luận văn giải pháp quản lý, luận văn khách sạn du lịch, luận văn chất lượng dịch vụ, chuyên đề dịch vụ ăn uống, đề án marketing thị trường, phát triển dịch vụ bổ sung
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
-Về lý thuyết: Bán hàng đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với bản thân
mỗi doanh nghiệp mà với cả sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình lưu chuyển hàng hóa, doanh nghiệp bán được hàng sẽ thu được doanh thu và từ đó có được lợi nhuận, lợi nhuận đạt được sẽ được phân phối cho những mục đích khác nhau của doanh nghiệp Như vậy đối với doanh nghiệp, bán hàng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Còn đối với nền kinh tế xã hội thì việc thực hiện tốt khâu bán hàng là điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền, là điều kiện để ổn định và nâng cao đời sống người lao động nói riêng và của toàn xã hội nói chung Để quản lý nghiệp vụ bán hàng thì thông tin do kế toán bán hàng cung cấp là vô cùng quan trọng Các thông tin này sẽ giúp cho nhà quản trị nắm được các số liệu về doanh thu bán hàng, số liệu kết quả hoạt động kinh doanh, thông tin về khối lượng, số lượng hàng hóa được tiêu thụ, các khoản phải thu khách hàng, chi phí bán hàng, thị trường bán hàng, thị phần của doanh nghiệp, các chính sach trong bán hàng của doanh nghiệp… để từ đó nhà quản trị có thể kiểm tra, phân tích tình hình hoạt động kinh tế, tài chính, để lập và theo dõi việc thực hiện kế hoạch (phân tích sự biến động của doanh thu bán hàng, sự biến động của khối lượng hàng bán, sự biến động chi phí trong bán hàng, phân tích tính toán sự khả quan phát triển thị phần của doanh nghiệp…) và lập ra các kế hoạch, chiến lược kinh doanh trong bán hàng và trong các hoạt động khác của doanh nghiệp
-Về thực tiễn: Qua quá trình học tập tại trường và thời gian tìm hiểu thực tế tại
đơn vị em thấy công tác kế toán bán hàng của công ty cổ phần GSC Việt Nam đã có
sự cố gắng, cũng như có những hoạch định, tổ chức hợp lý Công ty đã có chỗ đứng
và tạo được dấu ấn trong lĩnh vực cung cấp trang thiết bị nội thất Nhưng cùng với sự
Trang 2khó khăn của nền kinh tế, hiện giờ công ty cũng đang phải đương đầu với nhiều thách thức và khó khăn đặc biệt là sự cạnh tranh của các công ty khác, nhất là trong thời kỳ kinh tế hiện nay sự cạnh tranh đó ngày càng gay gắt.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Để thấy được tầm quan trọng của hệ thống kế toán nói chung và bộ phận kế toán bán nhóm hàng trang thiết bị nội thất nói riêng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt
động của công ty em chọn đề tài “Kế toán bán trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam ”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu vấn đề này,công ty sẽ có cái nhìn đúng đắn về vấn đề kế toán bán hàng, tổ chức công tác kế toán khoa học hợp lý
Xét theo góc độ thưc tế : Đề tài sẽ đi vào khảo sát việc thực trạng kế toán bán
hàng tại Công ty cổ phần GSC Việt Nam Qua nghiên cứu chuyên đề sẽ giúp Công ty xác định và ghi nhận doanh thu bán nhóm hàng trang thiết bị nội thất theo đúng theo VAS 14; xác định và ghi nhận giá trị hàng tồn kho đã bán vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu và tuân thủ VAS 02; lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo đúng VAS 02, hệ thống sổ kế toán được thiết kế phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin và trình bày thông tin trên BCTC của VAS 21…
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: đề tài nghiên cứu về kế toán bán hàng trong công ty cổ
phần GSC Việt Nam
- Về mặt thời gian: số liệu nghiên cứu tập trung ở trong tháng 1 năm 2011.
- Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở mặt hàng trang thiết
bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam
1.5 Một số lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong DNTM
1.5.1 Quy định kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam
1.5.1.1 Theo VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác”
* Xác định doanh thu:
Trang 3Theo chuẩn mực kế toán số 14, đoạn 05, 06, 07, 08 (Ban hành và công bố
theo QĐ số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính)
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này, doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
* Ghi nhận doanh thu.
Theo VAS 14, đoạn 10: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
Trang 4- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
* Xác định dự phòng phải thu khó đòi.
Tại đoạn 14, VAS 14: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố chắc chắn này đã xử lý xong Nếu doanh thu được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự
là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
1.5.1.2 Theo VAS 02 “Hàng tồn kho”
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua
Các khoản chi phí không tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường
- Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản trong quá trình mua hàng
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 5Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho
- Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được
- Phương pháp bình quân gia quyền: giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp
- Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
- Phương pháp nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho
1.5.2 Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo Quyết định
48/2006/QĐ – BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
1.5.2.1 Chứng từ kế toán.
Tùy theo phương thức, hình thức bán hàng, kế toán bán hàng sử dụng các chứng từ kế toán sau:
- Hóa đơn GTGT (Hóa đơn bán hàng), Phiếu xuất kho
- Báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ
- Giấy nộp tiền của nhân viên bán hàng
- Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày, Bảng thanh toán hàng đại lý
Trang 6- Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, Bảng kê nộp séc, Báo có của ngân hàng…
1.5.2.2 Tài khoản kế toán sử dụng.
- Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Tài khoản này dùng
để phản ánh tổng doanh thu bán hàng thực tế, các khoản giảm trừ doanh thu và xác định doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Kết cấu tài khoản như sau:
• Kết chuyển doanh thu thuần
+ Bên có: Doanh thu bán hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ thực tế trong kỳ
Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư
Tài khoản 511 có 4 tài khoản cấp 2 đó là:
Tài khoản 5111 – Doanh thu bán hàng hóa
Tài khoản 5112 – Doanh thu bán các thành phẩm
Tài khoản 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ
Tài khoản 5118 – Doanh thu khác
Ngoài ra còn có sử dụng một số tài khoản khác có liên quan như Tài khoản
a Phương thức bán buôn hàng hóa
Kế toán bán buôn qua kho
Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng
- Kế toán ghi tăng tiền hoặc các khoản phải thu… ( Nợ TK 111,112,131 theo tổng giá thanh toán), tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ( Có TK 511 theo
Trang 7giá bán chưa có thuế GTGT) và tăng số thuế GTGT đầu ra phải nộp ( Có TK 33311 ) Đồng thời, căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán phản ánh giá vốn hàng bán: ghi tăng giá vốn hàng bán ( Nợ TK 632 )và ghi giảm giá trị hàng hóa, thành phẩm…( Có TK
156, 155 )
Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức gửi hàng cho khách hàng
Căn cứ vào phiếu xuất kho, phản ánh giá trị thực tế của hàng phải bán kế toán ghi giảm hàng hóa, thành phẩm (Có TK 156, 155), đồng thời ghi tăng hàng gửi đi bán (Nợ TK 157)
Kế toán bán buôn vận chuyển thẳng
Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao tay ba
- Căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ thanh toán của khách hàng, kế toán ghi tăng tiền hoặc các khoản phải thu… ( Nợ TK 111,112,131 theo tổng giá thanh toán), tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ( Có TK 511 theo giá bán chưa có thuế GTGT) và tăng số thuế GTGT đầu ra phải nộp ( Có TK 33311 ) Đồng thời, kế toán căn cứ vào hóa đơn GTGT ( hoặc hóa đơn bán hàng) do nhà cung cấp lập, phản ánh trị giá vốn hàng bán:ghi tăng giá vốn hàng bán (Nợ TK 632 theo giá mua chưa có thuế GTGT) và tăng số thuế GTGT đầu vào ( nếu có) và ghi giảm tiền hoặc khoản nợ phải trả nhà cung cấp…( Có TK 111, 112,331 theo giá mua đã có thuế GTGT)
Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng
-Khi DN mua hàng sau đó chuyển thẳng đi bán, căn cứ vào hóa đơn GTGT ( hoặc hóa đơn bán hàng) của nhà cung cấp và phiếu gửi hàng đi bán, kế toán ghi tăng hàng gửi đi bán ( Nợ TK 157 theo trị giá mua chưa có thuế của hàng vận chuyển thẳng) và tăng số thuế GTGT đầu vào ( Nợ TK 133 nếu có), và ghi giảm tiền hoặc các khoản phải trả nhà cung cấp…( Có TK 111,112,331)
-Khi hàng gửi bán được xác định là tiêu thụ, kế toán ghi tăng tiền và các khoản phải thu …( Nợ TK 111,112,131 theo giá bán đã có thuế) và ghi tăng doanh thu hàng bán
và cung cấp dịch vụ( Có TK 511theo giá bán chưa có thuế GTGT) và tăng số thuế GTGT đầu ra phải nộp (Có TK 33311) Đồng thời kế toán phản ánh trị giá vốn hàng bán:ghi tăng giá vốn hàng gửi bán và giảm hàng gửi đi bán
Trang 8 Các trường hợp phát sinh trong quá trình bán buôn
Kế toán chiết khấu thương mại
Trường hợp bán buôn có phát sinh chiết khấu thương mại giảm trừ cho khách hàng ghi: tăng khoản chiết khấu thương mại (Có TK 5211), ghi giảm khoản phải thu khách hàng (Có TK 131) hoặc ghi giảm tiền (Có TK 111,112), ghi giảm thuế đầu ra tính trên khoản chiết khấu thương mại (Nợ TK 33311)
Kế toán giảm giá hàng bán
- Khi có chứng từ xác định khoản giảm giá hàng bán cho người mua về số lượng hàng đã bán do kém, mất phẩm chất, sai quy cách, hợp đồng thì khoản giảm giá đã chấp thuận cho người mua, kế toán ghi tăng giảm giá hàng bán( Có TK 5213), ghi giảm tài khoản tiền hoặc các tài khoản liên quan (Có TK 111,112,131…) đồng thời ghi giảm số thuế GTGT phải nộp ( Nợ TK 33311 Số thuế GTGT của hàng bán bị giảm giá)
Cuối kỳ kết chuyển khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại để xác định doanh thu thuần: Kế toán ghi giảm doanh thu ( Nợ TK 511), ghi tăng TK giảm trừ doanh thu (Có TK 5211, 5212, 5213)
b Phương thức bán lẻ hàng hóa
- hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được bản kê bán lẻ hàng hóa của mậu dịch viên Kế toán xác định giá bán chưa thuế, thuế GTGT đầu ra của hàng hóa đã tiêu thụ Trường hợp số tiền mậu dịch viên thực nộp phù hợp với doanh số bán ra thì kế toán tiến hành ghi sổ kế toán: ghi tăng TK tiền ( Nợ TK 111), tăng doanh thu bán
Trang 9hàng và cung cấp dịch vụ ( Có TK 511 theo giá bán chưa có thuế GTGT) và tăng số thuế GTGT đầu ra phải nộp ( Có TK 33311 ) Đồng thời, kế toán phản ánh giá vốn hàng bán: ghi tăng giá vốn hàng bán ( Nợ TK 632 )và ghi giảm giá trị hàng hóa, thành phẩm…( Có TK 156, 155 )
c Kế toán ở đơn vị nhận đại lý, bán đúng giá hưởng hoa hồng
Khi nhận hàng đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng, kế toán phản ánh toàn bộ giá trị hàng hóa nhận bán đại lý vào Tài khoản 003 “Hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược” Khi nhận hàng đại lý, ký gửi ghi đơn bên Nợ TK 003, khi xuất hàng bán hoặc xuất trả lại hàng cho bên giao hàng ghi đơn bên Có TK 003
Khi hàng hóa nhận bán đại lý đã bán được:
- Khi xuất bán hàng nhận đại lý, phải lập Hóa đơn GTGT hoặc Hóa đơn bán hàng thông thường theo chế độ quy định Căn cứ vào Hóa đơn GTGT hoặc Hóa đơn bán hàng thông thường và các chứng từ liên quan, kế toán phản ánh số tiền bán hàng đại
lý phải trả cho bên giao hàng ghi tăng tài khoản 111,112,131 và tăng khoản phải trả cho người bán ( Có TK 331 theo tổng giá thanh toán)
- Định kỳ, khi xác định doanh thu hoa hồng bán hàng đại lý được hưởng, kế toán ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ(Có TK 5111), ghi giảm phải trả cho người bán( Nợ TK 331) và tăng số thuế GTGT phải nộp( Có TK 33311)
- Khi trả tiền bán hàng đại lý cho bên giao hàng, kế toán ghi giảm khoản phải trả cho người bán (Nợ TK 331)và ghi giảm tiền (Có TK 111,112…)
Trang 10+ Sổ chi tiết: kế toán mở sổ chi tiết theo dõi doanh thu chi tiết cho từng mặt hàng, từng nhóm hàng
Sổ chi tiết thanh toán người mua: dùng để theo dõi chi tiết tình hình công nợ
và thanh toán công nợ phải thu ở người mua Nó được mở cho từng khách hàng và theo dõi từng khoản nợ phải thu từ khi phát sinh cho đến khi người mua thanh toán hết các khoản nợ
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG BÁN TRANG THIẾT
BỊ NỘI THẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GSC VIỆT NAM
2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu về kế toán bán hàng
- Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thu thập dữ liệu: phương pháp này bao gồm các phương pháp như phương pháp nghiên cứu tài liệu thông qua việc đọc và nghiên cứu các chứng từ, sổ kế toán bán hàng của công ty, thông qua các báo cáo kết quả kinh doanh cũng như các báo cáo tài chính, nghiên cứu chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam Phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát hoạt động bán hàng trong công ty Đây đều là các phương pháp đơn giản, dễ hiểu và dễ sử dụng mà kết quả chính xác cao
- Phương pháp phân tích và thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua việc điều tra chọn mẫu có điều kiện và áp dụng bảng câu hỏi điều tra, tiến hành thu thập và xử
lý số liệu về đề tài nghiên cứu
- Quá trình thu thập và phân tích kết hợp với phương pháp so sánh cơ sở dữ liệu giúp tìm ra những giải pháp tốt nhất nhằm thể hiện và phản ánh được bản chất của vấn đề nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Xác định nguồn thông tin cần thu thập và đối tượng cần điều tra
- Nguồn thông tin cần thu thập là các thông tin liên quan đến nghiệp vụ kế toán bán nhóm hàng trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam Đó là các thông
Trang 11tin về việc áp dụng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, quy trình hạch toán kế toán, quy trình luân chuyển chứng từ, tài khoản, chứng từ sử dụng, sổ sách kế toán…của vấn đề nghiên cứu.
- Đối tượng cần điều tra: Các phòng ban liên quan đến đề tài nghiên cứu như Ban giám đốc, phòng kế toán, kho, bộ phận kinh doanh…
Sau khi đã xác định được nguồn thông tin cần thu thập, đối tượng cần điều tra, tiến hành thiết kế, lập bảng câu hỏi điều tra Các câu hỏi phải liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nguồn thông tin cần thu thập Không những thế, tất cả những thông tin,
số liệu thu thập được về doanh nghiệp và cá nhân tham gia cuộc điều tra này chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu của đề tài
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, em đã sử dụng mẫu câu hỏi điều tra như sau:
(Phiếu câu hỏi điều tra _ xem phụ lục số 01)
* Giai đoạn 2: Khảo sát thực tiễn kế toán bán nhóm hàng trang thiết bị nội thất thông qua các câu hỏi khảo sát
- Tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát đối với các phòng ban liên quan
- Thu thập các chứng từ, sổ sách liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Tổng hợp lại các phiếu điều tra đã phát
( Bảng tổng hợp kết quả điều tra _ xem phụ lục số 02)
* Giai đoạn 3: Phân tích, xử lý số liệu từ đó rút ra các kết luận, đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán nhóm hàng trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán bán hàng trong DNTM.
2.2.1 Tình hình trong nước về vấn đề nghiên cứu
Kế toán bán hàng trong DNTM chiếm tỷ trọng lớn nhất và có vị trí quan trọng nhất trong toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình, đề tài đã nghiên cứu về vấn đề kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại Không những thế, rất nhiều các tài liệu, báo, tạp chí, các đề tài nghiên
Trang 12cứu về vấn đề này Họ đã nêu ra những quan điểm, phát hiện của mình về các vấn đề liên quan đến kế toán bán hàng và từ đó đề xuất một số phương hướng khắc phục, giải quyết Nhìn chung, kế toán bán hàng đã giải quyết tốt các vấn đề về ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định giá gốc hàng xuất bán…,tuân thủ theo VAS 02, VAS14
và chế độ kế toán hiện hành
Bài viết “Vận dụng nguyên tắc thực hiện đối với ghi nhận doanh thu trong kế toán” được đăng tải trên trang web: http://tapchiketoan.com của TS Lê Văn Liên và ThS Nguyễn Thị Hồng Vân đã đề cập và đi sâu hơn về vấn đề thời điểm ghi nhận doanh thu và vận dụng nguyên tắc thực hiện đối với việc ghi nhận doanh thu trong một số trường hợp đặc biệt
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, kế toán bán hàng vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục, giải quyết như vấn đề về hạch toán hoa hồng đại lý: đó là việc ghi nhận hoa hồng không nên kèm theo ghi nhận thuế GTGT vì có ghi nhận thì cũng không thể hiện được gì mà còn làm cho kế toán rơi vào những tình huống khó khăn, đồng thời không thể hiện đúng ý nghĩa của thuế GTGT là đánh lên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ bán ra (theo bài viết “Hạch toán hoa hồng đại lý bán hàng đúng giá” của Ths Lê Ngọc Lợi trên trang web http\\tapchiketoan.com)
Mặt khác, trong thực tế, nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở nhiều tình huống khác nhau kế toán chưa tìm ra cách định khoản hợp lý và phù hợp với chế độ quy định nên khi lập báo cáo tài chính và báo cáo thuế còn gặp rất nhiều khó khăn hay các bất cập về kế toán thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp…
2.2.2 Sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến đến kế toán bán hàng trong DNTM.
2.2.2.1 Môi trường bên ngoài
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, cho dù có áp dụng các chế độ, chính sách, hình thức kế toán nào đi chăng nữa thì vẫn phải thực hiện nằm trong khuôn khổ các quy định của nhà nước Công ty cổ phần GSC Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Kế toán bán hàng tại doanh nghiệp cũng phải chịu sự chi phối của các chính sách luật của nhà nước, hệ thống các quy định, nghị quyết, thông tư các chuẩn mực
Trang 13về kế toán bán hàng Với những chính sách pháp luật quy định rõ ràng, hướng dẫn cách hạch toán chi tiết các nghiệp vụ phát sinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
kế toán của công ty Tuy nhiên, với những quy định đôi khi còn mang tính hình thức, rườm rà về các thủ tục đã làm cho công tác hạch toán kế toán tại công ty đôi khi còn khó khăn
Nhân tố đối thủ cạnh tranh cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến bán hàng và kế toán bán hàng của công ty, cạnh tranh là quy luật phổ biến của kinh doanh, nhờ sự cạnh tranh mà công ty đã có những chính sách hoàn thiện mình để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó hoàn thiện và nâng cao vai trò của bộ máy kế toán là vấn đề quan trọng mà doanh nghiệp đã ưu tiên để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, song cạnh tranh đôi khi cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị phần bán hàng của công ty, làm công ty gặp khó khăn và giảm khả năng đầu tư hoàn thiện công tác
kế toán
2.2.2.2.Môi trường bên trong
Bộ máy kế toán của doanh nghiệp là một nhân tố ảnh hưởng đến kế toán bán hàng Nếu doanh nghiệp tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý không có
sự chồng chéo thì sẽ giúp cho nghiệp vụ kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng được diễn ra một cách suôn sẻ, tiết kiệm được thời gian, chi phí…Và ngược lại
sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc, tốn kém thời gian và chi phí
Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến kế toán bán hàng trong DNTM đó chính là nguồn nhân lực – một nhân tố quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào Để phân loại doanh thu, xác định thời điểm ghi nhận doanh thu, tính giá vốn, phương pháp kế toán bán hàng một cách chính xác, kịp thời, nhanh chóng…yêu cầu đối với người làm kế toán cần phải có trình độ hiểu biết nhất định, năng lực tốt về các nghiệp
vụ kế toán Tuy nhiên, nếu như khối lượng kế toán nhiều mà nhân lực lại có hạn thì cũng không thể hoàn thành tốt được công việc.Chính vì vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải có những quyết định đúng đắn về tuyển dụng nhân sự và chính sách đào tạo, đãi ngộ phù hợp với cán bộ công nhân viên của mình
Trang 14Hình thức kế toán của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kế toán bán hàng Tùy thuộc vào mỗi loại hình doanh nghiệp để lựa chọn một hình thức kế toán cho phù hợp (chẳng hạn như đối với DNTM thường hay sử dụng hình thức kế toán Nhật ký chung) Nếu có sự lựa chọn phù hợp sẽ giúp làm giảm bớt các công việc
kế toán không cần thiết, tránh được sự trùng lặp dẫn đến những sai sót, nhầm lẫn trong quá trình hạch toán kế toán
Yếu tố công nghệ cũng là nhân tố tác động đến kế toán bán hàng Ngày nay, việc áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh là rất phổ biến Khi áp dụng công nghệ vào công tác kế toán cụ thể là áp dụng các phần mềm kế toán hiện đại sẽ giúp giảm bớt công việc của kế toán mà các thông tin kế toán vẫn đảm bảo độ chính xác, tin cậy, kịp thời, nhanh chóng cho các nhà quản lý
doanh nghiệp.2.3 Thực trạng kế toán bán trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam.
2.3.1 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần GSC Việt Nam.
2.3.1.1 Tổ chức bộ máy kế toán.
Công ty cổ phần GSC Việt Nam tổ chức công tác kế toán theo mô hình tập trung Toàn bộ công ty có một phòng kế toán duy nhất làm nhiệm vụ hạch toán tổng hợp, chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh của đơn vị, lập báo cáo kế toán, báo cáo tài chính theo quy định hiện hành
Bộ máy tổ chức kế toán tại công ty cổ phần GSC Việt Nam
( xem sơ đồ hình vẽ 01)
2.3.1.2 Chính sách kế toán áp dụng tại công ty.
Hiện nay, công ty áp dụng chế độ kế toán được ban hành theo Quyết định 48 ngày 14/09/2006 của Bộ tài chính Hình thức kế toán được áp dụng như sau:
- Niên độ kế toán năm được bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm theo dương lịch
- Đơn vị tiền sử dụng là VND
- Hình thức kế toán: Kế toán trên máy vi tính
(Trình tự ghi sổ kế toán máy- xem sơ đồ hình vẽ số 02 )
Trang 15- Ghi sổ theo hình thức NK chung
(Trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký chung- xem sơ đồ hình vẽ số 03 )
- Chế độ kế toán áp dụng: áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Phương tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Phương pháp khấu hao tài sản cố định: theo phương pháp đường thẳng
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho:
+ Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: theo trị giá gốc
+ Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: bình quân gia quyền
+ Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên
- Nguyên tắc ghi nhận chi phí đi vay: lãi suất thực tế ngân hàng
- Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận các khoản dự phòng phải trả
- Nguyên tắc và phương pháp ghi nhận doanh thu
Tuân thủ đầy đủ 5 điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng quy định tại chuẩn mực số
14 “ Doanh thu và thu nhập khác” Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản tiền đã thu hoặc sẽ thu theo nguyên tắc kế toán dồn tích Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không ghi nhận là doanh thu trong năm
2.3.2 Thực trạng kế toán tiêu thụ trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần GSC Việt Nam.
2.3.2.1 Đặc điểm kế toán tiêu thụ trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần
GSC Việt Nam
a Đặc điểm về mặt hàng tiêu thụ.
- Sản xuất trang thiết bị nội thất như: bàn, ghế hội trường, các loại bàn ghế làm việc cho văn phòng, cho trường học, cho các bệnh viện, cho gia đình, trang thiết bị nội thất như khán đài, ghế tại phòng chờ các công trình xây dựng công cộng như SVĐ, nhà thi đấu, sân ga…
- Sản xuất các sản phẩm nội thất văn phòng, nội thất gia đình đặc chủng
- Sản xuất tủ hồ sơ di động, vách ngăn di động, vách ngăn vệ sinh, vách ngăn văn phòng
- Sản xuất các sản phẩm gỗ tự nhiên, gỗ Verneer
- Tư vấn thiết kế nội thất tổng hợp, lên mô hình, dự toán
- Nhà phân phối chính thức của công ty Nội Thất Hòa Phát
- Nhà phân phối chính thức sản phẩm nội thất mang nhã hiệu FAMI
b Các phương thức bán hàng
Trang 16- Bán buôn: là một hình thức không thể thiếu được Nó chiếm tỷ trọng lớn trong quá trình tiêu thụ hàng hóa tại công ty Với hình thức này giúp cho hàng hóa tiêu thụ nhanh vì khối lượng bán lớn, tránh sự tồn đọng hàng hóa Mặt khác với hình thức bán này, công ty sẽ mở rộng được quan hệ hợp tác kinh doanh với nhiều bạn hàng khác nhau Từ đó có thể mở rộng quy mô kinh doanh, tăng sức cạnh tranh và uy tín trên thị trường Chủ yếu là phương thức bán buôn hàng hóa qua kho trong phương thức này
có hai hình thức
cụ thể:
+ Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: theo hình
thức này, khách hàng mang giấy ủy nhiệm đến kho của DN trực tiếp nhận hàng và áp tải hàng về Sau khi giao nhận hàng hóa, đại diện bên mua ký nhận đã đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán và đồng thời trả tiền ngay hoặc ký nhận nợ
+ Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: bên bán căn cứ vào hợp
đồng kinh tế đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng của người mua xuất kho gửi hàng cho người mua bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài Chi phí vận chuyển gửi hàng bán có thể do bên bán chịu hoặc có thể do bên mua chịu tùy theo hợp đồng kinh tế đã ký kết Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của DN đến khi nào bên mua nhận được hàng, chứng từ và đã chấp nhận thanh toán thì quyền sở hữu hàng hóa mới chuyển giao từ người bán sang người mua
-Bán lẻ hàng hóa: là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ
- Đơn vị nhận đại lý, bán đúng giá hưởng hoa hồng là phương thức DN nhận bán đại
lý Sau khi bán được hàng DN thanh toán tiền hàng cho nhà phân phối và được hưởng một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý
c Các phương thức thanh toán
Tạo điều kiện cho các khách hàng có thể thanh toán một cách tốt nhất Khách hàng có thể thanh toán ngay với các hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu, chuyển khoản qua ngân hàng hay sec bảo chi, ủy nhiệm chi, hoặc thanh toán phần còn lại sau khi hoàn thành gói thầu
Trang 172.3.2.2 Kế toán nghiệp vụ bán trang thiết bị nội thất tại công ty cổ phần
- Hóa đơn cước phí vận chuyển
- Biên bản giao nhận hàng hóa
- Phiếu thu (mẫu số 01- TT)
- Giấy báo có của ngân hàng
- Sổ phụ, bảng sao kê của ngân hàng, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi,…
*Quy trình luân chuyển chứng từ
Đối với nghiệp vụ bán hàng theo hợp đồng, khi nhận được biên bản giao nhận, đối chiếu với hợp đồng kinh tế đã ký kết và phiếu xuất kho, kế toán lập hóa đơn GTGT ghi nhận số lượng hàng hóa đã tiêu thụ Hóa đơn GTGT được lập thành 3 liên:
Liên 1 lưu tại quyển
Liên 2 giao cho khách hàng)
Liên 3 là căn cứ để kế toán ghi nhận doanh thu
Đối với nghiệp vụ bán lẻ tại showroom: hàng ngày, nhân viên của cửa hàng nộp tiền và báo cáo bán hàng theo ngày kèm theo bảng kê tiền của ngày hôm trước về phòng kế toán Kế toán thanh toán lập phiếu thu ghi nhận số tiền thực thu của cửa hàng Phiếu thu được lập trên máy và in thành 3 liên: liên 1 lưu, liên 2 làm cơ sở để thủ quỹ ghi vào sổ quỹ tiền mặt, liên 3 giao cho người nộp tiền Khi khách hàng có yêu cầu viết hóa đơn bán hàng, cửa hàng trưởng lập phiếu yêu cầu xuất hóa đơn tài chính kèm theo hóa đơn bán lẻ gửi về phòng kế toán Kế toán sẽ lập hóa đơn cho khách hàng và ghi nhận ngay khoản doanh thu đó Cuối tháng, kế toán tổng hợp báo cáo, đối chiếu với báo cáo bán hàng theo tháng và lập hóa đơn bán hàng, ghi nhận doanh thu
Trang 18Căn cứ vào hóa đơn GTGT, kế toán tiến hành nhập dữ liệu vào máy vi tính để ghi nhận doanh thu Sau đó, máy sẽ xử lý dữ liệu tự động và kết xuất ra các sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và các báo cáo kế toán Các chứng từ sau khi hạch toán xong được công ty lưu trữ cẩn thận
Tài khoản và vận dụng tài khoản
+ TK 5111: Doanh thu bán hàng hóa +TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm
- TK 632 “ Giá vốn hàng bán” TK này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bán trong kỳ
- TK 3331 “ Thuế GTGT phải nộp” Dùng để phản ánh nghĩa vụ và tình hình thực hiện nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp với nhà nước về các khoản thuế, phí,
lệ phí và các khoản phải nộp khác Được mở chi tiết
- TK 111 “ Tiền mặt ” Chi tiết
+TK 1111: Tiền Việt Nam + TK 1112: Ngoại tệ
- TK 112 “Tiền gửi Ngân hàng” Chi tiết
+TK 1121 : Tiền Việt Nam +TK 1122 : Ngoại tệ
- TK 131 “ Phải thu của khách hàng” phản ánh số tiền mà DN phải thu của khách hàng do bán chịu hàng hóa, sản phẩm và tình hình thanh toán các khoản
Trang 19phải thu của khách hàng Ngoài ra còn được sử dụng để phản ánh số tiền DN nhận ứng trước của khách hàng.
- TK 521 “ Các khoản giảm trừ doanh thu” Phản ánh các khoản giảm trừ cho người mua hàng Chi tiết
+TK 5211: Chiết khấu thương mại ( Dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà DN đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua đã mua hàng của DN với số lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán)
+TK 5212: Hàng bán bị trả lại ( Dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã xác định tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối thanh toán và trả lại cho DN)
* Vận dụng tài khoản
Hình thức kế toán bán buôn qua kho: Khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng cho khách
như sau: Ngày 10/01 công ty TNHH Sena Việt Nam mua 1 số trang thiết bị nội thất( HĐ GTGT số 0013979) Công ty bán hàng theo hình thức bán buôn qua kho, giao hàng trực tiếp cho khách hàng Căn cứ vào phiếu xuất kho ghi ngày 10-01-2011
(phụ lục số 2.4) kế toán ghi giảm hàng hóa trong kho và phản ánh giá vốn hàng bán (sổ chi tiết tài khoản 632 - phụ lục số 2.5)
Nợ TK 632 131.694.404
Có TK 156 131.694.404Lúc này kế toán căn cứ vào hóa đơn GTGT sẽ ghi nhận doanh thu bán hàng tăng và thuế GTGT tăng lên Nếu khách hàng muốn thanh toán sau thì kế toán ghi
nhận khoản nợ phải thu (sổ chi tiết TK 131-phụ lục sổ 2.6) Kế toán ghi:
Có TK 5111 172.831.990
Có TK 333112 17.283.199 Nếu khách hàng thanh toán tiền ngay thì kế toán ghi tăng tiền mặt (Nợ TK 111), nếu khách hàng muốn thanh toán bằng chuyển khoản thì kế toán ghi tăng tiền gửi (Nợ TK 112)
Nhưng thường thì khách hàng muốn thanh toán sau nhiều hơn