1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng ñến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ NHÃ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TRÊ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ NHÃ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ NHÃ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tá giả luận văn

Nguyễn Thị Nhã Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 5

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP 13

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thông tin trên thị trường chứng khoán 13 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công bố thông tin trên TTCK 14

1.2 PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN 15

1.2.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện 15

1.2.2 Phân loại theo phạm vi bao quát 16

1.2.3 Phân loại thông tin theo thời gian 16

1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin 16

1.2.5 Phân loại thông tin theo thời điểm công bố 17

1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 17

1.3.1 Đối với công tác quản lý thị trường 17

1.3.2 Đối với nhà đầu tư 18

Trang 5

1.3.3 Đối với trung tâm giao dịch chứng khoán 18

1.4 YÊU CẦU CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN 19

1.4.1 Yêu cầu về thông tin kế toán trong báo cáo tài chính 19

1.4.2 Yêu cầu công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết 20

1.5 CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 21

1.6 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 21

1.6.2 Lý thuyết dấu hiệu 24

1.6.3 Lý thuyết chi phí chính trị 25

1.6.4 Lý thuyết chi phí sở hữu 25

1.7 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 25

1.7.1 Thời gian hoạt động 26

1.7.2 Quy mô doanh nghiệp 26

1.7.3 Lợi nhuận 27

1.7.4 Chủ thể kiểm toán 28

1.7.5 Tài sản cố định 28

1.7.6 Đòn bẩy tài chính 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 32

2.1 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 32

2.1.1 Lịch sử và phát triển 32

2.1.2 Các giai đoạn phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam 32

2.1.3 Cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay 35

Trang 6

2.1.4 Các đặc điểm hoạt động chính của các NHTM tại Việt Nam 36

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

2.2.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 36

2.2.2 Chọn mẫu 43

2.2.3 Chọn các mục thông tin công bố trong báo cáo tài chính 44

2.2.4 Mô hình nghiên cứu 44

2.2.5 Xác định và đo lường các biến 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ 51

3.1.1 Đối với các biến định lượng 51

3.1.2 Đối với các biến định tính 55

3.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 55 3.2.1 Phân tích sự tự tương quan giữa biến phụ thuộc và từng biến độc lập riêng lẻ trong mô hình 55

3.2.2 Phân tích sự tự tương quan giữa các biến độc lập 60

3.3 PHÂN TÍCH HỒI QUY 63

3.3.1 Kết quả mô hình hồi quy lần 1 63

3.4 KIỂM ĐỊNH PHẦN DƯ KẾT QUẢ HỒI QUY 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 74

4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 74

4.1.1 Đối với nhân tố Lợi nhuận 74

4.1.2 Đối với nhân tố Chủ thể kiểm toán 75

4.1.3 Đối với nhân tố đòn bẩy tài chính 75

4.1.4 Tính thanh khoản 76

Trang 7

4.1.5 Hàm ý chính sách từ các chủ thể liên quan đến việc công bố thông

tin trên BCTC của các ngân hàng niêm yết 77

4.2 KẾT LUẬN 80

4.2.1 Kết quả nghiên cứu đạt được 80

4.2.2 Những hạn chế của nghiên cứu 81

4.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81

KẾT LUẬN 83 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Tổng hợp các biến sử dụng trong nghiên cứu 49

3.1 Kết quả thống kê mô tả các biến định lượng 51

3.2 Kết quả thống kê mô tả biến định tính 55

3.3 Kết quả kiểm định tự tương quan bằng kiểm định Pearson 56

3.4 Phân tích Independent T-Test của Biến Chủ thể kiểm

3.5 Phân tích tương quan giữa các biến độc lập 60

3.7 Kết quả kiểm định Anova 63

3.8 Kiểm định đa cộng tuyến, và kết quả hồi quy 64

3.9 Kết quả kiểm định Durbin- Watson lần 2 65

3.10 Kết quả kiểm định Anova lần 2 65

3.11 Kết quả hồi quy bội lần 2 65

3.12 Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC 67

3.2 Kiểm định vi phạm phần dư Biểu đồ Histogram 72

3.3 Kiểm định vi phạm phần dư Biểu đồ PP Lot 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính ấp thiết củ đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán có tác động tích cực đến sự phát triển của quốc gia Thực tế cho thấy thị trường chứng khoán đã thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều nước một cách có hiệu quả thông qua việc

góp phần tạo ra vốn khả dụng

Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú Thông tin

sẽ phản ánh tình hình tài chính, bản chất của doanh nghiệp, qua đó các nhà đầu từ có thể nhận định, phân tích và đầu tư có hiệu quả Tuy nhiên, thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đảm bảo được tính minh bạch và hiệu quả Những nguồn thông tin chính thức (công bố từ Sở giao dịch, Ủy ban chứng khoán nhà nước ) đã ngày càng hoàn thiện để đảm bảo tính chính xác, công bằng và kịp thời nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của thị trường Thông tin nghèo nàn sẽ là một đe dọa cho khả năng cạnh tranh của các tổ chức Sự thực là trong thời gian gần đây, sự lan truyền các bê bối trong lĩnh vực tài chính ngân hàng như Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (2014), Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (2015), Ngân hàng Đông Á (2015), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Sacombank (2017) càng đặt

ra câu hỏi lớn về mức độ công bố thông tin của các ngân hàng tại Việt Nam Thực tế đã có khá nhiều các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên đối tượng là các ngân hàng tại cả nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, báo cáo tài chính của ngân hàng được rất nhiều đối tượng sử dụng, vì vậy để có một cái nhìn kịp thời nhất về mức độ công bố thông tin của các ngân hàng tại Việt Nam hiện nay thì một nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017 là cần thiết Bởi lẽ công bố thông tin minh bạch được xem là một

Trang 12

cơ chế thúc đẩy các ngân hàng nâng cao ý thức và cải thiện tình hình quản trị ngân hàng, qua đó đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của các nhà đầu tư và nền kinh tế

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên ứu

á nhân tố ảnh hưởng đến việc ông bố thông tin trên báo áo tài hính

củ á ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng hoán Việt Nam”

2 Mụ tiêu ủ đề tài

Với mục tiêu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2013 – 2017, luận văn đặt ra hai mục tiêu nghiên cứu sau:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoản Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên ứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên ứu

- Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 9 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu ACB, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam BID, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam CTG, Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam EIB, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội MBB, Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân NVB, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn SHB, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín STB và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương VCB từ năm 2013 đến năm 2017

+ Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về các nhân

tố ành hưởng đến việc công bố thông tin của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

5 Phương pháp nghiên ứu

Nhằm giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng

- Phương pháp định tính: thông qua việc thu thập thông tin, dữ liệu trên các BCTC của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để kiểm tra đặc tính, mối quan hệ giữa các biến

và tham khảo các nghiên cứu trước để xây dựng danh mục các nhân tố, đặt ra giả thuyết và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông tin của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán

Trang 14

- Phương pháp định lượng: Trong nghiên cứu với sự hỗ trợ của phần mềm Excel và SPSS xử lý bộ dữ liệu đã thu thập được từ 45 BCTC của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2017

- Trình tự nghiên cứu: Đầu tiên, tác giả đã tìm hiểu và tổng hợp các lý thuyết có liên quan Sau đó, tác giả lựa chọn mẫu nghiên cứu là các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và thu thập báo cáo tài chính

đã kiểm toán từ năm 2013 đến năm 2017 của các ngân hàng này Bước 3, xây dựng bảng các yếu tố thông tin cần công bố trong báo cáo tài chính, tính toán chỉ số công bố thông tin đồng thời xác định các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết, đặt ra các giả thuyết nghiên cứu Và cuối cùng là tiến hành phân tích hồi quy, kiểm định các giả thuyết, rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩ ho họ và thực tiễn củ đề tài

Về mặt lý thuyết: Tổng hợp các lý thuyết ở các nghiên cứu trước đây về

các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên BCTC và kế thừa các kết quả này để xây dựng mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin BCTC của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng

khoán Việt Nam Đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện việc công bố

thông tin trong BCTC của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng

khoán Việt Nam

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các nhân tố ảnh

hưởng đến việc công bố thông tin trên BCTC của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Qua đó, giúp cho các nhà đầu tư có đánh giá thận trọng hơn về các thông tin được công bố, giúp cho cơ quan quản lý

Trang 15

nhà nước có cái nhìn thực hơn về tính trung thực của các thông tin trên BCTC Từ đó, sẽ hoàn thiện hơn hệ thống chuẩn mực và chính sách kế toán

của nước ta

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của các doanh nghiệp

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận

8 Tổng qu n tài liệu nghiên ứu

Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trong BCTC của các tác giả trong và ngoài nước ở nhiều thời điểm và trong các phạm vi khác nhau

Các nghiên cứu trên thế giới:

Nghiên ứu “Corpor te Reporting n Investment De ision” của Cerf (1961) [10]: được xem là khởi đầu cho nghiên cứu thực nghiệm liên quan

đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên Cerf (1961) nghiên cứu các báo cáo thường niên của 258 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết trên sàn giao dịch khác, và 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1956 đến tháng 6 năm 1957 Với phương pháp phân tích hồi quy được thực hiện trên 31 mục điểm, tác giả đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa bố công bố thông tin và quy mô tài sản, số lượng cổ đông và lợi nhuận Kể từ đó, chủ đề về công bố thông tin đã thu hút

Trang 16

rất nhiều sự chú ý của các0 nhà học thuật ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển

Nghiên ứu về “An Empirical Analysis of Quality of Corporate Fin n i l Dis losure” của Singhvi and Desai (1971) [20]: đã thiết kế

nghiên cứu mức độ công bố thông tin với 34 mục điểm tại 155 tập đoàn công nghiệp Mỹ và đã báo cáo kết quả là có mối quan hệ đáng kể giữa mức độ công

bố thông tin trên báo cáo thường niên và các đặc điểm công ty Trong nghiên cứu này không đề cập đến sự khác biệt giữa công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau đó được tiến hành tập trung nhiều hơn vào công bố thông tin tự nguyện, chủ yếu ở các nước phát triển và dần dần các đang và kém phát triển bắt đầu đi theo Bên cạnh đó, so với trong các nghiên cứu trước, số lượng các biến và số lượng các mục điểm trong danh sách công bố thông tin ngày càng được mở rộng

Nghiên ứu “Factors Influencing Voluntary Annual Report Disclosures By U.S., U.K and Continental European Multinational Corporations” của Gary (1995) [16]: đã tiến hành kiểm tra mối liên quan

giữa một số đặc điểm công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia tại Hoa Kỳ, Anh và châu Âu trong năm 1989 Một danh sách kiểm tra mức độ công bố chứa 85 mục thông tin tự nguyện đã được phát triển Bằng cách sử dụng hồi quy đa tuyến tính, kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, quốc gia, và tình trạng niêm yết quốc tế là

ba biến quan trọng nhất giải thích sự khác biệt về mức độ công bố tự nguyện của các công ty trong mẫu điều tra

Nghiên ứu “A cost benefit study of voluntary disclosure: some empiri l evi en e from Fren h liste omp nies” của Depoers (2000) [11]: đánh giá thực nghiệm mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo

Trang 17

cáo thường niên của 102 công ty phi tài chính niêm yết được lựa chọn ngẫu nhiên trên thị trường chứng khoán Paris vào năm 1995 và liên kết của nó với các đặc điểm công ty, cụ thể là: quy mô, hoạt động nước ngoài (đo bằng tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu bán hàng), chi phí sở hữu (được đo bằng tổng tài sản

cố định), áp lực lao động, đòn bảy, kích thước công ty kiểm toán và cơ cấu sở hữu Tác giả đã phát triển chỉ số công bố bao gồm 65 mục thông tin tự nguyện Nghiên cứu này cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện liên quan thống

kê với quy mô doanh nghiệp, hoạt động nước ngoài, chi phí sở hữu, và áp lực lao động

Nghiên ứu “Board leadership, outside directors expertise and voluntary corpor te is losures” củ Gul và Leung (2004) [15]: đã tiến

hành một nghiên cứu để kiểm tra mối quan hệ giữa cơ cấu lãnh đạo hội đồng quản trị, cụ thể là kiêm nhiệm của CEO, tỷ lệ các giám đốc bên ngoài trong HĐQT và mức độ công bố thông tin tự nguyện của 385 công ty niêm yết phi tài chính trong năm 1996 tại Hồng Kông Một danh mục công bố gồm 44 mục thông tin được phát triển để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện Tác giả đã sử dụng các phương pháp tiếp cận không trọng số để tính toán số điểm công bố thông tin tự nguyện Sử dụng phân tích hồi quy đa biến, kết quả cho thấy rằng sự kiêm nhiệm vị trí của CEO có liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện thấp hơn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty có tỷ

lệ các giám đốc bên ngoài trong hội đồng quản trị liên quan với việc công bố tự nguyện thấp hơn

Trong một nghiên ứu tại Ả Rập, "The association between firm specific characteristics and disclosure: The case of Saudi Arabia" của Alsaeed (2006) [8]: đã kiểm tra tác động của một số đặc điểm của công ty đến

mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của một mẫu gồm 40 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Ả Rập

Trang 18

năm 2003 Một danh sách công bố bao gồm 20 mục thông tin được sử dụng như một thước đo để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên Mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và các đặc điểm đã được kiểm tra bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa tuyến tính Các kết quả được tìm ra bởi Alsaeed (2006) cho thấy rằng có một liên kết tích cực đáng kể giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố tự nguyện

Ở Trung Quốc, Huafang and Jianguo (2007) đã nghiên ứu

"Ownership structure, board composition and corporate voluntary disclosure: Evidence from listed companies in China" [12]: để kiểm tra

tác động của cơ cấu sở hữu (gồm sở hữu nhóm, quyền sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước, quyền sở hữu pháp nhân, và sở hữu nước ngoài) và thành phần hội đồng quản trị (đo bằng tỷ lệ các giám đốc độc lập và kiêm nhiệm vị trí của CEO) đến công bố thông tin tự nguyện của 559 công ty niêm yết tại Trung Quốc Chỉ số công bố chính thức gồm 30 mục thông tin được phát triển để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty trong các báo cáo thường niên năm 2002 Các kết quả thống kê phân tích cho thấy hai khía cạnh của quyền sở hữu, cụ thể là sở hữu nhóm và sở hữu nước ngoài có mối quan hệ

ý nghĩa với mức độ công bố tự nguyện Tuy nhiên, ba khía cạnh khác là quyền

sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước và sở hữu pháp nhân không có ý nghĩa liên quan đến công bố tự nguyện Kết quả cũng cho thấy rằng các biến thành phần hội đồng quản trị liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Một nghiên ứu về đối tượng là ngân hàng củ tá giả Nier and Baumann (2006) “Market discipline, disclosure and moral hazard in banking, Journal of Financial Intermediation” [14]: đã điều tra thực

nghiệm mức độ công bố thông tin tự nguyện của 729 ngân hàng tại 32 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện yêu cầu

Trang 19

các ngân hàng giảm thiểu các hoạt động rủi ro và gia tăng sự đảm bảo cho các rủi ro này bằng vốn chủ sở hữu

Nghiên ứu “The empirical evidence of the voluntary information disclosure in the annual reports of banking companies: The case of

B ngl esh” của Hoissan and Taylor (2007) [13]: đã điều tra thực nghiệm

mối quan hệ giữa các đặc điểm của NHTM và mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của 20 ngân hàng tư nhân nội địa tại Bangladesh Các đặc điểm được kiểm tra là kích thước NHTM (đo bằng logarit của tài sản), công ty kiểm toán và khả năng sinh lợi Để lựa chọn các mục thông tin tự nguyện công bố, tác giả xem xét các nghiên cứu đã sử dụng mục lục công bố như phương pháp luận, công bố thông tin đối với các tổ chức tín dụng được yêu cầu bởi IAS 30 và các mục thông tin được quan tâm bởi các nhóm người sử dụng tiềm năng (cổ đông, nhà phân tích tài chính, quan chức chính phủ và các kế toán viên chuyên nghiệp) Một danh mục thông tin 45 điểm được mong đợi sẽ tự nguyện công bố trên báo cáo thường niên của các NHTM tại Bangladesh Kết quả nghiên cứu tiết lộ rằng kích thước ngân hàng

và công ty kiểm toán là các biến ảnh hưởng đáng kể quyết định mức độ công

bố thông tin của các ngân hàng Ngược lại, không có mối quan hệ rõ ràng giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và biến lợi nhuận

Các nghiên cứu tại Việt Nam

Việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến công bố thông tin được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới sớm hơn so với Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều hơn và đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này Qua quá trình tham khảo và tìm hiểu của mình, tác giả xin nêu một số bài báo và đề tài nghiên cứu như sau:

Trang 20

Luận văn “Cá nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo áo tài hính ủ á ông ty niêm yết trên thị trường chứng hoán – Bằng chứng thực nghiệm tại Việt N m”- Nguyễn Thị Phượng Hồng (2016) [1]:

đề tài phân tích đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng số 17 biến có tác đến biến phụ thuộc chất lượng BCTC bao gồm: Quyền sở hữu vốn bởi nước ngoài, Quyền sở hữu vốn bởi tổ chức, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, quy mô công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại hình công nghiệp, lợi nhuận (ROE), triển vọng phát triển và chính sách chia cổ tức Có 6 biến còn lại gồm quyền sở hữu vốn bởi Nhà nước, quyền sở hữu vốn bởi nhà quản lý, sự tập trung quyền sở hữu, quy mô HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT và tuổi của công ty không có ảnh

hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam

Bài báo “Cá yếu tố ảnh hưởng đến ông bố thông tin trên báo áo tài hính ủa doanh nghiệp” củ tá giả Phan Thị Hằng Nga(2017) [5]:

Bài viết đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của 62 doanh nghiệp nhóm ngành Bất động sản Kết quả cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin là: Khả năng sinh lời, hiệu suất sử dụng tài sản,

tỷ lệ giám đốc độc lập, giám đốc điều hành, thời gian hoạt động, kiểm toán độc lập

Luận văn “ Minh bạ h thông tin á o nh nghiệp niêm yếu trên sàn hứng hoán TP HCM” tá giả Lê Trường Vinh (2008) [7]: chỉ đưa

Trang 21

vào mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết, 5 biến giải thích về đặc điểm tài chính của doanh nghiệp bao gồm: quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, vòng quay tổng tài sản, tài sản cố định và nợ phải trả Kết quả nghiên cứu cho thấy biến quy mô doanh nghiệp đo lường theo ba cách logarith của tổng tài sản, doanh thu thuần, giá trị thị trường cũng không có ý nghĩa trong mô hình và các biến còn lại cũng vậy Chỉ có biến lợi nhuận được đo lường bằng giá trị thị trường của các khoản

độ tuân thủ trung bình về công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết đạt 78.23%, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin đó là quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán và chủ thể kiểm toán

Luận văn “ Nghiên ứu á nhân tố ảnh hưởng đến mứ độ ông bố thông tin trong báo á tài hính ủ á o nh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại sở giao dịch chứng hoán thành phố Hồ Chí Minh” ủ tá giả Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014) [3]: Đề tài nghiên cứu

35 doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm cho kết quả: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy nợ, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định, thì nhân tố khả năng thanh toán có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp

Trang 22

Bài báo “Mứ độ ông bố thông tin trên báo áo tài hính ủ á ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng hoán Việt N m” ủ tá giả Nguyễn Hoàng, Đỗ Song Hương [4]: Nghiên cứu này là một khảo sát thực

nghiệm về mức độ công bố thông tin tài chính tại các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mẫu số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán trong giai đoạn từ 2007 – 2015 Nghiên cứu này cũng cho thấy kết quả của mối quan hệ giữa các đặc điểm doanh nghiệp với mức độ công bố thông tin trong mẫu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mức độ công bố thông tin tài chính ở các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa cao, bình quân chỉ hơn 70% lượng thông tin được công bố Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô ngân hàng và lợi nhuận

có tác động cùng chiều trong khi kích cỡ ban quản trị và tính thanh khoản của ngân hàng có tác động ngược chiều đến mức độ công bố thông tin tài chính ở các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Kết luận tổng qu n tài liệu nghiên ứu:

Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến công bố thông tin, có thể thấy rằng đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu của mình tác giả nhận thấy còn khoảng trống nghiên cứu là: phạm vi nghiên cứu còn giới hạn, đa số các nghiên cứu thường chỉ nghiên cứu ở đối tượng doanh nghiệp, ít nghiên cứu trên đối tượng ngân hàng Mặc dù ngày càng có nhiều nghiên cứu trên đối tượng ngân hàng hơn tuy nhiên thời gian nghiên cứu là từ các năm trước Từ nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là hoàn toàn phù hợp và cần thiết

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.1.1 Khái niệm, đặ điểm ủ thông tin trên thị trường hứng hoán

a Khái niệm thông tin trên thị trường chứng khoán

Thông tin trên TTCK được hiểu là toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những giai đoạn phát triển nhất định Tình hình tài chính của doanh nghiệp được phản ánh thông qua các báo cáo tài chính, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và như vậy, khi nhìn vào những tài liệu này chúng ta có thể thấy được độ “lành mạnh” của tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như tiềm năng, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai Thông tin trên thị trường chứng khoán là hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm yết do các chủ thể có thẩm quyền cung cấp theo quy định của pháp luật

b Đặc điểm thông tin trên thị trường chứng khoán

Thứ nhất, thông tin trên thị trường chứng khoán là hệ thống các dữ kiện liên quan đến hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán

Thứ hai, thông tin trên TTCK là một bộ phận cấu thành nên thị trường Thông qua kênh thông tin, nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các chuyên gia tài chính ngân hàng có thể nhận biết được xu hướng phát triển của thị trường từ đó đưa ra được những cảnh báo hoặc định hướng phát triển

Trang 24

Thứ ba, thông tin trên TTCK là cơ sở để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá, thương lượng với nhau Thông tin là thước đo phản ánh giá trị của doanh nghiệp Thông qua hệ thống các chỉ số về vốn, về lợi nhuận, về chiến lược kinh doanh… nhà đầu tư có thể thấy được tiềm năng phát triển của tổ chức phát hành

Thứ tư, thông tin trên TTCK là một trong những biểu hiện và làm gia tăng giá trị của công ty niêm yết, song nó cũng có thể gây bất lợi cho công ty

Thứ năm, thông tin trên TTCK có tác động rất lớn đối với thị trường cũng như cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiện toàn hoạt động của thị trường và việc hoạt định chính sách phát triển TTCK

1.1.2 Khái niệm, đặ điểm ông bố thông tin trên TTCK

a Khái niệm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết, công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm bảo đảm các

cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin Công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định

Nói chung công bố thông tin là quá trình cung cấp tài liệu và những bằng chứng liên quan ( video, hình ảnh, dữ liệu…) rộng rãi cho quần chúng, không che dấu thông tin và phổ biến rộng rãi trên các phương tiện như website, báo chí, internet

Thông tin liên quan đến các công ty niêm yết bao gồm các thông tin trước và sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng và sau khi chứng khoán được niêm yết giao dịch trên thị trường tập trung

Trong bài luận văn này, đề cập đến thông tin bắt buộc phải công bố trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thông thường, các công ty sẽ công bố

Trang 25

thông tin ít nhất bằng yêu cầu tối thiểu của luật pháp Tuy nhiên, sự tối thiểu này lại tùy thuộc vào phán xét chủ quan của đội ngũ quản lý doanh nghiệp Trong luận văn này, tác giả lấy theo theo biểu mẫu của quyết định 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước làm cơ sở để đưa ra các mục thông tin bắt buộc cần công bố trên Báo cáo tài chính

b Đặc điểm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Một là, CBTT trên TTCK là hoạt động thường xuyên của các chủ thể

Hai là, hoạt động CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến của tổ chức phát hành và của thị trường

Ba là, hoạt động CBTT gắn liền với thẩm quyền của các chủ thể nhất định

1.2 PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.2.1 Phân loại thông tin theo tính hất bắt buộ h y tự nguyện

Thông tin bắt buộc

Đây là những thành phần của báo cáo thường niên theo luật, quy định hoặc chuẩn mực kế toán Theo Simon (2001) công bố thông tin bắt buộc là các quy tắc cho phép truy cập những thông tin cơ bản Hay công bố thông tin bắt buộc là các thông tin mà các doanh nghiệp nhất thiết phải công bố theo quy chuẩn, nội dung và thời gian bắt buộc do luật quy định (Durukan, 2003)

Ví dụ báo cáo về thu nhập (báo cáo lãi lỗ hay báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh), báo cáo tình hình tài chính (bảng cân đối kế toán), báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tại các quốc gia khác như Mỹ, Anh còn có báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, báo cáo bộ phận, báo cáo của kiểm toán viên, báo cáo về thù lao và một số nội dung trong báo cáo của giám đốc (ví dụ như tóm tắt vị trí hoạt động)

Thông tin tự nguyện

Trang 26

Đây là những thành phần của báo cáo thường niên không được quy định trong luật hoặc quy định nhưng vẫn được trình bày Chúng chủ yếu là được báo cáo dưới dạng tường thuật chứ không phải là báo cáo dạng số Các

ví dụ bao gồm (thông tin về nguy cơ rủi ro), đánh giá hoạt động, thông tin xã hội và môi trường, và đánh giá của giám đốc điều hành… Công bố thông tin

tự nguyện là thuật ngữ khá mới ở Việt Nam và các thị trường tài chính mới nổi nhưng đối với các thị trường phát triển như Châu Âu, Châu Mỹ thì đây là thuật ngữ khá phổ biến Gray và cộng sự (1995) xác định công bố thông tin tự nguyện như là những cô bố được thực hiện vượt quá những yêu cầu thông tin

cơ bản Công bố thông tin tự nguyện như là công cụ giảm bớt thông tin bất cân xứng giữa lãnh đạo công ty và nhà đầu tư Có nhiều phương thức khác nhau để cung cấp thông tin tự nguyện, thông qua các báo cáo thường thường niên, nữa năm, hằng quý, báo cáo quạn hệ nhà đầu tư, báo cáo phát triển bền vững, chú thích, phỏng vấn, thông cáo báo chí và những cách thức khác

1.2.2 Phân loại theo phạm vi b o quát

Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán, thông tin ngành, thông tin nhóm ngành, thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường, thông tin của SDGCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế

1.2.3 Phân loại thông tin theo thời gi n

Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai, thông tin theo thời gian (phút, ngày ), thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm )

1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin

Thông tin trong nước và quốc tế

Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường

Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếp hạng tín nhiệm Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 27

1.2.5 Phân loại thông tin theo thời điểm ông bố

Thông tin theo yêu cầu: Công ty phải công bố thông tin trong vòng 24h

khi có yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước khi xảy ra các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông, giá chứng khoán Cách thức và nội dung công bố thông tin cũng được quy định rõ trong thông tư 155/2015/TT-BTC

Thông tin định kỳ: Công bố thông tin định kỳ bao gồm những báo cáo:

báo cáo tài chính quý, bán niên, năm, đối với công ty là công ty mẹ- công ty con hoặc công ty có kế toán phụ thuộc phải có báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất Ngoài ra, công bố thông tin định kỳ còn có báo cáo thường niên và báo cáo quản trị Thông tư 155/2015/TT-BTC còn quy định cụ thể nội dung, thời hạn và cách thức công bố thông tin Các báo cáo thường niên phải có kiểm toán của tổ chức tài chính độc lập được ủy ban chứng khoán nhà nước chấp thuận

Thông tin bất thường: Cũng theo quy định của thông tư

155/2015/TT-BTC những sự kiện, thông tin xảy ra ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh, cổ đông của công ty thì phải công bố thông tin trong thời gian quy định của công tư này Bao gồm công bố thông tin bất thường theo quy định như tài khoản công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa và công bố thông tin bất thường khác

Yêu cầu công bố thông tin kế toán

1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.3.1 Đối với ông tá quản lý thị trường

Với việc công bố thông tin đầy đủ, hợp lý và kịp thời, các cơ quan quản

lý nhà nước có cái nhìn xác thực và cụ thể hơn về thị trường chứng khoán Từ

đó, cơ quan quản lý nhà nước sẽ có những biện pháp phù hợp để hạn chế và

Trang 28

ngăn chặn các hành vi vi phạm trên thị trường chứng khoán, thực hiện các chức năng vĩ mô khác đồng thời đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường Do đó, ở góc độ nhà nước, công bố thông tin là công

cụ quản lý gián tiếp có tác động trở lại trong việc quản lý hoạt động công bố thông tin còn là công cụ gián tiếp có tác động quản lý các doanh nghiệp niêm yết từ chính các thông tin công bố

1.3.2 Đối với nhà đầu tư

Công bố thông tin đầy đủ, chính xác góp phần giảm thiểu rủi ro cho họ Thiệt hại lớn nhất thường tập trung vào các nhà đầu tư thiểu số, mua chứng khoán với số lượng ít Đồng thời việc ít công bố thông tin cũng làm mất niềm tin của công chúng về sự minh bạch của công ty Như vậy, việc công bố thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác là điều kiện cần để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, giúp họ giảm thiểu rủi ro khi tham gia vào thị trường chứng

khoán

Như vậy, dưới gốc độ nhà đầu tư, thì mức độ công bố thông tin giúp cho nhà đầu tư:

- Đảm bảo nhận được thông tin một cách chính xác

- Đảm bảo tính công bằng chống các hành vi gian lận

- Đảm bảo cung cấp thông tin liên tục và đa dạng

1.3.3 Đối với trung tâm gi o ị h hứng hoán

Mức độ công bố thông tin phù hợp sẽ góp phần xây dựng một thị trường chứng khoán minh bạch và hiệu quả Vì khi các thông tin cần được công bố bị che giấu là biểu hiện của một thị trường chứng khoán không minh bạch Khi đó, nhà đầu tư sẽ ngại không muốn tham gia Các nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ không được huy động và phân bố hiệu quả, gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế về nhiều mặt Bên cạnh đó, sự chính xác và minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán là một trong những nhân tố góp phần

Trang 29

tang khả năng cạnh tranh của thị trường chứng khoán quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tê Như vậy, ở góc độ thị trường, mức độ công bố thông tin chính xác góp phần tạo dựng một thị trường chứng khoán hiệu quả, bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng, công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là vô cùng quan trong, đặc biệt là các thông tin bắt buộc là những thông tin tối thiểu cần được công bố góp phần tạo ra một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và minh bạch

1.4 YÊU CẦU CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN

1.4.1 Yêu ầu về thông tin ế toán trong báo áo tài hính

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 01): Chuẩn mực chung, quy

định rõ các yêu cầu cơ bản đối với thông tin kế toán cần được trình bày trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu có thể so sánh

- Tính trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép

và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực

tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

- Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ

kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót

- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ

- Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng

- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải

Trang 30

trình trong phần thuyết minh để người sử dụng có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch

1.4.2 Yêu ầu ông bố thông tin ủ á o nh nghiệp niêm yết

Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính

Bên cạnh chuẩn mực chung quy định các yếu tố của BCTC thì chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21: Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính

Các yêu cầu của CBTT được quy định lần đầu tiên tại thông tư 57/2004/TT- BTC Thông tư 38/2007/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn các yêu cầu của việc CBTT Đến thông tư 52/2012/TT – BTC càng nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật, hoạt động CBTT phải do Giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin

do người được ủy quyền

Thông tư số155/2015-TT-BTC ra đời năm 2015 là văn bản hướng dẫn toàn diện và chi tiết nhất trong việc hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam Thông tư quy định rõ nghĩa vụ công bố thông tin cho từng nhóm đối tượng trên thị trường chứng khoán gồm Công ty đại chúng, Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng niêm yết; Tổ chức niêm yết trái phiếu doanh nghiệp, tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng; Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, chi nhánh của công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; Quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng và các đối tượng khác

Trang 31

1.5 CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Chỉ số số lượng được thiết kế để đo lường số lượng thông tin được công bố bởi công ty, nhắm vào chỉ số đơn vị (số câu) thông tin hiện hành Mỗi câu thông tin sẽ được xem xét Nó là một chỉ số đơn giản chỉ nắm bắt số

lượng tuyệt đối của công bố

Trong nghiên cứu tác giả đã chọn cách ghi nhận theo phương pháp tiếp cận không lượng hóa để tính chỉ số công bố thông tin

Trong trường hợp này, điều quan trọng là công bố tư liệu có công bố thông tin trên báo cáo tài chính hay không Nếu mục thông tin được công bố,

sẽ nhận giá trị 1 được mã hóa cho dữ liệu, nếu không công bố sẽ nhận giá trị

d = 1 nếu thông tin dj được công bố

d = 0 nếu thông tin dj không được công bố

n = số mục thông tin

1.6 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.6.1 Lý thuyết đại iện

Lý thuyết đại diện đầu tiên do Ross (1973) [16] đề xuất và sau này

được Jensen and Meckling (1976) [17] phát triển thêm Lý thuyết đại diện cho

rằng một doanh nghiệp không phải là thực thể thống nhất, duy nhất Lý thuyết đại diện đã chỉ ra được mối quan hệ doanh nghiệp cổ đông, nhà quản lý và

Trang 32

các chủ nợ Có mục tiêu chung đó là lợi ích Nhưng không phải lúc nào lợi ích cũng giống nhau Nếu cả hai bên tối đa hóa lợi ích thì nhà quản lý có thể điều

hành quản lý dưới sự giám sát của cổ đông

Lý thuyết đại diện tập trung vào việc khái quát những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của công ty và một bên là người quản

lý - người đại diện thực hiện các quyết định của công ty Nhiệm vụ của người quản lý là giám sát và đảm bảo khả năng tồn tại và sinh lời của công ty Mức lương là yếu tố trói buộc người quản lý vào việc đưa công ty đến thành công Người sở hữu cung cấp vốn cho công ty hoạt động, phát triển và kỳ vọng sẽ nhận được những mức lợi tức nhất định từ công ty trong tương lai Người sở hữu là người chịu những ảnh hưởng trực tiếp nhất từ sự thành công hay thất bại của công ty Tuy nhiên, khi mục tiêu của các chủ sở hữu và người quản lý không giống nhau, chính sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không ở mức tối ưu Lý thuyết đại diện khảng định rằng, trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý, cả hai đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn với mức thu nhập nhận được Khi đó, sự phân định quyền sở hữu và quyền quản lý sẽ dẫn đến chi phí đại diện Một định nghĩa có thể sử dụng được về khái niệm này do Jensen and Meckling (1976) đưa ra: “Chi phí đại diện bao gồm tổng các chi phí giám sát của người ủy quyền, chi phí của việc ràng buộc người đại diện nhằm thực hiện các nhiệm vụ tương thích với các mục tiêu hoạt động của người ủy quyền hay thực thể kinh tế, và của các tổn thất còn lại mà có thể quy cho sự chệch hướng trong các quyết yếu tối ưu được thực hiện bởi người đại diện ngược lại với các quyết định mà lẽ ra đã được người ủy quyền thực hiện nếu

Trang 33

như họ có liên quan trực tiếp đến các quyết định” Như vậy, chi phí đại diện là tổng của chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát phụ trội

Chi phí giám sát bao gồm chi phí kiểm tra, giám sát, kiểm toán và các chi phí liên quan đến quá trình nhằm hạn chế những hành động sai lệch của người quản lý, làm tổn hại đến người chủ sở hữu như chi phí ký kết hợp đồng bồi hoàn, chi phí sa thải đối với người đại diện,…

Chi phí ràng buộc là chi phí thiết lập và giữ vững hệ thống hoạt động đảm bảo rằng người quản lý thực hiện các hành động nhất định theo hợp đồng ủy nhiệm vì mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cổ đông hoặc để chắc chắn rằng người chủ sở hữu sẽ được bồi thường nếu người quản lý hành động không theo mục tiêu đã thỏa thuận

Mất mát phụ trội có thể hiểu là sự mất mát tài sản mà người chủ sở hữu phải gánh chịu do sự bất đồng lợi ích, do người quản lý chỉ nỗ lực trong một phạm vi nhất định Để tối thiểu hóa chi phí đại diện, bên cạnh các giải pháp thông thường là tổ chức kiểm tra, kiểm toán nội bộ; những ràng buộc về quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên ban điều hành với mọi hoạt động của công ty trong các quy định pháp puật, trong điều lệ công ty hay trong hợp đồng đại diện, còn có giải pháp khác là cung cấp các ưu đãi phù hợp để gắn kết lợi ích của hai bên Các hợp đồng đại diện với nhiều điều khoản khuyến khích được tạo ra nhằm mục đích tập trung nỗ lực của người quản lý vào lợi ích của cổ đông cũng là một cách kiểm soát chi phí đại diện Phổ biến nhất là hợp đồng khuyến khích dưới dạng cho phép người quản lý được quyền sở hữu cổ phần và quyền chọn cổ phiếu Khi đó chi phí đại diện

sẽ được tối thiểu hóa do lợi ích của hai bên được cân bằng Như vậy, khi doanh nghiệp có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sẽ dẫn đến các mâu thuẫn lợi ích do người quản lý điều hành tài sản của người khác nên không thể hy vọng là họ sẽ thực hiện việc điều hành với một sự chú ý như với

Trang 34

tài sản của chính mình Vì vậy, để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, các chủ sở hữu phải thông qua quá trình giám sát và các báo cáo Lúc này, công

bố thông tin được xem là một công cụ để giảm chi phí đại diện vì làm giảm thông tin bất cân xứng chủ sở hữu và nhà quản lý

1.6.2 Lý thuyết ấu hiệu

Lý thuyết dấu hiệu được giả định là thông tin không bằng nhau có sẵn cho các bên cùng một lúc và thông tin không đối xứng có thể dẫn đến giá thị thấp cho một chính sách đầu tư tối ưu khác Lý thuyết dấu hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản

lý cho các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường (Ross, 1997)

Lý thuyết này xuất hiện trong bối cảnh những năm 1970 với nền tảng

là lý thuyết về thông tin bất cân xứng, lần đầu tiên được đề cập đến bởi Akerlof trong “The Market for „Lemons‟: Quality Uncertainty and the Market Mechanism” Theo đó, thông tin bất cân xứng xảy ra khi mà người bán sản phẩm biết nhiều thông tin hơn người mua sản phẩm Lý thuyết này nêu ra hậu quả tất yếu của thông tin bất cân xứng là việc tạo ra sự lựa chọn nghịch

và rủi ro đạo đức

Lý thuyết tín hiệu về cơ bản liên quan đến việc làm giảm thông tin bất cân xứng giữa hai bên Năm 1973, Michael Spence, nguyên Hiệu trưởng trường Kinh doanh Stanford, đã viết bài báo “Job-Market Signaling” để nói

về việc đánh giá thông tin các ứng viên thông qua bằng cấp của họ trong tuyển dụng Hiểu đơn giản, khi mà người tuyển dụng không thể biết chính xác năng lực của người ứng tuyển thì bằng cấp đại học là một thông tin cần thiết

Từ đó, tín hiệu (Signaling) là một thuật ngữ dùng để mô tả việc bên bán thể

Trang 35

hiện những thông tin có ý nghĩa của mình cho những bên mua nhằm làm giảm

đi quá trình bất cân xứng thông tin

Lý thuyết tín hiệu khẳng định vai trò quan trọng của việc phát tín hiệu trong nhiều thị trường khác nhau Lý thuyết này giả định rằng các doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả cao sử dụng thông tin tài chính để đưa ra tín hiệu cho thị trường, giảm tình trạng bất cân xứng thông tin, khẳng định doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả Do đó, lý thuyết tín hiệu được xem là nền tảng cho nghiên cứu công bố thông tin doanh nghiệp

1.6.3 Lý thuyết hi phí hính trị

Lý thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng hạn chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh…) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Watts và Zimmerman, 1986) Các công ty sẽ công bố thông tin tình nguyện nhiều hơn để hạn chế chi phí chính trị này

1.6.4 Lý thuyết hi phí sở hữu

Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc công bố thông tin Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư

1.7 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Từ thập niên 1960, thế giới đã có sự chú ý về các công bố kế toán Mở đầu bằng nghiên cứu về chỉ số công bố tại các công ty Hoa Kỳ của Cerf (1961), nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau trên cả đối tượng là các công ty tài chính và phi tài chính (Cerf, A.R (1961), Singhvi,

S S., and Desai, H B (1971), Gary K Meek, Clare B Roberts, and Sidney

J Gray (1995), Gul và Leung (2004), Depoers (2000), Khalid Alsaeed,

Trang 36

(2006), Xiao Huafang, Yuan Jianguo, (2007) ) Tuy nhiên, các nghiên cứu

về công bố thông tin về các công ty tài chính, cụ thể là các ngân hàng không phổ biến nhiều

Nghiên cứu mức độ công bố thông tin trên 70 ngân hàng ở 18 quốc gia của Kahl và Belkaoui (1981) [18] được xem là toàn diện nhất Nghiên cứu này cho rằng mức độ công bố thông tin là khác nhau giữa các quốc gia, đồng thời

có một mối liên hệ tích cực giữa quy mô ngân hàng và mức độ công bố Hossain (2008) điều tra 38 ngân hàng tại Ấn Độ và cho kết quả rằng quy mô, lợi nhuận, thành phần ban quản trị và kỷ luật thị trường có tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng Từ kết quả của các nghiên cứu trước đây, các nhân tố thường được đề cập khi nghiên cứu mức độ công bố thông tin là: Thời gian hoạt động, Quy mô doanh nghiệp, Lợi nhuận, Chủ thể kiểm toán, Tài sản cố định, Đòn bẩy tài chính, Kích cỡ Hội đồng quản trị, Tính thanh khoản, Thành phần Hội đồng quản trị (HĐQT)…

1.7.1 Thời gi n hoạt động

Có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu thì mức độ công bố thông tin càng nhiều Vì doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu năm thì việc lập, trình bày BCTC theo thời gian sẽ được cải thiện Owusu- Ansah (1998) đã chứng minh rằng thời gia hoạt động của doanh nghiệp có mối ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Nghiên cứu của Al shamari và cộng sự (2007) cũng đã có các kết quả tương tự

1.7.2 Quy mô o nh nghiệp

Theo lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí sở hữu và một số nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ công

bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Theo lý thuyết tín hiệu thì các doanh nghiệp có quy mô lớn luôn tự tin về triển vọng phát triển của mình, do đó thường có xu hướng phát tín hiệu ra bên

Trang 37

ngoài thị trường để thu hút người quan tâm đến tình hình tài chính tại doanh nghiệp

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút sự chú ý hơn các nhà phân Do vậy, doanh nghiệp càng lớn càng công bố thông tin nhiều hơn để giảm chi phí đại diện

Theo lý thuyết chi phí sở hữu, các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ công

bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ bởi các doanh nghiệp lớn hơn được cho là đã có hệ thống thông tin tốt hơn so với các doanh nghiệp nhỏ, do đó việc công bố thông tin trong các doanh nghiêp này sẽ ít tốn kém, trong khi đó các doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ thì công bố càng nhiều thông tin sẽ dẫn đến bất lợi và làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh của công ty trên thị trường

Theo các nghiên cứu của Cooke (1987), Owusu- Ansah (1988) Walllacee (1994), Meek (1995), Zarzeski (1996), Khanna và cộng sự (2004) thì quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Các nghiên cứu của Lang và Lundholm (1993) và Khanna & cộng sự (2004) đã có kết quả nghiên cứu biến khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin trong doanh nghiệp

Trang 38

Ngoài ra, từ quan điểm của lý thuyết người đại diện, người quản lý công

ty có lợi nhuận tốt sẽ tích cực công bố thông tin để hưởng những lợi ích về tiền thưởng hoặc duy trì vị thế của cá nhân người quản lý đó

Chủ thể kiểm toán là một phần không thể thiếu trong BCTC của các công ty niêm yết Chính vì thế những công ty niêm yết được thực hiện bởi các công ty kiểm toán lớn thì kỳ vọng mức độ công bố thông tin sẽ nhiều hơn vì các công ty kiểm toán lớn quan tâm nhiều hơn đến danh tiếng của mình, chính

vì vậy sẽ đầu tư nhiều hơn vào chất lượng của công tác kiểm toán báo cáo tài chính công ty

Ngoài ra, sự phụ thuộc vào khách hàng của các công ty lớn thường nhỏ hơn so với các công ty kiểm toán nhỏ Kết quả nghiên cứu của Owusu- Ansah (1988) và Yeoh (2005) đã xác định rằng chủ thể kiểm toán có liên hệ mật thiết đến mức độ công bố thông tin bắt buôc của doanh nghiệp

Vì vậy, khi công ty niêm yết được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có quy mô lớn và chuyên nghiệp thì thông tin công bố của doanh nghiệp sẽ minh bạch và chính xác hơn

1.7.5 Tài sản ố định

Theo lý thuyết chi phí đại diện thì nếu doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản cố định cao hơn thì có chi phí đại diện thấp hơn, vì các nhà quản trị khó có thể

Trang 39

biển thủ các tài sản được xác định và quản lý tốt hơn Vì vậy chi phí đại diện thấp thì họ có thể giảm bớt mức độ công bố thông tin

Tuy nhiên, theo lý thuyết tín hiệu thì nếu doanh nghiệp có đòn bẩy nợ cao thì có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn nhằm giải thích rõ các khoản

nợ hoặc công bố thông tin về các dự án, các kế hoạch kinh doanh nhằm giải quyết nợ trong thời gian ngắn nhất tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư Theo Ahmed và Courtis (1999), Archambalt (2003) nhà quản lý sẽ thuyết phục các chủ nợ trong việc cho vay bằng cách công bố thông tin nhiều hơn để giảm chi phí nợ vay

1.7.7 Kí h ỡ Hội đồng quản trị

Số lượng thành viên của Hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Các công bố đó là những vấn đề về chiến lược, kế hoạch của hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là một cơ quan quản lý cấp cao

đề ra các chính sách và các nhà quản lý có trách nhiệm thực hiện những chính sách đó Số lượng thành viên của hội đồng quản trị được xem là ảnh hưởng đến khả năng hội đồng quản trị giám sát và đánh giá hoạt động của nhà quản lý

Nghiên cứu của Zahra và cộng sự (2000) lại cho rằng hội đồng quản trị nhỏ thì có khả năng xử lý công việc nhanh hơn Nguyên nhân vì số lượng thành viên hội đồng quản trị quá lớn dễ gây ra sự bất đồng trong ý kiến, khó đạt được

sự thống nhất trong quá trình ra quyết định Tuy nhiên, số lượng thành viên hội

Trang 40

đồng quản trị ít thì dẫn đến không tận dụng lợi thế từ sự đa dạng của năng lực

và kinh nghiệm cảu hội đồng quản trị

1.7.8 Tính th nh hoản

Tính thanh khoản đề cập đến khả năng đáp ứng thanh toán nợ của doanh nghiệp trong ngắn hạn Tính thanh khoản của doanh nghiệp có liên quan đến người sử dụng thông tin kế toán Theo lý thuyết tín hiệu, doanh nghiệp có khả năng thanh toán càng cao sẽ công bố thông tin càng nhiều nhằm nâng cao uy tín và tang giá trị của doanh nghiệp thoe nghiên cứu của Cooke (1989) Mặt khác cũng có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có khả năng thanh toán yếu cũng có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để cho những cổ đông, nhà quản lý bớt lo lắng về tình hình tài chính của công ty họ ( Wallace et al, 1994)

1.7.9 Thành phần Hội đồng quản trị

Thành phần của Hội đồng quản trị ở đây được hiểu là có bao nhiêu thành viên kiêm nhiệm các vị trí quản lý trong tổng số thành viên trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp Lý thuyết đại diện dự đoán kiêm nhiệm sẽ làm giảm đáng kể vai trò kiểm soát và tăng khả năng thỏa thuận mức thưởng cho nhà quản trị cấp cao Đồng thời, người kiêm nhiệm dễ dàng thống trị quyền lực và thực hiện những hành vi cơ hội, nguy hại cho các cổ đông khác, từ đó sẽ làm giảm mức độ công bố thông tin Các nghiên cứu của Akhtaruddin và cộng sự (2009), Yuen và Liu (2009) tìm thấy rằng các công ty có thể công bố thông tin

tự nguyện nhiều hơn nếu các công ty đó có một số lượng lớn các thành viên hội đồng quản trị độc lập không điều hành Tuy nhiên, Ho và Wong (2001) lại không tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ các thành viên hội đồng quản trị độc lập

và mức độ công bố thông tin

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w