1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN học NT MIÊU tả CUỘC SỐNG đời THƯỜNG TRONG HỒNG lâu MỘNG

62 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng tâm huyết của một con người muốn góp nhặt những mảnh ghép của cuộc đời và thổi vào đó niềm say mê nhiệt huyết để tạo nên đứa con tinh thần Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần thực sự trở t

Trang 2

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG MỘT: HỒNG LÂU MỘNG – ĐỈNH CAO CỦA TIỂU THUYẾT MINH – THANH 5

1.1 Vài nét về chân dung tác giả Hồng lâu mộng 5

1.1.1 “Giấc mộng lầu hồng” – hoài niệm của Tào Tuyết Cần 5

1.1.2 “Giấc mộng lầu hồng” – niềm tin của Cao Ngạc 9

1.2 Hồng lâu mộng – “Tuyệt thế kỳ thư” của tiểu thuyết Minh – Thanh 11

1.2.1 Hồng lâu mộng – sự kế thừa những đặc trưng của tiểu thuyết cổ Trung Quốc 11

1.2.2 Hồng lâu mộng – một số bút pháp nghệ thuật mới 13

CHƯƠNG HAI: MIÊU TẢ TỈ MỈ CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG – BƯỚC ĐỘT PHÁ CỦA TÀO TUYẾT CẦN 16

2.1 Khái quát bức tranh thế sự của tiểu thuyết Hồng lâu mộng 17

2.1.1 Bối cảnh xã hội Trung Quốc giữa thế kỷ XVIII 17

2.1.2 Hiện thực thời đại của xã hội Trung Quốc thể hiện trong tác phẩm Hồng lâu mộng 17

2.2 Cuộc sống đời thường của Giả phủ qua ngòi bút miêu tả độc đáo của Tào Tuyết Cần 22

2.2.1 Trang phục 23

2.2.2 Văn hóa ẩm thực 26

2.2.3 Kiến trúc 32

2.2.4 Những sinh hoạt, lễ nghi 36

2.2.5 Những khía cạnh khác của cuộc sống đời thường 44

PHẦN KẾT LUẬN 51

THƯ MỤC THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 56

Trang 3

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Ra đời vào những năm giữa thế kỷ thứ XVIII, Hồng lâu mộng đã trở thành một tác phẩm mang một luồng gió mới cho nền văn học Trung Quốc nói riêng, nền văn học nhân loại nói chung Tác phẩm đã mang đến cho độc giả những nguồn cảm hứng tuyệt vời bởi những giá trị đích thực của nó cả về nội dung lẫn hình thức Bằng tâm huyết của một con người muốn góp nhặt những mảnh ghép của cuộc đời và thổi vào đó niềm say mê nhiệt huyết để tạo nên đứa con tinh thần Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần thực sự trở thành một tiểu thuyết gia vĩ đại của đất nước hoa mẫu đơn vốn có nền văn học đồ sộ Hồng lâu mộng

là đỉnh cao của tiểu thuyết Minh – Thanh, được mệnh danh là “tuyệt thế kỳ thư”, bởi nó phản ánh toàn diện và sâu sắc gương mặt văn hóa Trung Hoa Từ nội dung cho đến nghệ thuật của tác phẩm đều có những sự kế thừa của tiểu thuyết

cổ Trung Quốc, bên cạnh đó là những bút pháp nghệ thuật độc đáo, mới mẻ mang đầy những khuynh hướng của một thời đại mới Thôi Đạo Di đã từng nhận

xét về giá trị của Hồng lâu mộng: “Đối với tôi không có một tác phẩm văn học nào có thể so tài với Hồng lâu mộng về cách sáng tạo câu chuyện và nhân vật chân thật, sống động, bền bỉ Có thể nói, đọc Hồng lâu mộng không chỉ khiến chúng ta hiểu lịch sử mà còn giúp chúng ta hiểu hiện thực cuộc sống” Nét mới

lạ và độc đáo nhất mà Tào Tuyết Cần đã đưa vào tác phẩm đó là việc miêu tả cuộc sống đời thường cùng với việc miêu tả tâm lý nhân vật, không giống như các tiểu thuyết trước đây thường miêu tả những sự việc ly kỳ, cùng với những con người phi thường Chính vì Hồng lâu mộng là một câu chuyện, một bức tranh cuộc sống đời thường, không hề bị đẽo gọt bởi nhà văn mà tác phẩm đã được giới công chúng đón nhận bằng cả lòng nhiệt tình Quan niệm hiện thực của tác giả Tào Tuyết Cần thể hiện một cách rất sinh động và điêu luyện trong tác phẩm không những đã đưa Hồng lâu mộng trở thành đỉnh cao của tiểu thuyết

Trang 4

Trang 4

Minh Thanh mà nó còn là một kiệt tác hiện thực chủ nghĩa có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến nền văn học của nhân loại như nhà Hán học Xô Viết, viện sĩ N.S

Konrad đã từng đánh giá: “Tiểu thuyết Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu Đó là một bức tranh vĩ đại về quy mô cũng như về ý nghĩa của cuộc sống xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII” Với những giá trị to lớn

ấy, Hồng lâu mộng xứng đáng là “tuyệt thế kỳ thư” của nhân loại, và Tào Tuyết Cần xứng đáng là tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong thời cổ Trung Quốc

Lâm Đại Ngọc và Giả Bảo Ngọc

Trang 5

Trang 5

CHƯƠNG MỘT: HỒNG LÂU MỘNG – ĐỈNH CAO CỦA TIỂU

THUYẾT MINH – THANH

Trung Quốc xưa nay vẫn được biết đến như cái nôi của lớn của văn minh – văn hóa nhân loại, nơi sản sinh ra biết bao kỳ tích ở nhiều lĩnh vực từ khoa học

kỹ thuật cho đến văn hóa nghệ thuật Cùng với nó là sự hưng vong, thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, âu đó cũng là quy luật tất yếu của các hình thái ý thức xã hội Một cách rất tự nhiên, văn chương đã phản ánh những trái ngang, bất công, phi luân thường đạo lí của cuộc sống… Hay nói cách khác, cuộc sống muôn màu là chất liệu, là dưỡng chất hun đúc nên những áng văn bất

hủ Nền văn học trung đại Trung Quốc từ Hán – Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh đã để lại những đỉnh cao văn chương gắn liền với từng triều đại,

mà khi nhắc đến triều đại nào thì người ta cũng không quên nhắc đến thể loại văn chương tiêu biểu của triều đại ấy: Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh - Thanh tiểu thuyết Quá trình phát triển liên tục ấy chứng minh sức sống, sự sáng tạo dẻo dai, không mệt mỏi của một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời Trong lịch sử phát triển hàng nghìn năm của tiểu thuyết thì Minh – Thanh xứng đáng được tôn vinh là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Những tuyệt tác tiểu thuyết đã ra đời với dung lượng lớn, đề tài phong phú đã phản ánh rất nhiều mảng màu, nhiều lát cắt của đời sống xã hội: Tam Quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Thủy hử (Thi Nại Am), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần)… Trong số những tiểu thuyết

ấy, Hồng lâu mộng xứng đáng là đỉnh cao của tiểu thuyết Minh – Thanh, đỉnh cao của những chuẩn mực tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc

1.1 Vài nét về chân dung tác giả Hồng lâu mộng

1.1.1 “Giấc mộng lầu hồng” – hoài niệm của Tào Tuyết Cần

Trang 6

Trang 6

Tào Tuyết Cần được tôn vinh là tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong văn học Trung đại Trung Quốc Gần đây, trong cuộc bình chọn một trăm nhà văn được yêu mến nhất, Tào Tuyết Cần được xếp thứ hai sau Lỗ Tấn Ngoài ra, tên tuổi của ông cũng còn hiện diện trên nhiều đầu sách uy tín khác cũng như những chuyên tác nghiên cứu văn học trên thế giới Hồng lâu mộng là một trong hai bộ

“tuyệt thế kỳ thư” của nền văn học cổ điển Trung Quốc Để có được một bộ tiểu thuyết đồ sộ như vậy, có lẽ cuộc đời của tác giả cũng là một thiên “tiểu thuyết” Mặc dù giới nghiên cứu Trung Quốc vẫn miệt mài tìm tòi, khám phá về thân thế

và cuộc đời của tác giả Hồng lâu mộng nhưng những hiểu biết về ông của người đời sau vẫn chỉ dừng lại ở chừng mực nào đó Tuy vậy, thông qua những tài liệu đáng tin cậy, chúng ta vẫn hình dung, khái quát được phần nào đời sống của đại văn hào này

Tào Tuyết Cần (1715? – 1763?) tên Triêm, tự Mộng Nguyễn, hiệu là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê Dòng họ ông thuộc Chính Bạch kỳ, một trong bát kỳ của Mãn Châu thị tộc Họ Tào là người Mãn thì không hợp lí cho lắm Nguyên do là vì ông tổ đời thứ năm của Tào Tuyết Cần là Tào Tích Viễn đã nhập tịch Mãn Châu, còn tổ tiên xa xưa của họ Tào đích thị là người Hán tộc Điều này chứng tỏ có nhiều biến chuyển trong lịch sử các bộ tộc thời cổ ở Trung Quốc Họ Tào sau khi nhập tịch Mãn Châu đã không ngừng tạo nên địa vị và uy thế của mình Đến đời Tào Chấn Nhan đã được cử làm Tri châu của Cát Châu, thuộc phủ Bình Dương, vùng Sơn Tây – đời vua Thuận Trị năm thứ 7; sang năm thứ 9 thì được thăng chức lên làm Tri phủ tại phủ Dương Hòa, Sơn Tây Tào Tỷ tức Tào Nhĩ Ngọc – con trưởng của Tào Chấn Nhan rất được vua Khang Hy ân sủng, đặc biệt con của Tào Tỷ là Tào Dần – ông nội của Tào Tuyết Cần còn được nhà vua tín nhiệm và cất nhắc hơn cả Thế là từ đời Tào Tỷ cho đến đời cha của Tào Tuyết Cần, họ Tào thay phiên nhau đảm trách “Giang Ninh Chức tạo” Chức tạo là một chức quan không to, không được hằng ngày diện kiến bệ

Trang 7

Trang 7

rồng nhưng lại là công việc chỉ có thân tín với nhà vua mới được chiếu cử Chức quan này có thể ví như là một tổng quan cao cấp của nhà vua, quán xuyến tất cả vật dụng hằng ngày trong cung cấm Theo như quy định tiền lệ của triều Mãn Thanh, ba năm một lần phải thay thế người phụ trách Chức tạo, trong khi đó nhà

họ Tào lại ba đời đảm nhiệm công việc này Sự biệt đãi của hoàng đế Khang Hy đối với gia tộc họ Tào thật hiếm có, trong lịch sử rất hiếm có quan hệ quần thần nào như vậy, đáp lại là thái độ cúc cung tận tụy, trung thành tuyệt đối của nhà họ Tào

Nhận được sự ân sủng của người có quyền lực tối thượng, lại có mối giao hảo nhân duyên với những quý tộc khác trong triều đình, chỗ đứng của họ Tào chẳng khác nào như kiềng ba chân Tào phủ đã từng bốn lần vinh dự đón vua Khang Hy trong những lần đi tuần du phương Nam đến nghỉ chân, điều này càng làm cho thân thế của họ tộc này ngày càng được khuếch trương Sự vinh hiển mà nhà họ Tào có được là không dòng họ nào bì kịp Thế nhưng khi thời thế thay đổi, vật đổi sao dời từ thịnh đến suy chỉ trong chớp mắt, một danh gia vọng tộc vào hàng bậc nhất ngày nào thoáng chốc đã trắng tay, cơ nghiệp tan tành, đổ nát

Từ khi vua Khang Hy băng hà, họ Tào mất đi chỗ dựa vững chắc như núi Thái Sơn Nếu những năm dưới thời Khang Hy là những năm tháng Tào tộc hiển hách ngợp trời thì những năm Ung Chính trị lại là thời gian lụi bại, suy tàn hoàn toàn của gia tộc này Khi vua Ung Chính lên ngôi, ông đã thẳng tay đối với những sai phạm của Tào phủ Thái độ không khoan nhượng của nhà vua bất kể liên tục mấy đời nhà họ Tào một lòng một dạ vì Đại Thanh đã đẩy Tào gia vào bước đường cùng Toàn bộ gia sản bị tịch thu khiến gia cảnh họ Tào rơi vào cảnh suy vong, nguy biến Biến cố của gia đình là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Tào Triêm Có lẽ từ lúc sinh ra cho đến năm mười ba tuổi, Tào Tuyết Cần được đối xử không khác nào cậu ấm Giả Bảo Ngọc Từ một công tử từng

Trang 8

văn chương Đặc biệt, ông nội Tào Tuyết Cần thì đã có công hiệu đính bộ Toàn Đường thi và Bội Văn Vận Phủ Công lao của Tào Dần cho đến nay vẫn được

hậu thế ngưỡng mộ, bộ Toàn Đường thi được chỉnh sửa, biên soạn lại vào thời Khang Hy là một tác phẩm giá trị của văn học cổ Trung Quốc Tiếp nối truyền thống gia đình, đời sống văn chương của đời cha và chú, Tào Tuyết Cần không chút mai một Sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương như vậy,

lẽ nào Tào Tuyết Cần lại không được vun đắp, bồi tụ từ những trang thơ ấy

Mặc dù khi gia đình rơi vào nguy biến, Tào Tuyết Cần phải sống trong cảnh “đám cỏ lều tranh, gường tre vách đất” nhưng ông vẫn giữ cho tâm hồn phóng túng, tự tại, thích uống rượu và ngâm thơ Cuộc đời luân lạc dường như cho ông nhiều hơn là mất Đó là khoảng thời gian dài Tào Tuyết Cần tích lũy được vốn sống, vốn văn hóa, có thời gian suy ngẫm chuyện thế sự, tình đời để từ

đó tạo nên một thiên “Tuyệt thế kỳ thư” Hồng lâu mộng có lẽ là đứa con tinh thần, là chốn tịnh tâm và thăng hoa nhất của Cần Khê, như lời nhận xét xác đáng

như sau: “Có lẽ trong lịch sử Trung Quốc, ngoại trừ Tư Mã Thiên viết sử ký, thì không còn ai giống như Tào Tuyết Cần đã dốc hết tình cảm sâu xa và tâm huyết của mình vào việc trước tác” Hồng lâu mộng có đủ các loại thơ ca, từ, phú, tạp

kịch, cả hội họa chứng tỏ sự uyên bác của người sáng tác đồng thời nêu bật nguyện vọng cố gắng kế thừa những truyền thống văn hóa của một hào môn vọng tộc nơi Tào Tuyết Cần Nếu nói như vậy sẽ dẫn đến sự hiểu lầm rằng Tào Tuyết Cần chỉ cố phô trương thân thế, nuối tiếc thời vàng kim đã qua Đúng vậy,

Trang 9

Trang 9

điều này không sai nhưng sự hoài niệm trong Hồng lâu mộng là sự hoài niệm của một con người khác, không phải con người của tầng lớp quý tộc quen thói hưởng thụ mà là một nhãn quan mang đầy triết lý nhân sinh, ông đứng trong và thậm chí cao hơn thời cuộc để nhìn, để xét đoán toàn bộ cục diện đương thời Sức lôi cuốn của tác phẩm cũng chính nhờ “thần nhãn” nhạy cảm và tinh tế của nhà văn

Khi con người bị đẩy vào tột cùng của sự đau khổ và ý thức được nỗi đau ấy mà không một lời oán than trách móc – đó có thể là số phận nhưng cũng

là thời vận Niềm vui thì giống nhau song nỗi buồn thì mỗi người mỗi khác Tuy thế, những tác phẩm truyền đời, các tuyệt tác trứ danh dường như đều gặp nhau

ở chỗ đó là mối xúc động thâm sâu của người viết và đó là nỗi lòng của cả một thế hệ, cả một thời đại muốn gửi gắm, muốn được chia sẻ Tào Tuyết Cần đã đem toàn bộ tâm huyết của mình những năm cuối đời để tạo nên “tuyệt thế kỳ thư” Hồng lâu mộng: “Xem ra chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười năm khéo lạ lùng” Khi đang dốc lòng viết đến những hồi 80 của tác phẩm, ông đã ra đi mang theo cõi lòng đầy bi phẫn và ý chí chưa được toại nguyện của mình về với cõi hư

vô ảo cảnh

1.1.2 “Giấc mộng lầu hồng” – niềm tin của Cao Ngạc

Tám mươi hồi đầu của Hồng lâu mộng là do Tào Tuyết Cần viết, nhưng khi đó những hồi này có tựa là Thạch đầu ký hay Kim Lăng thập nhị kim thoa Tuy nhiên cho đến hồi cuối thì Thạch đầu ký vẫn còn là một tác phẩm dang dở Thạch đầu ký được đổi thành Hồng lâu mộng không rõ lúc nào nhưng đến tay Cao Ngạc thì tác phẩm đã mang tên Hồng lâu mộng, vị học giả này thực sự bị cuốn hút với quyển sách này nên đặt biệt hiệu cho mình là Hồng lâu ngoại sử Không dừng lại ở đó, Cao Ngạc còn bắt tay nối bút cho những hồi còn “chưa phân giải” ấy của họ Tào So với hàng loạt các Hồng lâu mộng được tiếp bút như: Hậu Hồng lâu mộng, Hồng lâu hậu mộng, Hồng lâu phụng mộng, Hồng lâu

Trang 10

Trang 10

viên mộng, Hồng lâu ảo mộng… thì sự nối bút của Cao Ngạc là thành công hơn

cả Thứ nhất, về phương diện nội dung, tuy có sự thay đổi so với chủ ý của Tào Tuyết Cần nhưng đó là sự thay đổi logic Thứ hai, về nghệ thuật, họ Cao đã bám sát và kế thừa rất xuất sắc bút pháp nghệ thuật của Tào Tuyết Cần Chính vì lẽ

đó mà khi đọc bốn mươi hồi sau độc giả không có cảm giác như vô tình bước hẫng một nhịp chân Thứ ba, có mở đầu và kết thúc trong bố cục của tác phẩm giúp cho người đọc có cơ hội thưởng thức một cách trọn vẹn câu chuyện, không những vậy, tác phẩm còn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian

Cao Ngạc (1738? – 1815?), tên tự là Lan Thự, Lan Dã hay Vân Sĩ; ông

là người Bắc Kinh nhưng quê hương ở Thiết Lĩnh (nay thuộc Liêu Ninh) Ông là người chăm học, thuộc lòng kinh sử, giỏi văn bát cổ, thi, từ, tiểu thuyết… Ông

đã để lại những tác phẩm như: Nghiễn hương từ, Lam Thự thi sao, Lan Thự văn tồn,… Ông đậu cử nhân vào năm Càng Long thứ 53, bảy năm sau đỗ tiếp tiến sĩ Con đường công danh không ngừng thăng tiến, đến năm Gia Khánh thứ 6 (1801), ông được cử làm chủ khảo trong cuộc thi Hương, tiếp sau đó ông lần lược giữ các chức vụ quan trọng của triều đình: Giám sát ngự sử ở Giang Nam, Nội các thị tộc, Hình khoa cấp sự trung Cuộc đời Cao Ngạc tuy công thành danh toại song ông không lấy đó để ngông với đời mà vẫn giữ tác phong của một nhà Nho cống hiến tuổi thanh xuân cho xã tắc, về già ông chọn cho mình cuộc sống an bần, lạc đạo

Cuộc đời của Hồng lâu ngoại sử dường như thanh tao như một giấc mộng trải đầy thảm đỏ, hoàn toàn trái ngược với “giấc mộng” – “Sống trong phồn hoa, chết trong luân lạc” của Tào Tuyết Cần Một bi kịch li tán chưa hoàn thiện để thay vào đó là một bi kịch hoàn chỉnh, chỉnh chu từng đường nét Vở kịch Tào Tuyết Cần dựng nên đẩy toàn bộ nhân vật lẫn “môi trường” mà họ đang sống vào con đường bế tắc, rơi vào cảnh “cây đổ vượn tan đàn”, loạn li đầy nước mắt Từ cuộc đời trầm luân, Tào Tuyết Cần đã giác ngộ được lẽ thịnh suy

Trang 11

Trang 11

ở đời, kết cục suy vong của Gia tộc họ Giả tượng trưng cho sự suy vong, kết thúc của chế độ phong kiến – dự cảm của tác giả Cao Ngạc đã nối bút trong niềm tin và sự lạc quan của một con người rạng danh trên đường khoa cử, tiến sĩ khát khao dùng tài sức giúp dân giúp nước thì đâu có thể không có cái nhìn khác với câu chuyện nhà họ Giả Với tâm thế của con người hân hoan đón cuộc sống mới, Cao Ngạc đã phục hồi lại gia cảnh Giả phủ, giúp danh gia vọng tộc đó lấy lại địa vị và vị thế xã hội đã mất Người có công khôi phục lại hình ảnh họ Giả

và còn để lại một giọt máu nối dỗi không ai khác chính là Bảo Ngọc – đứa nghịch tử trong mắt Giả Chính Như vậy, sự thịnh vượng của Giả phủ sẽ con tiếp diễn cho dù Giả Bảo Ngọc đã bỏ đi tu

Có thể nói bốn mươi hồi cuối của Hồng lâu mộng chính là sự tiếp bút tài hoa với những kỳ vọng của một con người công thành danh toại, khiến cho tác phẩm trở thành một “tuyệt thế kỳ thư” trong vô vàn tác phẩm chương hồi của triều đại Minh Thanh Hai con người, hai thế giới quan, song ít nhiều họ đã gặp nhau và để lại cho đời một kiệt tác bất hủ, có lẽ chăng trong cuộc đời ô trọc này,

họ đã là những tâm giao, những người tri âm, tri kỷ

1.2 Hồng lâu mộng – “Tuyệt thế kỳ thư” của tiểu thuyết Minh – Thanh

1.2.1 Hồng lâu mộng – sự kế thừa những đặc trưng của tiểu thuyết

cổ Trung Quốc

Được ra đời trong bầu không khí văn học văn học Trung đại, lại được vun đắp từ nguồn văn hóa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc, Hồng lâu mộng chứa đựng trong mình hơi hướng thời đại cũng như những kết tinh tinh túy ngàn đời Trung Quốc Quả thật yếu tố thời đại thể hiện trong Hồng lâu mộng không chỉ ở nội dung tác phẩm mà còn cả trên phương diện hình thức Tác giả Hồng

Trang 12

kể chuyện có thủ thuật để lôi cuốn người nghe, đó là biết dừng câu chuyện lúc mâu thuẫn phát triển đến cao trào – lúc người nghe đang hồi hộp chờ đợi nhất

Vì vậy, người kể chuyện đã gây sự tò mò, kích thích đối với người nghe để xem kết cục ra sao Tiểu thuyết Minh – Thanh còn được gọi là tiểu thuyết chương hồi cũng bởi lí do này, sau mỗi hồi tác giả đều đề câu “hồi sau phân giải” Nghệ thuật viết tiểu thuyết theo kết cấu chương hồi cũng là một đặc điểm tiêu biểu của tiểu thuyết cổ Trung Quốc Tào Tuyết Cần đã dẫn dắt độc giả vào câu chuyện của ông thật uyển chuyển Đây là nghệ thuật kể chuyện truyền thống, rất đề cao vai trò của người dẫn dắt chuyện mặc dù họ không hề xuất hiện

Một số đặc điểm quan trọng trong bút pháp xây dựng nhân vật của tiểu thuyết cổ như: thông qua hành động của nhân vật khắc họa tính cách nhân vật, tính cách của nhân vật bộc lộ ngay khi nhân vật xuất hiện, nhân vật miêu tả theo lối ước lệ, tượng trưng,…Tác giả không trực tiếp miêu tả tính cách nhân vật mà người đọc phải tự luận giải ra từ những nét chấm phá của tác giả Điều này thể hiện quan niệm nhìn người của người xưa, những cử chỉ bên ngoài có liên hệ chặt chẽ đến cá tính của con người Trong Hồng lâu mộng, những đặc trưng nghệ thuật này cũng được trình bày rất rõ thông qua việc miêu tả nhân vật Lâm

Đại Ngọc, Vương Hy Phượng Đại Ngọc “tim đọ Tỉ Can hơn một khiếu, bệnh so Tây Tử trội vài phân”, đây là cách miêu tả ước lệ, tượng trưng nhằm miêu tả

một con người giàu cảm xúc và lắm bệnh tật Việc so sánh Đại Ngọc với những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, chắc hẳn có dụng ý riêng Quả thực hành động

Trang 13

Trang 13

của nàng khá khác thường – chôn hoa Hành động này nói lên tính cách yếu ớt,

đa sầu đa cảm của “đóa phù dung” vườn Đại Quan:

“Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ Sau này ta chết ai là người chôn.”

Không chỉ tiếp thu thủ pháp miêu tả tính cách nhân vật của tiểu thuyết

cổ, trong Hồng lâu mộng còn có những đoạn ví von rất thú vị về nhân vật Cách nói khoa trương của thằng Hưng về hai thiếu nữ Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo

Thoa: “Khi gặp các cô ấy đi ra cửa, hoặc lên xe hay chơi trong vườn […] Chính

là phải giữ lễ phải tránh xa, điều đó không cần nói Mặc dù tránh xa nhưng ai nấy vẫn phải nín thở vì sợ thở mạnh quá sẽ thổi ngã mất cô Lâm, thở nóng quá

sẽ làm tan cô Tiết” Bởi một cô là nàng Tây Thi đa bệnh, còn một cô thì như từ

đóng tuyết chui lên

Trong Hồng lâu mộng, chúng ta thấy rất rõ sự xuất hiện của thi, từ, phú, điếu… đây cũng là một thủ pháp rất hay xuất hiện trong các tiểu thuyết cổ Trung Quốc Tào Tuyết Cần đã vận dụng chúng một cách rất độc đáo, tài tình

Việc kế thừa các thuộc tính của tiểu thuyết cổ Trung Quốc một mặt đưa Hồng lâu mộng hòa cùng dòng văn học đang chảy cuồn cuộn thời bấy giờ, mặt khác đã phản ánh đặc trưng bút pháp nghệ thuật của một thời đại văn chương

1.2.2 Hồng lâu mộng – một số bút pháp nghệ thuật mới

Hồng lâu mộng ra đời đáp ứng được nguyện vọng đổi mới thị hiếu thưởng thức nghệ thuật Mặt khác, so với các tiểu thuyết gia Trung Quốc thì tác phẩm của Tào Tuyết Cần gần với hiện đại hơn bởi rất nhiều nét mới Lỗ Tấn đã

từng nhận xét: “Điểm khác biệt của Hồng lâu mộng với các cuốn tiểu thuyết trước đây là dám tả thật không che đậy Bởi vậy, các nhân vật được miêu tả ở đây đều là những con người thật Nói chung sau khi Hồng lâu mộng ra đời, cách viết và cách tư duy truyền thống đã hoàn toàn bị phá vỡ ”

Trang 14

Trang 14

Không dựa vào những câu chuyện truyền miệng trong dân gian, không mượn cốt truyện từ những thể loại văn học khác, Hồng lâu mộng là sự chiêm nghiệm trải đời của bản thân Tào Tuyết Cần Tác giả đã bám sát cuộc sống hằng ngày, miêu tả một cách chi tiết cụ thể, không tô vẽ, cường điệu Đây là bước đột phá trong cách viết của Tào Tuyết Cần Nếu như trong Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký…, con người và sự vật đều khác thường kỳ lạ, thì trong Hồng lâu mộng, cuộc sống diễn ra bình thường như vốn có của nó Nếu trong tiểu thuyết đời Minh, khuynh hướng của người kể chuyện là rút ngắn lại thì trong Hồng lâu mộng, bức tranh cuộc sống dường như được trải rộng ra với đầy

đủ chi tiết vụn vặt của nó Sức hấp dẫn của Hồng lâu mộng không phải từ những câu chuyện ly kỳ, những con người phi thường mà chính là từ cái bình dị, thường nhật, có thể tìm thấy bất kỳ lúc nào trong cuộc sống hằng ngày Đọc Hồng lâu mộng người ta có cảm giác cuộc sống tái hiện ngay trước mắt không một chút phóng đại, phô trương Đó là những nét, những đường của cuộc sống hằng ngày: chuyện tình yêu, chuyện đối nhân xử thế, tranh quyền đoạt lợi; những chuyện sinh hoạt trong các gia đình quyền thế, danh gia thể hiện đầy sinh động, thú vị qua từng câu chuyện nhỏ

Đến Hồng lâu mộng, nhan sắc của nữ giới đã thoát khỏi vẻ đẹp ước lệ như trăng nhường, nguyệt thẹn… thay vào đó là những đường nét cụ thể, mỗi người một vẻ Qua đó, Tào Tuyết Cần bộc bạch mối thương cảm, sự trân trọng của một nhà văn trước hết đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Một nét mới trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng chính là ở việc xây dựng tính cách nhân vật Đây có thể nói là bước đột phá thứ hai trong bút pháp miêu

tả của Tào Tuyết Cần Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập hai khẳng

định: “Thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng trước hết ở tài xây dựng nhân vật,

và xây dựng rất nhiều nhân vật cùng một lúc Những nhân vật đó sống động,

có máu thịt, có cá tính rõ nét Có một số nhân vật nhà văn chỉ phác hoạ sơ qua

Trang 15

Trang 15

vài nét nhưng cũng để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc Đáng chú ý là, trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần miêu tả nhiều nhất là phụ nữ, mà chủ yếu lại là những thiếu nữ giống nhau hoặc na ná như nhau về độ tuổi, hoàn cảnh sống, cách sống Rõ ràng điều đó làm cho việc miêu tả gặp rất nhiều khó khăn Nhưng Tào Tuyết Cần không những có thể miêu tả được hết sức rõ ràng cá tính của từng người, mà đến cả những tính cách gần giống nhau chỉ khác ở những nét đặc trưng hết sức tinh tế, cũng được ông khắc hoạ rõ ràng tỉ mỉ ”

Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây du ký thiên về miêu tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói của nhân vật Con người trong những tiểu thuyết đó có bề đơn giản, nhất quán trong một tính cách, rạch ròi trung nịnh đôi đường Hồng lâu mộng đã đạt đến đỉnh cao của tiểu thuyết Minh Thanh khi đặt nhân vật trong

sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có chiều sâu đầy kịch tính Chỉ đến Hồng lâu mộng, tâm lý nhân vật mới được thể hiện rõ nét, nhân vật

đã có những suy nghĩ, những độc thoại nội tâm, những mưu định của bản thân trong các mối quan hệ với mọi người… Có rất nhiều nhân vật bước ra từ tác phẩm với những đặc tính riêng như Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Phượng Thư, Bảo Thoa… Tất cả đều minh chứng cho sự đa dạng của cuộc sống, sự “đa nhân cách” với những mặt đối lập trong bản thân mỗi nhân vật Con người trong văn học giờ đây không phải là con người đơn giản, một chiều mà là con người sinh động, khó đoán Từ việc đi sâu miêu tả tâm lý nhân vật, Tào Tuyết Cần đã mang tác phẩm của mình đến gần với nhân dân hơn bởi họ mong chờ những con người gần gũi với họ, những con người có những suy nghĩ nội tâm như chính họ

Ngoài ra, ở Hồng lâu mộng chúng ta cũng rất dễ dàng nhận ra những bút pháp nghệ thuật độc đáo khác như: lối kết cấu độc đáo của tác phẩm, lối ngụ ẩn

về số phận trong việc miêu tả những chi tiết liên quan đến nhân vật, ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện và giàu sức biểu hiện, đặc biệt những đoạn đối thoại trong

Trang 16

Trang 16

tác phẩm chiếm số lƣợng rất lớn… Với những nét độc đáo về nghệ thuật của tác phẩm, Hồng lâu mộng xứng đáng là một “tuyệt thế kỳ thƣ” của tiểu thuyết Minh Thanh nói riêng, của Tiểu thuyết Trung Quốc nói chung

Một cảnh sinh hoạt của Giả phủ trong Hồng lâu mộng

Trang 17

Trang 17

CHƯƠNG HAI: MIÊU TẢ TỈ MỈ CUỘC SỐNG ĐỜI

THƯỜNG – BƯỚC ĐỘT PHÁ CỦA TÀO TUYẾT CẦN

2.1 Khái quát bức tranh thế sự của tiểu thuyết Hồng lâu mộng

2.1.1 Bối cảnh xã hội Trung Quốc giữa thế kỷ XVIII

Thời nhà Thanh, dười thời Ung Chính, Càn Long (1723 - 1795) là thời kinh tế cực thịnh, chẳng những nông nghiệp, thủ công nghiệp mà cả khai khoáng, thương nghiệp cũng phát triển phồn vinh Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương Châu, Vũ Xương, Nhạc Châu buôn bán sản xuất sầm uất, là những đô thị lớn Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến chuyên chế mọt ruỗng đang trên đà tan rã, đã sản sinh ra một lớp

thị dân thành thị, có những nhu cầu thẩm mĩ mới Tây sương kí, Mẫu đơn đình, Liêu trai chí dị, là những tác phẩm miêu tả tình yêu, những số phận, những

buồn vui cá nhân , chính là sự "thăng hoa" của cuộc sống tinh thần đã bắt đầu khác trước của người thành thị Trong xã hội bấy giờ, ngoài mâu thuẫn giữa nông dân và giai cấp địa chủ, còn có mâu thuẫn giữa lực lượng thị dân đại biểu trạng thái manh nha của quan hệ tư bản chủ nghĩa với giai cấp thống trị phong kiến Hồng lâu mộng ra đời là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều cổ hủ đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương và mưu cầu hạnh phúc, giải phóng cá tính, khao khát tự do bình đẳng, lý tưởng cho cuộc sống Tất cả những cái đó có mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu thời Thanh, nhưng đó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân đương thời

2.1.2 Hiện thực thời đại của xã hội Trung Quốc thể hiện trong tác phẩm Hồng lâu mộng

Trang 18

Trang 18

Hồng lâu mộng kể về sinh hoạt của đại gia tộc phong kiến nhưng nhìn rộng ra thì đó là đời sống của xã hội Trung Quốc giữa thế kỷ XVIII Một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động lớn, những chuyển biến có khi rất rõ rệt, đôi khi lại là sự chuyển mình ẩn ngầm trong lòng xã hội phong kiến thời mạt kỳ mà chỉ

có sự nhạy bén và am tường mới nhận ra được Nắm bắt được hơi thở của thời đại chính là tài năng của nhà văn Sự đồ sộ của bộ Hồng lâu mộng được xây dựng nên bởi hàng loạt những sự kiện, những câu chuyện, những cảnh ngộ, những mảnh đời đang cài vào nhau như một dàng hợp xướng phối hợp rất nhịp nhàng và ăn ý Dư Quan Anh đã từng nhấn mạnh đến tính chất phê phán xã hội

phong kiến của Hồng lâu mộng: “Hồng lâu mộng phản ánh một cách phức tạp lắt léo nhiều hiện tượng xã hội quan trọng của thời kỳ lịch sử ấy”; “Hồng lâu mộng còn vạch trần bao hiện tượng đen tối của xã hội phong kiến”; “Qua việc miêu tả hàng loạt chi tiết sinh hoạt thường ngày, ông đã khắc họa được cuộc sống thối nát tột cùng của giai cấp thống trị phong kiến, và từ đó vạch trần tình trạng mục ruỗng toàn bộ từ gốc đến ngọn của xã hội phong kiến”

Câu chuyện trong Hồng lâu mộng xoay quanh cuộc sống nhà họ Giả Từ những quan hệ trong họ tộc kéo theo hàng loạt những quan hệ đồng môn, đồng

sự khác tạo nên sợi dây ràng buộc, liên kết từ trong ra ngoài và ngược lại của xã hội phong kiến Sự câu kết giữa các thế lực phong kiến với nhau vừa là mối quan hệ xã hội, vừa là mối quan hệ tương hỗ hết sức to lớn Sống dựa vào nhau bằng quyền và thế, các đại quy tộc phong kiến tha hồ lộng quyền, thao túng mọi mặt đời sống, làm mưa làm gió chốn trần gian Thế lực này có sức mạnh che cả trời khiến công lý chỉ còn là lý thuyết suông, sự xa hoa trở thành nếp sống Nằm trong số Tứ đại gia tộc của Kim Lăng có Giả tộc và ba đại tộc khác được người đời gọi là “hộ quan phù” kèm theo những câu tục ngữ truyền miệng:

“Giả không phải là giả dối, ngọc làm nhà ở, vàng làm ngựa cưỡi Cung

A phòng xây lên ba trăm dặm đã đủ chưa?

Trang 19

Trang 19

Họ Sử đất Kim Lăng vẫn ở không vừa

Vua Đông Hải thiếu ngọc trắng làm giường phải đến vay Kim Lăng Vương

Được mùa tuyết lã chã rơi, ngọc châu như đất vàng thời sắt thoi”

Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy sự giàu sang, phú quý tột cùng của Tứ đại gia tộc Một lối nói khoa trương rất dân gian nhưng đã đem lại hiệu quả tố cáo rất cao Những lời nói trên cũng chỉ là những lời đàm tiếu của thiên hạ chưa hẳn

đã chính xác Nhưng chính người trong nhà nói ra thì chắc hẳn không sai, cứ theo lời bà vú Triệu:

“Thực là một việc nghìn năm hiếm có! Tôi nhớ họ Giả nhà ta hồi ở miền

Cô Tô, Dương Châu, trông nom việc đóng thuyền bè và sửa sang đường bể, chỉ

có sửa soạn đón tiếp vua một lần mà tiền bạc tiêu như bể nước… Lại còn nhà họ Chân ở Giang Nam Ối chà! Thần thế như trời! Một mình nhà ấy đón vua bốn lần Nếu chẳng phải chính mắt tôi trông thấy, thì nói không ai tin Không những coi tiền bạc như bùn, mà các thứ ở đời, hết thảy đều có, cứ chồng chất như rừng núi ấy”

Cái vẻ xa hoa, hào nhoáng của các đại gia tộc đâu chỉ để đón vua mà nó như cuộc sống, như hơi thở của họ Hễ có dịp là họ cứ phô trương không nề hà, không tiếc công sức, tiền của gì cả, miễn sao giữ được thể diện là được Hồng lâu mộng miêu tả hai sự việc lớn xảy ra với nhà họ Giả, với hai sự việc này, Giả phủ đã bỏ ra không biết bao nhiêu công sức, của cải, đó là đám ma Tần Khả Khanh và xây dựng Đại Quan viên làm nơi “tỉnh thân” cho Nguyên phi Xây vườn Đại Quan “Công việc nhộn nhịp, tấp nập không kể xiết” từ việc chọn nơi xây, chọn nhà kiến trúc bố trí đến làm đồ vàng bạc, mua đồ cổ, mua người hát, đạo cô tụng kinh niệm Phật… Tiền của đổ vào Đại Quan viên không sao kể xiết

để tạo nên một vườn uyển đẹp như tiên cảnh: “Trong vườn, đèn hoa sáng rực, đều làm bằng the lụa cực kỳ tinh xảo, trên treo một cái biển căng đèn, viết bốn

Trang 20

Trang 20

chữ: “thể nhàn mộc đức”… khói thơm nghi ngút, bóng hoa rập rờn, chỗ nào cũng đèn sáng chói lọi, lúc nào cũng tiếng nhạc du dương, thật là cảnh tượng thái bình, phong lưu phú quý, nói không xiết được” Xem cách tiếp đón vương

phi về thăm nhà cũng có thể tưởng tượng được phần nào không khí đón nhà vua ghé chân trên đường vi hành

Nếu như xây dựng vườn Đại Quan không tiếc công tiếc của thì đám tang Tần thị cũng là “Chẳng qua có bao nhiêu tiền thì làm hết bấy nhiêu thì thôi” Thông qua miêu tả vườn Đại Quan, tác giả chú trọng đặt điểm nhấn vào sự xa

xỉ, phung phí của các nhà danh gia vọng tộc Tới sự kiện có tính chất khuếch trương thân thế họ Giả trong đám tang cháu dâu là Tần thị thì bộ mặt đen tối của

một xã hội hám danh, hám lợi mới bộc lộ rõ nét: “Suốt bốn mươi chín ngày, người nhà thì mũ áo tang trắng xóa một màu, quan khách thì sắc áo gấm vóc như hoa sặc sỡ, đi đi lại lại, chật ních cả quãng đường vào phủ Ninh”

Trong Hồng lâu mộng còn vô số những sự việc khác, chẳng hạn việc Phượng Thư cậy thế thông đồng với sư chùa Thiết Hạm dàn xếp vụ kiện hủy hôn, tranh hôn để hưởng lợi, chuyện Tiết Bàn giết người, cướp vợ người khác cùng gia đình chạy lên kinh đô nhờ thân thế họ hàng lót tiền chạy tội, chuyện Giả Xá tuy đã gần đất xa trời nhưng không ngại mất thể diện ép duyên Uyên Ương… Tất cả phơi bày một xã hội suy đồi, mục nát bởi chính những người cầm quyền ra sức làm những việc trái đạo lý, không hề có một nghi ngại, e dè

Đua đòi ăn chơi trác táng là thói hư tật xấu của giới công tử bởi họ sinh

ra trong gia đình vương giả sống dựa vào công đức tổ tiên và mồ hôi nước mắt của những người dân làm thuê Cuộc sống của các quý tử này xa rời lao động, đâu biết đến nỗi khổ mà chúng dân phải gánh chịu Đêm ngày họ chỉ biết đắm mình trong cờ bạc, tửu sắc, hội hè,… nhu cầu cá nhân thỏa mãn nhưng nhân

cách càng mai một Liễu Tương Liên đã nói thẳng trước mặt Bảo Ngọc: “Trong

Trang 21

sự thiếu thốn của Giả phủ:

“Ngay từ năm ngoái đến nay, trong các phòng, bất cứ cô nào, chị nào, thỉnh thoảng muốn thêm thức ăn gì, ai chẳng đưa tiền trước để mua riêng Dù

có hay không cũng phải giữ tiếng chứ! tất cả các cô với bọn chị em hàng bốn, năm mươi người mỗi ngày chỉ có hai con gà, hai con vịt, non chục cân thịt, một quan tiền rau, các chị thử tính xem, như thế có đủ đâu vào đâu Ngay hai bữa cơm cũng còn chưa xoay nổi, lại người này đòi thứ này, người kia đòi thứ kia”

Âu cũng do tài chính suy kiệt nên khoản chi nào cũng phải cân nhắc, không thể cứ lãng phí như trước được nữa Cứ quan sát đám tang Tần thị và đám tang Giả mẫu là thấy rõ sự khác biệt, sự chênh lệch sang hèn cũng như sự túng quẫn của phủ họ Giả

Hồng lâu mộng không đề cập đến chuyện địa chủ bóc lột, thu tô cao thuế nặng hay ức hiếp tá điền nhưng với sự xuất hiện của già Lưu, vì mùa màng thất bát mà ghé thăm nhà họ xa cao quý; của Ô Tiến Hiếu lặn lội vượt mưa tuyết để chở thực phẩm nộp cho phủ Ninh đón tết đã thể hiện cái hố sâu khoảng cách giữa chủ nô với nông nô, toát lên được sự đối lập giữa sự xa hoa phung phí, lộng

quyền của chủ đất với sự lao lực, cùng cực mà kẻ làm công phải gánh chịu: “Từ tháng ba đến tháng tám mưa tuôn, không lúc nào tạnh được năm, sáu ngày Đến

Trang 22

xã hội phong kiến Bức tranh thế sự thật toàn diện qua cái nhìn xuyên thời cuộc

và một tư tưởng nhất quán của Tào Triêm

Hồng Lâu Mộng là một bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội phong

kiến Trung Quốc trên con đường suy tàn Cái vẻ ngoài tôn nghiêm nề nếp không che đậy được thực chất mọt ruỗng của giới thượng lưu sống trong Giả phủ Cuộc sống xa hoa, dâm ô cố hữu của giai cấp bóc lột và những mối quan hệ tàn nhẫn giữa họ với nhau đã đưa Giả phủ vào con đường tàn tạ không cứu vãn được Đó chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc đời Thanh: xã hội bắt đầu manh nha hình thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, con người không còn đặt niềm tin tuyệt đối vào tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức – những tư tưởng mà triều đình phong kiến luôn đề cao và xem đó là thành trì của xã hội Xã hội phong kiến Trung Quốc không còn nguyên vẹn như xưa nữa mà đó là một kiểu “phong kiến nửa mùa” Cái cảm giác "cây đổ vượn tan", "chim mỏi về rừng" đã chi phối ngòi bút Tào Tuyết Cần, chứng tỏ ông là nhà văn hiện thực báo hiệu “buổi hoàng hôn” của chế độ phong kiến

2.2 Cuộc sống đời thường của Giả phủ qua ngòi bút miêu tả độc đáo của Tào Tuyết Cần

Bức tranh đời sống được miêu tả trong Hồng lâu mộng không đơn thuần

là sự lắp ghép các sự kiện, con người với nhau mà là sự xâu chuỗi nghệ thuật của một câu chuyện thấm đẫm dư vị của cuộc sống Ở đó có những đoạn được tác giả miêu tả như dệt gấm thêu hoa trên đầu ngọn bút cũng có chỗ trần trụi như

Trang 23

Trang 23

vốn có của nó Tất cả đều phục vụ cho mục đích là gửi đến người đọc những gì chân thật nhất của xã hội, con người Sinh hoạt trong đại gia tộc họ Giả chứa đựng rất nhiều phong tục truyền thống lâu đời của người Trung Quốc cả về vật chất lẫn tinh thần Tác giả kể một câu chuyện về cuộc sống, về nề nếp của một gia đình quý tộc vào bậc nhất chốn kinh kỳ Trung Quốc xưa Nơi đó có những con người có óc thẩm mỹ cao, có năng lực sáng tạo hơn người, có khả năng thưởng thức nghệ thuật tinh tế,… Bên cạnh những thú vui tao nhã mang đậm phong cách của tầng lớp thượng lưu Trung Quốc thì tác giả cũng chỉ ra những thói đời nhem nhuốc, hay nói cách khác là mặt trái của sự vinh hoa, phú quý mà lâu nay văn chương vẫn thường né tránh Chính vì vậy, miêu tả cuộc sống đời thường chi tiết, tỉ mỉ là một bước đột phá của Tào Tuyết Cần trong Hồng lâu mộng

2.2.1 Trang phục

Trong Hồng lâu mộng, tác giả Tào Tuyết Cần miêu tả rất chi tiết, rất tỉ

mỉ về những hoạt động, những sinh hoạt hằng ngày Ông cũng dành không ít bút mực để miêu tả trang phục cho những nhân vật của mình Các miêu tả vô cùng độc đáo và sắc sảo

Trong tác phẩm, mỗi nhân vật có trang phục khác nhau và Tào Tuyết Cần cũng miêu tả được những đặc sắc trong những bộ trang phục, bởi trang phục cũng góp phần nói lên sự giàu sang, phú quý của phủ Giả

Nhân vật được tác giả miêu tả trang phục tỉ mỉ hơn cả là Vương Hy Phượng và Bảo Ngọc Lần đầu tiên xuất hiện, Phượng Thư như một bà hoàng với trang phục lộng lẫy kiêu sa, mang một phong cách vô cùng sang trọng và quý phái:

“Người này trang sức không giống các cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như một vị thần tiên! Trên đầu, đỡ tóc bằng kim tuyến xâu hạt châu, cài trâm

Trang 24

Trang 24

Ngũ Phượng Triêu Dương đính hạt châu, cổ đeo vòng vàng chạm con ly, mình mặc áo vóc đại hồng chẽn thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo màu xanh lót bằng lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc, mặc quần lụa hoa màu cánh trả”

Cách ăn mặc của Phượng Thư cho ta thấy được sự giàu sang, phú quý của gia tộc họ Giả Dù đi lễ tiệc hay ở nhà đi chăng nữa, Phượng Thư vẫn cứ trang hoàng, lộng lẫy, chăm chút từng li từng tí cho bộ trang phục thể hiện

quyền uy, địa vị lẫn sự giàu có tột đỉnh của mình: “Phượng Thư ở nhà thường đội mũ Chiêu Quân lông điêu sắc tía, chung quanh có dây giắt hạt châu, mặc áo hoa màu hồng điều, khoác áo choàng bằng da chuột, viền chỉ tơ màu thạch thanh, mặc quần nền lụa đại hồng phấn son lộng lẫy, ngồi nghiêm chỉnh ở đấy, tay đương cầm cái đũa bằng đồng gạt tro lồng ấp” Có thể nói Phượng Thư là

nhân vật được tác giả chưng diện nhất trong Hồng lâu mộng, nàng lúc nào cũng lộng lẫy, hình dung quyến rũ Phượng Thư thuộc kiểu phụ nữ biết chăm chút cho bản thân, bao giở cũng tươm tất, đường hoàng Nàng thích thú với việc phô trương sự giàu sang, quý phái của mình

Phượng Thư trang phục ngày thường đã chải chuốt hơn mọi người, lúc đi đánh ghen nàng cũng đẹp như tiên giáng trần bởi đó là một trong những mánh

khóe của một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh như nàng: “trên đầu cài đồ bạc trắng xóa, mình mặc áo đoạn nguyệt bạch, áo khoác bằng lụa xanh viền chỉ bạc và chiếc quần lụa trong Thật là mày liễu cong vắt đôi nhành, mắt phượng

rõ rành ba ngấn; thướt tha như đào mùa xuân, trong trắng như cúc mùa thu”

Nếu như Phượng Thư kiêu sa, lộng lẫy với trang phục của một tiểu thư danh gia vọng tộc thì Bảo Ngọc cũng nổi bật, chững chạc trong bộ trang phục

con nhà quan, trang phục của cậu ấm nhà họ Giả: “đầu đội mũ kim quan dát ngọc, khăn bịt trán có đính hai con rồng bằng vàng vờn hạt châu, mặc áo chẽn màu đại hồng thêu trăm con bướm vờn hoa, thắt lưng dây tơ ngũ sắc tết hoa, áo

Trang 25

Trang 25

khoác ngoài bằng đoạn hoa màu thạch thanh, đi đôi hài bằng đoạn xanh, đế trắng” Đó là lần xuất hiện đầu tiên khi gặp Đại Ngọc, một chốc thay đồ ở nhà cậu ấm Bảo Ngọc lại càng tình tứ, đáng yêu hơn: “Xung quanh đầu, tóc ngắn tết thành búi nhỏ buộc dây tơ đỏ, tất cả vấn lên đỉnh đầu trở xuống cài bốn hạt châu lớn, phía dưới lại đeo bát bảo bằng vàng dát ngọc, mình mặc áo hoa màu ngân hồng hơi cũ, cổ đeo vòng vàng, ngọc quý, khóa ký danh và bùa hộ thân, mặc quần lụa hoa màu lá thông, đi bí tất gấm viền đen, hài đỏ đế dày” Giả Bảo

Ngọc được Giả mẫu hết mực cưng yêu, muốn gì được nấy Điều này thể hiện qua trang phục của anh ta, một bộ trang phục lộng lẫy không ai trong gia đình

có được, dường như tất cả những vật quý ở trên đời đều được chăm chút quan

bộ trang phục của cậu ấm này, anh ta có khác gì một Thái tử đắm mình trong giàu sang nhung lụa ở đời

Đấy là những bộ trang phục thường ngày, trang phục đi tuyết vào mùa đông cũng không kém đem đến cho người đọc nhiều thú vị, vì chúng cũng cầu

kỳ không kém:

Nàng Lâm Đại Ngọc: “Đại Ngọc thay đôi giày da dê thêu hoa nạm kim tuyến, khoác một cái áo da cáo trắng, ngoài bằng lông chim màu đỏ, thắt một cái dây lưng như ý xanh vàng lấp lánh, đầu đội mũ che tuyết”

Trang phục đi tuyết của Tương Vân cũng rất cầu kỳ, sang trọng không

kém: “bên ngoài bằng da con rái cá, bên trong bằng da chuột đen, đầu trùm một cái khăn kiểu Chiêu Quân dệt bằng da vượn màu đỏ giát vàng, lại quấn một cái khăn quàng cổ, bằng da rái cá […] bên trong mặc một cái áo ngắn kín vạt bằng

da chuột bạch đã hơi rung rúc, cổ áo giát vàng, tay áo hơi hẹp, thêu rồng bằng chỉ ngũ sắc, mặc cái quần đoạn thủy hồng lót bằng da cáo, lưng thắt một cái dây dài năm màu tết hình con bướm, chân đi đôi giày da hươu” Trang phục của

Sử Tương Vân được tác giả rất chăm chút, bộ trang phục của nàng được tạo nên bởi những thứ quý giá, những lớp da của những con vật quý: chuột bạch, cáo,

Trang 26

Trang 26

hươu… chứng tỏ nàng cũng là một người giàu sang không kém gì Đại Ngọc, Phượng Thư Quả thật như vậy, bởi Tương Vân cũng thuộc dòng họ giàu sang của đất Kim Lăng, hơn nữa nàng lại là cháu họ cưng của Giả mẫu Vì thế trang phục của nàng vẫn mang dáng vóc của một vị tiểu thư đài các, khó ai có thể so

Những vị chủ nhân thì ăn mặc trang trọng như vậy, thế còn những người

a hoàn thì sao? Trang phục của họ cũng rất đẹp, bởi dù sao họ cũng là a hoàn của Giả phủ Trang phục của Bình Nhi qua con mắt của già Lưu cũng không kém phần sang trọng, khiến Già Lưu cứ ngỡ nàng chính là Phượng Thư – mợ hai

của Giả phủ: “Già Lưu thấy Bình Nhi khắp người là lượt, trâm vàng, vòng bạc, dáng đẹp như hoa, mặt tròn như trăng, tưởng là Phượng Thư”

Trang phục của Uyên Ương – nàng hầu của Giả mẫu cũng được tác giả

chú ý đến qua cái nhìn của Bảo Ngọc: “ngoảnh thấy Uyên Ương mặc áo lụa đỏ, vai khoác đoạn xanh, cổ quàng khăn nhiễu tía, dưới đi đôi bít tất màu da ngà, đôi giày thêu đỏ”

Cách phục trang của người nhà họ Giả từ chủ nhân cho đến a hoàn tuy khác nhau nhưng đều là những trang phục sang trọng, quý giá, thể hiện sự giàu

có và chăm chút trong cách ăn mặc của con nhà quyền quý Những bộ trang phục của nhân vật được trao chuốt từ những đường kim mũi chỉ trên các họa tiết được thêu thùa trên quần áo, thêm vào đó là sự điểm tô của những trang sức quý hiếm nhằm tôn thêm vẻ đẹp sang trọng, quý phái của bậc thượng lưu Hồng lâu mộng miêu tả cuộc sống của một gia đình vương giả, cho nên trang phục của nhân vật cũng góp phần rất lớn trong việc miêu tả cuộc sống sung sướng, sự giàu có tột cùng của những nhà thi hương thế tập

2.2.2 Văn hóa ẩm thực

Văn hóa ẩm thực ở đây không chỉ là những món ngon vật lạ, sơn hào hải

vị mà chính là Hồng lâu mộng đã phản ánh được đặc trưng văn hóa ẩm thực của

Trang 27

Trang 27

phương Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng Không những vậy, những đặc tính và cách thức ăn uống của người Trung Quốc cũng được Hồng lâu mộng phản ánh tường tận

Người Á châu có thói quen dùng đũa để gắp thức ăn, đôi đũa tượng trưng cho sự dài ra của bàn tay giúp việc ăn uống dễ dàng hơn, đồng thời còn cho cảm giác thư nhàn trong khi ăn Một điểm khác với người châu Âu nữa là, người châu Á thường ngồi quây quần cùng ăn chung – chung bàn, chung thức ăn chứ không chia ra từng phần Nét văn hóa này được miêu tả khá nhiều và cụ thể trong Hồng lâu mộng Vì là một gia đình đại quý tộc nên việc dùng bữa cũng được quy đinh rất nghiêm ngặt: gia chủ cùng các tiểu thư, công tử ăn cơm trước rồi tới lượt người hầu lớn, sau cùng tới người hầu nhỏ và gia nô Mọi thứ tự đều

cứ thế mà thực hiện, không được sai phạm Cách thức ăn uống cũng thể hiện rất

rõ địa vị của từng thành viên trong gia tộc Giả mẫu là người cao tuổi lại là người cao quý nhất, là một thái thượng hoàng nên mọi món ăn đều dâng lên cho

bà trước, Giả mẫu nếm xong thì ban cho người khác cùng thưởng thức Cung cách ăn uống này thể hiện tình cảm gia đình đầm ấm, đồng thời mang tính cộng đồng cao

Để tỏ lòng hiếu khách, người Trung Quốc thường mời khách ngồi cùng bàn như trường hợp Giả mẫu đã mời dùng cơm chung nhưng Tiết phu nhân thấy không tiện nên gia chủ đành xếp một bàn khác gần bàn của Giả mẫu Ngoài ra, mỗi lần mở tiệc đãi khách, vị trí chủ - khách được người Trung Quốc sắp xếp cẩn trọng vì nó liên quan đến thể diện và danh dự của chủ nhà và khách mời Khác với bữa cơm thông thường, trong yến tiệc người bao giờ cũng có phần văn nghệ nhằm tăng thêm phần hào hứng cho buổi tiệc như xem hát, vịnh thơ, đối chữ… Nghe hát và ngâm thơ là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của các gia đình quý tộc phong kiến Trung Quốc Vì thế nên con cháu Giả tộc thi

Trang 28

họ Giả tiệc tùng quanh năm vì thế có tới vô số món ăn được Tào Tuyết Cần nhắc tới Bên cạnh những món ăn thông thường thì Hồng lâu mộng cũng để lại nhiều món ăn mang đậm chất nghệ thuật Trung Quốc

Trong Hồng lâu mộng có rất nhiều món ăn được kể đến, nhưng có lẽ món ăn để lại ấn tượng nhất trong độc giả chính là món cà xào của nhà họ Giả, đây là món đã tốn không biết bao giấy mực của các chuyên gia ẩm thực lẫn những nhà văn, nhà nghiên cứu thích thú với đề tài ẩm thực trong Hồng lâu mộng Bởi nghe tên thì có vẻ dân dã, bình dị song khi mợ hai Phượng Thư nêu

ra đầy đủ quá trình để có món ăn thì độc giả lại vô cùng ngạc nhiên bởi nó chẳng khác nào “cao lương mỹ vị”:

“Cứ đến tháng tư tháng năm, là hái cà về, gọt vở bỏ núm, chỉ lấy ruột thôi, đem thái nhỏ như sợi tóc, phơi thật khô Sau đó bắt một con gà mẹ, ninh ra nước và hấp cà lên, xong đem ra phơi, chín lần phơi, chín lần hấp, lại đem phơi thật khô, rồi bỏ vào trong lọ sứ bịt thật kín Khi ăn sẽ lấy một thìa trộn với thịt

gà xào mà ăn”

Quả là một quá trình làm món ăn công phu, phải mất rất nhiều thời gian

để có thể làm nên một món ăn như vậy Từ đó, cho ta thấy họ Giả là những người sành ăn, rất am hiểu về các món ăn sơn hào hải vị Món cà xào thật sự đã gây ra bất ngờ đối với độc giả, nhưng một món ăn khác tuy không quý hiếm như món cà xào nhưng cũng cầu kỳ không kém: món canh lá sen và ngó sen Vì Bảo Ngọc bị đòn nằm liệt giường nên dù rất khó nấu, dù món này chỉ mới làm một

Trang 29

khuôn làm món canh này đã chứng tỏ nghệ thuật chế tác dụng cụ ẩm thực của người Trung Quốc rất điêu luyện, nó hội tụ ba yêu cầu: đẹp tạo hình, đẹp hội họa và đẹp công nghệ

Ngoài những món ăn, vị thuốc Lãnh hương hoàn mà Bảo Thoa vẫn dùng

cũng rất công phu: “Phải có mười hai lạng nhụy hoa mẫu đơn trắng nở vào mùa xuân, mười hai lạng nhụy hoa sen trắng nở vào mùa hạ, mười hai lạng nhụy hoa phù dung trắng nở vào mùa thu, mười hai lạng nhụy hoa mai trắng nở vào mùa đông Đem bốn thứ này phơi vào ngày xuân phân năm sau, rồi tán kỹ với thuốc bột; lại phải có mười hai đồng cân nước hứng giữa trời đúng vào ngày vũ thủy”

và phải mất tới ba năm mới thành thang thuốc Kỳ công của vị thuốc này chưa hẳn có nhiều tiền là đã làm được mà nó đòi hỏi người làm thuốc tính kiên trì, bền bỉ và sự tận tâm cao độ mới hòng chế ra được phương thuốc quý này Nước pha trà của Diệu Ngọc so với thang thuốc quý của Bảo Thoa xem ra cũng là kẻ tám lạng, người nửa cân, bởi nó được lấy từ tuyết động trên cánh hoa mai, đựng trong một lọ nhỏ được chôn xuống đất năm năm mới có thể đào lên dùng Các món ăn, các vị thuốc có trong Giả phủ đều là những món ăn cầu kỳ, cách chế biến lại rất công phu, khác hẳn với tầng lớp nông dân chân lấm tay bùn, sự ngạc nhiên của Già Lưu trước những món ăn “thường ngày” đó của Giả phủ đã ngầm nói lên sự giàu sang, xa hoa trong những món ăn của giới thượng lưu và sự thiếu thốn, nghèo nàn của tầng lớp lao động Ranh giới khoảng cách của hai tầng lớp

Trang 30

Trang 30

ở đây là vô cùng to lớn Vì vậy, sự phê phán, đả kích của tác giả ở đây cũng rất sâu cay

Văn hóa ẩm thực của Trung Quốc đâu chỉ có các món ăn, các vị thuốc

mà còn cả thức uống nữa Nói về ẩm thì người Trung Quốc có hai loại thức uống phổ biến và tiêu biểu đó là trà và rượu Thói quen đãi rượu trong những buổi tiệc đã trở thành một nét văn hóa lâu đời trong văn hóa Trung Quốc Rượu gắn liền với mọi người trong sinh hoạt hằng ngày: uống rượu để thề bồi, uống rượu để kết tri ân, uống rượu để lấy cảm hứng sáng tác của những thi nhân tài tử… Ta vẫn thường nghe câu “dùng trà thay rượu”, tuy vậy, hai thức uống này lại được dùng trong những không gian văn hóa khác nhau

So với rượu thì trà đòi hỏi nhiều tâm lực hơn, nghệ thuật uống trà cũng phức tạp hơn Người uống không chỉ nhấm nháp hương vị trà mà con mê mẩn đàm đạo bình trà, chén trà và không gian uống trà… Bởi trà là thức uống được cho là thanh tao và đã bước lên hàng trà đạo

Trong cuộc sống xa hoa của Giả phủ không khó khăn để chúng ta tìm thấy những chén rượu, chung trà trên bàn tiệc Có buổi tiệc nào trong gia tộc này lại không có trà và rượu? Những lần sinh nhật của Giả Kính, Bảo Thoa, Hy Phượng…, những lần đón tết, những tiệc tùng thưởng rượu, ngâm thơ, những buổi làm tửu lệnh nơi Viện Di Hồng, Đại Quan Viên… có lần nào mà thiếu chung trà, chén rượu Ta thấy rất rõ trong những buổi tiệc nơi Giả phủ, dù lớn hay nhỏ đều không thể thiếu trà, rượu Chúng dường như là những thức uống tạo

sự phấn khởi, vui tươi trong những yến tiệc cho những bậc gia trưởng, những công tử, tiểu thư đài các Họ không phải uống một cách vô tư mà họ còn biết cách thưởng thức thế nào cho ngon theo đúng nghĩa Cách thưởng trà của Diệu Ngọc tại am Lũng Thúy rất độc đáo khó ai bì kịp, đến Bảo Ngọc cũng nhận ra

được một bài học về cách thưởng thức trà: “Cậu không nghe người ta nói: Uống chén thứ nhất là để thưởng thức mùi vị trà, chén thứ hai là phường ngu xuẩn

Trang 31

Những buổi tiệc đặc biệt trong năm như Tết nguyên đán, Tết nguyên tiêu…, người Trung Quốc lại có những món ăn rất đặc trưng Bên cạnh nguyên tắc ăn theo mùa, món ăn còn hàm chứa quan niệm tôn giáo, tín ngưỡng Trong ngày tế tổ tiên dịp Tết nguyên đáng, người ta thường chọn những món ăn hay thức uống được cho là may mắn, mang lại những điều tốt lành cho cả năm,

chẳng hạn trong ngày tết nguyên đáng tại Giả phủ: “bữa tiệc hợp hoan bày ra, trai ngồi bên đông, gái ngồi bên tây; uống rượu đồ tô, ăn canh hợp hoan, quả cát tường và bánh như ý” Tên gọi của những món ăn đã thầm nói lên những

mong ước của mọi người Rượu đồ tô là rượu nấu bằng cỏ đồ tô, uống vào ngày nguyên đán để trừ dịch khí; canh hợp hoan nấu bằng hoa hợp hoan, một thứ hoa màu đỏ, sớm nở tối cụp, tượng trưng cho sự đoàn kết Mọi người trong Giả phủ đều mong ước mọi điều tốt lành sẽ đến trong năm mới, cuộc sống sẽ luôn vui tươi, gặp nhiều may mắn; mọi người trong gia đình sẽ mãi mãi đoàn kết và yêu thương nhau

Những món ăn, thức uống trong Giả phủ không đơn thuần là nuôi sống

cơ thể mà còn là phương thuốc trị liệu tối ưu, là những món ăn mang lại sự may mắn, an lành cho cuộc sống Đó chính là một nghệ thuật trong phong cách chế biến ẩm thực của người Trung Quốc Thông qua việc miêu tả những món ăn cầu

kỳ của đại quý tộc họ Giả, Tào Tuyết Cần không chỉ dừng lại ở việc tán dương nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc mà sâu sắc hơn chính là sự đối lập trong cung cách sinh hoạt của một gia đình quý tộc với gia đình nông dân Con mắt ngỡ

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w