1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN học PHÊ BÌNH SINH THÁI NGÀY của KIẾN của BERNARD WERBER

189 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Học Phê Bình Sinh Thái Ngày Của Kiến Của Bernard Werber
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phê bình sinh thái, ở phương diện lịch sử nghiên cứu, trong bài viết: “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái” do Đỗ Văn Hiểu sơ dịch từ cuốn Đương đại Tây phương tối tân văn

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGÀY CỦA KIẾN CỦA BERNARD WERBER VÀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI 12

1.1 Bernard Werber và tiểu thuyết Ngày của kiến 12

1.1.1 Về tác giả Bernard Werber 12

1.1.2 Về tiểu thuyết Ngày của kiến 14

1.2 Phê bình sinh thái và những góc nhìn mới trong văn học 16

1.2.1 Lược sử phê bình sinh thái 16

1.2.2 Thi pháp sinh thái trong phê bình tác phẩm văn học 21

Tiểu kết 26

CHƯƠNG 2: KIẾN VÀ NGƯỜI TRONG CHỈNH THỂ SINH THÁI 27 2.1 Thế giới côn trùng trong Ngày của kiến 27

2.1.1 Những vương quốc côn trùng 28

Trang 2

2.1.2 Thế giới quan của nhân vật kiến 35

2.2 Loài người trong Ngày của kiến 48

2.2.1 Loài người trong điểm nhìn của các sinh vật khác 48

2.2.2 Loài người trong điểm nhìn của đồng loại 60

2.3 Thế giới song hành của kiến và người 72

2.3.1 Thế giới song hành và đa thực tại 72

2.3.2 Cấu trúc đa thực tại trong Ngày của kiến 75

Tiểu kết 85

CHƯƠNG 3: SINH THÁI TRUNG TÂM LUẬN TRONG NGÀY CỦA KIẾN 88

3.1 Từ “Nhân loại trung tâm luận” 88

3.1.1 Câu chuyện tiến hóa và những ngộ nhận 88

3.1.2 Tiến vào những ảo vọng trung tâm 92

3.1.3 Giải trung tâm - Mọi thứ đều là sinh thái 100

3.2 Đến “Sinh thái trung tâm luận” 110

3.2.1 Dẫn đường vào sinh thái 110

3.2.2 Điều bình và dung nhập như là nguyên tắc sinh thái 118

3.2.3 Lắng nghe và đối thoại như là giải pháp sinh thái 130

Tiểu kết 141

KẾT LUẬN 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

Tài liệu tiếng Việt 145

Tài liệu tiếng Anh 148

Tài liệu trực tuyến 149

Trang 3

PHỤ LỤC 152

Tóm tắt chi tiết Ngày của kiến 152 Một số hình ảnh minh họa 188

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi tôi bắt đầu viết những dòng này thì bên ngoài trời vẫn đang mưa, ảnh hưởng

từ một đợt áp thấp nhiệt đới Những cơn bão đến từ biển vốn không mấy xa lạ với mộtquốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, nhưng hiện tượng khí hậu cực đoan trong haithập kỷ trở lại đây dường như tăng lên về cường độ, tần suất, diễn biến thiên tai cũngngày càng phức tạp, không theo quy luật như trước Đó là những gì mà chương trình

dự báo thời tiết thường đề cập, còn lúc này, tôi chợt nhớ ra rằng đã lâu tôi không cònđược nghe tiếng dế kêu ở ngoài kia Có thể vì đêm nay mưa to át đi tiếng thổn thức củanhững loài côn trùng nhỏ bé, nhưng có lẽ, khi sắt thép và bê tông của phố thị mọc lên

đã mang đi những đồng cỏ và bụi cây rồi

Có thể nói rằng sự phát triển của nền văn minh nhân loại đã làm biến đổi nhanhchóng môi trường sinh thái So với giữa thế kỷ 18, dân số thế giới đã tăng 4 lần, sảnlượng công nghiệp gia tăng 100 lần, tạo ra những thay đổi rõ rệt ở quy mô toàn thếgiới Và nền văn minh của chúng ta được biểu hiện rõ rệt trên khắp bề mặt địa cầu, nhất

là từ sau thế kỷ 20 Đi cùng với đó là cảnh quan khắp nơi bị hủy hoại, các nguồn hảisản cạn kiệt, các vùng đất cằn cỗi do bị khai thác kiệt quệ bởi cả công nghiệp và nôngnghiệp Khí thải từ những hoạt động của con người gây nên lỗ thủng tầng Ozone vàhiệu ứng nhà kính, thậm chí là cả những đám mây mang bụi phóng xạ của những vụ nổhạt nhân… Thế kỷ 20 qua đi để lại những món nợ môi sinh mà hậu thế cần giải quyết Nhưng trong những bi quan về tương lai vẫn còn hy vọng, có những lớp ngườitrong thế kỷ 20 vẫn dành cho môi trường những mối quan tâm sâu sắc về các phươngdiện văn hóa xã hội, kinh tế và công nghiệp Nhân loại cần phải thừa nhận rằng vấn đềbảo tồn sinh thái giờ đây đã không còn là một câu chuyện viển vông Mà nó gắn liềnvới cuộc sống hàng ngày của mỗi người và tương lai của con em chúng ta Nhân loạicần thiết phải phát triển bền vững, mà điều đó tất yếu sẽ dẫn đến những lựa chọn vănhóa và những lựa chọn về giá trị mà xã hội buộc phải quyết định

Trang 5

Phê bình sinh thái (Ecocriticism) chính là một hướng đi nảy sinh và phát triển từ

xu thế này Khởi phát từ Anh - Mỹ và lan rộng khắp Phương Tây, phê bình sinh tháingày càng mở rộng và thu hút được nhiều sự quan tâm trên khắp thế giới, trong đó có

cả những quốc gia Phương Đông đang chịu những tác động tiêu cực từ quá trình biếnđổi khí hậu, ô nhiễm môi trường Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ Những sự

cố môi trường cùng những di họa của nó trong thời gian gần đây, xảy ra trên khắp thếgiới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, là lời cảnh báo đến mọi cá nhân, tổ chức, mọilĩnh vực về sự nguy cấp mà sinh thái đang hứng chịu Văn học cũng không thể đặtmình bên ngoài công cuộc thay đổi nhận thức của cộng đồng Trước hết nó kêu gọiviệc xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng về các phương diện kinh tế, văn hóa và sinh tháicần phải được tiến hành Qua đó thúc đẩy những hành động tiến bộ trong việc xâydựng mối quan hệ của con người với môi trường sinh thái, để bảo vệ sinh thái và pháttriển bền vững cùng với nó Như thế, phê bình sinh thái đã gợi ý một sự truy xét đếncùng về trách nhiệm của nghệ thuật cũng như vấn đề bản thể của văn học

Tuy nhiên, việc đánh giá những tác phẩm văn học dưới góc nhìn phê bình sinhthái ở Việt Nam chưa thực sự được phổ biến và quan tâm đúng mức, đủ để tạo nên mộtsức ảnh hưởng nhất định trong xu thế chung của văn học thế giới Do đó, cùng vớinhững hy vọng và lạc quan, người viết muốn đưa đến một cách tiếp cận thú vị về tác

phẩm Ngày của kiến của Bernard Werber từ góc nhìn phê bình sinh thái Biết đâu, đây

sẽ là một thể nghiệm, một gợi ý nào đó cho những người đồng chí, đồng ý, đồng tình

hay bất cứ ai quan tâm đến tác phẩm Ngày của kiến nói riêng và vấn đề sinh thái nói

chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Luận văn này liên quan đến hai mảng chính, đó là tiểu thuyết Ngày của kiến và

phê bình sinh thái Thông qua góc nhìn của phê bình sinh thái, người viết sẽ diễn giải,phân tích, đánh giá tác phẩm trên của Bernard Werber

Về phê bình sinh thái, ở phương diện lịch sử nghiên cứu, trong bài viết: “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái” do Đỗ Văn Hiểu sơ dịch từ cuốn Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình của Vương Nhạc Xuyên (2008) [65]; cùng với luận án Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái [29] của tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt; các nghiên cứu đều cho rằng là phê

bình sinh thái một phong trào khởi phát từ những năm 70 của thế kỷ 20 khi những dấu

Trang 6

hiệu khủng hoảng môi trường ngày càng rõ rệt; nhưng cội rễ phê bình sinh thái đã có từrất lâu trước đó trong tư tưởng lý luận và những nghiên cứu của Darwin, Rousseau,Heidegger … Xuất phát từ nền tảng tư tưởng triết học về sự tồn tại hài hòa và bền vữnggiữa con người và môi trường, từ cuối thế kỷ 20, những phong trào bảo vệ sinh thái đãnảy nở từ Phương Tây và lan rộng ra toàn thế giới, trên nhiều phương diện và nhiềulĩnh vực Trong xu thế đó, văn học, dù còn chút chậm chạm, nhưng cũng đã kịp hướngmối bận tâm của mình đến với vấn đề sinh thái

Từ những nghiên cứu trước tác về tự nhiên còn khá rời rạc của một số học giảPhương Tây, phê bình sinh thái đã tập trung được sự chú ý nhất định, thu hút giớinghiên cứu trên toàn thế giới Mà kết quả là sự xuất hiện của nó trong cuốn giáo trình

giới thiệu các trường phái lý thuyết văn học Giáo trình Nhập môn lý thuyết: dẫn luận

lí luận văn học và lý luận văn hóa (Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory, Manchester University press) tái bản năm 2002 do Peter Barry soạn thêm một chương mới là “Phê Bình sinh thái”.[29, tr 14] Từ đó, những học giả như

Peter Barry, Kate Rigby, Cheryll Glotfelty, Gifford Terry, Jonathan Bate, Grey Garrard,Lawrence Buell, Karen Thornber… đã không ngừng xây dựng, hệ thống hóa lý thuyếtcũng như mở rộng ứng dụng phê bình sinh thái trong văn học và phê bình văn học

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi sinh và phát triển bềnvững đang ngày càng được dư luận quan tâm, thế nhưng phê bình sinh thái vẫn còn làmột lý thuyết khá mới mẻ, kể cả đối với phần lớn những người có chút quan tâm đếnvăn học Ngay từ cái tên, nhiều người có thể sẽ có cảm tưởng rằng trường phái này có

vẻ thiên về khoa học tự nhiên hơn là khoa học xã hội, nhưng một phần nguyên nhânquan trọng hơn đó là do mức độ phổ biến và số lượng của những tài liệu phê bình sinhthái còn tương đối hạn chế Nếu chỉ tính những tài liệu tiếng Việt về Phê bình sinh thái,

ta thấy có sự góp sức rất lớn của những dịch giả, nhà nghiên cứu như Đỗ Văn Hiểu,Nguyễn Tiến Văn, Trần Đình Sử, Hải Ngọc, Bùi Quang Thắng… trong việc chuyểnngữ những nghiên cứu của Frederick Turner, KarenThornber, Kate Rigby… Đây là nềntảng quan trọng để hệ thống hóa và ứng dụng phê bình sinh thái vào văn học ở nước ta.Thông qua danh sách một số bài viết về phê bình sinh thái được liệt kê dưới đây, ta sẽthấy được phần nào quá trình du nhập và phát triển đó của Phê bình sinh thái:

- Bùi Quang Thắng (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa, NXB Khoa học xã hội

- Bùi Quang Thắng (2009), Nhân học sinh thái, đăng trên vanhoahoc.vn

Trang 7

- Frederick Turner (2012), “Thi pháp sinh thái”, Nguyễn Tiến Văn dịch từ tiếng Anh,

theo Bài nói chuyện tại cuộc họp vùng Cleveland, Hội xã Philadelphia ngày 21/9/2002,Nguồn: http://www.nhavantphcm.com.vn

- Đỗ Văn Hiểu (2012), “Phê bình sinh thái – Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân”, Tạp chí Sông Hương, số SH285/11-12

- Đỗ Văn Hiểu (2012), “Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển” (phần 1, 2), dịch từ tiếng Trung; Ngô Hương Giang hiệu đính thuật ngữ từ tiếng Anh; Tạp chí Nhà văn, số 11.

- Đỗ Văn Hiểu (2015), “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái”, Đỗ Văn Hiểu

sơ dịch từ cuốn “Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình” của Vương Nhạc

Xuyên, Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008 Nguồn: http://www.dovanhieu.net

- Karen Thornber (2013), Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học, Hải Ngọc

dịch, đăng trên khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

- Karen Thornber (2013), “Ecocritical and Literary Futures”, trong sách Simon C Estok, Won-Chung Kim (ed) (2013), East Asian Ecocriticisms A Critical Reade,

Palgrave Macmillan, New York, US

- Ngô Thị Thu Giang (2014), Cảm quan sinh thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,

Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, ĐH Thái Nguyên, Việt Nam

- Trần Đình Sử (2015), “Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay”, đăng trên trandinhsu.wordpress.com

- Đặng Thị Thái Hà (2014), “Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái”, đăng trên vietvan.vn

- Đặng Thị Thái Hà (2015), “Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời Đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, đăng ngày 03/08/2015, trên vannghequandoi.com.vn

- Trần Thị Ánh Nguyệt (2015) Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

từ góc nhìn phê bình sinh thái Luận án tiến sĩ Ngữ Văn; ĐH Sư Phạm Hà Nội, Việt

- Nguyễn Thị Tịnh Thy (2013), Phê bình sinh thái – nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc, Kỷ

yếu hội thảo khoa học quốc gia Văn học hậu hiện đại – Lí thuyết và thực tiễn, KhoaNgữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội

- Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), “Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: Sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học”, Tạp chí sông Hương, đăng trên khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

Trang 8

Tất nhiên, những bài viết trên không phải là một danh mục hoàn chỉnh và baogồm tất cả những nghiên cứu về phê bình sinh thái tại Việt Nam Nhưng từ đó ta cũngthấy rằng, từ khoảng năm 2015 đổ về trước, phê bình sinh thái là một lý thuyết còn khá

xa lạ trong nền văn học nước ta, có rất ít những bài viết chuyển ngữ về lý thuyết chứchưa kể đến những nghiên cứu ứng dụng của nó trong phê bình văn học Bản thânngười viết trước đó cũng rất bối rối khi bắt đầu theo đuổi hướng đi mới mẻ này Vì một

lý do ngẫu nhiên nào đó, rất gần với thời điểm luận văn này được chấp bút, dường nhưphê bình sinh thái đã gây được một sự chú ý nhất định, thông qua việc một số ngườilàm nghiên cứu đã chọn vấn đề môi trường tự nhiên làm điểm tựa cho những nghiêncứu văn học khác nhau của mình Tuy nhiên, hầu hết các bài viết mới chỉ dừng lại ởdạng ấn phẩm số hóa trên internet và một vài bài nghiên cứu trong các trường đại học,chứ chưa có một cuốn sách chuyên môn nào dành cho phê bình sinh thái Điều đó chothấy xu hướng nghiên cứu phê bình sinh thái tuy đã manh nha và bắt đầu phát triển ởViệt Nam nhưng vẫn còn rời rạc ở một mức độ nhất định Trong lúc ấy, sự tình cờ vềchủ đề đang tìm hiểu đã đưa tôi đến gần một luận án công bố năm 2015 của tác giảTrần Thị Ánh Nguyệt, viết về con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

từ góc nhìn phê bình sinh thái Nghiên cứu này đã trở thành một nguồn tham khảo quýgiá, cũng như một lời cổ vũ cho bản thân người viết mạnh dạn hơn trong việc thểnghiệm hướng đi ứng dụng phê bình sinh thái cho một tác phẩm văn học nước ngoài

Về tác phẩm Ngày của kiến của Bernard Werber, mặc dù cuốn tiểu thuyết này đã

được xuất bản tại Pháp năm 1992, nhưng đến tận năm 2012 người viết mới được tiếpcận bản dịch tiếng Việt của dịch giả Phùng Hồng Minh, thông qua ấn phẩm của nhàxuất bản Nhã Nam và nhà xuất bản Văn Học Ngoài những giới thiệu, đánh giá ngắngọn về cuốn sách này trên mạng xã hội hay tạp chí, người viết chưa tìm thấy những

nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm, nhất là dưới góc nhìn phê bình sinh thái Ngày của kiến là cuốn sách thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết về kiến của Bernard Werber So với cuốn sách đầu tiên là Kiến, cuốn sách thứ hai đem lại cho cá nhân người làm luận văn

một ấn tượng đặc biệt về sự đụng độ của hai nền văn minh kiến - người, mà qua đó,những vấn đề liên đới phát sinh thuận lợi cho hướng đi Phê bình sinh thái Bản dịch

cuốn sách thứ ba trong bộ tam tiểu thuyết có tên Cách mạng kiến xuất hiện hơi muộn

màng, nhưng may thay nó không gây ảnh hưởng nhiều đến quyết định lựa chọn đề tài

cũng như quá trình thực hiện Ngày của kiến, bởi mỗi cuốn sách trong bộ ba là một tiểu

thuyết hoàn chỉnh, độc lập tương đối với nhau Hy vọng rằng hai phần còn lại sẽ trở

Trang 9

thành những nguyên liệu tốt cho những nghiên cứu mới trong tương lai, dưới nhữngđiểm nhìn khác nữa ngoài sinh thái.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài của luận văn là Ngày của kiến của Bernard Werber từ góc nhìn phê bình

sinh thái Do đó, đối tượng chính của nghiên cứu sẽ không gì khác hơn là cuốn tiểuthuyết về kiến của nhà văn Bernard Werber, được dịch giả Phùng Hồng Minh dịch và

do nhà xuất bản Văn Học kết hợp với nhà xuất bản Nhã Nam giới thiệu năm 2011.Theo đó, luận văn sẽ tập trung vào những yếu tố sinh thái và những vấn đề liên quan

đến phê bình sinh thái xuất hiện trong tác phẩm Ngày của kiến.

Ở luận văn này, chúng tôi đề xuất những phương diện chính cần xem xét trong tác

phẩm Ngày của kiến, đó là: hình ảnh thế giới tự nhiên được mô tả trong tác phẩm; hình

ảnh con người và nhân loại dưới góc độ tự nhiên; cách xây dựng cấu trúc tương quan,tương tác giữa thế giới côn trùng và nhân loại; giải huyền thoại về nhân loại trung tâmluận, đồng thời, dịch chuyển từ nhân loại trung tâm luận sang sinh thái trung tâm luận.Thông qua những mối quan hệ giữa con người và những yếu tố tự nhiên được phản ánhtrong văn bản, chúng ta sẽ nhận diện những hướng đi sinh thái của con người, hòa giải

và chung sống bền vững cùng sinh thái trong tương lai

Trong phạm vi của nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu tập trung vào tác phẩm của

Ngày của kiến của Bernard Werber dựa trên hướng tiếp cận phê bình sinh thái Anh-Mỹ.

Không chỉ là phê bình sinh thái theo chiều sâu trong nội hàm văn bản, những phân tích

về tác phẩm còn được mở rộng theo hướng sinh thái xã hội, kết hợp với những kiếnthức đa lĩnh vực như xã hội học, nhân chủng học, sinh vật học, ký hiệu học… Từ đóthấy được quan điểm cũng như cách phản ứng của tác giả về những vấn đề sinh tháihiện diện trong tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những phương pháp thông dụng trong nghiên cứu văn học như thống

kê, phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh… đề tài sẽ kết hợp chúng thành nhữngnhóm phương pháp để vận dụng vào phân tích và làm rõ một số vấn đề sinh thái nhưsau:

Trang 10

- Phương pháp lịch sử, xã hội: Phê bình sinh thái là một hướng đi tất yếu trongquá trình vận động và tương tác giữa xã hội con người với môi trường tự nhiên Do đó

nó không tách rời hay nằm ngoài những vấn đề xã hội Phương pháp này giúp đề tàitìm hiểu tác phẩm dưới góc độ văn hóa xã hội và những tác động của nó lên các vấn đềsinh thái có trong văn bản

- Phương pháp so sánh, đối chiếu, liên văn bản: Những yếu tố liên quan đến sinhthái trong văn bản sẽ được so sánh, đối chiếu với những tác phẩm tương ứng đồng đạihoặc đồng chủ đề Đề tài cũng dùng thao tác so sánh để tìm kiếm mối liên hệ giữanhững vấn đề, hiện tượng sinh thái có trong tác phẩm với thực tiễn xã hội, đặc biệt vớinhững tri thức khoa học đa lĩnh vực như sinh học, xã hội học, ký hiệu học… Nhữngdấu hiệu cần đến phương pháp liên văn bản cũng sẽ được vận dụng để mở rộng nhữngmạch ngầm cốt truyện, phân tích những ẩn dụ trong văn bản

- Phương pháp cấu trúc và giải cấu trúc: Sử dụng phương pháp này, đề tài sẽ nốikết các thành phần của tiểu thuyết trong mối quan hệ chung với các vấn đề sinh thái.Bởi tính phức tạp của hệ thống cấu trúc câu chuyện mà mỗi phân đoạn của tác phẩmcũng cần được khám phá như một chỉnh thể thực sự Sự tái cấu trúc sau khi phân mảnhvăn bản, để cài đặt những “mã” sinh thái, tạo nên những hàm ý nghệ thuật mới, cũngrất đáng lưu ý

Ngoài ra, đề tài sử dụng thêm một số phương pháp hỗ trợ cho việc nghiên cứunhư: tự sự học, thi pháp học, ký hiệu học…, từ hướng nghiên cứu này, chúng ta sẽ

khám phá Ngày của kiến ở một góc nhìn phê bình sinh thái trong thời đại khủng hoảng

môi sinh

5 Đóng góp của luận văn

Xu hướng nghiên cứu văn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái có thể sẽ là mộttrong những hướng đi đáng chú ý trong thời gian tới Do đó, khi chọn đề tài này, ngườiviết mong muốn có những đóng góp nhất định trong việc áp dụng phê bình sinh thái

vào phân tích tác phẩm văn học, cụ thể là cuốn sách Ngày của kiến của Bernard

Werber Cùng với đó là việc chỉ ra thủ pháp sáng tạo, những kỹ thuật viết đặc biệt trongthi pháp sinh thái ẩn giấu trong văn bản

Trang 11

Hơn nữa, việc khám phá Ngày của kiến ở một góc nhìn phê bình sinh thái đầy

mới mẻ và hấp dẫn có thể sẽ tạo nên cảm hứng cho bất kỳ ai yêu thích những tiểuthuyết của Bernard Werber - một tác giả đặc biệt khéo léo trong lối viết kết hợp giữa trithức khoa học tự nhiên với khoa học xã hội, giữa khoa học giả tưởng với phiêu lưuhành động Bằng một niềm yêu thích về chủ đề cũng như giọng văn vừa mạch lạc, khoahọc, vừa dí dỏm trong tiểu thuyết, người viết luận văn sẽ cố gắng phần nào truyền tảiđược điều đó thông qua việc dẫn dắt những khám phá về tác phẩm bằng những ngôn từthật nhẹ nhàng và thân thiện Cũng như tinh thần của Bernard Werber Những tri thứckhoa học, những thông điệp sinh thái, những triết lý nhân sinh, dù phức tạp thế nào thìcũng nên được truyền một cách lôi cuốn, dễ hiểu và gieo đầy cảm hứng

Tính đến thời điểm luận văn này được tiến hành thì chưa có một công trìnhnghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề tài này ra đời Hy vọng rằng những vấn đề môi

trường, tự nhiên và xã hội trong phạm vi nghiên cứu tiểu thuyết Ngày của kiến sẽ là

một nguồn tham khảo hữu ích cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu, lẫn sáng tácvăn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái trong thời gian tới

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm có ba chương chính:

- Chương 1: Giới thiệu Ngày của kiến của Bernard Werber và lý thuyết phê bình

sinh thái

Chương này giới thiệu tác giả Bernard Werber và tiểu thuyết Ngày của kiến và

trình bày sơ lược về lý thuyết phê bình sinh thái, tóm tắt lịch sử hình thành, phát triểncùng những vấn đề chính trong thi pháp của nó

- Chương 2: Kiến và Người trong chỉnh thể sinh thái

Luận văn chọn phân tích so sánh hình ảnh thế giới côn trùng và con người mộtcách đa chiều, thông qua điểm nhìn đa dạng trong tác phẩm Từ đó thấy được thế giới

tự nhiên phức tạp hơn những gì ta từng biết, và hình ảnh nhân loại dưới con mắt sinhthái cũng không hoàn toàn tốt đẹp như ta tưởng Thú vị hơn, ta sẽ cùng khám phánhững thế giới song hành của kiến và người được tác giả thể hiện một cách đặc biệttrong cấu trúc đa thực tại của tác phẩm

Trang 12

- Chương 3: Sinh thái trung tâm luận trong Ngày của kiến

Có thể đây sẽ là chương tạo nên nhiều cảm xúc trái chiều, bởi nó sẽ làm lung laynhững niềm tin cố hữu về một nhân loại trung tâm luận Trong đó, vạn vật bị đo lường

và đánh giá qua những tiêu chuẩn vô lý của con người Những ngộ nhận, những ảovọng của nhân loại về sinh thái trong tác phẩm sẽ được vạch ra và bị phủ nhận Hànhtrình khám phá những kỹ thuật tự sự trong văn bản sẽ đưa đến những hiệu ứng giải cấutrúc, giải huyền thoại và giải trung tâm, đồng thời hình thành nên một trung tâm luậnmới mà bản thân nó vốn dĩ đã không phải là một trung tâm: sinh thái trung tâm luận

Từ đó, tác phẩm gợi ý về những nguyên tắc sinh thái, giải pháp sinh thái như là nhữngphái sinh tất yêu nảy sinh từ cuộc dịch chuyển trung tâm này

Trang 13

CHƯƠNG 1:

GIỚI THIỆU NGÀY CỦA KIẾN CỦA BERNARD WERBER

VÀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI

Bernard Werber nổi danh với bộ ba tác phẩm viết về kiến của mình, nhưngkhông chỉ là một nhà văn nổi tiếng, ông còn là một nhà nghiên cứu tự nhiên đầytài năng Dù hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực nào, từ viết văn, viết báo, nghiên cứukhoa học, làm đạo diễn, hay tham gia hội họa… thì Bernard Werber cũng luôn nỗlực thể hiện khả năng và tâm huyết của mình Chương này sẽ cung cấp cho chúng

ta những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm, tóm lược lịch sử phê bình sinh thái

và những vấn đề về thi pháp sinh thái nói chung trong việc vận dụng vào phê bìnhvăn bản Thông qua những lý thuyết của phê bình sinh thái, chúng ta sẽ bắt tay

vào tìm hiểu tác phẩm Ngày của kiến – một trong bộ ba tiểu thuyết trứ danh về

kiến của Bernard Werber

1.1 Bernard Werber và tiểu thuyết Ngày của kiến

1.1.1 Về tác giả Bernard Werber

Bernard Werber sinh ngày 18 tháng 9 năm 1961 tại Toulouse, là một nhà vănngười Pháp Nhắc đến ông, người ta không thể không nhắc đến bộ ba tác phẩm trứdanh viết về kiến Chi tiết tiểu sử của mình cũng đã được Bernard Werber đăng tải trêntrang web của ông: bernardwerber.com, vì vậy, người viết xin được giới thiệu ngắn mộtvài dấu mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp tác giả như sau

Thuở nhỏ, Bernard Werber rất thích vẽ và mơ ước trở thành một nhà thiết kếchuyên nghiệp Đến năm 8 tuổi, cậu bé Werber cho ra đời tác phẩm đầu tay của mình,

đó là một câu chuyện về một con bọ chét đi dạo khắp cơ thể con người Cũng từ đây,giấc mơ hội họa ban đầu của cậu bé rẽ sang một hướng khác Năm 13 tuổi, BernardWerber tham gia biên tập, viết bài, cũng như sáng tác truyện khoa học viễn tưởng cho

tờ báo trường trung học của mình

Trang 14

Sau khi tốt nghiệp Đại học, năm 1978, ông bắt đầu viết một kịch bản hoạt hình

dài bảy trang có tên là “Fourmis” (Những con kiến), sự thành công của nó là động lực

để ông xây dựng một tác phẩm lớn hơn về kiến Bernard Werber đã trở thành một nhàvăn tự do của nhiều tờ báo (L'Événement, Le Point, VSD, v.v.) sau khi hoàn thànhnghiên cứu về tội phạm học tại Toulouse và báo chí tại ESJ ở Paris Từ năm 1983 đến

1990 ông trở thành một nhà báo chuyên viết về đề tài khoa học tại Nouvel Observateur

Bernard Werber đã thực hiện một phóng sự lớn tại Côte d'Ivoire ở Châu Phi, cùngvới giáo sư Leroux Theo dấu những “thuộc địa” kỳ lạ của một giống loài bé nhỏ trênhành tinh: những con kiến Châu Phi, họ theo dõi loài kiến Magnans cùng những cuộc

di cư vĩ đại của chúng Những quan sát và nghiên cứu thú vị này đã đem đến cho ônggiải thưởng từ Quỹ dành cho phóng viên trẻ tuổi xuất sắc nhất về phóng sự ở Châu Phi,tại Trung tâm Ecotrope ở Lamt Ông cũng tham gia viết những bài ghi chú hài hướctrong tạp chí Eureka Tình yêu khoa học hòa quyện với tâm hồn nghệ sĩ đã hướngBernard Werber viết lên những tác phẩm đặc sắc về những chủ đề đa dạng mà ông yêuthích, về loài kiến, về cái chết, và về nguồn gốc của loài người

Tháng 3 năm 1991, Bernard Werber xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông có

nhan đề “Les Fourmis” (Kiến) Ngoài sáng tác tiểu thuyết, Werber còn tham gia một số

lĩnh vực khác như biên tập, đạo diễn, hội họa… Trong sáng tác nghê thuật, dù là hìnhthức nào ông cũng thể hiện rất tốt năng lực của mình Trên nền tảng là một nhà báochuyên viết mảng khoa học cho tờ Nouvel Observateur, Bernard Werber rất khéo léokhi kết hợp giữa khoa học viễn tưởng với phong cách thần thoại và hành động phiêulưu, giữa tri thức khoa học liên ngành phức tạp với triết lý cuộc sống nhẹ nhàng, giữacái bé nhỏ và giản đơn của thế giới côn trùng với cái rộng lớn và phức tạp của vănminh nhân loại Cùng với sự thành công của bộ ba tiểu thuyết về kiến, nhà văn ngườiPháp này được xem như là người đã khai sinh ra phong cách văn chương khoa học giảtưởng kết hợp cùng truyện kể triết học

Trong hầu hết các tiểu thuyết của mình, Bernard Werber sử dụng thuần thục kỹthuật đan xen, liên kết mạch truyện chính với những chi chú ngắn, những bài báo, tríchđoạn từ bách khoa toàn thư tương ứng với chủ đề đang tường thuật Những phần kếtnối, giao cắt từng giai đoạn này đem đến những gợi ý bổ sung, mở rộng chủ đề cho câuchuyện, kết nối các phần rời rạc về không gian hay thời gian, hoặc làm một bước đệm

để chuyển cảnh sang một câu chuyện khác Ta sẽ được quan sát lối viết đặc sắc này một

Trang 15

cách cụ thể hơn trong tác phẩm Ngày của kiến - một trong bộ ba tiểu thuyết đặc sắc về

loài kiến của Bernard Werber

1.1.2 Về tiểu thuyết Ngày của kiến

Tiểu thuyết Ngày của kiến được xuất bản tại Pháp năm 1992 dưới nhan đề tiếng Pháp là Le Jour des fourmis Đây là cuốn sách thứ hai trong bộ ba tác phẩm viết về kiến của Bernard Werber, tiếp nối sự thành công của tập đầu tiên có tên là Les Fourmis

(Kiến)

Ở phần đầu, Kiến là câu chuyện kể về việc phát hiện sự tồn tại của những “kẻ

khác” đến từ bên ngoài vương quốc kiến, cùng với đó là những cuộc tiếp xúc đầu tiêngiữa hai nền văn minh kiến và Ngón Tay – con người theo cách gọi của kiến Tiếp nốinhững tiếp xúc ban đầu này là những tương tác, xung đột giữa hai thế giới, mà đỉnhđiểm là cuộc thập tự chinh của liên quân côn trùng chống lại những Ngón Tay trong

phần thứ hai Ngày của kiến Đúng như lời của hoàng tử kiến số 24 về ba giai đoạn

logic của quá trình thông hiểu giữa hai thế giới khác biệt, đó là tiếp xúc, đối đầu và hợptác Sau khi những cao trào tranh đấu và hủy diệt qua đi, cả hai nền văn minh kiến vàngười đều không thể hủy hoại lẫn nhau, mà cả hai đều cần đến nhau để tồn tại bền

vững trong mối ràng buộc về quan hệ sinh thái Tập cuối Cách mạng kiến là một câu

chuyện chứa đựng ý tưởng hợp tác giữa hai loài, và cũng đồng thời khép lại bộ ba câuchuyện về kiến của Bernard Werber

Có lẽ, phần thứ hai Ngày của kiến trong bộ ba tác phẩm của Bernard Werber chứa

đựng một sức hấp dẫn khá đặc biệt, bởi những mâu thuẫn và xung đột giữa hai loàiđược đẩy lên cao trào Đồng thời, cấu trúc và ý nghĩa câu chuyện được tác giả thiết kế

đa tầng, liên văn bản, đan xen cả những hệ thống ký hiệu và biểu tượng mang tinh thầnsinh thái luận Chỉ trong một tác phẩm này, cùng lúc ta có thể trải nghiệm nó qua nhiều

thể loại, Ngày của kiến vừa là một bản hùng ca bi tráng huyền thoại về cuộc trường

chinh vĩ đại loài kiến, một truyện phiêu lưu trinh thám của những nhân vật người, mộttập hợp trích đoạn của những nghiên cứu trong cuốn bách khoa toàn thư bí ẩn… Nhữngcâu chuyện ấy hòa quyện trong rất nhiều tri thức khoa học đa ngành, đa lĩnh vực, nhất

là kiến thức về chủ đề sinh vật học, sinh thái học mà Bernard Werber cung cấp Tất cả

Trang 16

đã tạo nên một phong vị rất riêng của Bernard Werber và cũng phù hợp để chúng ta cóthể quan sát tác phẩm dưới góc nhìn phê bình sinh thái.

Bởi sự đặc biệt trong lối viết phân mảnh câu chuyện, đan xen không thời gian, kết

hợp cả những ghi chú, trích dẫn gián tiếp… cũng như việc tác giả không chia Ngày của kiến theo chương mục theo cách thông thường, nên câu chuyện có thể được tóm tắt

bằng nhiều cách: theo chuỗi sự kiện gắn với hai thế giới kiến – người; hoặc theo diễnbiến trong từng nhóm nhân vật (nhóm côn trùng thập tự chinh, nhóm người điều traphá án, nhóm kiến hữu thần và nhiệm vụ Sao Thủy, nhóm người mắc kẹt dưới lòngđất…) Nhưng để tiện theo dõi và nhìn nhận tác phẩm dưới góc nhìn phê bình sinh thái,

Ngày của kiến sẽ được tóm tắt theo lối đơn giản và ngắn gọn nhất như sau:

Tóm tắt sơ lược Ngày của kiến 1

Thành phố Fontainebleau xảy ra hàng loạt án mạng một cách bí ẩn gần như không

để lại dấu vết Đội trưởng Jacques Méliès và cô phóng viên Laetitia Wells cùng thamgia phá án Các manh mối về vụ án đều liên quan đến “KIẾN”

Sâu trong khu rừng Fontainebleau là nền văn minh kiến Myrmécéen với đô thịtrung tâm Bel-o-kan do kiến chúa Chli-pou-ni trị vì Kiến và nhiều loài côn trùng nhậnthấy những Ngón Tay quá nguy hiểm và tàn ác Chúng cùng nhau lập quân đoàn thập

tự chinh để quyết sạch các Ngón Tay khỏi mặt đất, do kiến 103 683 (gọi tắt là 103) chỉhuy, đi cùng nó có kiến lính số 9, 23 và 24 Trong lúc đó, giữa lòng đô thị tồn tại đámkiến nổi loạn hữu thần cuồng tín tôn thờ các Ngón Tay

Xen kẽ câu chuyện là những trích đoạn của cuốn Bách khoa toàn thư kiến thức tương đối và tuyệt đối II, do Edmond Wells viết Các chương đôi lúc xuất hiện những

đoạn quảng cáo, chương trình thời sự, “game show” đố vui Bẫy Suy Tưởng

Dưới chân tổ kiến Bel-o-kan là căn hầm của một ngôi đền bí mật mà bà AugustaWells cùng mười bảy người khác tìm kiếm ông Edmond Wells và lạc vào Trong đó có

cỗ máy Đá Hoa Thị, do ông Edmond Wells chế tạo, giúp con người giao tiếp được vớikiến Trong khi mọi người tìm cách sống sót và thích nghi với cuộc sống cô lập, cậu bé

1 Tham khảo thêm tóm tắt chi tiết Ngày của kiến theo “Sáu bí quyết” của Bernard Werber

được dẫn trong Phụ lục.

Trang 17

Nicolas dùng cỗ máy này để tuyên truyền cho lũ kiến rằng các Ngón Tay là Chúa Trời

và bắt chúng cung cấp thức ăn Vì trò nghịch ngợm của Nicolas, những con kiến hữuxuất hiện, thậm chí chúng cuồng tín chống lại bầy đàn Kiến 103 tiếp xúc với chúng vàđược giao thêm “nhiệm vụ Sao Thủy”: liên lạc với những Ngón Tay tử tế và trao cho

họ cái vỏ kén bướm đặc biệt, trong quá trình tiến hành thập tự chinh

Jacques Méliès và Laetitia Wells lần theo dấu vết của một bầy kiến lạ và phát hiện

ra vợ chồng nhà Arthur, chính họ đã tạo ra bản sao của cỗ máy Đá Hoa Thị và chế tạo

ra những con rô bốt kiến siêu nhỏ Những con kiến máy này tự tư duy và tìm giếtnhững nhà nghiên cứu thuốc diệt kiến

Đoàn quân kiến viễn chinh qua nhiều vùng đất, đánh bại vô số kẻ thù, kết nạpnhiều đồng minh Kiến 103 khôn ngoan già dặn chiến trường, số 9 dũng cảm, số 23cuồng tín và nham hiểm, số 24 ngây thơ dễ lạc đường… Đoàn quân đi qua một hòn đảoxinh đẹp, số 24 xin tách đoàn ở lại để xây dựng một xã hội lý tưởng Đoàn quân tiếptục đi đến rìa bên kia thế giới Cuộc thập tự chinh của côn trùng vô tình bị đánh bạithảm hại bởi một chiếc xe bồn rửa đường Riêng kiến 103 còn sống và tiếp tục “nhiệm

vụ Sao Thủy” Nó tiếp xúc và giao tiếp thành công với “Ngón Tay” Jacques Méliès vàLaetitia Wells 103 tìm hiểu về ghi chép cảm quan của mình về thế giới các Ngón Tay,sau đó dẫn họ về đô thị Bel-o-kan để giải cứu những người sống sót trong căn hầm bímật Truyện kết thúc trong khung cảnh thanh bình của lễ hội Phục Sinh tại Bel-o-kan

1.2 Phê bình sinh thái và những góc nhìn mới trong văn học

1.2.1 Lược sử phê bình sinh thái

Ngay từ tên gọi của mình, phê bình sinh thái gợi cho người ta ý niệm về một sựkết hợp giữa sinh thái học và văn học Sự kết hợp này được cho là đã bắt đầu hìnhthành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ XX với tư cách là một khuynh hướngphê bình văn hóa và văn học Khuynh hướng này tiếp tục được tiếp thu và lan rộng ranhiều nước trên thế giới Nhưng cội nguồn của nó đã được manh nha từ trước đó khálâu rồi

Trang 18

Trên cơ sở những nghiên cứu về lịch sử phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh

Nguyệt trong luận án về “Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái” [29], kết hợp với phần cứ liệu viết về quá trình phát sinh

và phát triển của lí luận sinh thái trong bài viết: “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái” do Đỗ Văn Hiểu sơ dịch từ cuốn “Đương đại tây phương tối tân văn luận giáo trình” của Vương Nhạc Xuyên (2008) [65]; trong phạm vi ứng dụng của đề tài,

người viết xin được tóm lược lại lịch sử của phê bình sinh thái như sau:

Thuật ngữ “Sinh thái học” (Ecology) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Oikos và logos Trong đó, logos là khoa học hay học thuật Các oikos là đơn vị cơ bản của xã hội ở hầu

hết các thành bang Hy Lạp, nó có nghĩa là nhà hay nơi ở Trong một nghĩa hẹp, sinhthái học là khoa học nghiên cứu về “nhà”, “nơi ở” của sinh vật Rộng hơn, ta có thểxem sinh thái học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật hoặc một nhómhay nhiều nhóm sinh vật với môi trường xung quanh Khái niệm sơ lược về sinh thái đãđược nhà khoa học Hy Lạp, Phrastus, đề cập vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên,thông qua những ý niệm về mối quan hệ giữa vật chất sống và không sống

Cho đến khi Charles Darwin công bố cuốn sách “Nguồn gốc các loài” của mình,những nghiên cứu sinh vật học đã đưa ra các bằng chứng khoa học không thể phủ nhận

về nguồn gốc sinh vật của nhân loại Theo đó, không có loài nào sinh ra để đứng ở vịtrí cao hơn những loài khác, con người cần được thức tỉnh khỏi những ảo vọng thốngtrị thế giới tự nhiên Do vậy, chúng ta cần thiết phải tôn trọng sự tồn tại của mọi tạovật Thuyết tiến hóa của Darwin có vai trò thúc đẩy không nhỏ đối với sự phát triển của

tư tưởng triết học sinh thái Cùng với những tư tưởng sinh thái của Rousseau,Heidegger, hệ thống tư tưởng con người là kiểu mẫu của muôn loài dần bị lung lay Tuynhiên, thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật họcngười Đức Ernst Haeckel đưa ra Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho một ngànhkhoa học chuyên nghiên cứu về mối tương quan giữa thế giới động vật (thành phầnmôi trường hữu sinh) với các điều kiện và thành phần môi trường vô sinh

Cuối thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của công nghiệp là những dấu hiệu rõ rệtcho thấy ngôi nhà chung của nhân loại đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự hủy hoạimôi sinh của con người Nhà nhân học văn hóa Mỹ, Margaret Mead, từng nói "Chúng

Trang 19

ta sẽ không có xã hội nếu chúng ta hủy diệt môi trường"1 Những phong trào bảo vệsinh thái cũng vì thế mà khởi phát Đứng trước những nguy cơ thảm họa môi trường,nhiều ngành khoa học tự nhiên và nhân văn đã hưởng ứng tinh thần sinh thái này, vănhọc cũng chung tay bảo vệ, phát đi những thông điệp cảnh báo mang tính toàn cầu

Năm 1972, thuật ngữ “phê bình sinh thái” (Ecocriticism) lần đầu tiên được dụng ý

đề xuất bởi William Rueckert trong bài viết “Văn học và sinh thái học: Một phác thảo thử nghiệm phê bình sinh thái” (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism), đăng trên tạp chí Bình luận Iowa số mùa đông Ông nhấn mạnh nguyên

lý: mọi thứ đều liên kết với những thứ khác (“Everything is connected to everythingelse”), không có thứ gì tồn tại độc lập tuyệt đối Ông cũng kêu gọi kết hợp văn học vớisinh thái học để tạo nên văn chương sinh thái, từ đó khơi gợi được “lương tâm sinhthái” (Eco Ethic) của mỗi người, đồng thời nhà phê bình cũng cần phải có cái nhìn sinhthái học trong nghiên cứu Vì vậy, nhà thơ Walt Withman (thế kỷ XIX) có thể xem làđại biểu của nền văn chương sinh thái Âu Mỹ thời kỳ này

Trên cơ sở đó, phê bình sinh thái được hình thành và phát triển theo hai hướng:Phê bình sinh thái xã hội (Social Ecology) và Phê bình sinh thái chiều sâu (DeepEcology) Trong giới hạn của luận văn này, phê bình sinh thái chiều sâu sẽ được chú ýnhư là một hướng đi quan trọng trong việc định hướng phê bình các tác phẩm văn học

Thuật ngữ “Sinh thái học chiều sâu” (Deep Ecology) được triết gia Na Uy, Erne Naess,

đề xuất năm 1978 Ông nhấn mạnh sự cực đoan của tính hiện đại khiến con người tựtách mình ra khỏi sinh thái và lao vào cuồng vọng bóc lột tự nhiên bất chấp hậu quả.Sinh thái học chiều sâu một lần nữa khẳng định tính bình đẳng của vạn vật, cho rằngmỗi sinh vật đều có giá trị tự thân để tồn tại, không phụ thuộc vào giá trị, quan điểmthực dụng của con người Vì thế chúng ta cần tôn trọng tính đa dạng phong phú của tựnhiên, đồng thời thay thế chủ nghĩa nhân loại trung tâm bằng chủ nghĩa sinh thái trungtâm, giá trị của toàn bộ hệ thống thế giới nên được đánh giá lại Từ đó con người điềuchỉnh lại vị trí của bản thân trên trái đất

Trong xu thế chung của thế giới hướng đến một môi trường bền vững, phê bìnhsinh thái (Ecocriticism) sau khi khởi phát tại Hoa Kỳ đã tiếp tục tạo nên những dấumốc lịch sử khởi đầu đáng chú ý: Năm 1989, thay vì một con người nổi tiếng nào đó

1 Nguyên văn: We won’t have a society if we destroy the environment, Margaret Mead

Trang 20

được đề cử như thường lệ, tạp chí Time đã đưa chủ đề “trái đất lâm nguy” trở thànhnhân vật tiêu biểu của năm; năm 1990, Đại học Nevada đã thành lập Khoa Văn học vàMôi trường; năm 1991, một hội thảo về Phê bình sinh thái đã được tiến hành Đến năm

1996, tuyển tập Văn bản phê bình sinh thái do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủbiên được xuất bản Cuốn sách này được công nhận là tài liệu nhập môn của phê bìnhsinh thái

Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu trước tác về tự nhiên còn khá rời rạc của một sốhọc giả Phương Tây trong những thập kỷ trước, phê bình sinh thái đã thu hút được sựchú ý nhất định của giới nghiên cứu ở nhiều quốc gia Tại Luân Đôn, tuyển tập Viết vềmôi trường: phê bình sinh thái và văn học do nhà phê bình người Anh R.Kerridge vàN.Sammells chủ biên được xuất bản năm 1998 Đây được xem là bộ tuyển tập phê bìnhsinh thái đầu tiên ở Anh

Năm 2000 cũng là năm phát triển mạnh của phê bình sinh thái, xuất hiện những

chuyên luận và hàng loạt các tuyển tập quan trọng Trong đó có chuyên luận Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên (Farther Afield in The Study of Nature – Oriented Literature Charlottesville: University Press of Virginia, 2000) Cuốn sách

này của giáo sư Murphy viết về tiểu thuyết, văn xuôi phi tiểu thuyết, và thơ ca qua cách

nhìn của văn học sinh thái Chuyên luận Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mỹ của

Meisel bàn luận về lí luận phê bình sinh thái và môi trường, phong cảnh, hoang dã , và

Bài ca của trái đất của Bate cũng đi sâu vào bình luận về lí luận phê bình sinh thái…

Cho đến nay, trào lưu phê bình sinh thái vẫn đang tiếp tục lan rộng trên toàn thế giới

Năm 2002, Giáo trình Nhập môn lý thuyết: dẫn luận lí luận văn học và lý luận văn hóa (Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory, Manchester University press) tái bản do Peter Barry biên soạn đã thêm một chương

mới là “Phê Bình sinh thái” Sự xuất hiện của “Phê bình sinh thái” trong cuốn giáotrình giới thiệu các trường phái lý thuyết văn học này đã đánh một dấu mốc quan trọngtrong việc định hình thuật ngữ trong những nghiên cứu tương lai Từ đó, những học giảnhư Peter Barry, Kate Rigby, Cheryll Glotfelty, Gifford Terry, Jonathan Bate, GreyGarrard, Lawrence Buell, Karen Thornber… đã không ngừng xây dựng, hệ thống hóa

lý thuyết cũng như mở rộng ứng dụng phê bình sinh thái trong văn học và phê bình vănhọc

Trang 21

“Trong số rất nhiều giới định về thuật ngữ “phê bình sinh thái”, định nghĩa được nhiều người tiếp nhận là định nghĩa của một trong những người chủ chốt trong việc khởi xướng và phát triển phê bình sinh thái Mĩ – Cheryll Glotfelty: “Phê bình sinh thái

là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên” [18]

Nhưng ta cũng cần chú ý rằng, phê bình sinh thái không phải là một dấu cộngthuần túy giữa sinh thái học và văn học, cũng không phải là thành quả nghiên cứu cụthể của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học Mà nó là sự vận dụngquan niệm cơ bản nhất của tư tưởng triết học sinh thái vào phê bình văn học, chọn triết

học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của phê bình sinh thái

“Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phê bình sinh thái

có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc thù và đặc trưng bản thể luận của nó, đó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, đã dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái như thế nào (…) Phê bình sinh thái phải “làm lộ

ra một cách có tính lịch sử văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến sinh thái địa cầu Nhà nghiên cứu tư tưởng sinh thái nổi tiếng Donald Worster chỉ ra: “Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa của chúng ta Muốn vượt qua nguy

cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên Nhà sử học, nhà phê bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa.” [18]

Phê bình sinh thái hướng đến giải trừ “nhân loại trung tâm luận” mà ở đó conngười là bá chủ của muôn loài, còn sinh thái là một khách thể bị vật hóa, biến thành nô

lệ mặc cho con người khai thác bóc lột đến kiệt quệ Tiêu biểu cho tinh thần “nhân loạitrung tâm luận” là triết lý thực dụng của Descartes từ thế kỷ XVII Trung tâm luận này

đã bắt rễ lâu dài, rộng lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ trong tư duy phương Tây Mà biểu hiệncủa nó là những diễn ngôn và hành động chống đối tự nhiên của con người, được đặtdưới cái tên mỹ miều là chinh phục thế giới Mãi đến thế kỷ XX, tư tưởng xem conngười là ông chủ của tự nhiên mới bị triết gia Heidegger phê phán nặng nề, và cho rằng

Trang 22

trong lịch sử phương Tây, tự nhiên đã bị “hạ giá” hai lần, lần thứ nhất do Kito giáo vàlần thứ hai do Descartes Chủ nghĩa nhân văn phương Tây đã mắc vào lỗi lầm bi kịchkhi coi thường tất cả những gì không phải là con người Bi kịch của chủ nghĩa nhânvăn đã bắt đầu khi từ đặt nhân loại (human) lên trên thế giới phi-nhân-loại(non-human)

Nhìn về phương Đông, ngay từ thời cổ đại, những hệ thống tư tưởng triết học lớnđều không coi tự nhiên như là một địch thủ để đối đầu và chinh phục Nho giáo đề caotinh thần “duy nhân”, Đạo gia đề cao tính bình đẳng và nguyên tắc quân bình của tựnhiên, Phật giáo đề cao tính “viên dung”, “tương duyên”… trong quan hệ tương tácgiữa vạn vật với nhau Do đó, trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại sẽ là những nguồntài nguyên đầy hứa hẹn cho quá trình củng cố lý luận sinh thái nói riêng và triết họcsinh thái nói chung, cũng như văn học sinh thái và phê bình sinh thái, trong thời giantới

1.2.2 Thi pháp sinh thái trong phê bình tác phẩm văn học

“Thi pháp” và “thi pháp học” là những khái niệm được biết đến rộng rãi, nhưngnội hàm của nó còn nhiều vấn đề mà các học giả vẫn chưa hoàn toàn thống nhất vớinhau Lịch sử nghiên cứu vấn đề thi pháp trong văn học là một câu chuyện dài hơi,thậm chí vượt ra ngoài phạm vi bài viết này, tuy vậy, nếu hiểu một cách chung nhất thì

ta có thể thừa nhận rằng “thi pháp” là những phương pháp, nguyên tắc để làm ra mộtsản phẩm văn chương, còn “thi pháp học” là khoa học nghiên cứu về những phươngpháp đó Cụ thể hơn, thi pháp có thể được hiểu như là hệ thống các phương tiện biểuhiện có trong tác phẩm văn học, là tổng hợp các thành tố của hình thức nghệ thuậttrong văn bản Rộng hơn, thi pháp còn bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể tài,những nguyên tắc và phương pháp phản ánh hiện thực và các phạm trù: không giannghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới và conngười Điều đó có nghĩa, khi ta tìm hiểu một tác phẩm dưới góc độ thi pháp, tức là tacần phải bước vào bên dưới những lớp ngôn từ để đến được thế giới riêng của nhữngcấu trúc, phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn họctrong tính chỉnh thể của văn bản

Trang 23

Nghiên cứu thi pháp văn học là nhấn mạnh bản chất nghệ thuật của tác phẩm, làxem xét tác phẩm như một chỉnh thể thống nhất các thành tố, các cấp độ nghệ thuật.Mỗi thi pháp học chỉ dựa vào một số nguyên tắc để đi đến những đặc trưng và quy luậtkhác nhau của văn học Do đó, nói đến thi pháp học là nói đến nhiều dạng thức, trườngphái thi pháp học, chứ không chỉ có một thi pháp học nhất định Trong trường hợp củaphê bình sinh thái, vấn đề thi pháp học của nó cũng không là ngoại lệ, cho dù nó cũng

có những nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu chuyên sâu khác biệt

“Phê bình sinh thái (ecocriticism) theo Rueckert có nghĩa là “việc ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học” Định nghĩa của Rueckert có liên quan đặc biệt với khoa học sinh thái học và theo đó đã giới hạn lại thành một thuật ngữ được đề xuất trong tuyển tập này, có thể bao gồm tất cả mối quan

hệ giữa văn học và thế giới tự nhiên Nhiều thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng như “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism), hay “phê bình (văn hóa) xanh” (green (cultural) studies).” [9; tr.

86]

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng ta chấp nhận “thi pháp sinh thái”(ecopoetics) như là một khái niệm chung cho những nguyên tắc, phương pháp, hệthống các phương tiện biểu hiện, các thành tố của hình thức nghệ thuật… có trong vănbản dưới quan điểm và góc nhìn sinh thái – nơi mà tự nhiên, sinh thái, môi trường đượcchọn làm trung tâm luận trong quỹ đạo của những vấn đề liên quan Trên cơ sở đó, phêbình sinh thái đưa đến những hướng tiếp cận mới, những góc nhìn khác biệt trong việc

cảm thụ, đánh giá các tác phẩm văn học, cụ thể trong bài viết này là tiểu thuyết Ngày của kiến của Bernard Werber Thi pháp sinh thái không phải là mục đích mà là phương

tiện của phê bình sinh thái Theo như quan điểm của học giả Kate Rigby:

“Phê bình sinh thái, từ đó, tưởng nhớ Trái đất thông qua sự phơi bày trước con người khoản nợ của văn hóa đối với tự nhiên Thừa nhận vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình cái nhìn của chúng ta về thế giới, nhưng các nhà phê bình sinh thái luôn tìm cách phục hồi lại ý nghĩa đích thực của thế giới vượt ra bên ngoài giới hạn của trang sách Cụ thể hơn, họ quan tâm đến việc định giá lại thế giới tự nhiên,

Trang 24

đặt tự nhiên lên cao hơn nhân loại Một số văn bản và một số truyền thống văn hóa có thể được xem xét từ khía cạnh này.” 1 [67]

Không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc xem xét, phân tích những văn bản liên quantrực đến vấn đề sinh thái như tình yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đề cao cuộc sốnghoang dã… phê bình sinh thái đã hệ thống hóa những lối viết đặc trưng, thông quanhững tác phẩm được xác định hàm chứa nội dung theo xu hướng môi trường, từ đóđúc kết một bộ chuẩn tắc mới Dựa trên danh mục khảo sát của Lawrence Buell, KateRigby cho rằng một tác phẩm được cho là viết theo định hướng môi trường sẽ mangnhững nội dung chính như sau:

“1 Môi trường phi nhân không còn chỉ được nhìn đơn thuần như là một thứ công cụ làm khung nền cho sự xuất hiện của con người, ngược lại, sự hiện diện của nó cho thấy lịch sử nhân loại bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với lịch sử tự nhiên (…)

2 Mức độ quan tâm của con người đối với môi trường là một phần thuộc giá trị đạo đức của mỗi văn bản (…)

3 Theo một nghĩa nào đó, môi trường được nhìn như một quá trình, chứ không phải là một hằng số bất biến hay ít nhất, được cho là một thông điệp ẩn giấu đằng sau tác phẩm.” [68]

Thi pháp sinh thái không chỉ là một vấn đề thuộc về sáng tác của tác giả, mà ởgóc độ độc giả đồng thời cũng là những nhà phê bình trực tiếp của tác phẩm, nó cũng

không kém phần quan trọng Dưới nhan đề “Thi pháp sinh thái”, bài viết in trong cuốn The Culture of hope: a new birth of the classical Spirit (Văn hóa của hi vọng: một sự khai sinh mới cho tinh thần kinh điển)2 vào năm 1995 của Frederick Turner đã đượcdùng lại trọn vẹn trong nội dung văn bản của tuyên ngôn tháng 9 năm 2002.[57] Dựa

1 Nguyên văn: “Ecocriticism, then, remembers the earth by rendering an account of the indebtedness of culture to nature While acknowledging the role of language in shaping our view of the world, ecocritics seek to restore significance to the world beyond the page More specifically, they are concerned to revalue the more-than-human natural world, to which some texts and cultural traditions invite us to attend.”

2 Xuất bản tại New York: The free press; chương 5, tr.221-228.

Trang 25

trên bản chuyển ngữ từ tiếng Anh của dịch giả Nguyễn Tiến Văn, theo Bài nói chuyệntại cuộc họp vùng Cleveland, Hội xã Philadelphia ngày 21/9/2002, người viết xin đượctóm lược 7 vấn đề chính liên quan đến vấn đề thi pháp của phê bình sinh thái, bao gồm:

1 Thi pháp này sẽ kinh nghiệm văn học trong ngôi nhà của một thế giới của tỉ lệ,không gian, và số lượng Nó sẽ tái kết với toán học, số học, luận lý, lý thuyết số, vàhình học

2 Thi pháp mới sẽ kinh nghiệm văn học trong ngôi nhà của thế giới vật lý- mộtthế giới mà hiện chúng ta đang nhận thức rằng nó đầy những chuyển đổi cục diễn tinh

tế, những động loạn, những trật tự hiện xuất và những tiến trình tự phản ánh- chúng cóthể tác động như những mô hình và những vật tương tự diệu kỳ cho sự sáng tạo nghệthuật

3 Thi pháp mới sẽ kinh nghiệm văn học trong ngôi nhà của thế giới sự sống Tiênkhởi mạnh nhất của ngôn ngữ trong thế giới vật lý là phân tử DNA Trong đó cáchphân tử DNA tự biên tập, phát biểu, tu sửa, tái kết, và tái sinh sản có nét tương đồngvới sáng tác nghệ thuật, cho thấy tầm quan tâm then chốt và trung tâm nhất đối với vănhọc, âm nhạc và nghệ thuật

4 Thi pháp sinh thái sẽ kinh nghiệm văn học và nghệ thuật trong ngôi nhà của thếgiới con người, thế giới cổ xưa và trường cửu của nghi lễ, dân tục, chuyện kể, diễn tấutruyền khẩu… những kỹ thuật văn hóa sinh học cổ sơ về kể chuyện, thi luật, ngụ ý(allegory), tu từ, cấu trúc văn học, và biểu tượng học (iconology) và cách chúng ta cóthể khôi phục những kỹ thuật này sẽ được thi pháp sinh thái chú ý

5 Thi pháp mới sẽ hội ngộ cùng văn học và nghệ thuật trong ngôi nhà của thựctại văn hóa xã hội và kinh tế

6 Thi pháp mới sẽ định vị trong ngôi nhà của lịch sử

7 Sau chót, thi pháp mới sẽ kinh nghiệm văn học và nghệ thuật trong ngôi nhàcủa nhiệm cuộc thần linh (divine economy) của vũ trụ tâm linh

Thi pháp sinh thái tuy có vẻ đa dạng và phức tạp như vậy, nhưng ta có thể nhận rarằng, sinh thái chính là mẫu số chung lớn nhất của mọi vấn đề phê bình theo xu hướngnày Chọn môi trường là trung tâm (ecocentric values), cũng như chú ý đến những

Trang 26

phương thức biểu đạt của văn chương qua các mối quan hệ về sinh học, tâm lý học vàthế giới quan của con người với tự nhiên, thi pháp sinh thái sẽ kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu cũng như tri thức đa ngành đa lĩnh vực trong việc giải quyết nhữngvấn đề sinh thái xuất hiện trong văn bản và liên đới ngoài văn bản Từ thi pháp sinhthái, phê bình sinh thái hình thành nên hệ thống tư tưởng triết học lấy chủ nghĩa chỉnhthể sinh thái làm nền tảng, đồng thời lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo, tácđộng trở lại vào việc định hình thi pháp sinh thái.

“Bên cạnh đó, thẩm mỹ sinh thái đề cao tính chỉnh thể, không chỉ quan tâm đến đối tượng thẩm mỹ đơn nhất, mà còn đặt nó vào trong hệ thống tự nhiên, từ đó khảo sát ảnh hưởng của nó đối với chỉnh thể sinh thái Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp của thẩm mỹ sinh thái cũng khác so với truyền thống Đối với thẩm mỹ sinh thái, cái gì

có lợi cho sự ổn định, hài hòa của hệ thống sinh thái mới là Đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn định sinh thái sẽ bị coi là Xấu Trong mỹ học truyền thống, con người trở thành tiêu chuẩn, thành thước đo, còn đến Phê bình sinh thái, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái

Ngoài ra, thẩm mỹ sinh thái còn đề cao nguyên tắc dung nhập Thẩm mỹ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấu nhập vào tự nhiên, có lúc, thậm chí còn phải quên đi bản ngã, hòa với tự nhiên làm một Muốn thực sự dung nhập vào tự nhiên, đặc biệt là muốn trong sự dung nhập đó cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của tự nhiên thì trước hết phải quên đi bản ngã của mình Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức của thẩm mỹ sinh thái Con người không thể phát hiện ra hết cái kì diệu của tự nhiên chính vì quá tự cao tự đại, coi tự nhiên chỉ là công cụ nhằm đối tượng hóa bản ngã, chỉ có cảm thụ một cách vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được càng nhiều cái đẹp, cái kì thú của tự nhiên.” [19]

Nói tóm lại, trong phê bình văn học, thi pháp sinh thái là một tập hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu văn học, lấy văn bản làm trọng tâm, xem văn bản là đối tượngthẩm mỹ để đi sâu tìm hiểu, phân tích, phê bình dưới quan điểm lấy sinh thái làm trungtâm luận Điều đó cũng có nghĩa bản thân nó không phải là một công cụ vạn năng, độctôn trong phê bình văn học Mà nó đòi hỏi cả người viết lẫn người đọc phải có nhữngnền tảng nhất định về văn học, thi pháp học cũng như kiến thức trong nhiều lĩnh vựcnghiên cứu liên đới khác nhau Qua đó, phê bình sinh thái đem đến những đột phátrong nghiên cứu văn học, đem đến cho mỹ học một góc nhìn mới, mở ra những thế

Trang 27

giới quan mới, tạo nên những động lực phát triển mới mà nghiên cứu văn học còn bỏngỏ.

Tiểu kết

Chương một là cái nhìn tổng quan về Phê bình sinh thái với tư cách là mộtkhuynh hướng nghiên cứu văn học mới mẻ và nhiều triển vọng Cùng với nó là nhữngthuật ngữ liên quan như “thi pháp sinh thái”, thẩm mỹ sinh thái”, “nguyên tắc dungnhập” sẽ được vận dụng trong quá trình đi sâu vào tìm hiểu một văn bản cụ thể Ởchương một, chúng tôi cũng giới thiệu tiểu sử nhà văn Bernard Werber và tóm lược tiểu

thuyết Ngày của kiến Sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái đã đóng góp

một góc nhìn mới mẻ, thú vị và phù hợp cho quá trình đi sâu tìm hiểu các tác phẩm của

Bernard Werber nói chung và tiểu thuyết Ngày của kiến nói riêng Sự hình thành của xu

hướng văn học môi trường từ nửa sau thế kỉ XX là một kết quả của rất nhiều hoạt động

vì môi trường, kết hợp mối quan tâm nghiên cứu từ nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.Hướng đi chung sức đồng lòng ấy như là một sự thức tỉnh tất yếu cần phải có của nhânloại nhằm cứu lấy tương lai của chính mình

Cũng như mọi xu hướng nghiên cứu văn học khác, phê bình sinh thái cũng cónhững thế mạnh lẫn những mặt hạn chế nhất định Chúng tôi thử đề xuất tiểu thuyết

Ngày của kiến như là một thể nghiệm mới mẻ trong việc phân tích, đánh giá một tác

phẩm dưới góc nhìn sinh thái, về cả nội dung, hình thức, lẫn các vấn đề thi pháp liênquan Từ nền tảng chương một, chúng ta sẽ bước sâu hơn vào thế giới của sinh tháiluận trong chuyến hành trình kỳ thú của Bernard Werber - hành trình của kiến vàngười

Trang 28

CHƯƠNG 2:

KIẾN VÀ NGƯỜI TRONG CHỈNH THỂ SINH THÁI

Nếu ta chỉ nghĩ côn trùng là những sinh vật phiền toái và đáng ghét, thì có lẽ ta đa

đã bỏ lỡ mất những hình ảnh về một thế giới côn trùng rất khác với những gì ta tưởngtượng Đó là một thế giới đa chiều, đa sắc, đa thanh, và cả đa mùi hương nữa Trong

chương này, thông qua những điểm nhìn đa dạng trong tác phẩm Ngày của kiến, ta sẽ

được chiêm ngưỡng được sự tráng lệ của sinh thái trong vị trí của những sinh vật tíhon Đồng thời, trong mắt chúng, hình ảnh nhân loại cũng không hoàn toàn tốt đẹp như

ta tưởng Sinh thái là một chỉnh thể vẹn toàn mà cả kiến và con người đều là nhữngthành tố bên trong nó, không thể nào vĩnh viễn loại trừ nhau Hai thế giới của hai loàicùng với nền văn minh của mình tồn tại song song và dưới cái nhìn đa chiều, ta sẽđược thấy thế giới này theo những cách đặc biệt hơn thông qua cấu trúc đa thực tại củatác phẩm

2.1 Thế giới côn trùng trong Ngày của kiến

Trước khi đưa người đọc bước vào thế giới côn trùng trong khu rừng ngoại ôthành phố Fontainebleau, Bernard Werber đã gợi mở trong chúng ta một tâm thế lạthường Rằng bạn hãy nhìn vào những con côn trùng nhỏ bé kia trong tác phẩm, chúngkhông chỉ là những sản phẩm hư cấu được nhân cách hóa, mà là một thế giới vốn đãhiện hữu ở ngay đấy từ rất xa xưa, ngay dưới chân chúng ta, nhưng đã bị lãng quên Đó

là một thực tế mà bạn cần sẵn sàng đón nhận trước khi bước vào tác phẩm cùng vớimột tinh thần sinh thái:

“Trong vài giây bạn đọc những dòng này, trên Trái đất có bốn mươi người được sinh ra nhưng có tới bảy trăm triệu con kiến ra đời Từ hơn trăm triệu năm trước chúng ta, chúng đã ở đó, được chia thành nhiều đội, nhiều tổ, nhiều đế chế trên toàn

bề mặt trái đất Chúng đã tạo ra một nền văn minh song song, xây dựng những vương quốc thực sự, phát minh ra vũ khí tối tân, thiết kế cả nghệ thuật chiến tranh, làm chủ một nền công nghiệp đáng kinh ngạc…” (Kiến, Bernard Werber)

Trang 29

2.1.1 Những vương quốc côn trùng

Theo chân Bernard Werber trong hành trình bước vào Ngày của kiến, người đọc

cần sẵn sàng trong một tâm thế khác, không phải là vị trí của một người khổng lồ nhìnxuống những sinh vật tí hon như cát bụi, mà là vị trí của một sinh thể nhỏ bé trước mộtthế giới bao la Sinh thể ấy là kiến Trong cái nhìn của những con người được dán nhãn

là “nhà khoa học” thì kiến là họ côn trùng thuộc bộ Cánh màng, có tính xã hội cao Còntrong nhãn quan của kiến thì:

“Chúng là những kẻ thông minh nhất, những kẻ có tổ chức tốt nhất Chúng biết sử dụng các công cụ, chúng từng đánh bại bọn mối và lũ kiến lùn Chúng hạ gục những con vật lớn hơn chúng cả trăm lần Không kẻ nào trong rừng nghi ngờ việc chúng là những chủ nhân thực sự của thế giới, những chủ nhân duy nhất.” [5; tr 52]

Trong thế giới của mình, kiến xem mình mới là những chủ nhân thực sự trên bềmặt địa cầu Loài kiến bẩm sinh đã mang trong mình bản tính xã hội, chúng có khảnăng sống thành tập đoàn lớn có tới hàng triệu con Nhiều tập đoàn kiến còn có thể lan

tràn trên một khu vực đất rất rộng, hình thành nên các siêu tập đoàn Trong Ngày của kiến, chúng sở hữu những lãnh thổ, hình thành nên những quốc gia, tạo lập nhiều đế

chế, liên bang, có cả những hoạt động nông nghiệp, chính trị, thậm chí là cả chiếntranh Các tập đoàn kiến đôi khi được coi là các siêu cơ quan vì chúng hoạt động nhưmột thực thể duy nhất

“Để hiểu vì sao ở loài kiến lại vắng bóng nỗi sợ, cần phải lưu ý rằng toàn

bộ tổ kiến sống như một cơ thể duy nhất Mỗi con kiến trong đó đóng cùng vai trò tựa

tế bào trong cơ thể người (…) Mọi lo phiền sẽ chấm dứt khi người ta quên mình để chỉ nghĩ đến toàn bộ cộng đồng-cơ thể Có lẽ đó là một trong những bí mật dẫn đến thành công về mặt xã hội của thế giới loài kiến.” [5; tr 69]

Bước vào Ngày của kiến, nhãn quan loài người được Bernard Werber đặt lại vào

một vị trí khác, có vẻ công tâm và khách quan hơn Ông hạn chế viết về kiến với tưcách loài của mình theo những định kiến xưa cũ của con người Thay vào đó, nhữngthống kê, dẫn chứng khoa học là những luận cứ không thể chối cãi về tương quan giữahai giống loài Rằng con người đang thống trị mặt đất chỉ là một ảo vọng, vì dường như

họ đã quên đi những sinh vật bé nhỏ khác, những sinh vật mà thường ngày nhiều khi

Trang 30

vẫn tồn tại dưới đế giày dưới mỗi bước chân họ Nhỏ bé không có nghĩa là yếu ớt, sovới loài người, kiến cũng hoàn toàn làm chủ bề mặt địa cầu này.

“Trong số tất cả các đại diện của hành tinh Trái đất, kiến là loài thành công nhất Chúng chiếm số lượng tổ sinh thái kỷ lục (…) Không một kilômét đất nào tồn tại

mà thiếu bóng loài kiến Kiến là cá thể xây nhiều thành phố và làng mạc nhất trên bề mặt quả địa cầu Kiến biết cách thích nghi với mọi loài ăn chúng và với mọi loại điều kiện khí hậu: mưa, nóng, khô, lạnh, ẩm, gió.” [5; tr 110]

Sâu trong khu rừng Fontainebleau là nền văn minh kiến Myrmécéen, đô thị trungtâm Bel-o-kan đang tồn tại dưới sự lãnh đạo của kiến chúa Chli-pou-ni Các nhân vật(kiến) chính của Bernard Werber đều đến từ đô thị này, họ là những chú kiến đỏ hungFormica rufa Ở góc độ nhân chủng, con người đa dạng về màu da, chủng tộc, họ nhàkiến cũng rất đa dạng về chủng loài Ngoài kiến đỏ hung, trên mặt đất còn tồn tại rấtnhiều giống kiến khác nhau xuất hiện thông qua các chi tiết, lời kể của nhiều nhân vậttrong tác phẩm, như kiến đỏ phéidoles, kiến đen Lazius niger, kiến đen có lông trắngRhopalothrix orbis, kiến Acromyrmex versicolor có sừng tua tủa khắp ngực,kiếnOrectognathus antennatus có một chiếc tù và với một cái kẹp ở đầu, loài kiến

Tingimyrmex mirabilis “có mấy mớ lông dài mang lại cho chúng dáng vẻ hippy” [5; tr.

211]

Giống kiến đỏ hung Formica rufa trong Ngày của kiến tồn tại theo chiều dài lịch

sử Trái Đất từ rất xa xưa, nền văn minh kiến Myrmécéen từng chiến đấu với khủnglong và vô số những loài thú cổ khác cho đến tận khi loài Ngón Tay – tức con ngườitheo cách gọi của kiến – xuất hiện Hai nền văn minh của người và kiến đã và đang tồntại song song với đầy những huyền thoại, mâu thuẫn, xung đột Dẫu thế, mỗi nền vănminh đều có những giá trị riêng, không chỉ đấu tranh với nhau mà còn cần phải học hỏinhau để tồn tại Nhân loại non trẻ quá thừa kiêu ngạo để không chấp nhận rằng kiếncũng đã tạo nên được nền văn minh riêng của mình, thậm chí là từ rất rất lâu trước khiloài người xuất hiện Dân số của chúng ước tính có thể: hơn một tỷ tỷ cá thể Trừ NamCực, kiến đã hiện diện trên tất cả các lục địa, chúng chiếm lĩnh những diện tích sinhthái khổng lồ trong tự nhiên cũng như đan xen cả vào những đô thị loài người

Từ thực tế ấy, Bernard Werber đã xây dựng vương quốc kiến trong tác phẩm củamình ấn tượng như thể một nền văn minh bị lãng quên mà con người vừa phát hiện Ở

đó, sự tồn tại của một đế chế không chỉ có quyền lực và chiến tranh, mà còn có những

Trang 31

hoạt động khai thác và sản xuất Trước hết, kiến đã biết khai thác trên diện rộng mộtcách đa dạng các chủng loại thức ăn, từ động vật đến thực vật, các chất hữu cơ, xácchết… thậm chí chúng còn biết làm nông nghiệp qua các hoạt động trồng nấm và nuôirệp vừng lấy mật Không chỉ duy trì cuộc sống theo bản năng, giống kiến đỏ hungtrong truyện còn phát triển vượt bậc nhờ sự thông thái của kiến chúa Chli-pou-ni, tiếpnối mẫu hậu, cô đã phát minh và khởi xướng ra “phong trào tiến hóa” với các nghiêncứu cộng sinh khác loài nhằm liên kết với nhiều loại côn trùng khác nhau để gia tăngsức mạnh cho thành bang Chli-pou-ni cũng phát minh ra đơn vị đo không gian và tiến

hành xây dựng “Thư viện hóa học” để lưu trữ những kí ức, tri thức cho loài kiến: “Đây

là nơi thực sự ấn tượng Những quả trứng chứa đầy các chất lỏng mang sự sống nằm sắp hàng dài hút tầm mắt Mỗi quả trứng mang trong mình những bằng chứng, những miêu tả, những ý tưởng độc nhất.” [5; tr 120]

“Phong trào tiến hóa” do kiến chúa Chli-pou-ni khởi xướng đã trở thành cuộccách mạng đưa loài kiến hung đỏ đến bước tiến đại nhảy vọt trong lịch sử văn minhcôn trùng Cụ thể hơn, ngay tại đô thị trung tâm Bel-o-kan, cuộc sống diễn ra thật sôinổi: giao thông đông đúc và thỉnh thoảng tắc nghẽn sau những chuyến đi săn, nhữngtrang trại trồng nấm và nuôi rệp sữa làm gia súc với năng suất cao không bao giờ ngơinghỉ; những kho chứa khổng lồ với các phòng lưu trữ thức ăn tính bằng cân; nhữngphòng ấp nở chăm sóc hàng chục nghìn ấu trùng một lúc; những phòng thí nghiệm hóahọc nghiên cứu và lưu trữ các loại mùi hương cũng như vũ khí axit; thậm chí có cả bãirác thải khổng lồ ngoại ô thành phố - nơi phản ánh sức mạnh tiêu thụ của đô thị lớnmạnh này Sự vận động và phát triển xã hội đa dạng của nền văn minh kiến diễn ratrên nền tảng phân tầng xã hội đặc biệt Những cư dân trong tổ kiến cũng được phânchia theo đẳng cấp dựa trên những đặc điểm hình thể bẩm sinh, theo đó là những nhiệm

vụ của chúng phù hợp với vị trí của mình trong đô thị như: kiến hữu tính, chiến binh,kiến thợ Mọi hoạt động nơi đây sôi nổi nhưng vẫn nhịp nhàng suốt hàng nghìn năm,dài lâu như chính lịch sử lâu đời của kiến

Bel-o-kan là tên tổng hành dinh của kiến đỏ hung trong rừng Fontainebleau.Thành bang kiến Bel-o-kan được tạo lập bởi một kiến chúa đi lạc, do đó, theo như cáchgiải thích của thần dân nơi đây, Bel-o-kan có nghĩa là “Cấm Thành của kiến đi lạc”.Nơi đây từng trải qua biết bao hiểm họa, bị đe dọa bởi các cuộc chiến tranh liên-kiến,

bị tàn phá bởi các cơn lốc xoáy, mối, ong vò vẽ, chim, nhưng nó vẫn trụ vững suốt hơnnăm nghìn năm Và như thế, Bel-o-kan trở thành một lực lượng chính trị lớn nhất vùng,

Trang 32

và cũng là tổ kiến khai sinh phong trào tiến hóa Myrmécéen: “Bel-o-kan, thành phố ba mươi sáu triệu con mắt, một trăm lẻ tám triệu cái chân, mười tám triệu bộ não Sống động và huy hoàng.” [5; tr 44]

So với kích thước của một loài côn trùng thì đô thị kiến đỏ hung Bel-o-kan đồ sộ

và vĩ đại vượt xa sức tưởng tượng Thành phố lớn nhất vùng này cao một mét, rộng 2mét vuông, gồm 50 tầng dưới lòng đất và 50 tầng trên mặt đất; Dân số ước tính là 18triệu Ở đây, sản lượng nông nghiệp hàng năm ước tính đạt 50 lít mật rệp, 10 lít mật sâu

và 4 kilogram nấm mũ Nền công nghiệp xây dựng và khai thác của kiến cũng đạt đượckhoảng một tấn đá dũi mỗi năm cùng tổng chiều dài các hành lang trong đô thị đạt 120

km Liên bang Bel-o-kan là tập hợp của rất nhiều tổ kiến cùng một loài, “Một liên bang kiến đỏ hung có trung bình 90 tổ, trải rộng 60 ha và có 7,5 km đường đất nện và

40 km đường tỏa mùi” Kiến đỏ hung không những tổ chức thành tổ, mà còn thành liên

minh tổ, bởi những khối thống nhất sẽ làm nên sức mạnh

Những công trình đồ sộ của nền văn minh Myrmécéen không chỉ gây ấn tượngvới các loài côn trùng khác trong rừng, mà còn khiến cả những loài vật và chim phải dèchừng nếu có ý đồ xâm phạm Hiện tại, Bel-o-kan sở hữu một tổ trung tâm lớn và 64 tổcái liên bang, tản mác ở ngoại vi Nhưng nó được thừa nhận là sức mạnh chính trị lớnnhất ở khoảnh đất này trong cánh rừng Fontainebleau Với sức mạnh ấy, vương quốckiến tồn tại trong suốt bề dày lịch sử mặt đất bằng cả sự hợp tác lẫn đấu tranh với nhiềunền văn minh khác Do đó, khi du hành vào không gian của kiến, người đọc sẽ nhận ravương quốc này không chỉ gói gọn trong một cái tổ trung tâm Bel-o-kan, mà mở rộngkhông ngừng hơn nữa ra những vùng mà loài kiến hung đỏ sinh sống, khai thác vàchiến đấu

Trong cuộc sống sinh thái, giữa các loài côn trùng không hoàn toàn tồn tại nhữngranh giới rõ ràng về lãnh địa, mà còn tồn tại sự hiện diện chồng chéo phức tạp giữanhiều loài khác nhau Ngay tại đấy, có thể có một loài làm chủ và tồn tại cả những loàicộng sinh, ký sinh, có khi là những sinh vật lai vãng và thậm chí cả kẻ thù Bel-o-kancũng vậy, ngay tại đô thị này cũng tồn tại một cách đa dạng những chủng loài khácnhau: rệp trong tổ kiến được xem như gia cầm, bọ tê giác thì vừa là đồng minh vừa làthú cưỡi được thuần hóa Giống kiến đỏ hung thuộc nền văn minh Myrmécéen đã thực

sự chiếm lĩnh một vùng đất đai rộng lớn nhưng lãnh thổ không phân định rõ ràng (khácvới lãnh thổ quốc gia theo quan niệm của loài người ngày nay) Đôi khi lảnh thổ ấy bị

Trang 33

làm phiền bởi việc do thám của kiến lùn và những tổ kiến thù địch khác, có lúc lao xaobởi lá cây rơi, bị vô ý xâm phạm hoặc rấn công bởi những con vật to lớn hơn nữa như

kỳ nhông, chim săn mồi… Như vậy, ngay trong lãnh thổ (được xem là) của mình, kiếnvẫn không ngừng vận động để đảm bảo an toàn và duy trì cuộc sống

Thế giới của kiến nằm giữa sinh thái, tồn tại cùng sinh thái, đấu tranh với sinhthái nhưng không bao giờ xem sinh thái là kẻ thù, mà đó là thế giới nơi mà kiến sinhtồn, phát triển nền văn minh của mình từ hàng triệu năm trước và còn tiếp tục mãi vềsau Điều đó có nghĩa, vương quốc kiến nên được nhìn nhận trên bình diện bao phủrộng lớn hơn, không chỉ gói gọn trong thành đô Bel-o-kan, mà đôi khi khái niệm

“vương quốc kiến” còn được mở rộng ra theo nhiều hướng trong không gian ba chiều,

cả trên mặt đất, lẫn trên không hay trong lòng đất Ranh giới không gian trong thế giớicôn trùng khá phức tạp vì chúng kiến tạo theo nhiều chiều, chồng lấn lẫn nhau, vừacạnh tranh, vừa chia môi trường sinh thái cùng những sinh vật khác Như vậy, bản đồthế giới mà loài kiến vẽ được là những tấm bản đồ có tính tương đối, bị giới hạn bởikhoảng cách và khả năng khám phá của chúng, nhưng đa dạng trên nhiều hướng vànhiều chiều không gian, được định hình và đặt tên bởi đặc tính tự nhiên của môi trường

và sinh quyển quanh khu vực đó:

“Ở phía Tây Bel-o-kan, các lãnh thổ nguy hiểm trải dài, nhung nhúc mạng nhện và bọ ngựa (Con bướm, hãy cẩn trọng!) (…) Xa hơn nữa về phía Đông, tọa lạc dòng sông mang tên “Ăn-Sạch” bởi nó ngốn trong chốc lát hết thảy những gì có trên

bề mặt Lý do khiến người ta phải thận trọng.” [5; tr 52]

Như trên đã nói, vương quốc côn trùng trong khu rừng Fontainebleau không chỉ

có kiến Nền văn minh Myrmécéen của giống kiến đỏ hung còn mở rộng và giao lưu

với nhiều vương quốc côn trùng khác Trong Ngày của kiến, xuất phát từ đô thị

Bel-o-kan, đồng hành cùng con kiến 103, ta được tiếp xúc thêm những nền văn minh khácnhau, trong đó nổi bật nhất là đô thị tổ ong vàng và đô thị mối Song song phát triểncùng nền văn minh của kiến, nhiều loài côn trùng cũng phát triển một nền văn minhriêng của mình Dựa trên những hình thái và đặc điểm sinh học của mỗi loài mà cấutrúc lẫn cách thức vận hành của mỗi đô thị mang một dấu ấn khác nhau Cũng cổ xưa

và gần gũi về di truyền như loài kiến, ong cũng có những đô thị riêng của mình với mộtnền văn minh treo lơ lửng trên cây

Trang 34

“Kiến trúc tổ ong khiến lũ kiến choáng ngợp Kiến trúc ấy chứng tỏ một nền văn minh đã đạt đến độ hoàn thiện (…) Đoàn quân Bel-o-kan tiếp tục bước đi và phát hiện ra một kho báu: một phòng chứa đầy thực phẩm Ở đó có mười cân mật ong, nặng gấp hai mươi lần trọng lượng của toàn bộ cư dân trong tổ.” [5; tr 366]

Sự phát triển của một nền văn minh không chỉ được nhìn nhận ở kiến trúc, màcòn ở hệ thống giao tiếp và cách thức chăm sóc, hoàn thiện những thế hệ sau Bẩm sinh

có cánh đã là một lợi thế của loài ong, do đó chúng luôn chú trọng chăm sóc và truyềndạy những kỹ năng bay đặc biệt cho các con non để khai thác bầu trời, thứ mà loài kiếnvẫn còn Cánh của ong vừa là công cụ bộ phận giao tiếp, vừa giúp vận hành xã hội củachúng nhịp nhàng Cũng như kiến, sự phân công nhiệm vụ trong xã hội loài ong cũngdựa trên hình thái sinh lý của các cá thể Tuy nhiên, so với kiến, sự phân công lao độngcủa ong có đôi chỗ khác biệt, hình thể của chúng biến đổi liên tục trong suốt cuộc đời,

do đó, mỗi giai đoạn chúng sẽ gánh vác một trọng trách xã hội khác nhau, thay vì hìnhthái bẩm sinh kèm theo nhiệm vụ được duy trì trong suốt quãng đời như ở loài kiến:

“Việc dạy dỗ của loài ong luôn tuân theo những quy tắc giống nhau Ngay khi ra khỏi lỗ tổ ong, con ong được các chị em mình nuôi dưỡng, sau đó nó phải bắt tay vào lao động Trong ba ngày đầu đời, nó thực hiện các nhiệm vụ tại tổ Tới ngày thứ ba, (…) nó trở thành ong vú em (…) từ ngày thứ mười hai trở đi, con ong sẽ trở thành thợ xây Nó xây các lỗ tạo thành tầng sáp Nhưng kể từ ngày thứ mười tám, (…) ong thợ trở thành ong canh gác, thời điểm làm quen với thế giới bên ngoài rồi trở thành ong hút mật Nó chết với vai trò là ong hút mật.” [5; tr 335]

Cổ xưa hơn cả kiến và ong, đó là nền văn minh của mối Chúng đã hình thành nềnvăn minh của mình cách đây hàng trăm triệu năm trước, sớm hơn cả loài kiến Xét vềkiến trúc, các đô thị mối không có nhiều thay đổi, bởi dường như nó đã đạt đến trình độhoàn hảo đến mức ăn sâu vào bản năng xây dựng của giống loài này Tổ mối không chỉ

là nơi trú ngụ của mối chúa, nó còn là lớp giáp đặc biệt bảo vệ tất cả dân cư cùng mọihoạt động trồng trọt chăn nuôi bên trong Mỗi tổ mối là một công trình kiến trúc đặcbiệt tổng hòa các yếu tố sinh thái mà những kiến trúc sư loài người cũng phải thánphục

“Mối là động vật đầu tiên dựng xây thành phố, chuyện vốn xảy ra cách nay

đã hơn hai trăm triệu năm rồi (…) Bởi theo định nghĩa, những gì hoàn hảo sẽ không thể cải thiện được nữa Thành phố mối không hề phải trải qua bất cứ quá trình xét lại

Trang 35

nào, bất cứ cuộc cách mạng nào hay bất cứ bất đồng nội bộ nào Đó là một tổ chức lành mạnh hoạt động tốt đến mức nó chỉ có mỗi việc là tận hưởng hạnh phúc của mình giữa những hành lang được xây công phu bằng thứ xi măng cực kỳ vững chãi.” [5; tr.

560]

Nhìn chung, sâu trong khu rừng Fontainebleau, những vương quốc côn trùng đãhiện diện từ rất xa xưa, đủ lâu để tạo nên những nền văn minh tính bằng triệu năm tuổi,

đủ hoàn thiện để tồn tại song hành với trái đất một quãng thời gian dài đến mức, so với

chúng, nhân loại chỉ như những đứa trẻ mới chào đời Thâm nhập vào Ngày của kiến,

bước đầu được cảm nhận sự kỳ vĩ trong thế giới côn trùng, ta dần dần tự giác ngộ ratính khiêm nhường cần phải có ở con người khi trở lại tiếp cận với sinh thái trong mộtgóc nhìn mới, cảm quan mới, mà cụ thể hơn, đó là theo cách thức của loài kiến Theochân câu chuyện của Bernard Werber, cỗ máy phiên dịch Đá Hoa Thị đã giúp nhữngnhân vật con người đối thoại và thấu hiểu về những thế giới nhỏ bé nhưng rộng lớn hơnnhiểu so với những gì ta lầm tưởng Thậm chí có thể coi chúng là những vũ trụ songsong đang tồn tại cùng với thế giới chúng ta, nơi mà phần lớn nhân loại vẫn còn tinrằng mình là trung tâm trong vũ trụ

“Lũ kiến giải thích cho chúng tôi cơ chế hoạt động của các liên bang kiến,

kể cho chúng tôi nghe các cuộc chiến tranh, các cuộc đấu đá giữa loài này với loài kia Chúng tôi phát hiện ra một vũ trụ vận hành song song, ở đó, ngay sát gót giày chúng

ta, một vũ trụ ngập tràn trí thông minh (…) Thậm chí chúng còn gợi nhắc đến những khái niệm trừu tượng như dân chủ, giai tầng, phân chia nhiệm vụ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá thể sống.” [5; tr 504]

Kiến, ong, mối cùng rất nhiều loài côn trùng, động thực vật khác nữa, đã hòachung sự sống của mình vào nhịp đập sinh thái của địa cầu Những nền văn minh trongthế giới của côn trùng tồn tại trước chúng ta, rộng lớn hơn, thậm chí đan xen, songhành cùng nhân loại từ rất lâu mà chúng ta không hề hay biết, hoặc vô tình, hoặc cố ý

bỏ qua Dấn thân vào vương quốc kiến, hóa thân vào nhân vật kiến để thấy được thếgiới quan của kiến, từ đó ta có thể giác ngộ những tinh thần sinh thái rộng lớn hơn mà

con người bấy lâu nay còn thiếu Những bước dạo đầu này giúp ta nhìn nhận Ngày của kiến theo một hướng khách quan và khoa học nhất, đào thoát khỏi những lối mòn định

kiến nhân loại chủ quan, trước khi chuyển dời từ nhân loại trung tâm luận đến sinh tháitrung tâm luận

Trang 36

2.1.2 Thế giới quan của nhân vật kiến

Nói đến “nhân vật”, ngay từ đầu ta đã thấy được sự hiện diện mang tính chất conngười gắn liền với đối tượng được nhận vai trong tác phẩm Cụ thể hơn với trường hợp

Ngày của kiến, “nhân vật kiến” là những con kiến được nhân cách hóa để trở thành

nhân vật của câu chuyện Nhưng điều gì đã tạo nên sự khác biệt cho những chú kiếntrong trang sách của Bernard Werber, hơn là chỉ trở thành những con vật biết nói, đơnthuần phát ngôn những ý tưởng của tác giả?

Để những nhân vật côn trùng đặc biệt này trở nên sống động và chân thực nhất,trước hết, Bernard Werber đã để cho những nhân vật kiến trong trang sách của mìnhtồn tại thực sự với tư cách của kiến Tức là mỗi nhân vật kiến đều phải là những đơn vịsinh thái, sống và hoạt động trong môi trường sinh thái, giữa những vương quốc côntrùng, giữa thế giới của loài kiến Chúng đảm nhận đúng vị trí tự nhiên của mình, tồntại và phát triển phù hợp những nguyên tắc sinh thái mang đặc trưng của loài, trước khi

mở rộng nhận thức theo các diễn biến tình tiết trong câu chuyện, từ đó tạo nên thế giớiquan mang đậm bản sắc tinh thần của loài kiến Đây là một trong những điểm đáng chú

ý của tác giả trong khi xây dựng nhân vật kiến vừa sinh động, vừa đảm bảo tính hợp lýkhoa học, thay vì chỉ dừng lại ở biện pháp nhân hóa động vật đậm tính chủ quan của tưduy con người, thường được tìm thấy trong hầu hết các tác phẩm văn học theo kiểumẫu ngụ ngôn

Những “chú kiến” được nhân hóa trong Ngày của kiến mà ta bắt gặp, thực ra đều

là những “cô kiến” Chúng là những con kiến cái vô tính được sinh ra từ chung một mẹ

là kiến chúa Một đàn kiến chỉ có một mẹ là kiến chúa, gần như toàn bộ những conkiến còn lại đều là kiến thợ Kiến thợ được chia ra nhiều đẳng cấp cùng với nhữngnhiệm vụ khác nhau như chăm sóc kiến chúa, ấp trứng, chuyển trứng, nuôi kiến con,tìm kiếm thức ăn, đào đất xây dựng tổ, canh gác tổ Tất cả kiến thợ đều là kiến cáinhưng chúng không thể sinh sản được vì cơ cấu giới tính của chúng chưa phát triển đầy

đủ Các con kiến trong tổ phân biệt và trò chuyện nhau bằng mùi Kiến chúa cái sốngtrong phòng chúa ở giữa tổ, nhiệm vụ chính của nó là đẻ trứng trong hầu hết cuộc đời,đồng thời ra những chỉ thị, mệnh lệnh điều phối hoạt động sinh tồn và phát triển của cảvương quốc Những trứng mới nở ra sẽ tiếp tục sống với vài trò là thành viên lao độngcủa tổ, trừ những trường hợp đặc biệt mà kiến chúa sẽ sinh thêm những quả trứng nở ra

Trang 37

kiến đực Ngay khi thời tiết cho phép, “Mẹ” (tức kiến chúa) sẽ đẻ ra từng đẳng cấp theonhu cầu chính xác của tổ Kiến thợ sẽ nói cho Mẹ là “thiếu kiến nghiền ngũ cốc vàpháo binh”, và Mẹ sẽ đáp ứng yêu cầu Nó có râu khá nhạy để phát hiện ra sự thiếu hụtnhỏ nhất trong đẳng cấp này hay đẳng cấp khác, từ đó, nó bổ sung quân số ngay tạichỗ.

Trong Ngày của kiến, nữ hoàng của thành phố Bel-o-kan là kiến chúa

Chli-pou-ni Nó được xem như bộ não của toàn bộ nền văn minh kiến Myrmécéen trong thờiđiểm hiện tại, nó đại diện và điều khiển toàn bộ đế chế như một cơ thể sống, vận độngtrong tổng hòa và thống nhất:

“Trong đô thị Bel-o-kan, kiến chúa Chli-pou-ni không chỉ nắm giữ quyền lực tuyệt đối mà còn được coi là cá thể thông thái nhất, tập trung mọi tư duy và trí tuệ của nền văn minh Myrmécéen Trong vương quốc kiến, gần như không tồn tại tư duy cá nhân hay sự tự nhận thức nào ngoài sự đồng nhất với tư tưởng của kiến chúa Cả tổ kiến hoạt động như một cơ thể sống, mỗi con kiến là một tế bào trong cơ thế ấy cùng với bộ não là kiến chúa Chli-pou-ni Khi mỗi thành viên đắm chìm trong sự văn minh này, hòa chung với “Bầy dịu hiền”, nó không bao giờ cảm thấy cô đơn nữa, nó thuộc

về đa số “Trong Cấm Thành ngươi là một phần trong số những kẻ khác, cá nhân ngươi chỉ thuộc về hư vô”.” [5; tr 293]

Chli-pou-ni là kiến chúa thứ 333 của triều đại Ni và cũng là kiến đẻ trứng duynhất của thành phố Bel-o-kan Tiểu sử của nó được đề cập đến trong một quả trứng đặcbiệt đựng đầy pheromone và được bịt kín mít bằng một giọt nhựa thông mà ba con kiếngián điệp đã tìm thấy trong thư viện mùi hương - nơi chuyên lưu trữ những thông tinđặc biệt quan trọng của loài kiến hung đỏ Đó là tài liệu Pheromone ký ức số 81 đượcgắn nhãn “cấm giải mã” Trong đó có những ghi chép của nữ hoàng kiến về thế giới

xung quanh Nó từng cho rằng “thành phố bel-o-kan là điểm tới hạn của vũ trụ” và loài kiến “là những cá thể văn minh duy nhất trên hành tinh” Cho đến khi nó nghe

được thông tin về một thứ vũ khí mới có tính hủy diệt nghi ngờ được sử dụng bởi bọnkiến lùn, hoặc bọn mối, hoặc bởi một nhóm kiến bất hợp pháp nào đó trong thành phố.Những cuộc chinh phạt diễn ra, hao tổn hàng triệu sinh mạng để tìm kiếm thứ vũ khí bímật ấy nhưng không có kiết quả Sau chuyến phiêu lưu kì diệu của kiến vô tính 103

683, kiến chúa Chli-pou-ni biết rằng bờ Đông thế giới có tồn tại những sinh vật khổng

lồ trong huyền thoại, được gọi là Ngón Tay; chúng từng hủy diệt nhiều vương quốc

Trang 38

mối và kiến, trong đó có cả Bel-o-kan, gây ra cái chết cho mẹ cô – kiến chúa kiuni Những Ngón Tay vô cùng nguy hiểm, chúng sắp đến gần vương quốc của nhữngcôn trùng, đe dọa sự tồn tại của Bel-o-kan một nữa Vì vậy, kiến chúa Chli-pou-ni nhậnthấy cần phải mở cuộc viễn chinh chống lại chúng - những con quái vật Ngón Tay tạirìa thế giới.

Belo-kiu-“Chính Chli-pou-ni là con kiến phát minh ra “phong trào tiến hóa” Nó đã

từ chối danh hiệu tân Belo-kiu-kiuni để tạo lập vương triều riêng của mình: vương triều của các kiến chúa Chli-pou-ni Nó thay đổi đơn vị đo không gian: không còn là đầu (3 milimét), mà là bước chân (1 xentimét) Bởi các cư dân Bel-o-kan ngày càng đi

xa hơn nên phải có một đơn vị đo lớn hơn.

Trong khuôn khổ phong trào tiến hóa, Chli-pou-ni cho xây dựng Thư viện hóa học và đặc biệt, nó chào đón tất thảy các loài động vật cộng sinh mà nó sẽ nghiên cứu để tạo ra những pheromone động vật Hơn nữa nó còn gắng thuần hóa các loài bay và bơi Bọ hung và niềng niễng ” [5; tr 45]

Cũng như nhiều triều đại trước đó, những tương tác giữa hai nền văn minh củangười và kiến là không đáng kể Sự tồn tại của con người với chúng cũng mờ nhạt nhưnhững huyền thoại khác về kiến và khủng long Do đó, Chli-pou-ni cho rằng, loài kiếnmới thực sự là những chủ nhân duy nhất của Trái đất Nó kiêu hãnh vì mình thuộc vềgiống loài này:

“Chúng ta, những kẻ hết sức nhỏ bé nhưng lại biết cách nghiền nát những con vật khổng lồ tỏ ra hung bạo Chúng ta, những kẻ hết sức nhỏ bé nhưng lại biết cách suy nghĩ và giải quyết mọi vấn đề tưởng như không giải quyết nổi Chúng ta, những kẻ hết sức nhỏ bé nhưng lại chẳng phải học lấy điều gì từ những tảng núi sống

có vẻ hoàn hảo ấy.

Nền văn minh kiến là nền văn minh duy nhất kéo dài lâu như vậy bởi nền văn minh ấy biết cách loại bỏ mọi đối thủ cạnh tranh.” [5; tr 596]

Sức mạnh của loài kiến được tạo nên bởi tính thống nhất trong hành động giữacác cá thể Sự thống nhất này dựa trên nền tảng của những cuộc chuyện trò, trao đổithông tin với giá trị gần như tuyệt đối, bởi loài kiến cùng lúc tiếp và mô tả thế giới trênnhiều kênh giao tiếp đặc biệt, khác hẳn với con người Kiến nhận thức thế giới bằng

Trang 39

mắt với góc nhìn lớn, lên tới 180 độ, nhưng những cặp mắt của chúng không đủ tinhtường để nhìn xa, nhưng lại rất nhạy cảm với hình ảnh chuyển động hay tia hồng ngoại,

để có thể nhìn thấy được những hình ảnh mà mắt người bình thường không thấy được

Loài kiến giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt của mùi hương

“Chúng ta cứ tưởng rằng những con vật không có ngôn ngữ, bởi vì chúng ta không hiểu những tiếng kêu của chúng” [15; tr 39] Thay vì sử dụng âm thanh phát ra từ phổi

vòm họng làm công cụ giao tiếp như con người, kiến trò chuyện với đồng loại nhờ cácpheromone Kiến phát ra thông tin thông qua các pheromone như những ngôn ngữ tỏamùi hương Pheromone là những chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữacác cá thể cùng loài, những chất này được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây

ra những phản ứng chuyên biệt cho những cá thể khác cùng loài Với sự đa dạng trongviệc hòa trộn các phân tử mùi hương theo các tỷ lệ khác nhau để tạo nên ngôn từ giaotiếp, trên thực tế, sắc thái của cuộc trao đổi thông tin giữa những cá thể kiến là vô cùng:

“Loài kiến nói chuyện với nhau thông qua sự giúp đỡ của các mùi, tức những pheromone mà các đốt râu phát đi Mỗi pheromone là một hoóc môn có khả năng thoát khỏi cơ thể, đi lại trong không khí và xâm nhập vào một cơ thể khác Khi một con kiến cảm thấy một cảm giác, nó sẽ phát đi cảm giác ấy khắp cơ thể mình và toàn bộ lũ kiến xung quanh sẽ nhận được cùng lúc với nó.” [5; tr 85]

Ngoài phương pháp trò chuyện bằng pheromone, kiến còn có khả năng “trao đổituyệt đối” với nhau thông qua hành động chạm râu Thông tin không chỉ được mô tảqua tín hiệu chuyển động của râu cùng với các pheromone được phát đi, mà còn đượctruyền đạt cực kỳ nhanh chóng bằng cách tiếp xúc các đốt râu với nhau giữa những conkiến Khi những đốt râu chạm vào nhau, một kênh giao tiếp mới được mở ra, qua cổngthông tin này, những con kiến có thể kết nối tâm trí với nhau và truyền đi tin tức gầnnhư nguyên vẹn, chúng gọi đó là “trao đổi tuyệt đối” Các pheromone chuyển từ cơ thểnày sang cơ thể kia qua hàng nghìn lỗ nhỏ và mao mạch của các đốt râu Hai tư tưởnghòa làm một Các ý nghĩ không còn mã hóa và giải mã nữa Chúng được để ở tình trạngđơn giản nguyên thủy của mình: hình ảnh, nhạc điệu, cảm xúc, hương thơm Không chỉgiao tiếp thông qua mùi hương và chạm râu, kiến cũng còn một nghi thức giao tiếp đặcbiệt với đồng loại được gọi là trao đổi dinh dưỡng – một “nụ hôn” theo cách của côntrùng Ở phần bụng dưới của mình, loài kiến có một chiếc túi, thực chất là một cái dạdày phụ không tiêu hóa thức ăn Nói cách khác là một cái “diều xã hội” Ở đó, nó có

Trang 40

thể dự trữ thức ăn, và đồ ăn luôn tươi mới và nguyên vẹn Sau đó, nó có thể ợ ra và đưalên dạ dày “tiêu hóa bình thường” Hoặc nó nhổ ra để cho đồng loại Việc truyền dẫnnăng lượng này thể hiện sự tôn trọng, thân thiện và gắn kết những thành viên trong tổvới nhau như một “nghi thức hiến thân” Bằng nhiều kênh giao tiếp khác nhau như thế,kiến chúa có thể truyền đạt rõ ràng những mệnh lệnh, quyết định của mình cho cả bầylên đến hàng triệu con Đồng thời những phương pháp giao tiếp này cũng giúp hàngtriệu thành viêntrong tổ, bao gồm những kiến thợ cùng loài dưới nhiều vai trò đảmnhiệm khác nhau và cả những côn trùng cộng sinh khác loài,có thể thấu hiểu, phục tùng

và gắn kết với nhau toàn vẹn Tính thống nhất vượt trên tính đa dạng của từng cá thể và

mở rộng quy mô đến cấp độ loài, do đó, nó triệt tiêu những nhận thức về cái tôi cá nhân

và đối với kiến, “ích kỷ” là một khái niệm còn xa lạ

“Thông thường, loài kiến chẳng bao giờ nghĩ đến quá khứ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến tương lai Nhìn chung, chúng thậm chí còn không ý thức được sự tồn tại của mình trong tư cách một cá thể Không hề có khái niệm “tôi”, “của tôi” hay “của anh”, chúng chỉ hiện hữu qua cộng đồng hay vì cộng đồng Vì không ý thức được về bản thân nên chúng cũng chẳng e sợ gì cái chết Loài kiến không hề biết đến trạng thái

âu lo hiện sinh.” [5; tr 46]

Kiến chúa Chli-pou-ni cũng thừa hiểu, qua hàng triệu năm tiến hóa, sự đoàn kết

và thống nhất đã mang đến sức mạnh vượt trội cho loài kiến, một thứ sức mạnh có tính

chất và quy mô của loài chứ không phải chỉ nằm trong từng cá thể “Một câu ngạn ngữ của kiến lùn đã chỉ rõ điều đó: Loài to lớn luôn mong manh hơn loài nhỏ con.”[5; tr.

65] Hàng triệu loài động vật khác nhau, ngay với kích thước khổng lồ như khủng longrồi cũng bị xóa sổ, nhưng kiến thì không Tới lượt những Ngón Tay - những kẻ tự nhậnchúng là con người - là những giống loài to lớn và non trẻ vừa mới xuất hiện trên bềmặt Trái Đất, kiến cũng không tin rằng giống loài những Ngón Tay sẽ tiếp tục tồn tại ởnơi này quá lâu Cho dù thế nào, kiến vẫn tồn tại và không ngừng thích nghi với thếgiới này, chiếm lĩnh mặt đất này Loài kiến sẽ tiếp tục tồn tại và phát tiển bền vững, gắn

bó mật thiết với nền tảng sinh thái vĩ đại của mẹ thiên nhiên Những trải nghiệm về thếgiới ở một tầng thấp về độ cao nhưng rộng lớn về diện tích bao phủ,cùng với sự khácbiệt về giác quan cảm thụ thế giới sẽ dẫn đến sự khác biệt trong việc nhân thức về thếgiới, điều đó có nghĩa, thế giới quan của loài kiến khác hẳn với thế giới quan của conngười Thế giới quan của kiến in dấu trong những truyền thuyết và huyền thoại của nền

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w