

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

bảng

2.1 Tổng hợp dự toán thu NSNN tỉnh Sekong năm 2018 52 2.2 Dự toán thu thuế tỉnh Sekong năm 2019 54 2.3 Dự toán thu phí, lệ phí đất tỉnh Sekong năm 2019 54 2.4 Dự toán thu phí và lệ phí tỉnh Sekong năm 2019 55 2.5 Dự toán thu phí dịch vụ tỉnh Sekong năm 2019 56 2.6 Dự toán thu quản lý tài sản tỉnh Sekong năm 2019 56 2.7 Tổng hợp dự toán thu NSNN tỉnh Sekong năm 2019 57 2.8 Tổng hợp dự toán chi NSNN tỉnh Sekong năm 2018 59 2.9 Dự toán chi từ thu phí dịch vụ tỉnh Sekong năm 2019 63 2.10 Tổng hợp dự toán chi NSNN tỉnh Sekong năm 2019 66

2.11 Dự toán thu NSNN tỉnh Sekong năm 2019 đƣợc

Trang 9

3.1 So sánh dự toán một số khoản chi giữa tự lập và

3.2 Chi phí hành chính bình quân mỗi nhân sự hiện có 89 3.3 Chi phí hành chính phân bổ lại 91 3.4 Chi phí hành chính theo nhu cầu thực tế 92

Trang 10

sơ đồ

1.2 Quy trình lập dự toán thu chi NSNN 34 1.3 Quy trình giao dự toán thu chi NSNN 35 2.1 Sơ đồ tổ chức Sở Tài chính tỉnh SeKong 39 2.2 Sơ đồ tổ chức Phòng Tài chính các huyện thuộc tỉnh

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách là một kế hoạch hành động được lượng hóa và được chuẩn bị cho một thời gian cụ thể nhằm để đạt được các mục tiêu đã đề ra Ngày nay, một nhà nước muốn duy trì quyền lực của mình thì phải đảm bảo một sự phát triển ngày càng lớn mạnh cho đất nước Để hoàn thành nhiệm vụ này, nhà nước phải sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ đắc lực để điều tiết

vĩ mô nền kinh tế

Ngân sách Nhà nước là cán cân của một quốc gia, nó chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của nhà nước Có ngân sách thì nhà nước mới hoạt động được, mới thực hiện tốt các mục tiêu đề ra Ngân sách nhà nước còn là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và có mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của hệ thống tài chính của một đất nước (Hoàng Thị Xinh, 2014) Ngân sách nhà nước chính là một kế hoạch tài chính của quốc gia, trong

đó các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một tài khóa Ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người hưởng thụ, các lợi ích đó

là cho ai, thuộc thành phần kinh tế hay đẳng cấp xã hội nào Với tầm quan trọng của ngân sách Nhà nước và để nó hoạt động hiệu quả, điều này đòi hỏi Nhà nước cần phải lên kế hoạch cụ thể

Trong những năm vừa qua, vai trò của Ngân sách nhà nước Lào đã được thể hiện rõ trong việc giúp nhà nước hình thành hệ thống tài chính quốc gia nhằm kiểm soát lạm phát, kiểm soát lãi suất ở mức thích hợp, để từ đó làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh đó hệ thống ngân sách nhà nước Lào vẫn còn nhiều hạn chế như hệ thống văn bản pháp luật về ngân sách nhà nước chưa được đồng bộ, nhất quán, bộ máy thực hiện công tác

Trang 12

lập dự toán và quyết toán thu chi ngân sách nhà nước chưa được thiết lập một cách bài bản, hiệu quả hoặc quy trình xét duyệt ngân sách phức tạp, thủ tục rườm rà, đôi lúc thực tế thực hiện không đúng theo quy định đã được ban hành dẫn đến nguồn thu chi ngân sách nhà nước được sử dụng kém hiệu quả Trong bối cảnh chung đó, công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Sekong, cụ thể là được thực hiện tại Sở Tài chính tỉnh Sekong cũng không tránh khỏi các hạn chế nêu trên Xuất phát từ thực trạng này và với mong muốn góp phần hoàn thiện tốt hơn công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Sekong góp phần giúp hệ thống tài chính quốc gia ngày càng hoàn thiện và hiệu quả, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác lập

dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào” làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc nghiên cứu về công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Sekong

2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Nghiên cứu công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

+ Đánh giá thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại

Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

+ Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

Trang 13

3 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất: Công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài

chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào được thực hiện như thế nào?

Thứ hai: Các giải pháp nào để hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác lập

dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào được thực hiện bởi các Sở, cơ quan ban ngành trực thuộc UBND tỉnh Sekong, Phòng Tài chính các huyện, xã trên địa bàn tỉnh Sekong, UBND và Hội đồng nhân dân các cấp tại tỉnh Sekong

+ Về thời gian: Thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào trong các năm 2018 và

và đánh giá thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào bằng các phương pháp phỏng vấn các

Trang 14

cán bộ tham gia vào công tác lập dự toán, thu thập, tổng hợp, lập các bảng so sánh, phân tích và tính toán các số liệu liên quan đến dự toán Cuối cùng, đưa ra giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

- Dữ liệu nghiên cứu:

Thu thập dữ liệu thứ cấp bao gồm: Các quy định của CHDCND Lào và tỉnh Sekong về lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước; Các văn bản, nghị quyết, quyết định của các cấp có thẩm quyền của tỉnh Sekong cho các giai đoạn từ quy trình lập dự toán đến phê duyệt dự toán và thông qua dự toán thu chi ngân sách nhà nước tỉnh Sekong hàng năm

- Xử lý dữ liệu nghiên cứu:

Căn cứ vào dữ liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành so sánh quy trình lập dự toán được quy định trong các văn bản pháp luật so với quy trình lập dự toán được thực hiện thực tế tại Sở Tài chính tỉnh Sekong, đồng thời phân tích, tổng hợp, so sánh dữ liệu trong dự toán tự lập với dự toán được duyệt và báo cáo quyết toán thu chi ngân sách hàng năm của tỉnh Sekong để đưa ra các nhận định, từ đó rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm nêu rõ thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các sơ đồ, các bảng và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Trang 15

- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh;

- Chương 2: Thực trạng công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào;

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong - CHDCND Lào

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Ở Việt Nam, đã có nhiều đề tài thực hiện nghiên cứu về công tác lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước Một số nghiên cứu tiêu biểu như:

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác lập và quyết toán ngân sách Nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đức Phổ” của tác giả Huỳnh Thị Kim Dung (2017), Đại học Đà Nẵng Luận văn nghiên cứu về thực trạng công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán NSNN và đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Huỳnh Thị Kim Dung, 2017)

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Phúc (2013), Đại học Đà Nẵng Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN, về công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSNN Trên

cơ sở kết quả đánh giá thực trạng những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương tại Quảng Ngãi, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSNN nói chung, đối với tỉnh Quảng Ngãi nói riêng (Nguyễn

Trang 16

Thị Hồng Phúc, 2013)

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác phân bổ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình” của tác giả Bùi Mạnh Cường (2012), Đại học Đà Nẵng Tác giả đã tổng hợp các lý luận về NSNN và phân bổ NSNN, đánh giá thực trạng công tác phân bổ NSNN ở lĩnh vực chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển tại tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010 Trên cơ sở

đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác phân bổ NSNN tại tỉnh Quảng Bình (Bùi Mạnh Cường, 2012)

Luận văn thạc sĩ “Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang” của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2011), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn hệ thống những lý luận cơ bản về thu NSNN nói chung

và thu NSNN ở huyện nói riêng Sau đó, tác giả khảo sát và đánh giá thực trạng tình hình thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố

Đà Nẵng Từ thực trạng đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu NSNN ở huyện huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (Nguyễn Thị Hoa, 2011)

Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách ở Triệu Phong, Quảng Trị” của tác giả Lê Thị Hồng Bốn (2011), Đại học

Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hóa một số lý luận và quy định liên quan đến NSNN, vai trò của NSNN, nội dung quản lý NSNN cấp huyện Sau khi tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng quản lý NSNN ở huyện Triệu Phong, tác giả đã đề xuất hai nhóm giải pháp cụ thể gồm quản lý thu ngân sách và quản

lý chi ngân sách và một số giải pháp bổ sung để hoàn thiện công tác quản lý ngân sách ở huyện Triệu Phong (Lê Thị Hồng Bốn, 2011)

Phokham Sayasone (2016) nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật về sử dụng ngân sách nhà nước ở Lào Tác giả nghiên cứu về công tác thu, chi và cân đối NSNN ở Lào trong các năm từ 2010 đến 2014, từ đó tổng hợp những

Trang 17

thành công và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về sử dụng ngân sách nhà nước ở Lào Các thành công bao gồm: cơ cấu ngân sách nhà nước được duy trì ở mức hợp lý; luật NSNN mới đã đáp ứng được yêu cầu của Luật thuế mới Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra nhiều hạn chế như: hệ thống pháp luật về NSNN vẫn chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh và chưa kịp thời, chưa có một khung pháp luật thật sự phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội hiện hành ở Lào; phạm vi sử dụng NSNN còn chưa rõ ràng, chưa đầy đủ dẫn đến việc quản lý còn thiếu thống nhất, đặc biệt là một số khoản phí, lệ phí và cách xác định bội chi NSNN (Phokham Sayasone, 2016)

Phokham Sayasone (2018) nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật về sử dụng ngân sách nhà nước ở Lào Tác giả tổng hợp các quy định của pháp luật

về thực hiện NSNN bao gồm chủ thể thực hiện, phương thức thực hiện và công tác đảm bảo hiệu quả trong sử dụng NSNN Ngoài ra, tác giả đưa ra các điều kiện để đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật về sử dụng NSNN bao gồm: điều kiện về chính trị; điều kiện về pháp lý; điều kiện về năng lực, phẩm chất và nhận thức của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị; điều kiện về kinh tế và điều kiện về tổ chức thực hiện pháp luật về sử dụng ngân sách nhà nước (Phokham Sayasone, 2018)

Kham Phanh Keomany (2019) nghiên cứu về kinh nghiệm của tỉnh Attapư – Lào về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Tác giả thực hiện phân tích thực tế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước của tỉnh Attapư - Lào

và đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tại địa phương này của Lào Các giải pháp tác giả đưa ra bao gồm: xây dựng chính sách thuế công bằng, hợp lý, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, kiểm soát, tăng cường công tác kiểm tra thuế và xử lý nghiêm các hành vi trốn lậu thuế; tăng cường tính dân chủ công bằng và công khai trong thảo luận NSNN gắn với việc phát huy vai trò và thực quyền của Quốc hội luôn được đề cao; cải cách

Trang 18

ngân sách gắn với hiện đại hóa vai trò của Chính phủ và theo tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra đƣợc chú trọng; đề cao tính tự quản của chính quyền huyện (Kham Phanh Keomany, 2019)

Ở Lào, ngoài các bài báo nêu trên, tác giả không tìm thấy bất cứ đề tài, luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về các nội dung thuộc đề tài nghiên cứu, mặc

dù tác giả nhận thấy rằng công tác lập dự toán thu chi NSNN còn nhiều hạn chế, cần phải có nhiều giải pháp, điều chỉnh để góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng công tác lập dự toán thu chi NSNN Điều đó cho thấy rằng có khoảng trống nghiên cứu khá lớn về nội dung này, bổ sung thêm cơ sở cho tác giả khi lựa chọn thực hiện đề tài này

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả tham khảo các đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Việt Nam, kết hợp với tổng hợp các quy định của chính phủ Lào có liên quan đến công tác lập dự toán thu chi NSNN

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khái niệm

Trong hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện quan trọng để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của mình Mặt khác, NSNN còn là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc gia (Luật Dương Gia, 2015)

Xét theo biểu hiện bên ngoài, NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi cụ thể, các nguồn thu này được nộp vào một quỹ tiền tệ gọi

là quỹ NSNN Những khoản thu nộp và chi thông qua quỹ NSNN là các quan

hệ được xác định trước, được định lượng và được Nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, trên phương diện kinh tế, có nhiều định nghĩa về NSNN khác nhau:

Dưới góc độ hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi tài chính hàng năm của Nhà nước do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê duyệt và sau đó giao cho chính phủ thực hiện (Luật Dương Gia, 2015)

Dưới góc độ về thực thể, NSNN bao gồm các nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy Thu chi quỹ này có quan hệ ràng buộc nhau gọi là cân đối ngân sách (Luật Dương Gia, 2015)

Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN, các hoạt động thu chi ngân sách đều phản ánh những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội gắn với quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ NSNN Hoạt động đó đa dạng được tiến hành trên hầu khắc các lĩnh vực và có tác

Trang 20

động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội Những quan hệ thu nộp cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và nhà nước

sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô kinh tế xã hội (Luật Dương Gia, 2015)

Như vậy, trên phương diện kinh tế, có thể hiểu NSNN phản ánh các quan

hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật pháp quốc gia

Trên phương diện pháp lý, NSNN được định nghĩa như sau:

“Ngân sách nhà nước là một ước tính của kế hoạch thu chi nhà nước, được Quốc hội phê chuẩn hàng năm Ngân sách quốc gia là trung tâm của hệ thống tài chính quốc gia, là một công cụ quản lý, điều chỉnh kinh tế vĩ mô cho nền kinh tế, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế xã hội

Năm ngân sách nhà nước bao gồm mười hai tháng, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm.” (Quốc hội CHDCND Lào, 2006) (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được

dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của Nhà nước

Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương

Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương

Trang 21

Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.” (Quốc hội CHXHCN Việt Nam, 2015)

Với các định nghĩa này, các nhà làm luật đã đề cập tới ba vấn đề cơ bản khi quan niệm về NSNN:

Thứ nhất, NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước nằm trong dự toán đã được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Thứ hai, các khoản thu, chi này chỉ được thực hiện trong thời hạn 1 năm, tính từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày 31 tháng 12 năm dương lịch;

Thứ ba, các khoản thu, chi này được xây dựng và thực hiện nhằm mục tiêu bảo đảm về mặt tài chính cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Định nghĩa này, tuy có rõ ràng và cụ thể hơn so với định nghĩa NSNN về phương diện kinh tế nhưng vẫn chưa làm nổi bật được khía cạnh pháp lý của thuật ngữ “NSNN”

Trong khoa học pháp lý, NSNN được định nghĩa là “một đạo luật đặc biệt, do Quốc Hội thông qua để cho phép Chính Phủ thi hành trong một thời hạn xác định, thường là một năm” Với định nghĩa này, các luật gia đã nhìn nhận NSNN ở một góc độ khác, như là “một đạo luật đặc biệt”, chứ không phải là một bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của Nhà nước như cách quan niệm của các nhà kinh tế hay các nhà làm luật

Cách định nghĩa này đã làm rõ hai vấn đề cơ bản trong quan niệm về NSNN, nhìn từ góc độ luật học:

Thứ nhất, NSNN là một đạo luật đặc biệt, do cơ quan lập pháp làm ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông thường

Trang 22

Thứ hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách bao giờ cũng được xác định rõ là một năm, không giống với hiệu lực không xác định thời hạn của các đạo luật thông thường khác Tuy vậy, cũng cần phải hiểu một cách đầy đủ rằng đạo luật ngân sách thường niên không chỉ bao gồm bản dự toán các khoản thu chi tiền tệ của quốc gia đã được Quốc hội biểu quyết thông qua

mà còn bao gồm cả văn bản nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành bản dự toán ngân sách đó (Luật Dương Gia, 2015)

1.1.2 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước

NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước vừa là công cụ hữu ích để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế quốc dân và giải quyết các vấn đề xã hội Theo đó, NSNN có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế – chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,…nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một

bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt

và bắt buộc các chủ thể kinh tế – xã hội có liên quan phải tuân thủ

Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các

tổ chức kinh tế – xã hội, các tầng lớp dân cư…

Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Thu, chi

Trang 23

NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ Chính sách nào

mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện Chính vì như vậy mà việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước Quốc hội

mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia

Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia

Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế – xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một

bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế

và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội

Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân

cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có)

Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trong thời kỳ hiện nay, ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được

Trang 24

giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu – chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân (Tri thức cộng đồng, 2018)

1.1.3 Chức năng của Ngân sách nhà nước

NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội NSNN có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản như sau:

Một là, chức năng phân phối NSNN Bộ máy Nhà nước muốn hoạt động một cách hiệu quả và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao Vì vậy, Nhà nước trong quá trình quản lý kinh

tế - xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan Đồng thời phải bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế

Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên

Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội và

Trang 25

chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếu khách quan

Từ phân tích trên, có thể hiểu được bản chất của NSNN đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nước Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước

Hai là, chức năng giám sát và kiểm soát quá trình huy động các nguồn thu và thực hiện các khoản chi tiêu Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp để làm tốt thu - chi Nhà nước định ra cơ cấu thu - chi hợp lý, theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu - chi

Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám sát NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy

đủ hai chức năng đó, bởi vì nếu không có sự giám sát, kiểm soát trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng này và tổ chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN (Thư viện học liệu mở Việt Nam)

1.1.4 Vai trò của Ngân sách nhà nước

NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính

cơ bản, tổng hợp của Nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Vai trò

Trang 26

của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước

đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước NSNN có các vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi

mô hình kinh tế Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá

cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định kinh tế - xã hội Muốn thực hiện tốt vai trò này, NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội

Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó

Mặt trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo

ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó, do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng

Trang 27

Do đó nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

Vai trò của NSNN vô cùng quan trọng trong việc điều tiết và quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, cần phải có sự cân bằng trong thu chi NSNN của mỗi quốc gia (Tri thức cộng đồng, 2018)

1.2 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG NSNN Ở LÀO

1.2.1 Phân cấp NSNN

Theo quy định tại Điều 9 của Luật NSNN Lào số 71/QH ngày 16/12/2015, NSNN được chia thành hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Hệ thống NSNN ở Lào được tổ chức theo Sơ đồ 1.1

Ngân sách huyện

Ngân sách xã

Trang 28

Đơn vị ngân sách Trung ương là tổ chức Chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia Lào, các tổ chức đoàn thể ở cấp trung ương Các cơ quan chính quyền trong tỉnh và thủ đô chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch ngân sách theo sự phân công của cấp trên

Đơn vị NSNN cấp địa phương là các đơn vị khác ở trung ương và địa phương trực thuộc đơn vị NSNN cấp trung ương, chịu trách nhiệm thực hiện NSNN theo sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

Các khoản thu chi NSNN phân chia theo hai cấp NSNN được quy định

cụ thể trong Luật NSNN Lào như sau:

Đơn vị NSNN trung ương

+ Các khoản thu bao gồm:

- Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các doanh nghiệp kinh doanh được quản lý;

- Thuế xuất nhập khẩu;

- Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận từ hàng hóa nhập khẩu;

- Phí và lệ phí cho xuất nhập khẩu như bưu chính và hộ chiếu;

- Doanh thu từ tài nguyên thiên nhiên như bán gỗ và khoáng sản;

- Doanh thu hàng không, tiền bản quyền;

- Thu nhập từ lãi cho vay;

- Thu nhập cho thuê và các tài sản khác do cơ quan nhà nước trung ương quản lý;

- Doanh thu từ các quỹ nhà nước;

- Doanh thu từ các tổ chức quản lý kỹ thuật do Trung ương quản lý;

- Doanh thu từ tiền phạt và bán hàng hóa phi pháp do Trung ương quản lý;

Trang 29

- Thu nhập viện trợ nước ngoài do Trung ương quản lý;

- Tài trợ và đóng góp cá nhân và tổ chức do Trung ương quản lý;

- Các khoản thu nhập hợp pháp khác;

- Các khoản thu đối với các đơn vị kinh doanh là các tập đoàn lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia, các công ty sử dụng công nghệ cao sẽ được quy định trong các văn bản riêng (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

+ Các khoản chi bao gồm:

- Chi nhiệm vụ hành chính của chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia Lào và các tổ chức đoàn thể ở cấp trung ương;

- Đầu tư công vào các đơn vị do Trung ương quản lý;

- Cho vay của chính phủ;

- Tài trợ;

- Các khoản chi phí hợp pháp khác (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

Đơn vị NSNN địa phương

Đơn vị NSNN địa phương bao gồm đơn vị NSNN cấp tỉnh và đơn vị NSNN cấp huyện Căn cứ theo quy định về cơ cấu NSNN Lào được quy định

cụ thể trong Luật NSNN Lào số 71/QH ngày 16/12/2015, có thể thấy NSNN cấp tỉnh là đơn vị NSNN trung tâm trong hệ thống NSNN quốc gia thuộc

Trang 30

Chính phủ, với cấp NSNN cấp trên là các đơn vị NSNN trung ương và cấp NSNN cấp dưới là các đơn vị NSNN huyện, xã

NSNN cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo để thực hiện các chủ trương lớn, các nhiệm vụ quan trọng như: tập trung vốn đầu tư phát triển cho hạ tầng kinh tế -

xã hội, thực hiện các chính sách quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời có khả năng điều hoà nguồn lực tài chính ngân sách trên địa bàn tỉnh

Do đó, căn cứ vào các trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh được quy định trong Luật NSNN Lào đã nêu ở trên, có thể thấy rằng NSNN cấp tỉnh được xem là cầu nối, là mắt xích quan trọng trong hệ thống NSNN quốc gia, khi đồng thời thực hiện chức năng chỉ đạo, giám sát các cơ quan, đơn vị từ cấp xã, đến huyện, đến tỉnh trong việc lập dự toán, điều chỉnh dự toán NSNN, thực hiện NSNN đã được phê duyệt và mặt khác cũng song song phối hợp với

Bộ Tài chính để nhận chỉ đạo, báo cáo kết quả công tác lập dự toán NSNN, kết quả thực hiện NSNN đã được phê duyệt của tỉnh

+ Các khoản thu bao gồm:

Các khoản thu NSNN ở địa phương được chia thành hai cấp là các khoản thu NSNN ở cấp tỉnh và cấp huyện

Đối với ngân sách cấp tỉnh:

- Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các doanh nghiệp quản lý cấp tỉnh;

- Phí sử dụng đất (thuế đất), tiền thuê đất, quyền sử dụng và chuyển nhượng đất, phí đăng ký đất đai, thuế thu nhập cá nhân;

- Doanh thu từ nhượng quyền khai thác, cát, đất đen và đỏ;

- Tiền thuê, đất và các tài sản khác của Nhà nước ở cấp tỉnh;

- Doanh thu từ các quỹ tỉnh được quản lý;

- Doanh thu từ phí và lệ phí kỹ thuật do cấp tỉnh quản lý;

Trang 31

- Tiền phạt và doanh thu được thu ở cấp tỉnh;

- Gây quỹ và đóng góp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức ở cấp tỉnh;

- Doanh thu từ hỗ trợ nước ngoài ở cấp tỉnh;

- Thu nhập khác theo quy định của pháp luật

Đối với ngân sách cấp huyện:

- Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các đơn vị kinh doanh do huyện quản lý;

- Thuế thu nhập, thuế gộp, thuế tem ở cấp huyện;

- Phí sử dụng đất (thuế đất), tiền thuê đất, tiền bản quyền và chuyển nhượng đất ở cấp huyện;

- Doanh thu từ nhượng quyền khai thác, cát, đen và đỏ ở cấp huyện;

- Cho thuê, đất đai và tài sản thuộc sở hữu chính phủ khác ở cấp huyện;

- Doanh thu từ phí và dịch vụ kỹ thuật do quận quản lý;

- Tiền phạt và doanh thu được thu ở cấp huyện;

- Thu nhập từ gây quỹ và đóng góp của các cá nhân, pháp nhân và tổ chức ở cấp huyện;

- Thu nhập khác theo sự phân công của tỉnh và thủ đô

+ Các khoản chi bao gồm:

Đối với ngân sách cấp tỉnh:

- Công tác hành chính của chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia Lào, các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh;

Trang 32

- Công tác hành chính của tổ chức, Mặt trận xây dựng quốc gia Lào, tổ chức đoàn thể cấp huyện;

- Dự phòng cho chính quyền địa phương ở cấp tỉnh;

+ Đối với thu NSNN:

Có bốn nguồn thu NSNN, bao gồm:

- Nguồn thu thuế

Là các khoản thu về thuế trực tiếp và gián tiếp, cụ thể bao gồm các khoản thu sau:

Thuế trực tiếp: Thuế lợi nhuận; Thuế thu nhập; Thuế dự phòng; Thuế môi trường; Lệ phí, phí kỹ thuật và các khoản Thu nhập khác

Thuế gián tiếp: Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Tiền bản quyền; Thuế xuất nhập khẩu và các khoản Thu nhập khác

- Nguồn thu phi thuế và phí, lệ phí

Đây là các nguồn thu khác ngoài các nguồn thu chính là thuế, bao gồm: Các nguồn thu từ cho thuê; Phí chuyển nhượng; Chi phí chuyến bay; Cổ tức; Phí khảo sát; Lãi suất thế chấp; Thu tiền phạt, thu bán đồ trang sức và máy may và các khoản thu nhập khác

- Nguồn thu từ tài trợ

Theo quy định của Luật NSNN Lào, nguồn thu từ nhận tài trợ được hình thành từ hai nguồn là các khoản tài trợ bằng tiền và các khoản tài trợ bằng

Trang 33

hiện vật, các khoản tài trợ này được tài trợ từ chính phủ nước ngoài hoặc từ các tổ chức quốc tế

- Nguồn thu từ đóng góp xã hội

Nguồn thu từ đóng góp xã hội được quy định trong Luật NSNN Lào bao gồm ba khoản thu chính, đó là các khoản thu từ các hoạt động an sinh xã hội, các khoản thu từ các đóng góp của xã hội và các khoản thu nhập khác

+ Đối với chi NSNN:

Các khoản chi NSNN được phân loại bao gồm hai mục chi chính, đó là các chi tiêu cho hoạt động hành chính bình thường và các khoản chi đầu tư của nhà nước

- Chi tiêu cho hoạt động hành chính bình thường

Là các khoản chi trực tiếp và gián tiếp của các cơ quan chính phủ, bao gồm các khoản chi tiêu của Chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia Lào, các

tổ chức đoàn thể, lực lượng quốc phòng và an ninh Danh mục các khoản chi

cụ thể được liệt kê bao gồm: Chi tiền lương và khoản phúc lợi; Chi chính sách

và trợ cấp; Chi cho công tác quản lý và mua các dịch vụ mới của chính phủ; Chi phí điều tiết và khuyến mãi và các chi phí tài chính khác mà chính phủ chịu trách nhiệm bao gồm: Nghĩa vụ đối với các tổ chức quốc tế; Chi phí lãi vay; Chi cho nhà ở Nhà nước; Các khoản chi nợ đọng của năm trước và các khoản chi phí khác (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

- Các khoản chi đầu tư của nhà nước

Là các khoản chi từ NSNN, bao gồm chi đầu tư vốn, chi cho vay, chi đầu

tư vào cơ sở hạ tầng, chi đầu tư vào cổ phiếu và chi mua tài sản cố định có thời hạn sử dụng trên một năm (Quốc hội CHDCND Lào, 2015)

Ngoài việc phân bổ chi tiêu NSNN theo hai mục chi hành chính và đầu

tư như trên, theo quy định tại Điều 23 Luật NSNN Lào số 71/QH ngày

Trang 34

16/12/2015, chi NSNN còn được phân loại theo các ngành, chương trình như sau:

Phân loại theo ngành: Là các khoản chi cho Giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học, môi trường, quản trị, quốc phòng - an ninh, phúc lợi

xã hội và các ngành khác

Phân loại theo chương trình và dự án: Là các chương trình và dự án được thực hiện định kỳ, như phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo, sản xuất lương thực và an ninh lương thực và các chương trình khác

+ Đối với cân đối NSNN:

Theo quy định của Luật NSNN Lào, có ba trường hợp xảy ra trong hệ thống NSNN, bao gồm: Ngân sách nhà nước cân đối; Ngân sách nhà nước thặng dư và bội chi ngân sách nhà nước

Ngoài ra, Luật cũng quy định rõ cách thức xử lý đối với từng trường hợp nêu trên như sau:

- Trong trường hợp bội chi NSNN, mức bội chi NSNN hàng năm phải phù hợp với nhu cầu và năng lực của ngân sách quốc gia Mức bội chi phải được chính phủ phê duyệt và sau đó trình lên Quốc hội để xem xét sử dụng các nguồn tài trợ, các khoản vay trong và ngoài nước bù đắp hoặc giảm chi tiêu nhằm đảm bảo giảm bội chi NSNN, các khoản bù đắp này chỉ dành cho các khoản chi đầu tư

Nếu trường hợp thu NSNN cấp tỉnh không đủ để đáp ứng chi tiêu mà Quốc hội đã phê duyệt, thu NSNN cấp huyện không đủ để đáp ứng chi tiêu

mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã phê duyệt, khi đó trình tự xử lý là sử dụng NSNN cấp trên để hỗ trợ NSNN cấp dưới, trong trường hợp này là NSNN trung ương sẽ hổ trợ NSNN cấp tỉnh và NSNN cấp tỉnh sẽ hỗ trợ NSNN cấp huyện để đảm bảo chi tiêu hàng năm

Trang 35

- Trong trường hợp thặng dư NSNN, phần NSNN thặng dư sẽ được Chính phủ quyết định chuyển vào Kho bạc Nhà nước hoặc tăng chi cho các công việc cần thiết

Nếu trường hợp ngân sách cấp tỉnh quản lý thặng dư so với ngân sách đã được Quốc hội phê chuẩn, phần thặng dư sẽ phải được chuyển về cho ngân sách trung ương, còn nếu ngân sách cấp huyện quản lý thặng dư so với ngân sách đã được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt thì khoản thặng dư này sẽ phải được chuyển vào NSNN cấp tỉnh quản lý

1.2.3 Trách nhiệm đối với NSNN

Luật NSNN Lào quy định rõ trách nhiệm của tất cả các đơn vị, tổ chức

có liên quan đến NSNN, bao gồm trách nhiệm của: Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ khác thuộc Chính phủ, Ngân hàng nhà nước, Chính quyền tỉnh và Thủ đô, Chính quyền cấp huyện và các đơn vị ngân sách

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ trình bày trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức xét thấy cần thiết, bao gồm trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tài chính, chính quyền cấp tỉnh và chính quyền cấp huyện Cụ thể:

+ Trách nhiệm của Chính phủ

Chính phủ có các trách nhiệm như sau:

- Nghiên cứu, xem xét và trình Quốc hội về chính sách tiền tệ, chiến lược tài chính, kế hoạch ngân sách nhà nước trung hạn và hàng năm, sửa đổi kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm, mục tiêu phân bổ ngân sách, tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ nợ công;

- Nghiên cứu, xem xét và đề xuất với Hội đồng quốc gia về kế hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư công hàng năm

và năm năm

Trang 36

- Thông qua dự án đầu tư nhà nước loại I và cấp quốc gia, thông qua sửa đổi chương trình đầu tư nhà nước hàng năm;

- Nghiên cứu, xem xét và trình Quốc hội về bản tóm tắt thực hiện ngân sách nhà nước hàng năm;

- Nghiên cứu, xem xét và trình bày trước Quốc hội về việc xác định, sửa đổi, từ bỏ, bãi bỏ các nghĩa vụ và thuế;

- Báo cáo về việc thực hiện kế hoạch ngân sách quốc gia hàng năm và năm năm trước Quốc hội;

- Ban hành nghị định về ngân sách nhà nước hàng năm, chỉ đạo, quản lý, theo dõi và giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước;

- Chỉ đạo Bộ Tài chính, các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương quản lý hợp lý các khoản thu chi NSNN theo kế hoạch ngân sách do pháp luật quy định và đình chỉ chi khi thấy có vi phạm pháp luật về tài chính;

- Quyết định thông qua hay bãi bỏ ngân sách nhà nước;

- Ủy quyền cho Bộ Tài chính ban hành quy định và đo lường việc quản

lý thu NSNN, thực hiện pháp luật một cách thống nhất trong cả nước

+ Trách nhiệm của Bộ Tài chính

Bộ Tài chính có các trách nhiệm sau:

- Phối hợp với các cơ quan chính phủ và các cơ quan khác có liên quan trong việc thiết lập mục tiêu phân bổ ngân sách, chia sẻ thu chi, thiết lập các quy tắc ngân sách và kế toán, đóng ngân sách và công bố ngân sách và trình Chính phủ xem xét;

- Tóm tắt ngân sách, quản lý việc thực hiện, đề xuất sửa đổi, đánh giá tình trạng thực hiện và lập bản tóm tắt ngân sách công hàng năm;

- Vay để cân đối ngân sách trong năm tài chính;

- Tổ chức, quản lý thu ngân sách theo kế hoạch và vượt kế hoạch, thực hiện ngân sách hàng năm do Chính phủ giao;

Trang 37

- Chịu trách nhiệm liên lạc với các tổ chức tài chính nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức khác liên quan đến các vấn đề tài chính, soạn thảo các thỏa thuận cho vay, hỗ trợ các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế để Chính phủ xem xét;

- Quản lý các khoản vay, tài trợ và thực hiện trả nợ chính phủ như quy định trong hợp đồng;

- Chịu trách nhiệm quản lý, giám sát việc thực hiện ngân sách quốc gia trong cả nước, kiểm tra tất cả các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và công cộng, cơ quan ngân sách, quỹ chính phủ, cơ quan kỹ thuật và cơ quan trong việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách;

- Quản lý kho bạc, quỹ nhà nước, nợ và tài sản công của Nhà nước;

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xác định ngân sách và nguồn tài trợ cho các kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm sử dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước;

- Phối hợp với chính quyền trung ương và địa phương để xây dựng kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm, đề xuất sửa đổi ngân sách hàng năm để trình chính phủ xem xét;

- Giám sát, theo dõi việc thực hiện ngân sách thu chi theo các số liệu được Quốc hội thông qua và theo sự phân công của Chính phủ;

- Tiến hành tóm tắt về việc thực hiện ngân sách nhà nước hàng năm để báo cáo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước đúng hạn

+ Trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh và thủ đô

Đối với NSNN, chính quyền cấp tỉnh và thủ đô có các trách nhiệm sau:

- Xây dựng và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch chiến lược hàng năm và năm năm của quốc gia và tỉnh, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia, phù hợp với hiện trạng về nguồn lực và năng lực;

Trang 38

- Chỉ đạo các sở, huyện chịu trách nhiệm xây dựng, soạn thảo và hoàn thiện kế hoạch NSNN hàng năm và năm năm, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo bình đẳng giới, phù hợp với ngân sách và luật pháp của Quốc hội;

- Quản lý, giám sát, chỉ đạo giám sát tất cả các cơ quan liên quan trong tỉnh, thủ đô một cách kịp thời, đầy đủ;

- Tạo điều kiện và giám sát việc thực hiện các khoản tài trợ và chương trình đầu tư do cơ quan quản lý trung ương quản lý để thúc đẩy đầu tư của tất

cả các thành phần kinh tế trong và ngoài nước trong phạm vi quyền hạn;

- Chỉ đạo địa phương thu thập dữ liệu thu ngân sách đầy đủ và rõ ràng để báo cáo cho bộ phận thu của Bộ Tài chính;

- Quản lý, chỉ đạo, theo dõi và giám sát thu ngân sách theo nhiệm vụ và trách nhiệm của mình để đảm bảo nguyên tắc NSNN hoàn chỉnh, thống nhất, công bằng, cởi mở và hợp pháp;

- Quản lý, chỉ đạo, theo dõi và giám sát trước và sau khi thực hiện kế hoạch ngân sách đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và chính xác;

- Phối hợp với Bộ Tài chính quản lý, chỉ đạo, theo dõi, giám sát thu ngân sách, thực hiện kế hoạch ngân sách của tỉnh, thủ đô;

- Quản lý, giám sát hoạt động của cán bộ tài chính, đề nghị Bộ Tài chính

bổ nhiệm, điều chuyển hoặc bãi nhiệm cán bộ tài chính thuộc quản lý của Bộ Tài chính;

- Tạo điều kiện, khuyến khích và giám sát việc thực hiện của nhân viên hải quan, thuế và kho bạc địa phương

+ Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện

Theo quy định của Luật NSNN Lào, chính quyền cấp huyện là đơn vị hành chính cấp thấp nhất thuộc Chính phủ được quy định trách nhiệm đối với NSNN, cụ thể:

Trang 39

- Xây dựng và lãnh đạo thực hiện kế hoạch chiến lược hàng năm và năm năm, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện căn cứ theo kế hoạch chiến lược của tỉnh, thủ đô căn cứ vào tiềm năng và năng lực thực tế của huyện;

- Giám sát các văn phòng huyện trong việc lập kế hoạch, phân bổ, thực hiện kế hoạch và hoàn thiện kế hoạch ngân sách theo quy định của pháp luật;

- Quản lý và thực hiện kế hoạch thu NSNN, chỉ đạo, kiểm soát các cơ quan liên quan nhằm đảm bảo thu NSNN chính xác, kịp thời và minh bạch trong huyện;

- Phối hợp với Sở Tài chính tỉnh, thủ đô thực hiện chỉ đạo, quản lý, theo dõi và giám sát việc thu ngân sách và thực hiện ngân sách huyện;

- Giám sát, theo dõi công việc của cán bộ tài chính, phối hợp với tỉnh, thủ đô thực hiện bổ nhiệm, điều chuyển hoặc bãi nhiệm cán bộ tài chính theo quy định;

- Tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát các hoạt động của nhân viên tài chính tại văn phòng huyện, thực hiện các chức năng của tài chính cấp làng xã;

- Tạo điều kiện, khuyến khích và giám sát việc thực hiện của nhân viên hải quan, thuế và kho bạc ở cấp huyện

1.3 NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH

1.3.1 Tổng quan công tác lập dự toán thu chi NSNN

a Nguyên tắc cơ bản lập dự toán thu chi NSNN

Bản dự toán thu chi NSNN là tiền đề cho các cơ quan quản lý nhà nước xác định tổng mức thu chi trong năm tới của quốc gia, từ đó đưa ra các kế hoạch hành động, chiến lược cụ thể để thực hiện đạt và vượt mục tiêu đề ra

Do đó, công việc lập dự toán thu chi NSNN cần phải được thực hiện theo các nguyên tắc nhất định nhằm đảo bảo sự nhất quán, hiệu quả Theo quy định tại

Trang 40

Điều 52 Luật NSNN Lào số 71/QH ngày 16/12/2015, để lập dự toán thu chi NSNN hàng năm, cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

- Dự toán thu chi NSNN cần phải được lập dựa trên một kế hoạch tài chính trung hạn, dài hạn đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua;

- Việc lập dự toán thu chi NSNN cần phải tuân thủ theo mức tăng trưởng kinh tế quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia định kỳ để đảm bảo sự ổn định tài chính;

- Công tác lập dự toán thu chi NSNN cần phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung, dân chủ với sự tham gia của tất cả các ngành liên quan Việc lập dự toán thu chi NSNN địa phương phải thông qua Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;

- Việc lập dự toán thu chi NSNN được thực hiện tại các đơn vị ngân sách phải tuân theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Tài chính Đối với các cơ quan, ban ngành thực hiện quản lý theo chiều dọc thì phải lập dự toán thu chi NSNN theo ngành dọc của mình từ cấp trung ương đến cấp địa phương (Quốc hội CHDCND Lào, 2015);

- Việc lập dự toán thu chi NSNN trung ương và địa phương (cấp tỉnh/huyện) phải đảm bảo rằng các nguyên tắc phân cấp phải được tuân thủ theo đúng quy định pháp luật hiện hành để dự toán không bị trùng lặp, đảm bảo đầy đủ các thủ tục và đúng thời hạn theo quy định (Bộ Tài chính CHDCND Lào, 2018)

b Phương pháp lập dự toán thu chi NSNN

Một trong các nguyên tắc cơ bản trong lập dự toán thu chi NSNN là phải đảm bảo sự tập trung, dân chủ và có sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban ngành trong tất cả các lĩnh vực có liên quan Do đó, công tác lập dự toán thu chi NSNN được thực hiện theo phương pháp kết hợp của cách tiếp cận từ trên

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w