Sau đây là một trong những khái niệm về toàn cầu hóa: “ Toàn cầu hóa là một quá trình trong đó các quốc gia trên thế giới liên kết, hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc trên mọi phương
Trang 1BÀI THẢO LUẬN NHÓM
Môn: Kinh tế quốc tế Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM
Thực hiện: Nhóm 5
1 Nguyễn Phương Trang ( nhóm trưởng )
2 Tiêu Thị Hạnh
3 Lương Thị Quý
4 Vũ Thị Quy
5 Trần Thị Lan Anh
6 Lê Ngọc Anh
7 Đỗ Thị Vân
8 Nguyễn Thị Huyền Vân
9 Phạm Thạch Thảo
10 Đinh Thị Duyên
11 Đinh Thị Tám
cuu duong than cong com
Trang 2MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay toàn cầu hóa đang trở thành xu thế chung của thế giới và nó buộc các nước muốn phát triển thì phải tham gia vào quá trình này Toàn cầu hóa mang lại không chỉ những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng Đứng trước những tác động của toàn cầu hóa Việt Nam cần nắm bắt được những thời cơ và thách thức từ việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, từ đó có những giải pháp phù hợp để tận dụng thời cơ và vượt qua những thách thức, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
cuu duong than cong com
Trang 31 Lý luận chung về toàn cầu hóa
1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “toàn cầu hóa” xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển của nước Anh năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 đến nay để chỉ một hiện tượng, một xu hướng mang tính chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại
Hiện nay các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về toàn cầu hóa Sau đây là một trong những khái niệm về toàn cầu hóa: “ Toàn cầu hóa là một quá trình trong đó các quốc gia trên thế giới liên kết, hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn hóa xã hội…; là quá trình hình thành và vận hành cấu trúc mới của nền kinh tế thế giới với tư cách là một chỉnh thể thống nhất”
Trong các phương diện của toàn cầu hóa thì toàn cầu hóa kinh tế đang là xu thế nổi trội nhất, nó vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa nói chung
1.2 Nguyên nhân
1.2.1 Nguyên nhân sâu xa
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến quá trình toàn cầu hóa chính là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất Khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất càng cao, phạm vi toàn cầu ngày càng được mở rộng cũng là khi quá trình toàn cầu hóa được bắt đầu Trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất càng cao, phạm vi toàn cầu hóa càng được mở rộng và trình độ toàn cầu hóa cũng càng cao
1.2.2 Nguyên nhân trực tiếp
Một là, sự phát triển của khoa học và công nghệ
Thế giới đã chứng kiến những bước nhảy vọt trong sự phát triển khoa học công nghệ, với những tiến bộ nhanh chóng hơn và căn bản hơn Điều này đang hạ thấp chi phí sản xuất hàng hóa, dịch vụ với tốc độ chưa từng thấy trước đây Dẫn đầu trong những biến đổi này là những thành tựu to lớn trong lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ vật liệu… Đây là những lực đẩy mạnh mẽ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Những công nghệ này đều có bước nhảy vọt trong quá trình đổi mới – chúng không chỉ là cách thức tốt hơn để
cuu duong than cong com
Trang 4thực hiện cái cũ mà còn là những cách thức hoàn toàn mới để thực hiện những cái
mà trước đây không thế hình dung được
Hai là, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã dân đến sự xuất hiện của các công ty độc quyền, trong đó hình thức phát triển cao và phổ biến nhất là các công ty xuyên quốc gia Đến lượt mình, các công ty này lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, của toàn cầu hóa
Chúng không những thúc đẩy phân công lao động quốc tế đi vào chi tiết hóa
mà còn thông qua việc toàn cầu hóa sản xuất và kinh doanh quốc tế đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới Chúng cũng đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy liên kết sản xuất, tăng trưởng thương mại đầu tư và chuyển giao công nghệ quốc tế Chúng đóng góp vai trò to lớn vào việc tăng xuất khẩu của các nước đang phát triển, đẩy mạnh quá trình hội nhập của nền kinh tế các nước vào nền kinh tế thế giới Cùng với việc thúc đẩy thương mại khu vực và toàn cầu, các công ty xuyên quốc gia còn thực hiện và thúc đẩy quá trình tự do hóa đầu tư
Như vậy, chính sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia, trong quá trình hợp tác và cạnh tranh nhằm độc chiếm và chi phối thị trường quốc tế và khu vực đang trở thành một động lực mạnh mẽ, lôi cuốn các quốc gia trên thế giới vào dòng thác toàn cầu hóa
Ba là, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường
Bản chất của kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở, coi trọng hiệu quả, dựa trên phân công lao động và chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc nhằm phát huy tối đa lợi thế của mỗi đơn vị kinh tế cũng như cả nền kinh tế Từ đó, kinh tế thị trường thúc đẩy mạnh mẽ sự liên kết của các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu với các nước khác về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, không bị giới hạn bởi ranh giới dân tộc,tôn giáo, sắc tộc Chính vì vậy, sự hình thành và hội nhập của các nền kinh tế thị trường vào
hệ thống kinh tế thế giới là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định, tạo cơ
sở kinh tế cho quá trình toàn cầu hóa, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác và cạnh tranh nhiều mặt giữa các chủ thể kinh tế
cuu duong than cong com
Trang 5Bốn là, quá trình giảm dần vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước ở các
quốc gia
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu song tốc độ phát triển của nó lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của các quốc gia Các chính sách này có phù hợp với xu thế chung của tiến trình tự do hóa hay không, có tích cực tham gia vào quá trình loại bỏ các rào cản hạn chế dòng luân chuyển của các yếu tố sản xuất hay không, đều tác động lớn đến xu thế toàn cầu hóa Nhân loại đã chứng kiến sự đảo ngược của xu thế toàn cầu hóa sau chiến tranh thế giới thứ nhất, có liên quan chặt chẽ đến vai trò của các chính phủ Ngày nay, nhà nước không còn đi sâu can thiệp vào các hoạt động kinh tế mà tin tưởng hơn vào khả năng tự điều tiết của thị trường, tôn trọng thị trường tự do Nhà nước trở thành người giám sát, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đi vào đúng quỹ đạo của mình
Năm là, sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc
chiến tranh lạnh, bước vào thời kì hòa bình, hợp tác và phát triển
Nhìn chung, các vấn đề mang tính chất toàn cầu có quan hệ nhân quả với nhau, cho nên phải có quan điểm tổng thế khi giải quyết và đỏi hỏi nỗ lực của mọi quốc gia Các vấn đề toàn cầu tác động mọi quốc gia trên phạm vi toàn thế giới, vì lợi ích chung của nhân loại cũng như của chính mỗi quốc gia, đòi hỏi phải có liên kết sức mạnh của cả cộng đồng Bản thân mỗi quốc gia, cho dù có tiềm lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết nổi vấn đề có liên quan đến toàn thế giới Đây chính là cơ sở khách quan thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
1.3 Các giai đoạn phát triển
Lịch sử phát triển của toàn cầu hóa được chia thành ba giai đoạn ( ba làn sóng) :
- Giai đoạn thứ nhất kéo dài từ năm 1870 đến đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 Cơ sở của làn sóng này giảm chi phí vận tải nhờ công nghệ mới như đường xe lửa, tàu chạy bằng hơi nước, cùng một số các phát minh , sáng chế về điện, điện thoại, ô tô, ống dẫn đầu, máy bay bên cạnh đó một số nước `áp dụng chính sách tự do hóa, cắt giảm các hàng rào thuế quan đẫ thúc đẩy mậu dịch kinh tế phát triển mạnh mẽ Làn sóng này được khuấy động bởi những thành tựu đạt được trong giao thông vận tải và việc giảm những hàng rào thương mại Tác
cuu duong than cong com
Trang 6dụng thu nhập từ hoạt động xuất khẩu của thế giới đẫ gấp đôi lên 8% khi thương mại quốc thế giới bùng nổ
- Giai đoạn thứ 2 (1945-1980) động lực xu thế toàn cầu trong thời kì chính là những thành tựu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 2 Nếu cuộc công nghệ cách mạng thứ nhất chỉ dựa vào phát minh máy hơi nước, sắt than trì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai lại chủ yếu dựa vào ứng dụng của các phát minh đông cơ chạy bằng nhiên liệu lỏng , điện và nguyên liệu tử, các loại vật liệu mới như chất dẻo, sợi hóa chất, kim loại màu, những thành tựu của lĩnh vực thông tin và phương thức quản lí mới Đồng thời tăng trưởng kinh tế thế giới chậm chạp
và mức độ bất bình đẳng giữa các khu vực gia tăng đáng kể do sự trở lại của hủ nghĩa bảo hộ trong giai đoạn 1914-1945 cũng là động lưc quan trọng thúc đẩy làn sóng toàn cầu hóa mới Làn sóng toàn cầu hóa thứ 2 chứng kiến sự ra đời của hàng trăm các tổ chức quốc tế chính phủ và hàng nghìn các tổ chức quốc tế phi chính phủ Ngoài hoạt động trong lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, hàng loạt thê chế kinh tế thế giới và khu vực đã hình thành Trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc có nhiều tổ chức kinh tế: Hội Đồng Kinh tế Xã Hội Liên Hợp Quốc( ECOSOC),hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển(UNCTAD)
- Giai đoạn thứ 3 bắt đầu từ năm 1980 và trở thành một xu thế tất yếu, với sự phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết Nó đang cuốn tất cả các nước, kể cả những nước chậm phát triển nhất vào quỹ đạo của mình Làn sóng toàn cầu hóa thứ
3 được thúc đẩy bởi những cơ sở khách quan và có những đặc trưng riêng, khác biệt về chất so với các làn sóng toàn cầu hóa trước đó Làn sóng toàn cầu hóa lần này dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học và đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng này là ứng dụng công nghệ cao, hiện đại với công nghệ thông tin và truyền thông là phương tiện có ý nghĩa quyết định, với trí tuệ và sáng tạo là nguồn lực quốc gia quan trọng, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
1.4 Đặc điểm của toàn cầu hóa giai đoạn hiện nay
Toàn cầu hóa gắn liền với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức
Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nền kinh
tế thế giới đặc biệt là ở những nước phát triển, đã và đang có những bước chuyển
cuu duong than cong com
Trang 7sâu sắc về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Nền kinh tế thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới, một phương thức sản xuất mới dựa trên sự phát triển mới về chất của lực lượng sản xuất – kinh tế tri thức Xu hướng phát triển kinh tế tri thức đang giữ vị trí hàng đầu trong quá trình tương tác toàn cầu, tạo ra những đặc trưng cơ bản của quá trình toàn cầu hóa hiện nay
Kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy tri thức làm cơ sở, trong đó sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển nền kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong nền kinh tế tri thức, tài nguyên trí tuệ, tri thức khoa học – công nghệ cùng với lao động kĩ năng cao trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định hàng đầu đối với việc sản xuất của cải, sức cạnh tranh và khả năng phát triển
Toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức hòa quyện vào nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển: toàn cầu hóa tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh kinh tế tri thức ở các nước, ngược lại nền kinh tê tri thức tạo ra cơ sở và phương tiện vững chắc cho sự phát triển hơn nữa của toàn cầu hóa
Thị trường thế giới mang tính thống nhất cao
Chính phủ của nhiều quốc gia đang thực hiện chính sách mở cửa, tự do hóa, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài, hạ thấp và bãi bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Sự thay đổi trong các chính sách này, cùng với sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin- viễn thông, cũng như sự mở rộng và bành trướng của các công ty xuyên quốc gia đang làm gia tăng nhanh chóng và sâu sắc mức độ liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống hữu
cơ, với tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều lần tốc độ tăng trường sản xuất
Các thể chế kinh tế quốc tế có vai trò ngày càng to lớn trong đời sống kinh tế - chính trị thế giới
Hiện nay sự hình thành các khối kinh tế mậu dịch khu vực đang diễn ra phổ biến ( khu vực hóa) và gắn chặt với toàn cầu hóa kinh tế Trong khoảng vài thập niên gần đây, hàng loạt các khổi kinh tế mậu dịch ra đời như APEC, NAFTA, AFTA, khối Nam Á… đã được hình thành Xu thế toàn cầu hóa được xem là bước chuẩn bị cho tiến trình gia nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu của mỗi nước Tuy
cuu duong than cong com
Trang 8nhiên trên một khía cạnh khác, xu thế khu vực hóa lại đang vận hành ngược với xu thế toàn cầu hóa ở chỗ nó phản ánh một thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng của một nhóm nước trước nguy cơ, tác động tiêu cực do toàn cầu hóa đặt ra, đồng thời phân chia thế giới thành các mảng, khối, tạo ra sự phân biệt đối xử mang tính chất khu vực trong cuộc cạnh tranh không ngang bằng giữa các nhóm nước trong khu vực và những nhóm nước ngoài khu vực
Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế thế giới
Sự hình thành, phát triển và bành trướng của các công ty xuyên quốc gia là một trong những yếu tố khách quan thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Tuy nhiên sức mạnh và vai trò ngày càng to lớn của các công ty xuyên quốc gia lại trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của xu thế toàn cầu hóa hiện nay Các công ty này ngày càng có ảnh hưởng to lớn đến các quá trình kinh tế tài chính toàn cầu, vai trò này trước đây vốn thuộc về chính các nước lớn Với phương thức tổ chức cấu trúc theo mô hình mạng, với thế lực hùng mạnh về vốn, kỹ thuật, công nghệ, thị trường, phương thức quản lý, với những văn phòng đại diện, chi nhánh ở hầu hết các quốc gia, khu vực, các công ty xuyên quốc gia đang thực sự “bén rễ”, chi phối hoạt động kinh tế toàn cầu
Vai trò của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự ngày càng tăng
Một vài thập kỉ gần đây, thế giới đã chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ về
số lượng, quy mô và phạm vi hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu Số lượng các tổ chức phi chính phủ hiện nay lên đến khoảng 30.000 và hơn 20.000 mạng lưới liên quốc gia hiện đang hoạt động tích cực trên phạm vi toàn thế giới Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong hai thập kỉ vừa qua, vai trò của các tổ chức phi chính phủ đã có sự phát triển vượt bậc, từ chỗ chỉ đơn giản là công cụ để sửa chữa thất bại của các nhà nước và thị trường đã trở thành một lực lượng làm biến đổi nền kinh tế và chính trị toàn cầu
Bên cạnh đó, trong hai thập kỉ vừa qua, sự tham gia của người dân vào các
tổ chức xã hội dân sự ngày càng tăng Các tổ chức xã hội dân sự này, với tư cách là thành viên của xã hội, ngày càng trở nên có năng lực hơn, hoạt động chủ động và tích cực hơn; ngày càng có ảnh hưởng đến hoạt động của chính phủ và khu vực tư
cuu duong than cong com
Trang 9nhân Một trong những vai trò quan trọng nhất của các tổ chức xã hội dân sự là huy động sự hỗ trợ cho những vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể, cung cấp thông tin và đảm nhiệm chức năng chứng nhận của bên thứ ba (bên cạnh khu vực nhà nước và khu vực tư nhân)
2.1 Tác dộng tích cực
Thứ nhất, toàn cầu hóa tạo lợi thế so sánh cho các quốc gia tích cực tham gia hội nhập kinh tế
Sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và thị trường liên kết khu vực
và theo các tầng nấc khác nhau thích hợp với trình độ công nghệ, lao động truyền thống của từng quốc gia Đối với các nước phát triển cao, sản xuất chủ yếu tập trung vào những sản phẩm trí tuệ như chế tạo máy tinh xảo, công nghệ cao… Đó là lợi thế của họ Ngược lại, các nước đang phát triển có lợi thế về lao động trẻ, tài nguyên dồi dào, họ có thể tham gia vào tầng thấp và trung bình của sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thế giới với một cơ cấu kinh tế quốc gia phù hợp, với các ngành sử dụng nhiều lao động, cần ít vốn đầu tư, công nghệ trung bình tiên tiến tạo ra những hàng hóa, dịch vụ không thể thiếu đối vơi thị trường các nước khác
Phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầu hóa nhằm tận dụng tự
do hóa thương mại, đầu tư, thị trường vốn, tranh thủ công nghệ và kỹ năng quản lý
Thứ hai, tự do thương mại toàn cầu đem lại cơ hội cho các quốc gia, dân tộc được hưởng thụ những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của nước khác, dân tộc khác tạo ra Trong thời kỳ từ năm 1983 đến năm 1995, thương mại toàn cầu đã tăng
bình quân 7%/năm Với các nước đang phát triển tỷ trọng mậu dịch thế giới trong tổng kim ngạch mậu dịch toàn cầu cũng ngày càng tăng( năm 1985: 23%; năm 1997: 30%), tỷ trọng hàng công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu gia tăng nhanh chóng, từ 47% năm 1985 tăng lên 70% năm 1998 Các nước này đang nắm giữ khoảng 25% lượng hàng công nghiệp xuất khẩu trên thế giới
Tự do hóa thương mại toàn cầu từng bước tạo ra một thứ văn hóa tiêu dung toàn cầu, mà theo đó không gian được thu hẹp và dường như biên giới các quốc gia
ít còn hiện diện
Thứ ba, tự do hóa thị trường tài chính toàn cầu gắn liền với tự do hóa đầu
tư mở cửa cho các dòng vốn lưu chuyển một cách tự do từ quốc gia này tới quốc gia khác Việc tự do hóa thị trường tài chính tạo tiền đề cần thiết cho sự hội nhập
các thị trường tài chính quốc tế Nhờ vậy đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn lớn
cuu duong than cong com
Trang 10chảy vào các nền kinh tế, đồng thời cũng làm tăng tốc độ và quy mô giao dịch tài chính toàn cầu lên mức chưa từng có
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) nếu năm 1967 tổng mức đầu tư nước ngoài mới chỉ đạt 112 tỷ USD thì năm 1983 đã tăng lên 600 tỷ USD, năm 1990 là 1700 tỷ USD và năm 1999 đã đạt mức trên 4000
tỷ USD Theo báo cáo đầu tư thế giới của UNCATD, năm 1996 các nước đang phát triển tiếp nhận 129 tỷ USD FDI, đến năm 1999 tăng lên 198 tỷ USD, trong đó
có 97 tỷ USD vào Mỹ Latinh và 91 tỷ USD vào châu Á Theo số liệu thống kê của IMF, năm 1997, đầu tư ròng trực tiếp của nước ngoài vào các nước đang phát triển tăng lên 1 lần so với năm 1998 Năm 1987, các nước đang phát triển thu hút tới 37% lượng vốn FDI toàn thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Á Dòng vốn naỳ đã tăng hơn 12 lần trong vòng 12 năm, từ năm 1986 đến năm 1998 Theo số liệu thống kê, năm 1997 các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đã thực hiện 424 tỷ USD, năm 1999, tổng lượng FDI toàn cầu là 644 tỷ USD, trong đó các công ty xuyên quốc gia chiếm 441 tỷ USD
Sự di chuyển tự do các dòng vốn lớn và tự do đầu tư đã góp phần thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế của các nước tham gia toàn cầu hóa kinh tế và có chính sách, bước đi đúng đắn Tăng trưởng GDP của nhiều nước đạt mức cao hơn trong nhiều năm liền, nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh hiện đại ra đời, hình thành những ngành nghề kinh tế mũi nhọn đôi với các nước đầu tư: Điện tử, viễn thông, dầu khí…xuất khẩu tăng rất nhanh, trong đó các nước Đông Nam Á là một ví dụ điển hình Trong thời kỳ từ năm 1986 đến năm 1997, xuất khẩu của các nước này
đã tăng 5 lần Tỷ trọng xuất khẩu của Đông Á trong xuất khẩu toàn thế giới tăng từ 9% năm 1985 lên tới gần 18% năm 1997
Thứ tư ,tạo điều kiện để các nước tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại và đổi mới công nghệ, kế thừa thành tựu của các nước đi trước Toàn cầu hóa tác
động tích cực đến việc thay thế và đổi mới công nghệ, thông qua các hoạt động chuyển giao và tiếp nhận giúp cho các nước, nhất là các nước đi sau phát triển nhanh hơn
Đối với các quốc gia vốn là những trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ, thì thay thế công nghệ kém tiên tiến hơn bằng công nghệ mới, hiện đại là chủ yếu, trên cơ sở kết quả những phát minh sáng chế của các nước khác Đối với các nước đang phát triển thì thông qua hoạt động chuyển giao để thay thế, đổi mới công nghệ là chính, đặc biệt thông qua FDI Mặt khác, để tạo điều kiện tăng tốc hơn cho sự phát triển, nhiều nước còn mua cả bản quyền Đồng thời với việc tiếp nhận, đổi mới công nghệ, các nươc tiếp nhận công nghệ mới cũng học hỏi và nâng cao trình độ quản lý
cuu duong than cong com