1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN học PHÂN TÍCH tác PHẨM NGUYỆT (TRẦN NHÂN TÔNG)

22 550 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đăc biệt với cảm thức thời trung đại con người đãxem mình là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, một phần tử của vũ trụ thiên nhiên.Cùng với đề tài về con người, đề tài về thiên nhiên đã g

Trang 2

MỤC LỤCA.Lời dẫn nhập

B.Nội dung

I.Tìm hiểu chung

1 Vài nét về tác giả - Trần Nhân Tông 2.Vài nét về Thiền

2.1 Thiền là gì?

2.2 Thiền trong thơ Trần Nhân Tông II.Tìm hiểu về bài thơ “Nguyệt”

1 Hai câu đầu

“ Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư”

2 Hai câu cuối

“ Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

III Nghệ thuật

IV Tổng kết

V.Tài liệu tham khảo

A.DẪN NHẬP

Trang 3

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi ca Giữa thiên nhiên và con người bao giờcũng có mối quan hệ tương giao Đăc biệt với cảm thức thời trung đại con người đãxem mình là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, một phần tử của vũ trụ thiên nhiên.Cùng với đề tài về con người, đề tài về thiên nhiên đã góp phần tạo nên cảm hứngnhân văn trong văn chương.

Thiên nhiên trong văn học Phật giáo Lí - Trần là đối tượng lớn, khách quan chongười sáng tác chiêm nghiệm và phản ánh truyền tải tư tưởng thiền đạo Bàn vềnhững vấn đề này trước đây đã có khá nhiều công trình vĩ đại của các nhà nghiêncứu như Bùi Văn Nguyên, Đoàn Thị Thu Vân, Đinh Gia Khánh, Thích Mãn Giác,

Lê Trí Viễn,… với lượng trí thức hạn hẹp, chắc chắn rằng người viết sẽ không đủkhả năng để trình bày thấu đáo những vấn đề mà các bậc tiền nhân đã bàn Song,nói về tấm lòng thì người đi sau luôn mong muốn tìm hiểu về tư tưởng Phật giáo,đặc biệt là về Thiền đạo với cả tấm lòng ngưỡng vọng và trân trọng Chỉ e rằngkhông đủ tài và tâm để hân thưởng hết những châu ngọc của các vị tiên sinh

Quả thực, những hình ảnh thiên nhiên trong văn học Phật giáo mà các vị tiền bối

sử dụng để chỉ cái trí tuệ bát nhã, siêu việt, thông tỏ ví với chân tâm của bậc giácngộ chân lí, thường được sử dụng nhiều đó là vầng trăng sáng và đóa hoa sen trong

lò lửa Ở đây, tại thời điểm này chúng tôi vẫn còn lặn ngụp trong vốn tri thức đầymông muội nghèo nàn chỉ dám tìm hiểu và khám phá một cách không dám cho làtoàn mĩ về ánh trăng trong tư tưởng Thiền đạo của người xưa Mà cụ thể chúng tôichỉ dám nghiêng mình hân thưởng một khía cạnh rất nhỏ qua tác phẩm NGUYỆTcủa đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông để lại Mặc dù rất cố gắng trong quá trình tìmhiểu nhưng với những hiểu biết còn khá là hạn hẹp, chắc chắn rằng chúng tôi sẽkhông tránh khỏi có những sơ xuất bất cập cũng như không phản ánh được nhữngvấn đề trên một cách toàn bích và vô lượng Kính mong có được những sự chia sẻquý báu từ quý vị

B.NỘI DUNG

I Tìm hiểu chung

Trang 4

1 Vài nét về tác giả - Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông ( 陳陳陳) (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳陳) Ông là contrai trưởng của vua Trần Thánh Tông với NguyênThánh Thiên Cảm hoàng thái hậuTrần Thị Thiều Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ , niên hiệu Thiệu Longnăm thứ I (1258)

Trần Nhân Tông là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông vàtrước vua Trần Anh Tông)trong lịch sử Việt Nam Ông trị vì 14 năm (1279 – 1293)

và làm Thái thượng hoàng 13 năm Ông là người đã sáng lập Thiền phái Trúc LâmYên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu Đà Hoàng Giáp Điếu Ngự Ông được sử sách cangợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung

Vũ Lâm ( Ninh Bình), sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh)tu hành lập Thiền pháiTrúc Lâm Yên Tử Ông lấy đạo hiệu là Điệu Ngự Giác Hoàng ( hay Trúc Lâm ĐầuĐà) Ông là tổ thứ nhất của dòng thiền Việt Nam này, về sau ông được gọi cungkính là “Phật Hoàng” cũng vì lí do này

Ông qua đời ngày 3 tháng 11 âm lịch 1308 được an táng ở lăng Quy Đức, phủLong Hương; xá lị cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy

là Pháp Thiên Sùng Đạo Ưng Thế Hóa Dân Long Từ Hiếu Hiệu Thánh Văn Thần

Võ Nguyên Minh Diệu Hiếu Hoàng Đế Tên thụy ngắn là Hiếu Hoàng Đế MiếuHiệu Nhân Tông

2.Vài nét về Thiền:

2.1 Thiền là gì?

Trang 5

Thiền là âm tiếng Phạn nói cho đủ là Thiền Na, Trung Hoa dịch là tĩnh lự hay tưduy tu Đức tùng lâm hay trạng thái định tuệ quân bình.(Tĩnh lự :tĩnh là lặng , lự làsuy tư Tư duy tu : tư duy tức là soi xét hay quán chiếu , tu là cách hành trì lối tubằng cách soi xét quán chiếu gọi là quán).

Trong nhà Thiền chia ra hai lối tu Chỉ và Quán Chỉ là định , Quán là tuệ Chỉ,

Quán tức là định tuệ riêng từng phần Thiền là gom cả Định Tuệ đồng tu nên gọi làThiền Na Tức quân bình Định và Tuệ Gọi là công đức tùng lâm, tu Thiền là pháp

tu chủ yếu của đạo Phật, nên ai ứng dụng tu như thế gọi là công đức tùng lâm.Sau này các chư tổ không định nghĩa thiền như thế mà các ngài nói đây là pháp tu

“phản quan tự kỉ” Phản quan là soi trở lại tự kỉ là chính mình Phản quan tự kỉ

là soi sáng lại chính mình

Trong nhà Phật có chia ra năm loại Thiền:

1.Thiền phàm phu

2.Thiền ngoại đạo

3.Thiền tiểu thừa

4.Thiền đại thừa

5.Thiền tối thượng thừa

Như vậy thiền là một , nhưng ứng dụng tu thì có riêng từng loại khác nhau.( hoa

vô ưu_tr80 tập 7_Ht.Thích Thanh Từ Nxb Tôn giáo)

Thiền tông truyền qua Việt Nam, từ tổ tì-ni-đa-lưu-chi lần lần tới thiền sư Vô

Ngôn Thông, truyền mãi cho đến đờiTrần Như vậy Thiền tông truyền sang ViệtNam có căn bản, có hệ thống hẳn hoi chớ không phải là chuyện vô căn cứ Các

Thiền sư theo hệ tổ tì-ni-đa-lưu-chi như Thiền Sư Vạn Hạnh v.v ngoài ra còn có

các vị theo hệ ngài Vô Ngôn Thông cũng khá nhiều Hai hệ này truyền tới gần cả

20 đời Vua Đến khi thái tử Trần Khâm tức vua Trần Nhân Tông sau này

2.2 Thiền trong thơ Trần Nhân Tông:

Trang 6

Trần Nhân Tông sau khi từ bỏ ngôi vị của mình lên núi Yên Tử vào rừng trúc ởNgọa Vân Am chuyên tu, 5 năm tu đạo khổ hạnh ở rừng trúc Ngài hoàn toàn ngộđạo Ngài sống giữa thiên nhiên để thấy tâm hồn mình về với “chân như” , vớinhững cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục Thiền gia cảm nhận thiênnhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên, bởi Ngài cho rằng bản thể của vũ trụ là trốngkhông khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòanhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật Thiên nhiên qua cái nhìn của thiền gia dù bình

dị nhưng vẫn thấm đẫm hơi hướng mỹ cảm Thiền

Thơ của ông mang ý vị Thiền để bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp của thiên nhiên, conngười, cuộc sống, bày tỏ trạng thái tâm tư đã giác ngộ chân lí, miêu tả cái đẹp kìdiệu của thế giới bên trong con người

Ngôn ngữ thơ ông mang nhưng nét chung của ngôn ngữ nghệ thuật trung đạiPhương Đông; mang tính hàm xúc, nét đặc trưng cơ bản là biểu đạt “ngôn vôngôn” (cái không lời)

Thiền tông trong thơ ông đề cao một “con người tự do” với tinh thần phá chấp triệt

để, không vướng mắc vào giáo lí kinh điển; một “con người vô ngã” vượt lên sựràng buộc khó phá vỡ nhất đó chính là sự ràng buộc của bản thân để đạt tới cáitâm bình thản và cái nhìn độ lượng đối với vạn vật; một “con người vô ý” với tinhthần “ưng vô sở trụ nhi sinh là tâm” tùy duyên mà hành động; một “con người vôngôn” lặng yên mà dạt dào phong phú, thế nhập cùng vạn vật vũ trụ bởi ngôn ngữ

là hữu hạn, không thể diễn đạt được cái chân lí vô cùng Nói chung đây là xuhướng con người - vũ trụ

II Tìm hiểu về bài thơ “Nguyệt”

Trang 7

Trong thế giới tồn tại xung quanh con người thì có những cảnh vật thiên nhiên xuấthiện rất đẹp và hữu tình như: phong-hoa-tuyết-nguyệt Trong đó thì “ Nguyệt”được xuất hiện với tần suất rất nhiều trong thơ ca Không phải ngẫu nhiên như vậy,

vì ta thấy rằng Trăng rất đẹp_và ngắm trăng là 1 thú vui tao nhã, là nơi để thi sĩ gửigắm… những tâm tư, tình cảm của mình Ta thấy trăng trong “Vọng Nguyệt”_HồChí Minh:

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”

Hay thú vui chơi cầm-kì-thi-họa, uống rượu, thưởng thức trăng hoa với Nguyễn Du

“Khi chén rượu, lúc cuộc cờKhi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”

Không biết bao lần ánh trăng đã dát vàng trên những vần thơ Không biết đã

có biết bao nhiêu thi sĩ đã “uống” vầng trăng vào mình mà “xuất khẩu” thành thơ.Những trang thơ chứa đầy ánh trăng, vừa là ánh trăng soi sáng của thiên nhiên, vừa

là ánh trăng hiểu thấu lòng người và ánh trăng sáng huyền diệu làm bừng lên sựgiác ngộ của con người thấm đẫm tính chất Thiền trong bài “Nguyệt” của TrầnNhân Tông “ Nguyệt” là bài thơ nổi tiếng và độc đáo của ông mang cảm hứngThiền Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài thơ này để thấy rõ được hồn thơ Trần NhânTông và “Nguyệt” :

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Trang 8

Lộ trích thu đình dạ khí hư Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

Trần Nhân TôngDịch thơ:

Đèn thu chếch bóng sách đầy giườngĐêm vắng sân thu lác đác sươngThức dậy tiếng chày đâu chẳng biếtTrên cành hoa quế nguyệt lồng gương

( Đào Phương Bình dịch )

1 Hai câu đầu:

Hiện lên giữa bài thơ là không gian trong trẻo, lặng lẽ và khoáng đạt _đâycũng là cái đặc trưng cho cái “không” của thể loại thơ Thiền Thời gian đượcmiêu tả ở đây là thời gian lúc nửa đêm khuya mùa thu Có thể nói, theoThiền thì không gian và thời gian như trên là thời điểm rất thuận lợi cho sựbừng ngộ trí tuệ Với cái “không” này thì cái tâm con người đã được lằngđọng tinh khiết, dường như gạt khỏi lớp bụi bặm che phủ hằng ngày Lúc

Trang 9

này đây thi nhân đang cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên.

Mà các thiền sư cho rằng bản thể của vũ trụ là sự trống không khi tâm conngười đạt tới sự tĩnh tại tuyệt đối, tâm trong suốt thì mới có thể hòa nhập vàobản thể của vũ trụ Đó là cái “không” của Thiền

"Bán song đăng ảnh mãn sàng thư”

Mở đầu câu thơ là khung cảnh tĩnh lặng - nửa khung cửa sổ bên ánh đèn lelói, sách để đầy giường Câu thơ này làm người đọc liên tưởng đến, đây làgóc đèn sách của một anh thư sinh nghèo, trong đêm đang miệt mài bên ánhđèn đã ngủ thiếp đi lúc nào không hay Câu thơ không đề cập chính xác chongười đọc biết là canh mấy chỉ biết cái thời khắc ấy mang một không khítĩnh mịch, yên ắng Và dường như trong cái không gian đặc biệt ấy, nhữngvật tưởng chừng như vô tri vô giác lúc này đây lại trở nên có hồn một cách

lạ lùng

Câu đầu thì thời gian không chính xác nhưng sang câu thứ hai thì dường nhưbức màn đã được vén thật cao lên dẫn người đọc bước vào không gian đêmthu thực sự mang hơi hướng của sự thanh vắng, thanh tịnh đang len lỏi dầnvào tâm hồn người đọc

“Lộ trích thu đình dạ khí hư“

Mùa thu, mùa của thi sĩ, mùa của những cảm xúc dạt dào bất tận “Lộ tríchthu đình” đã làm nổi bật lên hai hình ảnh sân thu rộng lớn bao la - một hạtmóc nhỏ nhoi rơi trên sân đình Hai cặp hình ảnh đối ngược ấy khiến chongười đọc vừa có cảm giác gần gũi, mờ mờ ảo ảo, vừa thực vừa hư Hìnhảnh ấy làm điểm nhấn mạnh thêm không gian lúc này rất yên tĩnh, đến mức

độ người đọc có thể nghe được âm thanh rất khẽ: tiếng hạt móc rơi trên sân

Trang 10

thu Chứng tỏ không gian yên ắng vô cùng, không hề pha tạp một thứ âmthanh nào Hình ảnh ‘lộ trích” là hình ảnh quen thuộc trong thơ Thiền Hìnhảnh hạt móc ở đây là hình ảnh hơi nước đêm bám trên bề mặt lá cây cỏ Và

đó không chỉ đơn thuần là hạt móc rơi trên sân thu Mà ẩn đằng sau đó là cảmột tâm niệm, một ý nghĩ mà Trần Nhân Tông muốn gửi gắm: đó là lẽ đời,

đó là những thăng trầm của dòng đời hợp rồi tan cũng như hạt móc vậy,lúc là thể lỏng, nhưng lúc lại là thể khí bốc hơi theo làn khói

Hạt móc chỉ là hơi nước mong manh nhỏ bé đọng lại trên cây lá rồi khi rơixuống đất thì cũng vỡ ra Số phận con người cũng giống như hạt móc Cũngđược sinh ra rồi một ngày nào đó sẽ trở về với đất mẹ, hòa mình vào cát bụi.Sinh lão bệnh tử là chuyện bình thường của qui lật con người vì vậy màđừng quá lo sợ, hãy sống sao cho tốt Còn cuộc sống đó chứa đựng trong nóbao thăng trầm nhưng rồi cũng sẽ qua đi cũng như lẽ đời “hợp rồi tan, tan rồihợp” Quan trọng là chúng ta nhận ra được gì qua những thăng trầm ấy: lẽsống, tình đời, tình người… Và hình ảnh hạt móc ấy cũng được Vạn Hạnhthiền sư mang vào trong vần thơ như một biểu tượng cho sự thịnh suy trongbài “Thị đệ tử”:

“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”

Vạn Hạnh thiền sư

“Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.”

Ngô Tất Tố dịch

Qua hai câu thơ Vạn Hạnh thiền sư cũng muốn nói đến số phận, thân phận của con người ở đời đều xoay vòng trong sự “thịnh suy” Nhưng cũng như “lộ thảo đầu phơi” Những việc thịnh suy, thăng trầm ấy như

Trang 11

hạt sương đọng trên đầu cỏ Nó hiện diện đây đó rồi cũng tan biến chứ không tồn tại mãi bên con người.

Trở lại câu “Lộ trích thu đình dạ khí hư” Với vế sau của câu “dạ khí hư” đãmang lại cho ta cảm giác trống trải, hư ảo, không có thật với từ “hư” Hơiđêm thì “trống không” làm tăng thêm cái mênh mông, bát ngát của ban đêm

Từ “hư” đã gợi lên một ấn tượng mạnh đối với người đọc một cách khéo léo

và tinh túy, nó là tính từ biểu thị được cả chiều dài lẫn chiều sâu của khônggian lúc này Có một điều thắc mắc là tại sao Phật Hoàng Trần Nhân Tônglại miêu tả hơi đêm lúc này là sự “trống không” mà không thay vào đó là sự

“lạnh lẽo”, “mát mẻ” hay “trong trẽo” Bởi vì chúng ta đã nói ở trên từ “hư”

là tính từ biểu thị cho chiều dài và chiều sâu của không gian, nhưng ở đâychính cái hư này đã gợi lên được sự trong trẻo và tĩnh lặng của đất trời nơiđây Cảm giác từ “hư” – “trống không” này chính là đặc trưng của ThiềnTâm: trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ Chính cái hư không này

đã làm không gian bài thơ lắng lại như mọi vật ngừng chuyển động khiếncho tâm tư con người thêm tĩnh đạm sáng suốt, vứt bỏ đi những cái phàm tục

để tiến gần đến sự giác ngộ Con người đã hòa quyện được tâm của mình với

sự bao la của vũ trụ

Nói về sự “hư” này thì một lần nữa chất Thiền Tông lại thoáng xuất hiệngiữa những từ ngữ trong câu để nhắc nhở mọi người về cuộc sống, về sựthịnh suy trong đời người Trần Nhân Tông đã khéo léo nhắc nhở ta rằngnhững điều mà con người hằng mơ ước đạt được như danh vọng, của cải…chỉ là điều hư ảo, phù du; nay có mai mất chứ không thể theo ta mãi được.Danh vọng, của cải như một chiếc áo khoác lên người mặc nó sự cao quísang trọng nhất thời, rồi sẽ đến lúc nó tan biến như không khí lúc ẩn lúc hiện

Trang 12

để cuối cùng tan vào hư vô Nhà sư muốn ta thức tĩnh để đi tìm điều đíchthực, hiện hữu mà ta cần, để rồi có thể thấy lòng ta bình lặng thoải mái.

2.Hai câu cuối:

“Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

Quả thật, danh vọng, của cải không tồn tại được mãi mãi với con người Ấyvậy mà con người cứ mãi mê mẫn trong vòng xoáy danh lợi không có thật

đó Điều mà ta cần là cái đích thực hiện hữu, mãi trường tồn đền làm cholòng ta thanh tịnh, thoải mái khi con người đã thức tỉnh được những gì màthiền sư đã nói Chữ “thụy” ở đây chỉ trạng thái lúc ngủ mệt mỏi, nó như lúcmỏi mắt gục xuống cho tinh thần được yên lặng Bằng cách dùng chữ

“Thụy”, Trần Nhân Tông đã chỉ ra hình ảnh con người lúc mà gục xuốngngủ khi đã quá sức những giá trị vô thức chứ không có giá trị mãi mãi Vàkhi cứ luẩn quẩn trong vòng ham muốn ấy cũng giống như hình ảnh “thụy”không gắn gượng gì được nữa Nhưng bằng một chữ “thanh” thì Trần NhânTông đã làm bừng tỉnh lên một tâm hồn con người bị u mê Chính tiếng chàivăng vẳng nơi xa, nơi vô định đã khơi dậy một tâm hồn con người Chinhchữ “thanh” đã làm sáng lên, làm bật lên chất thiền tông của bài thơ Nó nhưtiếng chuông thức tỉnh, soi sáng tâm hồn u tối của con người

Nói đúng hơn nó là thực tại nhưng bị không gian “nuốt chửng” Vì thế khicâu thơ có sự xuất hiện của tiếng chày thì cứ tưởng chừng như có âm thanhthì không gian nơi đây được khuấy động xé toạc đi sự tĩnh lặng trái lại nócòn làm không gian vốn dĩ đã trống không trở nên vô cùng, vô tận trong cáiđêm tối tĩnh mịch ấy Sự tỉnh giấc lúc nửa đêm này nhầm ngụ ý khi con

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w