Để chứng minh sự trở về với huyền thoại, để chúng ta có thể hoàn toàn bị chinhphục, tôi nghĩ rằng chẳng cần tới một bản thống kê- dù chỉ giới hạn ở những têntuổi lẫy lừng nhất, những tác
Trang 1HUYỀN THOẠI VĂN CHƯƠNG: THỜI ĐIỂM PHÁT SÁNG VÀ BIẾN HÓA TRONG VĂN HỌC VIẾT HIỆN ĐẠI
[ 12-04-2011 06:07:29 am ] - View: 750
The Mystical Nativity - Kiệt tác của danh họa người Italia Sandro Boticelli 1510)
Trang 2(1445-“Một hôm nào đó, ta thức dậy, mù lòa như số phận”(S.Beckett – Chờ Godot) “Lá đào rơi rắc lối Thiên thai/ Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi” (Tản Đà: Tống biệt) “Nhưng có một nàng mà hai rể/ Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều” (Nguyễn Nhược Pháp: Sơn Tinh Thủy Tinh) Chỉ cần trích một câu văn, thơ ngắn, ta cũng có
thể thấy: nếu không có một bề dày thẩm thấu văn học dân gian thì người đọc hiệnđại không thể cảm thấy rung động đến tận tâm can vì chiều sâu của triết lý hoặcphong cách tài hoa, giọng điệu mới mẻ in dấu ấn của những tài năng độc đáo- dẫugiữa họ tưởng như không có một nét gì chung
Ta có thể tìm thấy bóng dáng sự biến hóa của huyền thoại văn chương (1) ở mọi thờiđiểm phát triển của lịch sử văn chương viết (2), thật thiên hình vạn trạng Bản thânnội hàm của thuật ngữ HTVC và VCV đã liên quan tới rất nhiều hình thức thể loại.Dẫu chỉ giới hạn đối chiếu cổ- kim trong thời hiện đại, bài viết này đã phải khảosát một phạm vi không gian, thời gian và tác phẩm khá rộng lớn Bởi vậy:
1 Chỉ có thể thực hiện sự miêu tả một số thời điểm và hình thức biểu hiện mà
không trình bày được một lịch sử, diễn tiến
2 Chọn đối tượng khảo sát HTVC và VCV trong mối quan hệ tiếp nhận, rút cục, bài viết tập trung vào những yếu tố của thể loại Bởi khảo sát sự tiếp nhận về
thể loại, như A.Compagnon đã viết về mĩ học tiếp nhận: “Nó có lẽ chẳng là gì khácngoài hóa thân cuối cùng của một sự suy nghĩ rất lâu đời về các thể loại vănchương” (3)
Kết quả là bài viết cũng phải lựa chọn một định nghĩa cho khái niệm công cụ ấy
Đã có nhiều phát biểu về thể loại (mà người viết bài này đều thấy có phần hợp lý),bởi không chỉ riêng ở đây mà nó là một “từ khóa” của phê bình văn học nói chung
(vd: ngay khi chỉ bàn về cái kỳ ảo ở cuốn Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, Todorov
Trang 3đã dành cả chương mở đầu để định nghĩa thể loại) Ở bài viết này, chúng tôi lựachọn định nghĩa sau đây, không phải chỉ vì nó rộng nhất mà còn vì nó đặt mối liên
hệ giữa thể loại với vấn đề tiếp nhận- vốn là một hệ quả của suy luận ở điểm 1:
“Thể loại (…) là mã văn chương, tổng thể chuẩn mực, quy tắc trò chơi cho ngườiđọc biết cách anh ta sẽ phải tiếp cận văn bản ra sao”(4)
3 Đề tài hướng về những văn bản lịch đại, thêm nữa, do giới hạn ở miêu tả hơn làkhảo sát lịch sử, nên phương pháp tiếp cận ở đây là đối chiếu để tìm sự giao thoa,
mà không phải so sánh để xác định ảnh hưởng
Sau đây là những nhận định rút ra từ quá trình khảo sát đề tài dựa trên những quanđiểm và phương pháp tiếp cận đã nêu trên
* *
*
1 Những vấn đề cấp thiết của hiện sinh đi tìm khuôn đúc trong những mẫu hìnhmuôn thuở
Thế kỷ XX đã có lúc được định danh là Kỷ nguyên của Hồ nghi, Lo âu, Phi lý.v.v
Đó là nét khắc họa bộ mặt tinh thần Còn nếu đi tìm một cái mới trong cách thểhiện những vấn đề ấy của hiện sinh, chúng tôi cho rằng sự tương ứng ở nghệ thuậtcủa VCV, đó là: nó tìm thấy mình nhiều nhất ở dạng thái nguyên sơ Không chỉgiới nghiên cứu văn chương mà các nhà nhân chủng học cũng đã xác nhận “Sự trở
về với huyền thoại đang diễn ra không chỉ trên lĩnh vực nhân học nói chung mà đặcbiệt tập trung ở VCV Các nhà huyền thoại như Gibert Durand, P.Brunel,A.Siganos…đã tìm thấy những minh chứng hùng hồn nhất khi phân tích sáng táccủa một số nghệ sĩ hiện đại (5) Họ không chỉ cảm nhận hồn nhiên (Kafka) mà còn ý
Trang 4thức rất sáng suốt về hướng huyền thoại hóa này Gunter Grass, Nobel 1999 đãđược Olivier Manonni đánh giá là: “Trong toàn bộ sáng tác của ông, ẩn dụ củatruyền thuyết và huyền thoại đều hiện diện và đóng một vai trò chủ chốt” ChínhG.Grass cũng đã từng ý thức rất rõ về điều đó và còn khái quát nó thành một đặc
trưng của toàn cảnh VCV hiện đại Trong bài viết Văn chương và Huyền thoại,
G.Grass cho rằng giờ đây, “Văn chương sống bằng huyền thoại Nó tạo ra huyềnthoại, rồi lại tiêu diệt đi (…) Tôi hình dung truyện cổ và huyền thoại như một bộphận, hay đúng hơn, như một cái đáy thứ hai của thực tại chúng ta (…) Những khátvọng ở đó (…) nói lên thực tại trong các giấc mộng đêm và ngày, nhưng cũng làngôn ngữ thường nhật, vốn dĩ mang tính chất bột phát” (5)
Để chứng minh sự trở về với huyền thoại, để chúng ta có thể hoàn toàn bị chinhphục, tôi nghĩ rằng chẳng cần tới một bản thống kê- dù chỉ giới hạn ở những têntuổi lẫy lừng nhất, những tác phẩm mà mô tip của huyền thoại xuất hiện ngay trêntrang bìa Việc này bất kỳ một sinh viên nào cũng có thể tải xuống từ máy tính mộtlượng khổng lồ Lịch sử VCV cũng đã chứng kiến một thời điểm phát sáng của vănhọc dân gian ở phương Tây thế kỷ XIX Vấn đề ở đây là giải thích sự tái sinh, sựtrở về với huyền thoại giữa thời đại “kỹ trị”, giữa đế chế của máy tính, thế kỷ XX,XXI
Ở mức độ phổ quát nhất, sự trở về với huyền thoại thường bột phát khi có hiện tượng tỉnh thức trước một số vấn đề mới của hiện sinh Vì sao bối cảnh ấy lại kích
thích nhà văn tìm một cách xử lý nghệ thuật theo đường vòng- theo phương thứchuyền thoại? Căn nguyên ở mỗi nghệ sĩ cùng hướng tới cách xử lý nghệ thuật này
có thể khác nhau nếu ta khảo sát từng trường hợp, nhiều khi độc nhất vô nhị Tuynhiên, cũng có thể quy tụ vào một nguyên nhân phổ biến: Do những vấn đề bứcxúc gặp phải những lực cản, nhà văn phải tìm tới thế giới của ám dụ, tượng trưng,mẫu gốc… vốn đã cắm rễ sâu trong ký ức cộng đồng Ví dụ: hình tượng Jeanne
Trang 5d’Arc- nhân vật lịch sử có lẽ là duy nhất đã biến thành huyền thoại- đã là mô típcủa hai vở kịch của Brecht rất nổi tiếng ở thời kỳ bóng đen của chủ nghĩa phát xítbao trùm lên thế giới hiện đại Ở Việt Nam vào một thời điểm như thời kỳ NhânVăn Giai phẩm có lúc một số nhà phê bình tự coi là “chính thống” đã chủ trươngchống “biểu tượng hai mặt” Vốn gần gụi với phương thức nghệ thuật của huyềnthoại nên hiện tượng “biểu tượng hai mặt” được sử dụng như một phương tiện đểgiải tỏa ẩn ức từ thời Nhân Văn Giai phẩm cho tới gần đây lại tái sinh ở một thế hệtrẻ (như Nguyễn Huy Thiệp…), và nói chung ở văn học đương đại Điều nàychứng tỏ phương thức huyền thoại đáp ứng nhu cầu của nghệ sỹ trước những vấn
đề bức xúc mới mẻ của cuộc sống
Tất nhiên, không phải các nhà văn khi xử lý phương thức gián tiếp của huyềnthoại, đều ngây thơ tin rằng những thế lực cản trở sự giải tỏa ẩn ức (của cá nhânhoặc tập thể) sẽ không hiểu được nghệ thuật ám dụ Ngược lại, sự “mẫn cán” củagiới phê bình chính thống có khi còn khiến có nhà văn bị hàm oan (7)
2 Kích thích năng lực phát hiện thông điệp, sự đồng sáng tạo trong tiếp nhận của độc giả – đó mới là mục đích cuối cùng của nhà văn khi sáng tạo theo phương thức
của huyền thoại
Nhà huyền thoại học André Siganos đã lưu ý đến sức mạnh của phương thức chủyếu ở huyền thoại- đó là “sự dọi sáng của biểu tượng”, còn P Sellier thậm chí đãnói đến “sự bão hòa của biểu tượng” trong mẫu gốc Ở những thời điểm căngthẳng, đòi hỏi một sự tỉnh táo suy nghĩ cũng như sự thức tỉnh người đọc, nhà vănphải chọn cách khai thác bề sâu của chiêm nghiệm trước những vấn đề sinh tử- vềthể xác lẫn tâm hồn- của con người bằng phương thức kích thích sự phát hiện từ
những khối tinh tú phát ra nhiều tầng ý nghĩa Từ đó, huyền thoại mới đã được cắm
mốc bằng những tác phẩm độc đáo, mở đầu bằng những hình tượng lạ lẫm
Trang 6trong Biến dạng, Mê cung… của Kafka.v.v tới Nhẫn thạch (Syngué Sabour) của
Atiq Rahimi…
VCV Việt Nam, do những điều kiện xã hội, văn hóa đặc biệt nửa đầu thế kỷ XX,
đã hướng về sự tiếp nhận văn học dân gian nói chung Những vấn đề bức xúc vềchính trị thường đòi hỏi các nhà văn hướng về quần chúng, bằng những hình thứcvăn học dân gian trực tiếp nhất trong sự giải mã thông điệp Tuy nhiên, ta vẫn cónhững mô típ Thiên Thai, Đào Nguyên lạc lối- bóng dáng của HTVC- ở một vàitác phẩm thời trước cách mạng (Tản Đà, Ngô Tất Tố…và cả Văn Cao- nếu xét trên
ca từ) Sự “mãi mãi trở về” ấy phải chăng là hướng giải tỏa của một thế hệ bị ứcchế, khát khao một không gian, thời gian, ở đó “có một mùa đào dòng ngày thángchưa tàn qua một lần…” vốn đã được biểu tượng bằng hình ảnh Thiên thai, Suốihoa đào cổ xưa
Cuối cùng, giải thích sự tiếp nhận huyền thoại, những biến hóa của nó trong VCVhiện đại, ta vẫn phải giải thích bằng đặc trưng của thể loại “cội nguồn”
3 Những đặc trưng của huyền thoại và HTVC
3.1 Tác phẩm văn chương có thể được gọi là “huyền thoại mới”, khi nó phát ramột vài tín hiệu của thể loại “cội nguồn” Đã có nhiều tổng kết về những đặc trưngcủa huyền thoại “cội nguồn” qua công trình của những nhà huyền thoại học nổitiếng nhất từ đầu thế kỷ XX- kể cả Freud (bởi ngay từ giữa thế kỷ XX, những diễngiải về huyền thoại của ông đã được coi là rất độc đáo, dẫu chỉ quy tụ về một cáchnhìn cực đoan, vẫn được đánh giá cao hơn là những lý thuyết Phân tâm học bị coi
là có những khiếm khuyết về mặt khoa học)
Ở đây, chúng tôi lựa chọn tổng kết của P.Sellier về huyền thoại:
Trang 7- Nó là câu chuyện khai nguyên, kiến tạo (fondateur, restaurateur).
- Nó là công trình tập thể, vô danh
- Được coi là có thật bởi là « chuyện thiêng » có hiệu quả phù phép, được đọc lêntrong những tình huống nhất định
- Nhân vật chính (thánh thần, anh hùng…) hành động không theo động lực thông
thường (tâm lý, duy lý…) mà theo lô gic của tưởng tượng.
- Sức mạnh và sự thuần khiết của tổ chức chặt chẽ về cấu trúc : Mỗi chi tiết đềunằm trong hệ thống những mã có ý nghĩa
P.Sellier cũng đã từ đó phân biệt huyền thoại với HTVC Sau khi điểm lại ý kiếncủa các nhà nghiên cứu về HTVC- mà P Sellier cho là « một tên gọi chưa kiểm
soát được »- ông đi đến những đặc tính chung của huyền thoại và HTVC Thứ nhất, đó là « sự bão hòa của biểu tượng » : cả hai đều « dựa trên những tổ chức
biểu tượng, làm rung động những sợi dây nhạy cảm nhất ở mọi con người »(8) Thứ hai, một tổ chức kết cấu đặc biệt đến mức được gọi là « vòng xoáy đinh ốc »- đòi
hỏi nhân vật chính bị phong tỏa trong một tình thế phức tạp, kịch tính (tiêu chí
khiến một nhân vật như Joseph K được gọi là « nhân vật huyền thoại ») Thứ ba,
« sức tỏa sáng siêu hình học »- đó chính là ranh giới phân biệt huyền thoại và cổ
tích, trong khi đặc trưng ấy khiến một tác phẩm tắm trong không khí trần tục
như Chờ Godot lại gần với huyền thoại văn chương bởi hướng « cái nhìn lên cao »,
có tính chất siêu hình (theo như nhận định ở mục « Huyền thoại » của bộ Từ điển Văn học Pháp và Nước ngoài của Larousse-1985) Giới nghiên cứu đặc biệt nhấn
mạnh « Ý nghĩa hiện sinh », hiệu quả « gợi cảm giác về số mệnh đằng sau cuộcsống thường nhật » Cuối cùng, đối với các nền văn hóa, sức mạnh rung cảm của
Trang 8huyền thoại một phần lại nằm ở điểm phát ngôn của nó : huyền thoại là « nhữngthông điệp không có người phát » (9).
Trên đây là một số căn cứ lý luận mà chúng tôi sẽ đối chiếu khi phát hiện sự biếnhóa của huyền thoại trong VCV hiện đại
4 Sự biến hóa của huyền thoại trong VCV hiện đại
4.1 Cách tiếp nhận của văn chương viết hiện đại đối với huyền thoại so với nhữngthế kỷ trước mới mẻ tới mức người ta gọi nó là « phản huyền thoại » Cũng có thể
gọi đó là hình thức « nhại huyền thoại » (parodie) Ví dụ : những phiên bản của
Oedipe, Don Juan, Prométhée trong Alain Robbe-Grillet nhằm đập vỡ những thầntượng trên lĩnh vực siêu hình học, tư tưởng triết học (mà không phải là hướng vềbản thân nhân vật huyền thoại) Cũng có thể xếp vào loại phản huyền thoại vài
truyện của Nguyễn Huy Thiệp về Con gái thủy thần,… Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ…
4.2 Một hình thức dễ bị đồng nhất với loại trên, đó là « hợp thể huyền thoại » Ở
ta, cách dịch đồng nhất hai thuật ngữparodie(nhại) và pastiche (hợp thể) làm
một (10) Quả là ranh giới giữa chúng khá mơ hồ và cả parodie lẫn pastiche đều sửdụng lối bắt chước, song sự khác biệt nằm ở chỗ nhại (văn bản) thường thiên về
bóp méo và hạ bệ còn hợp thể thường không hàm ý đó Trường hợp Ulyssee của J.
Joyce có lúc được gọi là « nhại » Odyssée, có lúc được coi là « hợp thể » Chúngtôi nghĩ « hợp thể » có thể vận dụng vào cách xử lý huyền thoại ở một số tác phẩm
của Toni Morrison như Người yêu dấu, ở Antigone của Brecht và của Jean
Anouih…
4.3 Những sách kinh điển cho rằng sự phân biệt giữa huyền thoại với HTVC nằm
ở điểm huyền thoại vô danh còn HTVC có tên tác giả Điều này hiển nhiên là
Trang 9đúng Song chính ở điểm này, chúng tôi phát hiện thấy một nét độc đáo, lạ lẫm,mới mẻ ở HTVC thế kỷ XX-XXI, đó là : những nhà văn hiện đại đang cố gắng trở
lại cội nguồn bằng cách biến tác phẩm của họ thành những « thông điệp không có người phát » như huyền thoại thuở hồng hoang Họ tự xóa nhòa mình trong tác
phẩm bằng tiếng nói đa âm, bằng cách nhân gấp bội điểm nhìn và nhiều chủ thể
phát ngôn, bằng tính không xác định của ý nghĩa văn bản…như trường hợp Người yêu dấu của T.Morrison, như lối kết thúc Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp (trường
hợp sau đã biến truyện lịch sử thành giả-lịch sử- (vấn đề này đã được chúng tôi đềcập tới khi tác phẩm này mới ra đời) Ở đây, tôi cũng liên tưởng tới việc có thể gọi
HTVC hiện đại là giả huyền thoại.
4.4 Cũng như những lần hồi sinh của văn học dân gian nói chung ở các thế kỷtrước (ví dụ thế kỷ XIX ở phương Tây), sự tiếp nhận nghệ thuật huyền thoại trong
VCV thể hiện ở nhiều cấp độ Truyện cũ viết lại (như Suối hoa đào của Ngô Tất
Tố)- thuộc dạng tiếp nhận tích truyện (11), cốt truyện Lối truyện cũ viết lại này đãhơi cổ, nay VCV chỉ lấy từng mảnh của huyền thoại, song chiều sâu của tư tưởng
ám ảnh đến mức có thể tạo ra một huyền thoại văn chương Cấp độ mô típđược
VCV sử dụng nhiều hơn (ví dụ chi tiết con rắn bị đánh chết ở Lệ Chi Viên giỏ bagiọt máu xuống trang sách Nguyễn Trãi đang đọc…những ngôi mả hoang
trong Cánh đồng bất tận) Hình thức parabole (dịch là phúng dụ ?)(12) vốn cónguồn gốc từ những lời sấm truyền trong Kinh Thánh, nó « khoác lên chân lý trừutượng một tấm áo của hình ảnh cụ thể và đầy ấn tượng »( 12) có thể tìm thấy lại
trong Thông điệp của Hoàng đế của Kafka hoặc Vụ thăng tiến có thể cưỡng lại của Arturo Ui- (ám chỉ chuyện Hitler tiếm quyền vào những năm 30) do B.Brecht viết.v.v Liên quan tới parabole là nghệ thuật biểu tượng, vốn rất phù hợp với
HTVC « Nó là một tín hiệu cụ thể luôn dẫn tới một sự thực thuộc bản chất khác,một sự thực mà cảm quan cũng như khái niệm đều không đạt tới »(15), bởi còn có
Trang 10« vô số những điều nằm ở ngoại biên sự thấu hiểu của con người »- như Jung đãnói về biểu tượng.
4.5 Hạt nhân, « lõi cứng » (để dùng lại hình ảnh của André Siganos) của huyềnthoại đó là mẫu gốc : « Sự xuất hiện của huyền thoại càng xa, thì sự lặp lại của nócàng dài, dịp may để nó hợp thành diễn ngôn càng lớn khi chỉ những mẫu gốc còncất tiếng hoặc gần như thế »(16)
4.6 Mê cung của thời hiện đại
Trong sự lên ngôi của mẫu gốc huyền thoại, VCV hiện đại hướng tới một số vì tinh
tú có khả năng lấp láy nhiều ý nghĩa thời sự của hiện sinh nhất Thống kê tần sốxuất hiện của một số mẫu gốc có thể thấy trạng thái tinh thần của con người hiệnđại- đây có thể là chất liệu của cả một công trình nghiên cứu Ở đây, chúng tôi chỉ
chọn một trong những mẫu gốc có tần số xuất hiện cao nhằm chứng tỏ : sự lên ngôi của một mẫu gốc có ý nghĩa dọi sáng vấn đề của hiện sinh hiện nay như thế
nào Khi khảo sát sự di chuyển của cái nhìn vào mẫu gốc trong hệ thống những mãcủa huyền thoại, chúng tôi thấy nổi lên mô típ « Mê cung » hoặc « Mê lộ »(Labyrinthe) Tần số đậm đặc trong sự xuất hiện của nó ở VCV hiện đại là điềukhông thể chối cãi (Kafka, A Robbe-Grillet, J.Joyce, Le Clézio, Cortazar…)- Điềuquan trọng hơn : hệ thống huyền thoại, sơ đồ của câu chuyện cổ sơ về Minotaure,gồm bốn mẫu gốc có « năng lực lan tỏa hào quang » (P.Brunel) đã cung cấp nănglượng cho VCV từ những thế kỷ trước, đó là Thésée, Ariane, Minotaure và Dédale.Điều đáng lưu ý ở VCV hiện đại là nó không tập trung nguồn cảm hứng vào bốnnhân vật trên mà mô típ, trung tâm phát sáng giờ đây lại là một không gian : Mêcung Điều mới mẻ thứ hai là : mê cung không còn chỉ là một cấu trúc về không
gian, mà thường được triển khai theo hai hướng : sự lạc lối trong mê cung của tâm thế nhân vật và mê hồn trận của lối viết Vụ án, Lâu đài, Biến dạng…là những mê
Trang 11hồn trận mà người anh hùng ở đó- khác với huyền thoại cổ xưa- không thể tìm ralối thoát, trong khi Mê cung xưa vẫn có một đường ra và có một kết thúc Bức Vạn
lý trường thành của nỗi cô đơn vây hãm họ, mặc cảm tội lỗi khiến họ không thểthoát khỏi cơn ác mộng Còn với Borghez, mỗi tác phẩm của ông là một trận đồ bátquái khiến người đọc phải lạc lối khi tìm đường diễn giải – hiện tượng « mê cung »trong lối viết đã trở thành rất quen thuộc ở nhiều tác phẩm VCV hiện đại, trở thànhnhững câu đố bí hiểm của những nhà văn –sphinx, không hướng về một Oedipeduy nhất Nay đã hết thời Đào Nguyên lạc lối, mà vẫn có một đường về, dẫu chỉ đểtìm thấy một không gian và thời gian xa lạ
Có thể nói chính sự trở về với huyền thoại đã mang lại cho những tác phẩm hiệnđại chất thơ, vẻ đẹp hồn nhiên mà bí ẩn, đã khiến những vấn đề của cái thườngnhật nâng lên tầm ý nghĩa siêu hình và mỗi người đọc tìm cách giải mã những câuhỏi muôn đời của hiện sinh
Chú thích :
(1) Viết tắt : HTVC
(2) Viết tắt : VCV
(3), (4) Antoine Compagnon : Bản mệnh của lý thuyết (Bản dịch của Lê Hồng
Sâm và Đặng Anh Đào), NXB Đại học Sư phạm, tr 230
(5) Ví dụ : P.Brunel : Lời giới thiệu Quái vật Minotaure và huyền thoại, NXB PUF, 1993 ; G.Durand : Huyền thoại học nhập môn- Huyền thoại và các xã hội, Allin Michel, 1996…
(6) G.Grass : Văn chương và huyền thoại, in La Mazme littérature no 380, 1999, tr
61, in lại trong Toàn tập Grass (Essays und Reden, vol 3)
Trang 12(7) Trường hợp Cây táo ông Lành là một ví dụ điển hình về vụ « hàm oan »
(8) P.Sellier : Huyền thoại văn chương là gì- in Littérature no 55, 1984, tr 118
(9) Dictionnaire des littératures francaises et étrangères, NXB Larousse, 1985, tr.
1065
(10) Ở đây chúng tôi chọn cách dịch thuật ngữ « pastiche » của Phan Tấn Hải
trong bản dịch Postmodern American fiction : A Norton Antholy, www.tapchitho.org/vhhd/pth3.htm
(11) Tương đương với một từ nay ít dùng : « tích chèo » chẳng hạn (Chúng tôimượn để dịch nghĩa « fable »)
(13) Trong thuật ngữ nước ngoài, vẫn phân biệt parabole với allégorie
(14) La littérature francaise de A à Z, Hatier, 1998, tr 314
(15) Sđd, tr 425
(16) André Siganos, sđd, tr 8
Nguồn: Nghiên cứu Văn học
Ý nghĩa biểu trưng của “bến” trong tác phẩm “Bến không chồng” của Dương Hướng
[ 18-12-2010 01:51:06 am ] - View: 923
Tín hiệu thẩm mĩ có nhiều đặc tính: nguồn gốc, cấp độ, đặc tính tác động, đặc tínhbiểu hiện, đặc tính biểu cảm và đặc tính biểu trưng Trong đó, tính biểu trưng làđặc tính đáng chú ý nhất
Trang 13Tính biểu trưng[2] được xét trong mối quan hệ hai mặt: cái biểu đạt và cái đượcbiểu đạt Đó là mối quan hệ “có lí do” liên quan đến năng lực “biểu trưng hoá”,đến khả năng của tín hiệu thẩm mĩ là nó vừa có tính chất biểu thị, chỉ ra, nói lênmột cái gì, vừa có tính chất hàm nghĩa - sự thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn Cáiđược biểu hiện của nó có ít nhất hai thành phần nghĩa liên thông nhau: bề nổi đượcbộc lộ; bề chìm luôn tiềm ẩn gắn với những dự cảm, những vô thức cá nhân, vôthức tập thể như quan niệm của C.G Jung Ví dụ: Cây thuỳ dương trong thơ dângian Nga biểu trưng cho tư tưởng, tình cảm nam nữ; con cò biểu trưng cho điềulành, đức thiếu thảo; hoa sen biểu trưng cho lòng trong trắng… Biểu trưng, mộtmặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là đối tượng nào đó được quy chiếu
từ hiện thực Mặt khác, là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận.Tác phẩm văn học sử dụng ngôn ngữ làm tín hiệu thẩm mĩ Ngôn ngữ là mặt thểchất của tín hiệu văn chương Bản chất đặc biệt của loại tín hiệu này thể hiện trêncác phương diện:
- Cái biểu hiện và cái được biểu hiện có quan hệ võ đoán
- Cái biểu hiện của tín hiệu có tính hình tuyến, các đơn vị ngôn ngữ có quan hệ ngữđoạn
- Quan hệ cấp độ
- Tính đa trị, đối lập tương đối
Nghiên cứu tín hiệu vật chất chính là nghiên cứu những yếu tố biểu hiện nó, bámsát các tổ hợp ngôn ngữ biểu hiện nó để phân tích Theo Bakhtin, để làm được điều
đó, chủ thể sáng tạo phải thật sắc mạnh về “cảm quan tạo sinh âm thanh, tạo sinh ýnghĩa, tạo sinh quan hệ, tạo sinh bình giá”
Tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm văn chương có tính ước lệ - gián tiếp - phi vật thể
Do vậy, chỗ mạnh của nó là gợi ra các hiện tượng hết sức phong phú, sâu sắc vềđối tượng Tín hiệu văn chương có thể tác động rất mạnh vào liên tưởng, tưởngtượng, nhờ đó có thể tái tạo tất cả các thuộc tính cảm giác về đối tượng
Trang 14Trong phạm vi thể loại văn học, hình thức ngôn ngữ biểu đạt, giá trị biểu hiện và ýnghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ được xét ở các dạng biến thể: biến thể từ vựng (nảysinh trong quá trình sử dụng); biến thể kết hợp (nảy sinh trong sử dụng một tín hiệuthẩm mĩ - yếu tố phụ trợ kèm theo) và biến thể quan hệ (nảy sinh trong sử dụngmột tín hiệu thẩm mĩ, có những tín hiệu khác bổ sung) Việc xem xét các dạng biếnthể này chính là xem xét một đối tượng ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ hệ hình vàquan hệ tuyến tính.
Lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ được vận dụng để nghiên cứu tác phẩm văn học, xemnhư một con đường tìm hiểu, phân tích tác phẩm Văn xuôi từ sau 1975 liên tục đổimới cả về nội dung và cách viết Các tác giả sử dụng các biểu tượng, các tín hiệuthẩm mĩ để tăng cường sức biểu hiện và phản ánh, đưa đến nhiều giá trị mới mẻtrong văn học Khác với tác phẩm trữ tình luôn ưu tiên cho cái chủ quan, đặt cáichủ quan lên bình diện thứ nhất Đối tượng biểu hiện trong văn xuôi tự sự là cácvấn đề, các sự kiện, biến cố của đời sống hiện thực (gồm cả hiện thực tinh thần)mang tính khách quan Ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự có hình thức tổchức rất gần với các dạng của lời nói trong phong cách phi nghệ thuật, mô phỏngngôn ngữ tự nhiên Trong tác phẩm tự sự, đặc điểm ngôn ngữ của tất cả các phongcách chức năng thuộc phạm vi lời nói phi nghệ thuật đều có thể được mô phỏng và
tổ chức lại để thực hiện chức năng thẩm mĩ Quá trình này đi liền với sự phá vỡ cơcấu chức năng vốn có của các yếu tố ngôn từ thuộc phạm vi các phong cách nàynhưng vẫn lưu giữ những thành tố cơ bản trong màu sắc tu từ học của chúng, đồngthời tăng cường giá trị và hiệu quả tu từ theo những hướng nhất định tuỳ thuộc vàochủ thể và đối tượng biểu hiện Tín hiệu thẩm mĩ trong văn xuôi gắn với yếu tốthời gian, không gian, hình tượng nhân vật tạo ra những giá trị biểu nghĩa phongphú, mới mẻ, do đó, chức năng thẩm mĩ của tác phẩm được nâng cao rõ rệt
II …đến tác phẩm “Bến không chồng” của Dương Hướng.
Trang 15“Bến không chồng” là tác phẩm xuất sắc được Dương Hướng sáng tác vào thời kìđầu đổi mới Cách khai thác hiện thực đời sống với những mảnh đời, những thânphận éo le chốn làng quê đằng sau cuộc chiến tranh đã đưa đến một cái nhìn mới
mẻ và sâu sắc Dương Hướng tạo không gian bến quê với dày đặc những biến thểcủa nó trở đi trở lại trong tương quan với các nhân vật làm nổi bật bức tranh cuộcđời nhiều bi kịch, trái ngang Xét từ góc độ ngôn ngữ, Dương Hướng đã thànhcông khi vận dụng linh hoạt tính biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ bến, đan dệt nótrong những đặc trưng của văn xuôi tự sự, đưa đến giá trị phản ánh chân thực, đàosâu tâm lí con người; đồng thời tạo nên một giọng điệu riêng
1 Khảo sát, phân loại
Có 96 lần xuất hiện tín hiệu thẩm mĩ Bến dưới các tên gọi khác nhau
Nếu dựa vào các nét nghĩa của từ bến để phân loại ta thấy:
- Xét ở trường nghĩa biểu vật, từ bến xuất hiện 4 lần, chiếm 4,2%, với 3 tên gọi:Bến vắng, Bến sông, Bến nước
- Các tên gọi căn cứ vào sự đồng nhất và đối lập ý nghĩa các đơn vị từ vựng xéttheo nét nghĩa chỉ sự vật trong không gian: Xuất hiện 12 lần, chiếm 12,5 %: Consóng, Sông, Đáy sông, Mép nước, Mặt sông, Bờ sông, Mặt nước,Nước sông
- Bến dùng theo nghĩa ẩn dụ: 8 lần xuất hiện, chiếm 8,3%, dưới các tên gọi:
2.2 Biến thể kết hợp:
Trang 16Xét cụ thể biến thể kết hợp ta có kết quả như sau:
+ Kết hợp động từ: Bến hiện diện trong tác phẩm mang ý nghĩa không gian thônquê bình dị, hiền hoà Gắn với bến là sự hoạt động, bao gồm vận động của nướcsông, vận động của con người: chảy, nuốt chửng, cuộn sôi…
+ Kết hợp với tính từ miêu tả và từ chỉ sắc thái: dạng kết hợp này xuất hiện nhiềunhất và có nhiều giá trị nhất trong toàn bộ tác phẩm Dựa trên cách kết hợp này,trường nghĩa của từ bến được mở rộng, ý nghĩa thẩm mĩ tăng thêm ở chiều sâu:Những con sóng lép bép, Biển tím ngắt, Bến sông quyến rũ, Nước sông trong veolặng lẽ trôi, Nước dềnh lên xăm xắp, Dòng sông loang loáng bóng trăng, Nướcchảy nhẹ, Dòng sông lung linh, Dòng sông xao động, Dòng sông mát lạnh, Mặtsông như rộng ra mênh mông, Mặt sông lay động, Nước sông cuộn lên sùng sục,Sóng chồm lên, Dòng nước sóng sánh bóng trăng, Sóng vỗ oàm oạp, Mặt sông đensẫm…
Bến được nhìn nhận ở cả hai trạng thái tĩnh và động Tĩnh theo nghĩa là bình yên,hiền hoà, động theo nghĩa sục sôi, trào cuộn Việc chú trọng nét nghĩa bến - cầu -cống (cố định) và nét nghĩa bến - sóng - dòng sông - mặt sông (chuyển động) cũngchính là nhấn mạnh cái tĩnh và cái động Từ đây, ta thấy hiệu quả bổ sung của các
từ thuộc trường nghĩa bến là rất cao Cuộc sống của người dân nơi bến nước không
hề bình lặng Số phận những con người ở đây nếm trải cả ngọt ngào lẫn tủi cực.Bản thân mỗi người như dòng sông trong bến, khi hiền hoà khi lại gầm khóc.Người viết sẽ trở lại vấn đè này khi tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của bến trong mốiliên hệ với các hình tượng nhân vật chủ đạo
2.3 Biến thể quan hệ:
Bên cạnh tín hiệu thẩm mĩ bến, sự xuất hiện của tín hiệu Cầu Đá Bạc, sông Đình,con mương, bờ đê, hồ nước là những sự vật bổ sung mặt không gian vật lý, làm rõhơn ý nghĩa của bến