1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán NSĐP của tỉnh, thành phố tại kiểm toán nhà nước khu vực III

124 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 6,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đề tài về kiểm toán NSĐP đã được thực hiện: Lê Quang Bính 2006: Đề tài đã khái quát đặc điểm hoạt động của KTNN với việc đánh giá về hệ thống KSNB các đơn vị được kiểm toán; xác địn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM THỊ VÂN ANH

ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN

LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CỦA TỈNH, THÀNH PHỐ

TẠI KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC III

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Thị Ngọc Trai

Đà Nẵng – Năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN NSĐP TỈNH, THÀNH PHỐ 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG 6

1.1.1 Các đặc điểm của cuộc kiểm toán NSĐP 6

1.1.2 Quy trình kiểm toán NSĐP 11

1.1.3 Giai đoạn lập kế hoạch của cuộc kiểm toán NSĐP 15

1.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN NSĐP 20 1.2.1 Khái niệm về rủi ro kiểm toán 20

1.2.2 Thành phần của rủi ro kiểm toán 21

1.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH CỦA CUỘC KIỂM TOÁN NSĐP 23

1.3.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng 24

1.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát 28

1.3.3 Xác định rủi ro phát hiện 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN NSĐP TẠI KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC III 38

2.1 GIỚI THIỆU VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC III 38

Trang 4

2.1.1 Vị trí và chức năng của KTNN KV III 38

2.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy của KTNN khu vực III 39

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG CUỘC KIỂM TOÁN NSĐP TẠI KTNN KHU VỰC III 40

2.2.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng 40

2.2.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát 56

2.2.3 Xác định rủi ro phát hiện 61

2.3 NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN NSĐP TẠI KTNN KHU VỰC III 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN NSĐP TỈNH, THÀNH PHỐ TẠI KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC III 65

3.1 HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ RỦI RO TIỀM TÀNG 66

3.2 HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM SOÁT 71

3.3 XÁC ĐỊNH RỦI RO PHÁT HIỆN 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCTL : Cải cách tiền lương

CTMTQG : Chương trình mục tiêu quốc gia

NSĐP : Ngân sách địa phương

NSNN : Ngân sách nhà nước

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 6

1.1 Quy trình kiểm toán và các nguyên tắc liên quan đến quá

2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước khu vực III 39

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công KTNN ngày càng khẳng định vị trí của mình thông qua Luật Kiểm toán nhà nước năm

2015 trong nâng cao năng lực hoạt động, hiệu lực pháp lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của KTNN như một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Chính vì vậy mà KTNN đang dần hoàn thiện các quy trình kiểm toán, đề cương kiểm toán, các quy định về kiểm soát chất lượng kiểm toán và các nội dung liên quan khác nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán trong mọi lĩnh vực KTNN khu vực chủ yếu thực hiện các cuộc kiểm toán NSĐP của tỉnh, thành phố được phân công và một trong những nhân tố cơ bản quyết định chất lượng cuộc kiểm toán NSĐP đó là công tác đánh giá rủi ro kiểm toán Đánh giá rủi ro kiểm toán là một khâu then chốt mà KTV cần thực hiện, là cơ sở để xác định mục tiêu, trọng tâm kiểm toán và nội dung kiểm toán phù hợp cho từng cuộc kiểm toán Tuy nhiên, thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán tại KTNN khu vực III vẫn còn chưa hoàn thiện, chủ yếu còn tồn tại các đặc điểm như sau:

- Thứ nhất, xét đoán chuyên môn của KTV về rủi ro kiểm toán chưa được hệ thống dẫn đến việc nhận diện các rủi ro còn thiếu sót và tùy thuộc vào trình độ của từng KTV

- Thứ hai, nhận diện rủi ro kiểm toán còn chung chung, dựa trên hệ thống rủi ro kiểm toán mà quy trình kiểm toán đã nêu, đặc biệt là chưa đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ để đánh giá rủi ro kiểm soát đối với đơn vị được kiểm toán

Trang 8

- Thứ ba, KTV không kiểm soát được trường hợp Lãnh đạo và nhân viên của các đơn vị được kiểm toán thiếu tính trung thực và cố tình gian lận, chẳng hạn việc cung cấp thông tin không đầy đủ dẫn đến đưa ra các nhận định, đánh giá không chính xác

Bên cạnh đó, KTNN đã có ban hành Quyết định số 06/2017/QĐ-KTNN

về quy trình kiểm toán NSĐP và Đề cương kiểm toán NSĐP, trong các văn bản hướng dẫn đã định nghĩa về rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, phân loại rủi ro và liệt kê các rủi ro kiểm toán thường gặp trong từng nội dung kiểm toán, tuy nhiên còn chưa đầy đủ và ở dạng liệt kê, chưa có ở dạng phương pháp phân tích đánh giá mức độ rủi ro

Từ những phân tích trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá rủi

ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán ngân sách địa phương của tỉnh, thành phố tại Kiểm toán nhà nước khu vực III” làm luận văn tốt

nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong khâu lập kế hoạch kiểm toán tại các cuộc kiểm toán NSĐP của tỉnh, thành phố do KTNN khu vực III thực hiện và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại các cuộc kiểm toán NSĐP của tỉnh, thành phố tại KTNN khu vực III

- Phạm vi nghiên cứu: Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán của cuộc kiểm toán NSĐP của tỉnh, thành phố do KTNN khu vực III thực hiện thuộc niên độ ngân sách 2016, năm thực hiện kiểm toán 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp nghiên cứu tình huống dựa trên kế hoạch kiểm toán của cuộc kiểm toán cụ thể Các thông tin được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ nguồn dữ liệu thứ cấp, cụ thể là tài liệu nội bộ của KTNN khu vực III Tài liệu nội bộ của KTNN khu vực III gồm hồ sơ kiểm toán trong năm 2017 do KTNN khu vực III thực hiện

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán NSĐP tỉnh, thành phố

Chương 2: Công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán NSĐP tại KTNN khu vực III

Chương 3: Hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán NSĐP tỉnh, thành phố tại KTNN khu vực III

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đã có một số đề tài nghiên cứu về công tác đánh giá rủi ro kiểm toán, chủ yếu là đối với kiểm toán Báo cáo tài chính, mà tác giả đã nghiên cứu:

Đoàn Thanh Nga (2011): Đề tài này đã khái quát được thực trạng công

tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán tại nhiều công ty kiểm toán độc lập, nhận diện được những ưu điểm, hạn chế của công tác này, đưa ra kết luận đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán có tính quyết định đối với chất lượng kiểm toán Tác giả này còn đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán mà nổi bật là giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro môi trường hoạt động

Lê Thị Kim Yến (2013): Đề tài này tác giả đã khái quát được thực trạng

công tác đánh giá rủi ro kiểm toán tại một công ty kiểm toán cụ thể đó là

Trang 10

Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn thuế ATAX, chi tiết hóa quá trình thực

hiện đánh giá rủi ro kiểm toán của công ty với các tài liệu đang sử dụng thực

tế tại công ty Tác giả này đã đưa ra được những ưu điểm, hạn chế của công tác đánh giá rủi ro kiểm toán tại công ty và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán mà nổi bậc là giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro môi trường hoạt động, đánh giá rủi

ro kiểm soát trong mối liên hệ với rủi ro tiềm tàng

Trên đây là các nghiên cứu chủ yếu về rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tác giả nghiên cứu ứng dụng xác định rủi

ro kiểm toán đối với kiểm toán NSĐP

Các đề tài về kiểm toán NSĐP đã được thực hiện:

Lê Quang Bính (2006): Đề tài đã khái quát đặc điểm hoạt động của

KTNN với việc đánh giá về hệ thống KSNB các đơn vị được kiểm toán; xác định tính trọng yếu, rủi ro tại các đơn vị được kiểm toán của KTNN Đề tài nghiên cứu từ thực trạng đánh giá hệ thống KSNB của từng lĩnh vực kiểm toán do đơn vị được kiểm toán thực hiện chức năng tham mưu, quản lý để đề

ra phương pháp, quy trình, thủ tục đánh giá hệ thống KSNB của KTNN nhằm đưa ra các cách xác định mức độ trọng yếu và phương pháp, thủ tục đánh giá rủi ro kiểm toán Phương pháp xác định rủi ro kiểm soát theo mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và trọng yếu kiểm toán

Lê Văn Tám (2010): Đề tài đã nêu cụ thể về tổ chức công tác kiểm toán

NSĐP tại KTNN khu vực VIII, nêu rõ các hạn chế về công tác kiểm toán NSĐP trong đó nổi bật hạn chế trong khâu chuẩn bị kiểm toán: chưa chú trọng đúng mức đánh giá hệ thống KSNB tại các địa phương và đơn vị được kiểm toán, dẫn đến xác định rủi ro kiểm soát chưa phù hợp

Nguyễn Đức Thu (2013): Luận văn đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ

Trang 11

bản về tổ chức kiểm toán ngân sách quận, huyện, thực trạng công tác kiểm toán ngân sách quận, huyện tại KTNN khu vực III thực hiện và đề ra phương hướng giải pháp trong công tác kiểm toán ngân sách quận, huyện Với phương hướng đề ra của tác giả là về hệ thống thông tin kế toán nhà nước trong quản lý tài chính quốc gia Qua nghiên cứu về công tác kiểm toán, tác giả áp dụng đánh giá rủi ro khi KTV áp dụng thực hiện kiểm toán dựa trên hệ thống thông tin kế toán nhà nước

Các nghiên cứu tại KTNN nói chung và KTNN khu vực III nói riêng đều nghiên cứu về công tác kiểm toán NSĐP, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch đối với cuộc kiểm toán NSĐP và đánh giá rủi ro kiểm toán trong hoạt động kiểm toán NSĐP của KTNN, chỉ mới có đề tài nghiên cứu cấp bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị được kiểm toán Chính vì vậy mà tác giả đã chọn nghiên cứu công tác đánh giá rủi ro kiểm toán NSĐP trong điều kiện áp dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro Từ những nội dung nghiên cứu trong các đề tài trước đây, đề tài này đã tiếp tục vận dụng về đánh giá rủi

ro kiểm toán trong kiểm toán NSĐP và vận dụng các Chuẩn mực KTNN mới được ban hành, đi sâu vào phản ánh, đánh giá thực tế công tác đánh giá rủi ro kiểm toán tại KTNN khu vực III và đề xuất phương hướng hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán tại KTNN khu vực III

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH

KIỂM TOÁN NSĐP TỈNH, THÀNH PHỐ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.1.1 Các đặc điểm của cuộc kiểm toán NSĐP

a Các vấn đề về NSĐP

Theo Luật NSNN năm 2015 có nêu: Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương

* Cơ cấu của NSĐP dựa vào hệ thống chính quyền nhà nước và sự phân cấp quản lý ngân sách:

Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp (cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh), mỗi cấp đều được giao nhiệm vụ quản lý nhất định và kèm với

đó là những quyền hạn nhất định trong đó có vấn đề tài chính đó chính là ngân sách Sự phân giao quyền hạn ngân sách cho các cấp chính quyền hình thành nên khái niệm phân cấp quản lý ngân sách [Tám, 2010] Phân cấp quản lý ngân sách

là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội [Luật ngân sách nhà nước, 2015]

Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó:

- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh [163/2016/NĐ-CP, 2016];

Trang 13

- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn thuộc huyện [163/2016/NĐ-CP, 2016];

- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) [163/2016/NĐ-CP, 2016]

* Quy trình ngân sách

Quy trình ngân sách là việc tổ chức quản lý hoạt động NSNN theo một trình tự nhất định Trình tự các bước của quy trình ngân sách diễn ra kế tiếp nhau và có sự lặp đi lặp lại Trong một quy trình NSNN bao gồm ba bước: Lập dự toán NSNN, Chấp hành NSNN và quyết toán NSNN [Huệ, 2006] Quy trình ngân sách thường có tính xen kẽ và kế thừa nối tiếp nhau, giai đoạn lập dự toán tiến hành ở năm ngân sách trước, chấp hành ngân sách thực hiện trong thời gian của năm ngân sách và quyết toán ngân sách thực hiện năm ngân sách sau, chính vì vậy mà thực hiện hết quy trình ngân sách phải kéo dài

3 năm liên tiếp

Lập dự toán NSNN

Dự toán NSNN hằng năm của địa phương được căn cứ theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách ở địa phương và đặc điểm tình hình của địa phương [163/2016/NĐ-CP, 2016] Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được dựa trên cơ sở về sự tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan đến các quy định của pháp luật về thu ngân sách Các khoản chi trong

dự toán ngân sách phải dựa trên căn cứ về các mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương, các mục tiêu về đảm bảo an ninh, quốc phòng mà đặc biệt chi tiết ở 03 lĩnh vực chi: (1) Chi đầu tư phát triển: Việc lập dự toán chi đầu tư phát triển dựa trên mục tiêu đầu tư phát triển của địa phương mà chi tiết là các quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định và phê duyệt; (2) Chi thường xuyên: Việc lập dự toán chi thường

Trang 14

xuyên phải căn cứ vào các chế độ, tiêu chuẩn, định mức đối với từng khoản chi cụ thể do cơ quan có thẩm quyền quy định và căn cứ trên nguồn lực của địa phương (về nguồn thu của địa phương) mà xác định phù hợp các nhiệm

vụ chi, định mức phù hợp với địa phương mình; (3) Chi trả nợ: Căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ của năm dự toán và kế hoạch trả nợ của các món vay, tạm ứng mà địa phương bố trí nguồn lực để thanh toán

Chấp hành NSNN

Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng các biện pháp về kinh tế, tài chính và hành chính nhằm thực hiện các chỉ tiêu thu, chi đã lập dự toán năm trở thành hiện thực [Chinh, 2007] Ngoài việc phân bổ, giao dự toán, tổ chức thực hiện dự toán thu, chi NSNN, trong quá trình thực hiện chấp hành ngân sách còn có thể điều chỉnh dự toán thu, chi ngân sách theo quy định

Chấp hành NSNN là khâu có ý nghĩa quyết định do ảnh hưởng đến việc

có thực hiện đảm bảo theo dự toán đề ra, thực hiện khâu này mới có thể đánh giá việc các hoạt động có thực sự phát sinh trong thời gian diễn ra của ngân sách, nhất là trong quá trình huy động nguồn thu Chấp hành ngân sách là một quá trình được điều hành bởi cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cùng với sự hợp tác của các cơ quan chủ quản, các đơn vị sử dụng ngân sách Nhiệm vụ chi ngân sách do cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm soát, cấp phát cho các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách Các yêu cầu, đề nghị thanh toán của đơn vị sử dụng ngân sách phải được kiểm tra rõ ràng trước khi thực hiện thanh toán [Tám, 2010]

Quyết toán NSNN

Quyết toán NSNN thực hiện khi kết thúc năm ngân sách, nhằm đánh giá kết quả thực hiện sau một năm chấp hành NSNN và xác định tính đúng đắn, trung thực của các số liệu thu, chi NSNN đối với năm ngân sách đã qua [Chinh 2007] Thảo luận, đánh giá và phê chuẩn quyết toán NSNN thuộc

Trang 15

thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước Quyết toán NSĐP là căn cứ để HĐND phê chuẩn

Quyết toán ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách, là quá trình rà soát, chỉnh lý để đảm bảo tính chính xác của các số liệu thu, chi NSNN sau một năm ngân sách thực hiện; trên cơ sở đó tổng hợp

và lập các báo cáo trình các cơ quan chức năng của nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn Lập quyết toán NSĐP được tiến hành theo trình tự từ dưới lên trên UBND tỉnh có trách nhiệm trình HĐND tỉnh Quốc hội có trách nhiệm thảo luận và phê chuẩn quyết toán NSNN, HĐND tỉnh có trách nhiệm thảo luận và phê chuẩn quyết toán NSĐP Sau khi quyết toán năm đã được phê chuẩn thì

chu trình ngân sách của năm đó mới được hoàn thành [Phúc, 2009]

b Khái niệm, đối tượng, mục tiêu và nội dung kiểm toán NSĐP

Khái niệm: Kiểm toán ngân sách địa phương (NSĐP) là việc kiểm tra, đánh

giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán ngân sách địa phương; kiểm tra việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước do địa phương quản lý sử dụng

Đối tượng của kiểm toán NSĐP: Dựa vào sự phân cấp của NSĐP mà

đối tượng kiểm toán cũng bao gồm ngân sách các cấp của chính quyền địa phương; là các đơn vị quản lý, sử dụng kinh phí nhà nước tại các cấp ngân sách [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

Mục tiêu của kiểm toán NSĐP

Mục tiêu của cuộc kiểm toán được xác định căn cứ vào định hướng kiểm toán hàng năm của KTNN; yêu cầu và tính chất của cuộc kiểm toán NSĐP; đặc điểm và tình hình thực tế của địa phương được kiểm toán Thông thường mục tiêu chủ yếu của kiểm toán NSĐP là: Đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán ngân sách các cấp tại địa phương được

Trang 16

kiểm toán; Đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và trong các hoạt động có liên quan; Đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công tại các đơn vị được kiểm toán; Thông qua hoạt động kiểm toán chỉ ra các sai phạm và kiến nghị với đơn vị được kiểm toán về biện pháp khắc phục, chấn chỉnh công tác quản lý nội bộ; kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm về chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước; đề xuất với các cơ quan chức năng những kiến nghị sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý nhằm bảo đảm các nguồn lực tài chính, tài sản công được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả; Thông qua hoạt động kiểm toán góp phần đấu tranh, phòng chống tham nhũng lãng phí [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

Nội dung kiểm toán NSĐP

Nội dung kiểm toán được xác định căn cứ vào hướng dẫn về mục tiêu, trọng tâm, nội dung kiểm toán chủ yếu hàng năm của KTNN, mục tiêu của cuộc kiểm toán; đặc điểm và tình hình thực tế của đơn vị được kiểm toán (hoặc vấn đề được kiểm toán) Tùy theo tính chất, quy mô của từng cuộc kiểm toán ngân sách địa phương, nội dung kiểm toán được xác định cuộc kiểm toán NSĐP là một cuộc kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động

Nội dung kiểm toán ngân sách địa phương gồm: Kiểm toán ngân sách cấp tỉnh, kiểm toán ngân sách cấp huyện và kiểm toán ngân sách xã theo một

số nội dung xoay quanh việc quản lý điều hành dự toán ngân sách (gồm có thu ngân sách, chi ngân sách) của từng cấp ngân sách

Nội dung kiểm toán đối với ngân sách cấp tỉnh là hoạt động quản lý, điều hành ngân sách cấp tỉnh của UBND cấp tỉnh và các cơ quan chức năng thuộc

Trang 17

UBND tỉnh (kiểm toán hoạt động thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách cấp tỉnh)

Việc xác định nội dung kiểm toán NSĐP phải gắn với chu trình ngân sách khép kín, tức là từ khâu lập dự toán, chấp hành ngân sách đến khâu cuối cùng là quyết toán ngân sách tuy nhiên phải chú ý đến việc chuyển tiếp nhiệm

vụ thu, chi và tính liên hoàn trong quản lý, nhất là việc xây dựng dự toán và kết chuyển nhiệm vụ chi giữa các niên độ ngân sách Việc xác định nội dung kiểm toán phải bao quát được nội dung kiểm toán ở các đầu mối quản lý chính, trong mỗi cấp ngân sách phải bao quát được các chủ thể quản lý Nội dung kiểm toán phải gồm cả kiểm toán các khoản thu, các khoản chi, trong đó thu ngân sách địa phương gồm có thu nội địa và thu xuất nhập khẩu, chi ngân sách gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên [Chinh, 2007]

Do tính chất và quy mô của mỗi cuộc kiểm toán rất khác nhau, vấn đề quan trọng đối với KTV là vận dụng tính trọng yếu kiểm toán trong khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc thù của mỗi cuộc kiểm toán Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán ngân sách địa phương nói riêng, thực trạng sử dụng ngân sách cũng như hiệu quả của các khoản thu, chi, hay hiệu lực của một chính sách quản lý là vấn đề rất rộng

và thực tế không thể kiểm toán được tất cả các vấn đề Chính vì vậy, KTNN cần lựa chọn nội dung kiểm toán tối ưu để đánh giá đúng bản chất của đối tượng kiểm toán nhằm đáp ứng yêu cầu của người quan tâm trên cơ sở thực hiện tốt chức năng kiểm toán và đảm bảo hiệu quả của cuộc kiểm toán

1.1.2 Quy trình kiểm toán NSĐP

Quy trình kiểm toán ngân sách địa phương là các quy định trình tự, nội dung, thủ tục tiến hành các bước công việc của cuộc kiểm toán NSĐP, bao gồm các bước sau:

- Chuẩn bị kiểm toán

Trang 18

- Thực hiện kiểm toán

- Lập và gửi báo cáo kiểm toán

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

a Chuẩn bị kiểm toán: là giai đoạn khảo sát, thu thập thông tin về đơn

vị được kiểm toán, về công tác quản lý ngân sách tại địa phương, về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, từ đó đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả, độ tin cậy, những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ của địa phương và thông tin đã thu thập làm cơ sở xác định và đánh giá rủi ro kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán; từ đó có đầy đủ thông tin lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

* Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát: Trên cơ sở khảo sát, thu thập và

đánh giá thông tin về hệ thống KSNB, thông tin về tài chính và các thông tin khác về địa phương, xác định và đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định trọng yếu kiểm toán để lập Kế hoạch kiểm toán tổng quát Kế hoạch kiểm toán tổng quát bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Xác định mục tiêu kiểm toán của cuộc kiểm toán được xác định căn cứ vào định hướng kiểm toán hàng năm của KTNN; yêu cầu và tính chất của cuộc kiểm toán NSĐP; đặc điểm và tình hình thực tế của địa phương được kiểm toán

- Xác định nội dung kiểm toán

- Xác định tiêu chí kiểm toán

- Xác định phạm vi kiểm toán

- Xác định các phương pháp và thủ tục kiểm toán như phương pháp đối chiếu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp cân đối ; Các thủ tục kiểm toán cần thiết, phù hợp với nội dung, tính chất của khoản mục và dựa vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu

Trang 19

- Và các nội dung khác

* Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết: Căn cứ Kế hoạch kiểm toán tổng

quát, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, các thông tin tài chính và các thông tin có liên quan; đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán; xác định cách thức tiếp cận rủi ro đối với từng nội dung kiểm toán; thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán đối với từng nội dung kiểm toán; thời gian kiểm toán đối với từng nội dung kiểm toán; nhân sự của Tổ kiểm toán, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Mục tiêu, nội dung, tiêu chí kiểm toán

- Phạm vi, giới hạn kiểm toán

- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và phân tích thông tin thu thập

- Đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán

- Xác định trọng yếu kiểm toán

- Xác định mẫu chọn kiểm toán

- Phân công nhiệm vụ kiểm toán và dự kiến tiến độ thời gian, địa điểm thực hiện công việc

- Phương pháp, thủ tục kiểm toán phải thực hiện [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

b Thực hiện kiểm toán: Căn cứ theo KHKT tổng quát và KHKT chi tiết

mà các KTV bắt đầu thực hiện hoạt động các nội dung kiểm toán:

- Thu thập bằng chứng kiểm toán, ghi chép tài liệu;

- Đánh giá dựa trên cơ sở các bằng chứng thu thập được, dựa trên hệ thống nội bộ của đơn vị và bằng các phương pháp kiểm toán nhằm giúp các KTV đưa ra ý kiến xác nhận đánh giá tính xác thực của tài liệu đó với đơn vị được kiểm toán

Trang 20

Tổng hợp các nội dung, kết quả đã thực hiện của từng KTV, lập và thông qua dự thảo biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán và dự thảo thông báo kết quả kiểm toán tại đơn vị kiểm toán chi tiết [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

c Lập và gửi báo cáo kiểm toán: Tổng hợp các bằng chứng kiểm toán và

các kết quả kiểm toán từ Biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán của KTV, các Biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán để lập dự thảo Báo cáo kiểm toán NSĐP Sau đó là công tác phát hành Báo cáo kiểm toán phải qua các giai đoạn xét duyệt dự thảo Báo cáo kiểm toán: (i) Kiểm toán trưởng và Tổng KTNN xét duyệt dự thảo Báo cáo kiểm toán thông qua Hội đồng thẩm định của KTNN khu vực và các cơ quan tham mưu của KTNN nhằm đảm bảo các kết quả kiểm toán thực hiện đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi, giới hạn kiểm toán, các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị kiểm toán được bảo đảm cơ sở pháp lý; (ii) Dự thảo Báo cáo kiểm toán được hoàn thiện và lấy ý kiến của đơn vị được kiểm toán, tùy từng kiến nghị cụ thể mà Tổng KTNN có kết luận phù hợp với tình hình địa phương để các kiến nghị có tính khả thi; (iii) Hoàn thiện và phát hành báo cáo kiểm toán theo các kết luận cuối cùng của Tổng KTNN [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

d Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán: là các

hoạt động thu thập, đánh giá, đôn đốc, xử lý và báo cáo kết quả việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của đơn vị được kiểm toán [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

Trang 21

Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm toán và các nguyên tắc liên quan đến

quá trình kiểm toán 1.1.3 Giai đoạn lập kế hoạch của cuộc kiểm toán NSĐP

Chuẩn bị kiểm toán: Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của công tác

kiểm toán nhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán Đây là công việc có ý nghĩa quyết định chất lượng kiểm toán Chuẩn bị kiểm toán NSĐP về cơ bản bao gồm các công việc chủ yếu sau:

a Khảo sát và thu thập thông tin

Ở bước chuẩn bị, thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyết định về kiểm toán (kể cả kế hoạch kiểm toán) mà chưa đặt ra mục đích thu thập bằng chứng cho kết luận kiểm toán Do vậy, nhiệm vụ thu thập thông tin ở bước này chỉ yêu cầu tương ứng với mục tiêu và phạm vi kiểm toán, vấn

đề đặt ra là làm sao có thể có nhiều thông tin nhất, để có định hướng các nội dung cho cuộc kiểm toán, thông tin cần đến chiều rộng hơn là chiều sâu Trong vấn đề thu thập thông tin, KTV cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã có như các biểu mẫu địa phương được yêu cầu báo cáo theo quy định của Luật,

CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN

Lập kế hoạch

kiểm toán

Thực hiện kiểm toán

Lập báo cáo kiểm toán

Thực hiện các thủ tục kiểm toán theo kế hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán;

Đánh giá bằng chứng kiểm toán và đưa ra kết luận

Theo dõi thực hiện kiến nghị kiểm toán

Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị trong báo cáo kiểm toán

Trang 22

Nghị định, Thông tư cho các cơ quan cấp trên; các tài liệu, báo cáo truy xuất

từ phần mềm quản lý của ngành như về công tác quản lý thu của cơ quan thuế (hệ thống TMS), công tác quản lý ngân sách của KBNN và Sở Tài chính (hệ thống Tabmis) và khi cần thiết vẫn phải có những biện pháp thu thập bổ sung

Các thông tin về địa phương được kiểm toán cần thu thập:

- Thông tin về chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các văn bản quy định của địa phương về điều hành ngân sách gồm: phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi, các quy định về định mức chi thường xuyên, các hướng dẫn về dự toán và quyết toán NSĐP;

- Thông tin về thu ngân sách nhà nước trên địa bàn và các thông tin liên quan như: tổng hợp thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; tình hình sản xuất kinh doanh, thu nộp ngân sách, miễn giảm, hoàn thuế, nợ đọng thuế của các

tổ chức kinh doanh trên địa bàn; các thông tin về kinh tế xã hội tác động đến quản lý, điều hành thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; thông tin về chấp hành chế độ kế toán và quyết toán thu ngân sách; thông tin về thanh tra, kiểm tra; các thông tin liên quan khác

- Thông tin về chi ngân sách cấp tỉnh và các thông tin có liên quan như: thông tin về các đơn vị dự toán cấp tỉnh; thông tin về tình hình chi ngân sách cấp tỉnh; những quy định của UBND tỉnh và tình hình chấp hành các quy định

về lập, chấp hành, quyết toán chi ngân sách cấp tỉnh; các thông tin về kinh tế

xã hội tác động đến quản lý và điều hành ngân sách cấp tỉnh; thông tin về chấp hành chế độ kế toán và quyết toán chi ngân sách; thông tin về thanh tra, kiểm tra; các thông tin liên quan khác

b Phân tích, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và các thông tin đã thu thập

Thông tin thu thập được từ bước khảo sát sẽ là cơ sở cho KTV đánh giá các rủi ro kiểm toán và xác định tính trọng yếu kiểm toán Đây là hai vấn đề

Trang 23

quan trọng phải cân nhắc để hình thành kế hoạch kiểm toán một cách đầy đủ

và phù hợp nhất, hoàn thành mục tiêu kiểm toán với chi phí thấp nhất

KTV được phân công nhiệm vụ, phải thực hiện phân tích đánh giá các thông tin đã thu thập được về thu ngân sách trên địa bàn, tổng hợp chi ngân sách địa phương Đánh giá về môi trường KSNB, hoạt động kiểm soát và các thủ tục kiểm soát, công tác kế toán, kiểm toán, thanh tra và kiểm tra nội bộ

Việc thu thập thông tin thực hiện chủ yếu là khai thác các tài liệu văn bản quy định về quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản công bằng cách tra cứu hệ thống văn bản công khai trên mạng, bằng cách khảo sát tại khách thể kiểm toán thông qua phỏng vấn, thu thập tài liệu, quan sát; song các tài liệu ở mức độ khái quát phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán, các tài liệu chưa đủ sâu để đưa ra các đánh giá, nhận xét, kết luận cho vấn đề kiểm toán

c Xác định và đánh giá rủi ro kiểm toán

Dựa trên những đánh giá tổng quát về các thông tin thu thập để đánh giá các yếu tố tác động đến rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát làm cơ sở đánh giá rủi ro kiểm toán nhằm xác định lựa chọn đơn vị và các nội dung trọng yếu

Một trong những vấn đề quan trọng trong lập kế hoạch kiểm toán là nghiên cứu cơ cấu KSNB của đơn vị được kiểm toán để giúp KTV đánh giá

về rủi ro kiểm soát, đề ra phương pháp kiểm toán thích hợp áp dụng cho cuộc kiểm toán Vì vậy, KTV phải có sự hiểu biết đầy đủ về cơ cấu KSNB để lập

kế hoạch kiểm toán Nếu kết quả đánh giá hệ thống KSNB là hoạt động tốt, có

độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp phạm vi, khối lượng kiểm toán mà vẫn đảm bảo không bỏ sót những nội dung trọng yếu của cuộc kiểm toán Nghiên cứu

và đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả, độ tin cậy, những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ của địa phương và thông tin đã thu thập làm cơ sở đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

Trang 24

Chất lượng của việc đánh giá hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán về thời gian, chi phí, nhân sự và hạn chế tối đa các rủi ro kiểm toán có thể phát sinh

Đối với thu NSNN trên địa bàn: Xác định rủi ro kiểm toán của báo cáo quyết toán thu ngân sách của các cơ quan tổ chức thu ngân sách các cấp chính quyền địa phương [06/2017/QĐ-KTNN, 2017];

Đối với chi ngân sách các cấp: Xác định rủi ro kiểm toán của báo cáo quyết toán chi ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; các ban quản lý chương trình mục tiêu, các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc tỉnh [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

Đánh giá rủi ro kiểm toán, xác định các đơn vị được kiểm toán, xác định các nội dung trọng tâm kiểm toán

d Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

Lập kế hoạch kiểm toán là yêu cầu chính của cuộc kiểm toán, và là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán; đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng Kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã

có Lập kế hoạch kiểm toán giúp KTV lựa chọn phương pháp kiểm toán thích hợp, hiệu quả để thu thập bằng chứng kiểm toán, bố trí hợp lý các yếu tố nguồn lực và thời gian kiểm toán, thống nhất những hoạt động phối hợp giữa KTV và đơn vị được kiểm toán, nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết cho cuộc kiểm toán đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ và tiết kiệm Các nội dung chính của kế hoạch kiểm toán:

- Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới, đồng thời là thước đo kết quả

kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán Mục tiêu kiểm toán tùy thuộc vào loại hình kiểm toán áp dụng là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ hay

Trang 25

kiểm toán hoạt động Trong kiểm toán ngân sách địa phương, mục tiêu kiểm toán khi áp dụng kiểm toán báo cáo quyết toán là nhằm xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo, giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo quyết toán được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

- Nội dung kiểm toán đối với ngân sách cấp tỉnh là hoạt động quản lý,

điều hành ngân sách cấp tỉnh của UBND cấp tỉnh và các cơ quan chức năng thuộc UBND tỉnh (kiểm toán hoạt động thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách cấp tỉnh) [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

- Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối

tượng kiểm toán Phạm vi kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể hóa mục tiêu này Phạm vi kiểm toán của kiểm toán NSNN tùy theo đối tượng kiểm toán và loại hình kiểm toán cụ thể áp dụng Cùng với việc cụ thể hóa về đối tượng kiểm toán, cần cụ thể hóa

về khoảng thời gian thuộc phạm vi kiểm toán, có thể liên quan đến thời kỳ trước, sau có liên quan của sự kiện hay hoạt động của đơn vị Phạm vi và trọng tâm kiểm toán đối với ngân sách cấp tỉnh là xác định được các đơn vị được kiểm toán thuộc các cơ quan chức năng giúp UBND tỉnh quản lý, điều hành ngân sách; các cơ quan tổ chức thu ngân sách cấp tỉnh; các doanh nghiệp nhà nước; các đơn vị dự toán cấp I, II, III thuộc cấp tỉnh; các chương trình mục tiêu; các ban quản lý dự án [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

- Phân công nhân sự và các điều kiện vật chất: Căn cứ vào mục tiêu và

phạm vi kiểm toán, cần phân công nhân sự cho cuộc kiểm toán NSĐP trong

kế hoạch kiểm toán được giao và đặc biệt các KTV chủ chốt đảm nhận vị trí

Tổ trưởng Tổ kiểm toán tại các cơ quan tài chính tổng hợp Yêu cầu chung

Trang 26

của việc phân công này là phải có người phụ trách có trình độ tương xứng với mục tiêu, phạm vi kiểm toán và tương xứng với vị trí, yêu cầu, nội dung, đặc thù của cuộc kiểm toán [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

1.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN NSĐP

1.2.1 Khái niệm về rủi ro kiểm toán

Theo Chuẩn mực KTNN số 100 (Đoạn 31):“Rủi ro kiểm toán là rủi ro

do kiểm toán viên nhà nước đưa ra kiến kiểm toán không ph hợp khi báo cáo và thông tin đ được kiểm toán c n chứa đựng sai s t tr ng yếu”

 Rủi ro kiểm toán luôn tồn tại với những nguyên nhân sau:

- Trình độ chuyên môn của KTV: đối với KTV có kinh nghiệm việc nhận diện rủi ro kiểm toán trở nên dễ dàng hơn và phòng tránh được các sai sót có thể xảy ra

- Nguồn lực bị hạn chế: về thời gian, chi phí kiểm toán, nhân sự kiểm toán

- Các kỹ thuật trong kiểm toán: Phân tích, chọn mẫu

- Các hành vi gian lận thường khó được phát hiện hơn sai sót, do nó là một sự cố ý của nhân viên nên thường được che đậy

KTV nhà nước phải thực hiện các thủ tục kiểm toán để giảm thiểu và quản

lý rủi ro đưa ra các kết luận kiểm toán không phù hợp Tuy nhiên, trên thực tế tất cả các cuộc kiểm toán đều có hạn chế nhất định, do đó một cuộc kiểm toán

có thể không bao giờ có sự đảm bảo tuyệt đối đưa ra được toàn bộ tình hình về

Trang 27

nội dung được kiểm toán Khi cuộc kiểm toán đưa ra sự đảm bảo hợp lý, KTV nhà nước phải giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức thấp có thể chấp nhận được Trong trường hợp cuộc kiểm toán đưa ra sự đảm bảo hạn chế thì mức độ rủi ro chấp nhận được lớn hơn so với cuộc kiểm toán đưa ra sự đảm bảo hợp lý

1.2.2 Thành phần của rủi ro kiểm toán

Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát

và rủi ro phát hiện

Thứ nhất: Rủi ro tiềm tàng

Theo Chuẩn mực KTNN số 200 (Đoạn 41): “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro

tiềm ẩn vốn có do khả năng trong báo cáo tài chính c sai s t tr ng yếu mà không liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán”

Rủi ro tiềm tàng là khả năng có thể có những sai lệch trọng yếu trong Báo cáo quyết toán NSĐP bắt nguồn từ hoạt động đặc thù của các đơn vị quản lý và sử dụng ngân sách, hoặc do bản chất của khoản mục hay nghiệp

vụ, trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Đây là yếu tố rủi ro mang tính khách quan, thuộc về bản chất của đối tượng kiểm toán, các hoạt động kiểm soát, kiểm toán không tạo ra nó

Thứ hai: Rủi ro kiểm soát

Theo Chuẩn mực KTNN số 200 (Đoạn 41): “Rủi ro kiểm soát là khả

năng c sai s t tr ng yếu mà hoạt động kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời”

Thông thường một vài rủi ro kiểm soát luôn tồn tại do những hạn chế vốn có trong việc xây dựng và vận hành hệ thống KSNB

Rủi ro kiểm soát là xác suất tồn tại các sai phạm trọng yếu trong kiểm toán NSĐP mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán không phát hiện và ngăn chặn kịp thời

Trang 28

 Các hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ khiến rủi ro kiểm

soát tồn tại một cách mặc nhiên:

- Phạm vi hoạt động của KSNB bị giới hạn bởi các vấn đề về chi phí, nguồn nhân lực Bộ phận thanh tra, kiểm soát luôn làm việc ví dụ như thanh tra của các Sở ban ngành thường làm việc theo sự vụ và sau một niên độ tài chính, vì vậy có nhiều nội dung thanh tra không thực hiện hết, bộ phận thanh tra vẫn phải chịu ảnh hưởng bởi chi phí về vật chất, thời gian và con người, kèm theo các phát hiện không kịp thời, việc chấn chỉnh các sai phạm thường phải sau một năm hoặc nhiều năm sau thời gian thanh tra kiến nghị

- Sai phạm của nhân viên xảy ra do sai sót, thiếu thận trọng, hiểu sai chỉ đạo của cấp trên

- Sự thông đồng của các nhân viên trong đơn vị hay bên ngoài khiến cho việc kiểm tra có thể không có tác dụng

Tóm lại, hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ hạn chế những sai sót và gian lận nhưng không thể loại trừ các sai phạm có thể xảy ra KTV chỉ có thể dựa vào KSNB của đơn vị để giảm bớt một phần công việc kiểm tra của mình nhưng không thể dựa hoàn toàn vào hệ thống này Chính vì vậy, KTV vẫn phải tiến hành các thử nghiệm cơ bản ngay cả khi hệ thống KSNB của đơn vị được đánh giá là rất hữu hiệu

Thứ ba: Rủi ro phát hiện

Theo Chuẩn mực KTNN số 200 (Đoạn 41): “Rủi ro phát hiện là rủi ro

kiểm toán viên không phát hiện ra các sai sót tr ng yếu”

Rủi ro phát hiện là khả năng khi đã áp dụng những thủ tục kiểm toán nhưng KTV vẫn không phát hiện được các sai phạm trọng yếu của cuộc kiểm toán Khác với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện phải được KTV có trách nhiệm thực hiện các thủ tục kiểm toán và thu thập bằng chứng

Trang 29

đầy đủ đƣa ra các kết luận đúng và hạn chế rủi ro ở mức chấp nhận đƣợc

[Quynh, 2003]

* Mối quan hệ của các loại rủi ro đƣợc phản ánh qua mô hình rủi ro

sau đây:

AR = IR x CR x DR (1) Trong đó: AR: Rủi ro kiểm toán (Audit risk)

IR: Rủi ro tiềm tàng (Inherent risk) CR: Rủi ro kiểm soát (Control risk) DR: Rủi ro phát hiện (Detection risk) Với mô hình này, KTV có thể sử dụng nó để điều chỉnh rủi ro phát hiện

dựa trên các loại rủi ro khác đã đƣợc đánh giá nhằm đạt đƣợc rủi ro kiểm toán

ở mức thấp nhƣ mong muốn [Quynh, 2003]

Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV biến đổi lại công thức (1) để xác định

rủi ro phát hiện, công thức đƣợc biến đổi nhƣ sau:

DR = AR

IR * CR

1.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ

HOẠCH CỦA CUỘC KIỂM TOÁN NSĐP

* Tầm quan tr ng của đánh giá rủi ro kiểm toán:

Xác định rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập KHKT nhằm giúp các KTV

có thể xác định các nhân tố gây ra các sai phạm trọng yếu Xác định đƣợc

phạm vi kiểm toán cần thiết đối với những sai sót trọng yếu có thể tồn tại trong

báo cáo quyết toán NSĐP Từ đó, xác định lựa chọn và xây dựng thủ tục kiểm

toán cơ bản thích hợp về phạm vi quy mô và thời gian vận dụng các thủ tục

kiểm toán Đây cũng các nội dung quan trọng cần phải có trong lập KHKT

Trang 30

Theo Chuẩn mực KTNN nêu rõ về đánh giá rủi ro: Tính chất của những rủi

ro đã xác định sẽ thay đổi tùy thuộc vào mục tiêu kiểm toán KTV nhà nước cần xem xét và đánh giá các loại rủi ro khác nhau như sự thiếu sót, sai lệch hay sai sót có thể xảy ra liên quan đến nội dung kiểm toán Cần xem xét cả rủi ro một cách tổng thể và cụ thể Để đánh giá rủi ro, KTV nhà nước áp dụng các thủ tục cần thiết để tìm hiểu về đơn vị hoặc chương trình được kiểm toán, môi trường và các thủ tục kiểm soát nội bộ liên quan KTV nhà nước cần đánh giá các biện pháp quản lý rủi ro của đơn vị được kiểm toán, như việc thực hiện các thủ tục kiểm soát nội bộ để quản lý rủi ro Việc xác định các rủi ro và ảnh hưởng của chúng đối với cuộc kiểm toán cần được xem xét trong suốt quá trình kiểm toán [Chuẩn mực KTNN số 1315, 2016]

Theo Chuẩn mực KTNN số 1315 (Đoạn 4 iv) có nêu: “Thủ tục đánh giá

rủi ro: Là thủ tục kiểm toán được thực hiện để thu thập các hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, trong đ c kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót tr ng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu”

KTV phải thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu Tuy nhiên, nếu chỉ thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro thì chưa cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp Vì vậy, KTV nhà nước phải thực hiện thử nghiệm cơ bản hoặc thử nghiệm kiểm soát đồng thời đối với các thủ tục đánh giá rủi ro để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán

1.3.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng

a Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng

a.1 Ở góc độ đơn vị được kiểm toán

- Tác động của quy mô ngân sách tại một tỉnh, thành phố, điều kiện về vị trí địa lý, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội

Trang 31

- Ảnh hưởng của tính chính trực, kinh nghiệm, trình độ năng lực của nhà quản lý: nhà quản lý có quyền định đoạt các chính sách của địa phương, cũng như điều hành hoạt động vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh, thành phố phù hợp với quy định của pháp luật đồng thời phù hợp với điều kiện của địa phương Dù đã tuân thủ theo chức năng, quyền hạn của các cấp ngân sách trong vấn đề điều hành ngân sách, nhưng vẫn có quan điểm cá nhân về kinh nghiệm trong cách điều hành ngân sách

- Chịu ảnh hưởng bởi áp lực bất thường đối với nhà quản lý: đối với NSĐP thường ảnh hưởng bởi sự mất cân đối ngân sách hoặc tình trạng hụt thu ngân sách do thu ngân sách không đạt dự toán, áp lực trong công tác điều hành dự toán dẫn đến các rủi ro trong báo cáo quyết toán NSĐP

a.2 Ở góc độ môi trường chính sách pháp luật Nhà nước

- Bản chất hoạt động của đơn vị được kiểm toán trong NSĐP: Hoạt động ở các lĩnh vực: thu ngân sách, chi ngân sách (gồm chi thường xuyên, chi đầu tư) Lĩnh vực chi đầu tư của NSĐP thường có nhiều sai phạm và là các sai phạm lớn Hoạt động của đơn vị ảnh hưởng bởi chính sách pháp luật Nhà nước: như Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 ban hành áp dụng niên độ ngân sách 2017, chính sách đầu tư thường biến động; định mức chi tiêu thường xuyên giảm, các vấn đề thắt chặt chi tiêu, nợ công, …

- Ảnh hưởng bởi những điều chỉnh đối với các chính sách kế toán mới

b Một số rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra trong cuộc kiểm toán NSĐP

Theo quy trình kiểm toán NSĐP (Quyết định số 06/2017/QĐ-KTNN) có nêu cụ thể về một số các rủi ro tiềm tàng do tính chất của từng nội dung nhằm giúp KTV có một hệ thống các rủi ro kiểm toán, cụ thể:

* Lĩnh vực kiểm toán chi ngân sách:

- Một số khoản chi sự nghiệp (sự nghiệp môi trường, sự nghiệp giao thông ) có tính chất phức tạp, nhất là các đơn vị được bổ sung kinh phí sự

Trang 32

nghiệp để mua sắm, sửa chữa cải tạo (ngoài dự toán đầu năm); chế độ chính sách

về lĩnh vực chi ngân sách nhiều và thay đổi dẫn đến luôn tiềm ẩn các sai sót, sai phạm của các đơn vị trong quá trình quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

- Kinh phí Chương trình mục tiêu: Có nhiều văn bản quy định về chính sách chế độ, kéo dài qua nhiều năm; quy trình hỗ trợ các đối tượng chính sách tiềm ẩn

sự trùng lắp giữa các chương trình, sử dụng sai mục đích nguồn kinh phí

[06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

- Đối với lĩnh vực chi đầu tư: Do đặc thù phức tạp của lĩnh vực đầu tư xây dựng, thời gian thực hiện dự án kéo dài, cơ chế quản lý thường xuyên thay đổi từ lúc có quyết định đầu tư đến khi hoàn thành kết thúc bàn giao đưa vào sử dụng nên tiềm ẩn sai sót có thể diễn ra ở các khâu từ khảo sát, thiết kế lập dự toán đến nghiệm thu, thanh quyết toán dự án hoàn thành [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

* Lĩnh vực kiểm toán thu ngân sách: Tính đa dạng trong loại hình kinh

doanh cũng như sự phức tạp của đối tượng nộp thuế, đối tượng sử dụng ngân sách dẫn đến công tác quản lý thu có nhiều khó khăn Những thay đổi điều chỉnh lớn đối với chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước như thay đổi về thuế suất, điều kiện ưu đãi thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế; tình hình nợ đọng thuế không được tổng hợp, theo dõi đầy đủ trên hệ thống thông tin của cơ quan thuế [06/2017/QĐ-KTNN, 2017]

c Phương pháp đánh giá rủi ro tiềm tàng

Hiện chưa có các hướng dẫn về phương pháp xác định mức độ rủi ro tiềm tàng đối với cuộc kiểm toán NSĐP; bên cạnh đó, quy trình kiểm toán NSĐP chỉ mới nêu dạng liệt kê các rủi ro tiềm tàng thường gặp dựa trên phân tích đặc điểm của nội dung kiểm toán, các sai sót thường gặp trong các cuộc kiểm toán NSĐP trước

Trang 33

Rủi ro tiềm tàng liên quan đến hoạt động của đơn vị, KTV không tạo ra cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà chỉ đánh giá chúng dựa vào một số nguồn thông tin như kết quả của cuộc kiểm toán năm trước, chính sách pháp luật thay đổi của Nhà nước, để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV có thể dựa trên nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro và xem xét trên 02 góc độ: đơn vị được kiểm toán, các hoạt động tại đơn vị và chính sách mới của nhà nước thay đổi ảnh hưởng đến đơn vị như thế nào

- Dựa trên góc độ đơn vị được kiểm toán và hoạt động của đơn vị: đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực thường xuyên có sai sót (như lĩnh vực đầu tư XDCB, lĩnh vực đất đai, tài nguyên, khai thác khoáng sản) Rủi ro tiềm tàng nảy sinh từ đặc điểm của đơn vị, môi trường hoạt động của đơn vị Đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đầu tư XDCB, lĩnh vực đất đai, tài nguyên, khai thác khoáng sản hay các đơn vị trong thời kỳ chuyển giao của các chế độ chính sách nhà nước

- Dựa trên góc độ chính sách pháp luật ảnh hưởng đến đơn vị: Các chính sách pháp luật quản lý của nhà nước ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động doanh nghiệp như: chính sách về thuế, chính sách thắt chặt quản lý về nguồn tài nguyên, khoáng sản, hay hoạt động của các đơn vị xây dựng mà ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn thu của NSĐP, có các sự ảnh hưởng này dẫn đến việc rủi ro tiềm tàng xảy ra cao;

Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng của cuộc kiểm toán NSĐP, đòi hỏi KTV phải có hiểu biết sâu sắc, toàn diện và đầy đủ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thực trạng hoạt động của các đơn vị được kiểm toán; ngoài ra đòi hỏi KTV phải có một sự xét đoán nghề nghiệp với kinh nghiệm kiểm toán tốt mới có khả năng đánh giá một cách đúng đắn và đầy đủ về rủi ro tiềm tàng

Trang 34

1.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát

a Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát

Rủi ro kiểm soát phát sinh từ hệ thống kiểm soát nội bộ nên các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát

- Môi trường kiểm soát: môi trường kiểm soát có ảnh hưởng đến sự nhất quán giữa các chính sách của nhà quản lý ngân sách, tính hiệu quả của bộ phận kế toán; thủ tục của hoạt động kiểm soát do đó ảnh hưởng của môi trường kiểm soát: tình hình chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội chính là kế hoạch hành động của địa phương; chính sách quản lý thu - chi NSNN của địa phương; hệ thống các văn bản quy định điều hành thu, chi NSNN của địa phương

- Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức, phân công trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ cụ thể

- Hệ thống thông tin kế toán: kế toán không chỉ là bộ phận cung cấp thông tin cho quản lý mà còn thực hiện kiểm tra, giám sát nhiều hoạt động của đơn vị như: ví dụ các phòng ban thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phát sinh hoặc liên quan đến việc sử dụng kinh phí đều phải được Trưởng bộ phận, Thủ trưởng đơn vị phê duyệt và được bộ phận kế toán kiểm tra định mức các khoản thanh toán theo đúng chế độ quy định, theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; bộ phận kế toán theo dõi tình hình sử dụng của tài sản nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị không bị thất thoát, gian lận hoặc sử dụng lãng phí Vì vậy, hệ thống kế toán tốt góp phần làm cho hệ thống KSNB của đơn vị hoạt động hiệu quả

- Các bộ phận kiểm soát bên trong và bên ngoài đơn vị: bên trong đơn vị như bộ phận thanh tra, kiểm tra của đơn vị; bên ngoài đơn vị: Thanh tra của

cơ quan cấp trên, KBNN nơi đơn vị giao dịch nhận kinh phí ngân sách cũng

Trang 35

kiểm soát chứng từ đơn vị khi thanh toán, hay kiểm tra từ bộ phận thanh tra, kiểm tra

b Rủi ro kiểm soát thường xảy ra trong cuộc kiểm toán NSĐP

Theo Quyết định số 06/2017/QĐ-KTNN ban hành về quy trình kiểm toán NSĐP, KTNN đã đưa ra các rủi ro kiểm soát thường gặp do đặc điểm của các lĩnh vực kiểm toán ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát:

- Lĩnh vực kiểm toán chi ngân sách:

+ Đối với lĩnh vực chi thường xuyên: Số lượng các đơn vị dự toán tại các tỉnh, thành phố khá lớn nhưng chưa được các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, thanh tra; trình độ năng lực cán bộ chưa đồng đều nên có thể dẫn đến sai sót trong tổng hợp lập báo cáo

+ Đối với lĩnh vực chi đầu tư: Tỷ trọng các đơn vị, các dự án đầu tư được thanh tra kiểm tra không lớn; Kho bạc nhà nước chủ yếu kiểm soát về thủ tục tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư, cơ quan thẩm định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành chủ yếu trên cơ sở hồ sơ quyết toán A-B lập với số lượng luỹ kế lớn, kéo dài từ nhiều năm, lực lượng cán bộ chưa đồng đều vì vậy rủi ro kiểm soát ở mức cao đối với xác định khối lượng hoàn thành quyết toán, có thể chưa phù hợp với thực tế thi công ngoài hiện trường

- Lĩnh vực kiểm toán thu ngân sách: Người nộp thuế tự kê khai, tính thuế, tự chịu trách nhiệm và nộp hồ sơ khai thuế cho Cơ quan Thuế quản lý;

số lượng người nộp thuế lớn nên hệ thống kiểm soát (thanh tra, kiểm tra ) chỉ thực hiện kiểm tra, thanh tra với tỷ trọng chưa tương xứng, chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc kiểm soát, hạn chế những sai sót

c Các phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát:

Rủi ro kiểm soát được đánh giá căn cứ vào sự hiểu biết, đánh giá của KTV về hệ thống kiểm soát nội bộ theo quy trình như sau:

Trang 36

Sơ đồ 1.2 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát

(1) Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị

Theo hướng dẫn chuẩn mực KSNB của INTOSAI 1992, có nêu: “KSNB

là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người l nh đạo nhằm bảo đảm sự hợp l để đạt được các mục tiêu của tổ chức”

Một hệ thống KSNB gồm có 5 thành phần: (i) môi trường kiểm soát, (ii) đánh giá rủi ro, (iii) hoạt động kiểm soát, (iv) thông tin và trao đổi thông tin

và (v) hoạt động giám sát Để đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị, KTV cần đánh giá cụ thể bộ phận cấu thành này

Về môi trường kiểm soát: là tập hợp các chuẩn mực, các quy trình, và

các cấu trúc thiết lập cơ sở cho sự vận hành của kiểm soát nội bộ của tổ chức

Để tìm hiểu về môi trường kiểm soát của đơn vị KTV có thể cần đánh giá các yếu tố sau của môi trường kiểm soát:

- Tình hình và các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội,

về quản lý thu, chi NSNN của địa phương trong từng thời kỳ, trong năm Điều

Tìm hiểu và thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn

vị để lập kế hoạch kiểm toán

Các đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với từng nội dung chủ yếu của báo cáo quyết toán NSĐP

Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát

Đánh giá lại rủi ro kiểm soát

Trang 37

này thể hiện qua các chính sách định hướng phát triển, chính sách khuyến khích đầu tư;

- Ngoài hệ thống các quy định pháp luật: Luật NSNN, các luật thuế, dự toán NSNN do Quốc hội phê chuẩn, các địa phương còn ban hành nhiều chính sách, quy định nhằm quản lý điều hành thu, chi NSNN trên địa bàn theo dự toán của Trung ương giao từ khâu lập dự toán cho đến khâu thực hiện và quyết toán NSNN;

- Cam kết tính chính thực và các giá trị đạo đức trong điều hành ngân sách;

- Chính sách nhân sự: chế độ khen thưởng, giám sát, tiền lương đào tạo, tuyển dụng ảnh hưởng đến trình độ phẩm chất, giá trị của các nhân viên trong

+ Sở Tài chính: Có nhiệm vụ lập và phân bổ dự toán thu chi NSNN trên

cơ sở lập và được Trung ương phê chuẩn và giao; thực hiện kiểm soát chi NSNN theo dự toán, là đầu mối tổng hợp thông tin và lập báo cáo quyết toán thu, chi NSNN Sở Tài chính tham mưu UBND ban hành các văn bản hướng dẫn quản lý điều hành ngân sách

+ KBNN: có chức năng như là thủ quỹ của NSNN, thực hiện cấp phát theo dự toán được phê duyệt và kiểm soát các khoản chi NSNN và thực hiện phối hợp quyết toán NSNN theo dự toán

Trang 38

+ Cục thuế, Cục Hải quan: Ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi các chính sách và quán lý việc thu các loại thuế nội địa, các loại phí và lệ phí và thuế xuất nhập khẩu Cục thuế và Cục Hải quan thực hiện thanh tra các nội dung về tình hình thu nộp NSNN của các đối tượng nộp thuế

+ Cơ quan Thanh tra: thực hiện kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc thanh tra đột xuất về mọi vấn đề liên quan đến thu, chi NSNN theo chương trình kế hoạch hàng năm: như thanh tra về thu thuế, chi thường xuyên của một số đơn

vị, chi mua sắm, hay vấn đề chi XDCB, …

+ Ngoài ra, tại các đơn vị dự toán, các cơ quan chi NSNN còn có bộ phận kiểm tra, giám sát chi NSNN thuộc hệ thống KSNB của mình

- Các bộ phận trong hệ thống KSNB của đơn vị và của tỉnh (cơ quan Thanh tra): cam kết về tính độc lập trong thực hiện chức năng giám sát

- Trình độ và phẩm chất đội ngũ cán bộ nhân viên: các yếu tố kỹ năng, kiến thức của nhân viên, để một tổ chức có thể đạt được mục tiêu

- Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: thuộc về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

+ Về thu ngân sách: Cơ quan thuế trực tiếp quản lý quản lý và thu các thuế, phí và thu khác về thuế; Sở Tài chính và một số các cơ quan chức năng

tổ chức quản lý và trực tiếp thu đối với một số khoản thu ngân sách khác + Về chi ngân sách: Phân cấp quản lý chi thường xuyên: Lập và phân bổ

dự toán thu, chi NSNN địa phương; Thẩm định và phê duyệt quyết toán chi NSNN; … Phân cấp quản lý chi đầu tư phát triển: Quyết định đầu tư; Thẩm định và phê duyệt thiết kế- dự toán; Thẩm định và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư

Về đánh giá rủi ro: Quá trình đánh giá rủi ro hình thành để lãnh đạo cơ

quan điều hành ngân sách xem xét sự thay đổi trong môi trường bên ngoài và bên trong đơn vị có ảnh hưởng đến khả năng đạt được các mục tiêu, dự toán thu

Trang 39

chi NSNN của địa phương nhằm nhận diện các rủi ro có thể phát sinh KTV sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị có phù hợp hay không

Về hoạt động kiểm soát: Loại hoạt động áp dụng tại đơn vị được kiểm toán:

- Phân chia trách nhiệm đầy đủ nhằm thiết lập mục tiêu quản lý cụ thể; phân công, phân nhiệm rõ ràng, quy tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền

- Đảm bảo an toàn cho tài sản vật chất và thông tin: đối chiếu kết quả kiểm

kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán; giới hạn việc tiếp cận trực tiếp các tài sản

và các tài liệu kế toán; quá trình kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị

- Các hoạt động của đơn vị, định mức chi cụ thể của đơn vị được quy định

cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ Quy chế xây dựng trên cơ sở quy định của pháp luật, cụ thể hóa phù hợp với đơn vị, đồng thời hướng dẫn các bộ phận liên quan thực hiện và căn cứ để kiểm tra kiểm soát tính tuân thủ

Về thông tin và truyền thông: là đầu vào cần thiết để tổ chức thực hiện các

trách nhiệm kiểm soát nội bộ hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức Trao đổi thông tin diễn ra cả bên trong tổ chức và giữa tổ chức với bên ngoài để cung cấp các thông tin hỗ trợ cho việc thực hiện các trách nhiệm kiểm soát nội bộ

Về hoạt động giám sát: bao gồm các hoạt động đánh giá thường xuyên,

đánh giá chuyên biệt hoặc sự kết hợp cả hai hình thức được thực hiện để xem xét xem các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ có đang hiện diện và đang vận hành hay không

Trang 40

(2) Các đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với từng nội dung chủ yếu của báo cáo quyết toán NSĐP

KTV đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho từng nội dung của báo cáo quyết toán NSĐP, đi kèm theo áp dụng các đối chiếu số liệu dựa trên hệ thống kế toán ngân sách nhà nước của các đơn vị tài chính tổng hợp

Việc đánh giá dựa trên các cơ sở dự đoán, nhận diện mục tiêu xác định các mục tiêu kiểm soát cụ thể cho từng khoản mục (nội dung), sau đó phân tích quá trình kiểm soát chủ yếu để nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù và từ đó phát hiện ra những tồn tại của hệ thống KSNB

KTV không tạo ra và không kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ

có thể đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị mạnh hay yếu sau khi tìm hiểu và đưa ra mức rủi ro kiểm soát (thấp, trung bình hoặc cao)

Mức độ đánh giá của KTV đối với rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào: Hoạt động của hệ thống KSNB: đầy đủ, hiệu quả; Bằng chứng và thông tin cần thiết để đánh giá hệ thống KSNB có đáng tin cậy không; Sự đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát có thể ảnh hưởng đến thời gian, nội dung và phạm vi

và trọng tâm kiểm toán

1.3.3 Xác định rủi ro phát hiện

Sau khi xác định mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, dựa vào mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được để xác định rủi ro phát hiện Căn cứ vào rủi ro phát hiện chấp nhận được, KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thử nghiệm cơ bản Vì vậy, việc xác định nội dung, thời gian, phạm vi các thử nghiệm cơ bản để giảm được rủi ro kiểm toán xuống mức độ

có thể chấp nhận được chính là dựa trên việc xác định mức rủi ro phát hiện thích hợp [Yến, 2013]

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Quang Bính (2006), Hoàn thiện công tác nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán và việc xác định tr ng yếu, rủi ro trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Đề tài khoa học cấp bộ, Kiểm toán nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán và việc xác định tr ng yếu, rủi ro trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
Tác giả: Lê Quang Bính
Năm: 2006
[2]. Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan (2007), Giáo trình Quản l Tài chính công, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản l Tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2007
[3]. Chính phủ (2016), Nghị định số 163/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
[4]. Vương Đình Huệ (2006), Định hướng và giải pháp đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước trong điều kiện thực hiện Luật ngân sách nhà nước sửa đổi, Đề tài khoa học cấp bộ, Kiểm toán Nhà nước [5]. Đường Nguyễn Hưng (2016), Giáo trình Kiểm soát nội bộ, Nhà xuất bảnGiáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và giải pháp đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước trong điều kiện thực hiện Luật ngân sách nhà nước sửa đổi", Đề tài khoa học cấp bộ, Kiểm toán Nhà nước [5]. Đường Nguyễn Hưng (2016), "Giáo trình Kiểm soát nội bộ
Tác giả: Vương Đình Huệ (2006), Định hướng và giải pháp đổi mới công tác kiểm toán ngân sách nhà nước trong điều kiện thực hiện Luật ngân sách nhà nước sửa đổi, Đề tài khoa học cấp bộ, Kiểm toán Nhà nước [5]. Đường Nguyễn Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
[6]. Kiểm toán nhà nước (2016), Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
[7]. Kiểm toán nhà nước (2016), Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 200 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 200 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
[8]. Kiểm toán nhà nước (2016), Chuẩn mực KTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực KTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
[9]. Kiểm toán nhà nước (2016), Chuẩn mực KTNN số 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót tr ng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực KTNN số 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót tr ng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
[10]. Kiểm toán nhà nước (2016), Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15/7/2016 Quyết định ban hành hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15/7/2016 Quyết định ban hành hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2016
[11]. Kiểm toán nhà nước (2017), Quyết định số 06/2017/QĐ-KTNN ngày 12/6/2017 Quyết định ban hành quy trình kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 06/2017/QĐ-KTNN ngày 12/6/2017 Quyết định ban hành quy trình kiểm toán ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước
Tác giả: Kiểm toán nhà nước
Năm: 2017
[12]. Đoàn Thanh Nga (2011), Nghiên cứu đánh giá tr ng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá tr ng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thanh Nga
Năm: 2011
[13]. Nguyễn Hữu Phúc (2009), Tổ chức kiểm toán ngân sách nhà nước do Kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức kiểm toán ngân sách nhà nước do Kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện
Tác giả: Nguyễn Hữu Phúc
Năm: 2009
[14]. Quốc hội (2005), Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội [15]. Quốc hội (2015), Luật kiểm toán nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật ngân sách nhà nước", Hà Nội [15]. Quốc hội (2015), "Luật kiểm toán nhà nước
Tác giả: Quốc hội (2005), Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội [15]. Quốc hội
Năm: 2015
[17]. Lê Văn Tám (2010), Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán ngân sách địa phương tại Kiểm toán nhà nước khu vực VIII, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán ngân sách địa phương tại Kiểm toán nhà nước khu vực VIII
Tác giả: Lê Văn Tám
Năm: 2010
[16]. Quynh Nguyễn Quang Quynh (2003), Lý thuyết kiểm toán, Nhà xuất bản Tài chính Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm