1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN học vấn đề mô HÌNH văn bản văn học từ QUAN điểm của IU m LOTMAN về cấu TRÚC văn bản NGHỆ THUẬT

4 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 24,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LM khẳng định rằng, “thứ sinh trong mối quan hệ với ngôn ngữ cần phải hiểu không chỉ như là dùng ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là chất liệu”[LM, 2004] Đỗ Văn Hiểu cho rằng “Văn bản văn h

Trang 1

Lương Văn Kiệt (2018), VẤN ĐỀ MÔ HÌNH VĂN BẢN VĂN HỌC TỪ QUAN ĐIỂM CỦA IU.M.LOTMAN VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT

R.Barthes trong bài viết từ tác phẩm đến văn bản cho rằng: “Văn bản là đa nghĩa

Đó không phải đơn giản là có vài ba ý nghĩa, mà nó đạt tới sự đa nghĩa thực sự -một cái đa nghĩa không thể quy giản (không đơn thuần là cái duy nhất có thể chấp nhận)[tr.29]

L.M cho rằng “bất kỳ một hệ thống nào phục vụ cho những mục đích giao tiếp giữa hai hay nhiều cá thể đều co stheer xác định như là một ngôn ngữ” Như vậy,

ta có thể thấy rằng, nghệ thuật có thể được xác định với tư cách là một thứ ngôn ngữ có tổ chức dưới dạng đặc biệt

L.M chia ngôn ngữ thành ba loại:

Ngôn ngữ tự nhiên (natural languagues): tiếng Anh, Pháp, Nga,

Ngôn ngữ nhân tạo (artificial languagues): các ngôn ngữ khoa học (toán học, hoá học, vật lý, ), các ngôn ngữ của các tín hiệu ước định (biển báo, đèn tín hiệu giao thông ) và những gì tương tự

Ngôn ngữ thứ sinh (secondary languagues): hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh, văn học, , chỉ chung cho nghệ thuật

Theo LM, nghệ thuật là thứ mô hình hoá thứ sinh (secondary modelling system) Ngôn ngữ thứ sinh của nghệ thuật là một thứ ngôn ngữ đặc biệt LM khẳng định rằng, “thứ sinh trong mối quan hệ với ngôn ngữ cần phải hiểu không chỉ như là dùng ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là chất liệu”[LM, 2004]

Đỗ Văn Hiểu cho rằng “Văn bản văn học là hình thái hiện thực tồn tại của văn học, văn bản văn học lấy ngôn ngữ sách vở hoặc khẩu ngữ để khách quan hoá ý thức thẩm mỹ của nhà văn thành thực thể ngôn ngữ làm cho nó trở thành đối tượng để người khác có thể cảm nhận (2014)[31]

Lê Thời Tân cho rằng “chỉ lúc văn bản tác phẩm đi vào giao lưu tiếp nhận (hoặc nói tiêu thụ), kinh qua sự đọc, tác phẩm mới được tổ chức, xây dựng lại bởi một tư duy đọc – tiếp nhận có tính chất tái kết cấu đối tượng trong đọc Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm bằng việc đọc, có sự tồn tại của hoạt động tương hỗ giữa kết cấu văn bản trần thuật với kết cấu trần thuật và kết cấu hình tượng tác phẩm Văn bản tác phẩm kinh qua sự đọc trở thành văn bản được kết cấu” [31]

LM cho rằng, tác phẩm nghệ thuật “là một mô hình nhất định của thế giới, một thông báo nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật ”, “” là thứ được biểu thị trên văn bản bằng một tập hợp các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên Từ văn bản, ngừoi đọc tiếp nhận được thông báo hay mô hình thế giới bất kỳ Trên cơ sở đó, văn bản được đặt trong mối quan hệ người phát (tác giả) với ngừoi nhận (độc giả), nó thực hiện chức năng giao tiếp và truyền thông tin từ người phát tới người nhận như một khâu trung gian Trong đó, thông tin đề cập đến văn bản, còn mã đề cập đến ngôn ngữ: Ngữ cảnh

Trang 2

Thông tin (văn bản)

Người phát người nhận

Mã (ngôn ngữ)

Sự tiếp xúc

Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, TĐS, NKP (2007), về mối liên quan giữa

“kết cấu” và “cấu trúc”

Nghiên cứu văn học từ những năm 20 của thế kỷ XX hiểu cấu trúc của tác phẩm văn học là kết cấu, cấu tạo và mối quan hệ qua lại của nhân vật với các hình tượng khác, quan hệ giữa các lớp tư tưởng chủ đề và lớp tạo hình, tổ chức lời văn

Xét từ lí luận chỉnh thể, cấu trúc của tác phâem bao gồm các yếu tố được đặt trong trật tự (cấp độ) phụ thuộc vào nhau như sau đây: tư tưởng – chủ đề (gồm cả đề tài),

hệ thống hình tượng (có thể bao gồm cả cốt truyện), kết cấu, ngôn từ

Cũng có ý kiến xem nội dung tư tưởng – chủ đề là yếu tố ưu trội, quy định cả hệ thống tác phẩm, còn cấu trúc đích thực của tác phẩm chỉ bao gồm hai yếu tố: ngôn

từ, cốt truyện, được tổ chức với nhau bằng kết cấu [36]

Theo Nguyễn Văn Tùng, thì cần phân biệt giữa kết cấu và cấu trúc Kết cấu chỉ là

là một yếu tố trong cấu trúc tác phẩm văn học, bên cạnh các yếu tố như chủ đề, hệ thống hình tượng, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ Về cấu trsuc, đó là mối liên hệ qua lại, ràng buộc và quy định lẫn nhau giữa các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm

Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên thì cho rằng cấu trúc là phần ổnd dịnh, bất biến của kết cấu, còn kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm

Trong cấu trúc văn bản nghệ thuật, khi trình bày chương 8, Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (The composition of the Verbal Work of Art), LM đã đưa ra một số yếu tố kết cấu với tư cách như là nhừn nhân tố cấu trúc phổ quát góp phần hình thành nên cấu trúc tác phẩm: Khung khổ, Không gian nghệ thuật, Nhân vật, Cốt truyện, Điểm nhìn

Khung khổ của văn bản văn học “được tạo thành từ hai yếu tố: mở đầu và kết thúc”[LM, Iu M.,2004] Khung khổ được xem là ranh giới phân biệt văn bản với

cá ngoài vă bản trong tính tàon vẹn của văn bản Theo LM, khung khổ là phạm vi hoạt động của một trường ngữ nghĩa nhất định Tác phẩm văn học theo cách đó là một mô hình hữu hạn của thế giới vô hạn được đặt trong phạm vi mở đầu – kết thúc của khung khổ

Chức năng của tác phẩm nghệ thuật với tư cách là một mô hình hữu hạn của “văn bản lời nói” về những sự kiện hiện thực từ trong bản chất vô hạn sẽ biến yếu tố phân giới, hữu hạn tàhnh điều kiện tất yếu của mọi văn bản nghệ thuật trong hình thức khởi thuỷ của nó – các khái niệm mở đàu và kết thúc của văn bản (văn bản trần thuật, âm nhạc, ), khung trong hội hoạ, hàng đèn trước sân khấu trong nhà hát

là những hình thức như vậy (LM, 2016)

- Khung khổ, theo cách đó, thể hiện rõ tính chất mô hình hoá và bản chất mô hình của văn bản tự sự với quy mô nằm trong sự giới hạn của hai điểm cốt

Trang 3

yếu – mở đầu và kết thúc Về điều này, Lê Thời Tân (2012), cũng nhận định

“Mỗi một văn bản tự sự chính là một mô hình hữu hạn được tạo nên từ một thế giới hạn Trong mô hình đó, phần mở đầu cũng như phần kết thúc, xét về công năng mô hình hoá văn bản là tương tự như khung của bức tranh hay đường viền sân khấu kịch diễn” [tr.43]

Khung khổ có mối liên hệ mật thiết với không gian nghệ thuật trong tác phẩm, có thể xem khung khổ là phạm vi chứa đựng trong không gian nghệ thuật

- Không gian nghệ thuật, LM (2004), cho rằng “việc chú ý đến vấn đề không gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như một không gian hình ảnh được khu biệt, phản ánh trong cái hữu hạn của mình một đối tượng vô hạn là thế giới ngoài tác phẩm” [tr.43]

- Nhân vật, xét về bản chất, gắn liền với không gian mà nó thuộc về Phân chia không gian thành hai trường nghĩa tách biệt theo phương thức đối lập nhị phân, LM cho rằng về nhân vật “luôn luôn có hai kiểu chức năng: chức năng phân loại (có tính chất bị động) và chức năng của kẻ hành động (có tính chất chủ động - 2004)[tr.44]

Theo đó, có thể phân ra hai nhóm nhân vật: nhân vật hành động và nhân vật không hành động Nhân vật hành động là nhân vật có khả năng từ không gian (trường ngữ nghĩa) này, vượt qua ranh giới để đi vào không gian (trường ngữ nghĩa) đối lập Ranh giới phân chia không gian nghệ thuật (các trường ngữ nghĩa) là thứ “không thể đi qua được trong những điều kiện thông thường, nhưng ở một trường hợp cụ thể (văn bản cốt truyện luôn nói về trường hợp cụ thể) nhân vật – hành động có thể

đi qua được (LM, 2004)[TR.44]

Theo LM, về ý nghĩacấu trúc, ranh giới đảm nhận chức năng vật cản, làm cho việc vượt từ trường ngữ nghĩa nay sang trường ngữ nghĩa khác trở nên khó khăn Nếu nhân vật hành động có tính chất chủ động thì nhân vật không hành động có tính chất bị động Nhân vật không hành động “ở trong hệ phân loại và bản thân cũng xác lập hệ phân loại đó Đối với nó khả năng vượt qua ranh giới đã bị loại trừ”(LM, 2004)[tr.44] Có thể khẳng định, nhan vật không hành động chỉ thuộc về một không gian nhất định và được quy định bởi không gian đó Bằng việc vượt qua ranh giới giữa các không gian đối lập, nhân vật hành động tạo ra một biến cố, từ đó hình thành cốt truyện: “trong văn bản, biến cố là sự di chuyển của nhân vật qua ranh giới của trường ngữ nghĩa”(LM,2004) [tr.44] Như vậy, vấn đề nhân vật có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cốt truyện của văn Bởi nó là nhân tố chính yếu trong việc tạo ra sự đối lập giữa văn bản có cốt truyện và văn bản không có cốt truyện.[44]

- Cốt truyện trong cấu trúc văn bản nghệ thuật, có sự gắn bó chặt chẽ với không gian, “toàn bộ chuỗi liên tục của không gian văn bản trong đó thế giới

Trang 4

đối tượng được biểu hiện tạo thành một topos1 nhất định Điều quan trọng hơn là trong không gian hoạt động của nhân vật, đằng sau việc mô tả các sự vật đối tượng là sự ẩn tàng của một hệ thống các quan hệ, cấu trúc topos Theo LM, cấu trúc topos là ngôn ngữ thể hiện những quan hệ và tính chất phi không gian của văn bản khi nguyên tắc tổ chức và sắp xếp nhân vật trong chuỗi liên tục của nghệ thuật được nảy sinh

- Theo LM 2004, “cơ sở của khái niệm cốt truyện là quan niệm về biến cố”,

“trong văn bản, biến cố là sự di chuyển của nhân vật qua ranh giới của trường ngữ nghĩa”, hay “biến cố luôn là sự vi phạm một ngăn cấm nào đó, là

sự việc đã xảy ra dù không nhất thiết phải xảy ra” Trên cở sở này, có thể chia văn bản thành hai nhóm: có cốt truyện và phi cốt truyện Theo đó, văn bản có cốt truyện được xây dựng trên cơ sở văn bản phi cốt truyện với tư cách phủ định nó văn bản có cốt truyện trong khi đặt ra sự ngăn cấm này đối với mọi nhân vật lại để cho một nhân vật (hay một nhóm nhân vật) không bị lệ thuộc vào nó Cũng theo LM, biến cố bất biến đổi có thể được xem như một ngôn ngữ, trong ngôn ngữ ấy cốt truyện được tạo ra với tư cách như là một thông báo nào đó Có thể thấy rằng, cốt truyện có liên quan mật thiết đến ba yếu tố cấu hình: khung khổ, không gian và nhân vật

- Nghệ thuạt nguyên là tái hiện đời sống, trong khi tái hiện, nghệ thuật sử dụng các chất liệu được mã hoá (ngôn ngữ, hình ảnh con người, thiên nhiên, màu sắc, chi tiết đời sống ) rồi theo ý tưởng của mình mà tạo ra một cái được biểu đạt mang hình thức biểu đạt khác với đời sống Như thế, văn học vừa là nghệ thuật ngôn từ lại vừa là khách thể kí hiệu tạo ra một cái biểu đạt mới [Trần Đình Sử, 2017]

1 Tô pô hay Tô pô học là một ngành toán học nghiên cứu các đặc tính được bảo toàn qua sự biến dạng, sự xoắn, và sự kéo giãn, trừ việc xé rách và dán dính Do đó topos còn được xem như

là “hình học của màng cao su” Không gian tô pô là nưhnxg cấu trúc cho phép người ta hình thức hoá các khái niệm như là sự hội tụ, tính liên thông và tính liên tục Chúng xuất hiện hầu như trong tất cả các ngành toán học hiện đại.

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w