HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG HÌNH ẢNH ÁNH TRĂNG TRONG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG
Lịch sử vấn đề
Thơ văn Lí - Trần đã trở thành đề tài nghiên cứu phổ biến với nhiều khuynh hướng khác nhau Gần đây, các nghiên cứu về thơ Lí - Trần đã được mở rộng, với nhiều chuyên đề chuyên sâu, trong đó thơ Thiền nhận được sự quan tâm đặc biệt.
Nguyễn Phạm Hùng đã khảo sát văn học Lí - Trần từ góc độ thể loại ( “Văn học
Lí Trần nhìn từ thể loại” – Nxb.Giáo dục_1996).
Theo tác giả, tất cả các thể loại văn học chữ Hán trong thời kỳ này đều có sự tiếp thu chủ động, sáng tạo và có chọn lọc Ông cho rằng khái niệm thơ Thiền chủ yếu dựa trên tiêu chí nội dung phản ánh.
Nguyễn Phạm Hùng đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về thơ Thiền, tập trung vào tinh thần nhập thế tích cực của thơ Thiền trong thời kỳ Trần Ông kết luận rằng thơ Thiền không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn phản ánh sâu sắc tư tưởng sống tích cực của con người.
Thơ Thiền thời Trần mang tính thế tục và trữ tình phong phú hơn so với thơ Thiền thời Lí, thể hiện sự đa dạng trong tư tưởng nghệ thuật của Việt Nam.
Trong quyển "Trên hành trình văn học Trung đại" (Nxb Giáo dục ĐHQG Hà Nội – 2001), tác giả đã dành một phần lớn để phân tích thơ Trần Nhân Tông, đặc biệt là hình ảnh ánh trăng trong tác phẩm của ông Tuy nhiên, trong bài viết "Giáo dục ĐHQG Hà Nội" (1998, tr 135), hình ảnh này chỉ được đề cập một cách khái quát.
Phạm Ngọc Lan tập trung vào giọng điệu Thiền của Trần Nhân Tông, đặc biệt là hình ảnh ánh trăng, mặc dù chưa được giới thiệu rõ ràng Tác giả nghiên cứu giọng điềm đạm và khách quan, phản ánh tâm trạng cân đối, hài hòa và thanh thản trong các thi phẩm của Trần Nhân Tông.
Nhân Tông cảm hứng Thiền trong thơ – Tạp chí văn học số 4 – 1992 –tr 47 ).
Trong tác phẩm “Đến với thơ hay” của giáo sư Lê Trí Viễn, ông đã nhận định rằng thơ của Trần Nhân Tông không chỉ là sản phẩm của một khoảnh khắc mà là biểu hiện của một thời đại, với sức mạnh cảm xúc vượt thời gian Cùng với đó, Đoàn Thị Thu Vân cũng mở ra một hướng nghiên cứu mới trong luận án Phó Tiến sĩ của mình, tập trung vào khảo sát đặc trưng thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ XI đến XIV.
Năm 1996, trung tâm nghiên cứu Quốc học đã xuất bản tác phẩm của tác giả năm 1994, trong đó nhận xét rằng thơ Trần Nhân Tông thường phản ánh dòng chảy của thời gian, không chỉ đơn thuần là hình ảnh tại một thời điểm Cảnh đêm xuất hiện với ánh sáng mờ ảo từ ngọn đèn bên cửa sổ, dần nhường chỗ cho ánh trăng huyền diệu, tạo nên sự kết hợp giữa hiện thực và biểu tượng.
Các công trình nghiên cứu về văn học Lí – Trần, đặc biệt là thơ Trần Nhân Tông, có giá trị lớn và đã mở ra hướng đi cho người viết trong việc khảo sát Mặc dù tài liệu về hình ảnh ánh trăng trong thơ Trần Nhân Tông còn hạn chế, nhưng chúng cung cấp những gợi ý quý báu để người viết có thể suy nghĩ và khám phá sâu hơn về chủ đề này.
Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận này hướng tới giải quyết một số vấn đề sau:
Tìm hiểu về Trần Nhân Tông
Tìm hiểu về thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông
Tìm hiểu hình ảnh ánh trăng trong thơ Trần Nhân Tông
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa và so sánh.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát trong tiểu luận này là thơ của Trần Nhân Tông (Trần Khâm) Nghiên cứu chủ yếu dựa vào phần phiên âm và các bản dịch trong “Thơ văn.”
Lí - Trần” ( tập 1, 2) Viện Văn học Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
Trần Nhân Tông và những tác phẩm tiêu biểu
Trần Nhân Tông, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1258, mang niên hiệu Thiệu Long năm thứ nhất, tên thật là Trần Khâm Ông là con trai trưởng của Trần Thánh Tông và hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, Trần Thị Thiều.
Trần Nhân Tông, vua thứ ba của nhà Trần, trị vì từ 1279 đến 1293 và làm Thái Thượng Hoàng trong 13 năm, được ca ngợi là một trong những vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo xuất sắc mà còn là một nhà văn hóa và nhà thơ nổi bật của thế kỷ XIII Sau khi nhường ngôi cho con trai Trần Anh Tông, ông đã xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, rồi chuyển đến Yên Tử, nơi ông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và trở thành tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam, được kính trọng với danh hiệu “Phật Hoàng” Sự nghiệp sáng tác phong phú của ông, với nhiều tác phẩm tiêu biểu như Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, và Cư trần lạc đạo phú, đã phản ánh sâu sắc tư tưởng của ông và ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam.
Các tác phẩm thơ của Trần Nhân Tông thể hiện rõ xu hướng lánh đời và thoát tục, điều này thật đặc biệt đối với một vị vua Xu hướng này còn tiếp tục được tìm thấy ở các nhân vật như Huyền Quang, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Trần Nhân Tông viên tịch ngày 3 tháng 11 âm lịch 1308 được an táng ở lăng
Quy Đức, phủ Long Hương, xá lị cất ở bảo tháp Ngọa Vân am, miếu hiệu là NhânTông.
Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông
Thiên nhiên hiện thực
Trần Nhân Tông, với tâm hồn rộng mở, đã mang đến cho chúng ta những bài thơ đầy cảm xúc, phản ánh vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên trong cuộc sống hàng ngày Mặc dù di sản thơ ca của ông không phong phú, nhưng những tác phẩm quý giá vẫn tỏa sáng theo thời gian Ông không chỉ là một vị vua, tướng lĩnh dũng mãnh mà còn là một Thiền sư, ẩn sĩ, đã từ bỏ ngai vàng để tìm về với những cảnh vật yên tĩnh như "Núi hoang rừng quạnh" và "Chùa cổ đìu hiu khuất khói thu." Qua đó, Trần Nhân Tông đã khắc họa vẻ đẹp thanh bình của cuộc sống thi nhân, không vướng bận lo âu.
“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền”
( Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Bức tranh chiều đồng quê Việt Nam hiện lên giản dị, với thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông mang đến cảm giác lơ lửng, vừa hiện hữu vừa mơ hồ Tiếng sáo du dương vang vọng trong không gian yên ả, hòa quyện với hình ảnh cò trắng (Bạch lộ) và lúa xanh đang lên Niềm vui đồng ruộng được thể hiện qua hình ảnh “từng đôi”, như một biểu tượng của hạnh phúc và sự sinh sôi, như giáo sư Lê Trí Viễn đã nhận định Cảnh sắc êm ả bao bọc những lứa đôi, tạo nên sự tương phản giữa động và tĩnh, giữa cái lớn lao và cái nhỏ bé Tâm hồn Thiền gia – thi nhân hiện ra với tình yêu thiên nhiên sâu sắc và ý vị.
Hình ảnh trong thơ thường rất tự nhiên, như cánh cò đáp xuống bờ ruộng, chiếc lá rơi nhẹ nhàng, tiếng kèn của đám mục đồng lùa trâu về nhà lúc tối, hay âm thanh của tiếng chuông chùa vọng lại từ xa ở Vũ Lâm.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc Thấp vân như mộng viễn chung thanh.
( Nghìn núi lặng tờ lá đỏ rơi Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng).
Thi nhân thể hiện niềm cảm xúc mãnh liệt qua tình yêu thiên nhiên, từ những cánh hoa tươi đẹp đến những cánh bướm bay lượn trên cành hoa mơn mởn trong thơ Trần Nhân Tông.
Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi.
(Kìa một đôi bướm trắng,
2 Tên một động ở xã Vũ Lâm huyện Yên Khánh, tỉnh Hà Nam cũ
Nhằm hoa phơi phới bay)
Một sáng, nhà thơ mở cửa sổ và bất ngờ nhận ra mùa xuân đã về, mang đến cảm xúc lâng lâng khó tả Mùa xuân đến một cách mơ hồ, với tiếng êm dịu không thể nhìn thấy hay nghe rõ Hình ảnh đôi bướm trắng bay quanh hoa làm nổi bật sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, khiến thi nhân cảm nhận được sự rạo rực của hoa và bướm Câu thơ năm chữ, giản dị và tĩnh lặng, chứa đựng sức xuân tươi tắn từ một tâm hồn trong trẻo Qua khung cửa sổ, hình ảnh đôi bướm bên hoa mở ra không gian rộng lớn, tràn ngập mùa xuân của tâm hồn yêu đời Điều này cho thấy thi nhân phải có tấm lòng gắn bó với đời sống dân dã mới có thể lắng nghe tiếng vang từ đất mẹ và tạo ra những vần thơ lay động lòng người.
Hình ảnh thiên nhiên trong đời thường tuy đơn giản nhưng lại thể hiện sự hài hòa tuyệt mỹ giữa con người và thiên nhiên Những bức tranh thiên nhiên này được miêu tả với vẻ tươi tốt, thanh tịnh, mang trong mình tâm hồn bình lặng của thi nhân.
II.2 Thiên nhiên biểu tượng.
Trần Nhân Tông, vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm, mang trong mình tư tưởng Phật giáo sâu sắc, điều này ảnh hưởng lớn đến thơ ca của ông Thơ của ông thể hiện cảm xúc của con người trước thiên nhiên, thể hiện sự siêu thoát và ý vị Thiền Khi lắng nghe từng bức tranh thiên nhiên trong thơ, người đọc cảm nhận được tâm hồn nghệ sĩ của Thiền sư, với những rung động nhạy cảm Trong bài thơ “Cung viên xuân nhật ức cựu”, Trần Thánh Tông miêu tả thiên nhiên yên tĩnh, với hoa sắc hồng, sắc tía rực rỡ trong một ngày xuân Cánh cửa cung khép hờ như chờ đợi ai đó, nhưng lối đi phủ đầy rêu cho thấy ít người qua lại, tạo nên không khí sâu lặng, khiến thi sĩ như trách hờn.
Cung môn bán yểm kính sinh đài Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai Vạn tử kinh hồng thiên lạn mạn Xuân hoa như hứa vị thùy khai?
“ Cửa ngõ lờ mờ dấu bụi rêu,
Chìm chìm ngày bạc vẻ đìu hiu. Đầy vườn rực rỡ hồng chen tía, Hoa khéo vì ai vẫn nở nhiều”.
Ngô Tất Tố đã khắc họa nỗi buồn của thi nhân khi nhìn cảnh vật xung quanh, gợi nhớ về hình ảnh của người xưa, có thể là người yêu hay tri kỷ Trong khi Trần Thánh Tông chỉ lướt qua nỗi nhớ, Trần Nhân Tông lại thể hiện nỗi buồn một cách trực tiếp và cụ thể hơn, nhấn mạnh đến hình ảnh của khách má hồng.
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng, Hoàng li bất ngữ oán Đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoạiHoa cảnh chi đầu tận hướng đông
“Tỉnh giấc, rèm nâng, ngó rụng hồng Hoàng anh im tiếng, giận Đông phong Lầu tây vô cớ, vầng dương lặng
Cả bóng hoa cành ngả hướng Đông”.
Nhân Tông, một vị Thiền sư, đã thấu hiểu nỗi oán hận của người con gái trong khuê phòng khi nhìn cảnh vật xung quanh Trong buổi sớm thức dậy, nàng mang nỗi buồn, dù thiên nhiên tươi đẹp đang rạo rực Cảnh vật như đồng cảm với tâm trạng của con người, và ông cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tả cảnh với sự tình tứ sâu sắc.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ Quế lãnh Thiềm hàn chỉ má hưu!
(Tảo mai _kì 1) ( Hằng Nga như biết đây hoa đẹp,
Quế lạnh, cung Thiềm, há mến ưa!)
Nhà thơ miêu tả cây mai nở hoa xuân, liên kết với hình ảnh chị Hằng, thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên lay động lòng người và cả khách tiên Qua đó, tác giả gửi gắm tâm tư, mong muốn người đọc tìm thấy cái chân thật trong bản thân, giữ tâm hồn trong sáng như những cánh hoa mai giữa cuộc sống bề bộn Hình ảnh hoa mai nở trong giá rét tạo nên một ý thơ đầy sáng tạo, phản ánh hồn Thiền nhân phong phú, phá chấp và vô ngã Bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông khắc họa rõ nét điều này.
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ, Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường
Móc rơi trên sân thu, hơi đêm trống không Tỉnh giấc tiếng chày nện không còn nghe thấy Trên chùm hoa quế, trăng vừa mọc).
Bài thơ mở đầu với không gian hẹp của đời sống thường nhật, sau đó mở rộng ra vũ trụ, gợi lên không khí hư không trong một đêm khuya tĩnh lặng Khoảnh khắc này giúp con người thanh lọc tâm tư, hòa nhập với sự trong trẻo của vũ trụ, và nghe được tiếng sương rơi Âm thanh nhỏ bé của tiếng sương chỉ có thể được nghe trong sự tĩnh lặng, và ngược lại, tĩnh mịch được nhận thức qua động Không gian bao la, khoáng đạt và tĩnh lặng càng tăng cường cảm giác về sự vô hạn của đất trời, biểu trưng cho cái "Không" của Thiền Tâm Thiền là sự trống không, bình đạm, trong trẻo, nơi thiên nhiên được nhìn nhận qua con mắt Thiền, vừa là ngoại cảnh vừa là tâm cảnh, phản ánh ý thơ tương đồng trong nhiều tác phẩm khác.
Dạ khí phân lương nhập họa bình
(Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ)
Khách khứ tăng vô ngữ
Tùng hoa mãn địa hương
(Mưa tạnh trời một màu biếc
Mặt ao lặng ánh trăng tỏa hơi mát).
( Đề Gia Lâm tự _ Trần Quang Triều)
Trong bài thơ Nguyệt, tác giả tạo ra một không gian giao cảm giữa thi nhân và người đọc, nơi mùi hương nhẹ nhàng lan tỏa mang theo thông điệp không lời, chạm đến tâm hồn con người Hình ảnh thiền nhân tỉnh dậy không phải do âm thanh thế tục mà là sự tỉnh giấc tự nhiên, thể hiện sự ngộ lẽ của thiền Sự hòa điệu giữa tâm hồn con người và thiên nhiên phản ánh sự trở về với bản thể, mang tính nhân văn sâu sắc.
Bài thơ thể hiện tư tưởng Thiền qua hình ảnh thiên nhiên bình dị, như ánh trăng chiếu sáng trên đóa mộc tê, tạo nên vẻ huyền diệu từ những điều bình thường Chỉ những ai có con mắt tinh tế mới có thể nhận ra vẻ đẹp của ánh trăng, không phải bằng cái nhìn tầm thường mà là từ sự thức tỉnh và ngộ đạo Nhà thơ mong muốn rằng, khi tách rời khỏi thời khắc tự nhiên, con người vẫn có khả năng nhận ra phật tính của mình và trở về với bản chất thực thụ Khi đó, tâm hồn sẽ mở rộng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh vật ở mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt là khi mùa xuân đến.
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì, Họa đường thiền ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
Thiên nhiên mang tính biểu tượng
“Chim nhởn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế Cùng tựa lan can nhìn núi mây”
Bài thơ miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân với hình ảnh khóm hoa dương liễu xanh mướt và tiếng chim hót nhẹ nhàng, tạo nên một không gian sống động Dưới mái nhà trạm, những áng mây như được vẽ lên, mang đến cảm giác an yên cho con người Người khách đến chơi không bận tâm đến chuyện đời thường, mà hòa mình vào thiên nhiên, thả hồn vào cảnh sắc tươi đẹp, cùng ngắm nhìn màu xanh ở chân trời từ lan can.
Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông không chỉ phản ánh những rung động sâu sắc của thi nhân mà còn mang vẻ đẹp yên lặng, khoáng đãng, gợi cảm và thơ mộng Cảnh vật thể hiện tâm trạng vui vẻ, bình lặng của nhà thơ, cho thấy sự hòa quyện giữa tâm hồn con người và vẻ đẹp hiện thực của thiên nhiên Qua đó, thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng triết lý phong phú, thể hiện sự phóng khoáng và đa dạng trong cảm xúc của thi nhân.
Hình ảnh ánh trăng trong thơ Trần Nhân Tông
Ánh trăng và ngoại cảnh
Ánh trăng là một phần không thể thiếu của thiên nhiên, gắn liền với các bố cục và màu sắc xung quanh Hình ảnh ánh trăng thường xuất hiện trong không gian rộng lớn, tạo nên sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa thiên nhiên và ánh sáng.
…“ Nguyệt bạc, vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng ” …
Ánh trăng chiếu sáng dòng Sông Thiền, dù sông có dài và rộng thế nào, ánh sáng vẫn đủ sức soi rọi mọi nơi Có lẽ nhà thơ lo ngại rằng dòng sông sẽ bị dao động và ô nhiễm, nên đã sử dụng sức mạnh kỳ diệu của ánh trăng để giữ cho sông Thiền luôn trong sạch Nguyễn Trãi cũng đã nhắc đến ý tưởng này trong tác phẩm của mình, với hình ảnh mãnh hổ trong rừng Thiền, biểu trưng cho sự mạnh mẽ và tĩnh lặng Ánh trăng không chỉ soi sáng mà còn mang lại sự bình yên cho thiên nhiên, tạo nên khung cảnh huyền ảo với sắc màu của ánh nguyệt bạc Khi ánh trăng xuất hiện rực rỡ, nó làm cho không gian trở nên rộng lớn hơn, khiến bóng hoa tràn ngập bên khung cửa, hòa quyện giữa đất trời.
“Nhất thiên như thủy, nguyệt như trú.
Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường”
(Nhị nguyệt thập nhất dạ)
Trời trong như nước, trăng vằng vặc, Giấc mộng xuân dài dưới bóng hoa.
(Đêm mười một tháng hai_Trần Lê Văn dịch )
Trăng trong thơ Trần Nhân Tông được khắc họa với sự tinh khiết và hữu tình, luôn tỏa sáng rực rỡ bên cạnh cỏ cây, hoa lá Ánh trăng không chỉ đơn thuần là hình ảnh mà còn lan tỏa, hòa quyện vào cảnh vật, tạo nên một không gian thơ mộng và đầy sức sống.
“Nhất thiên như thủy, nguyệt như trú” - một hình ảnh so sánh khá đắt, Nhân
Tông sử dụng hình ảnh nước để biểu hiện bầu trời và ánh trăng, tạo nên sự liên kết giữa ban ngày và ánh sáng của trăng Khi bầu trời trong veo và ánh trăng rực rỡ như ban ngày, điều này thể hiện một nguồn sáng không ngừng tỏa ra Câu thơ “Trời trong như nước, trăng vằng vặc” mang đến cho người đọc cảm giác viên mãn và hòa quyện với niềm vui bất tận trong tâm hồn của thi nhân.
Trong thơ Trần Nhân Tông, ánh trăng thường chiếu sáng những cảnh vật tĩnh lặng, hẻo lánh và bí ẩn, xa rời cuộc sống xung quanh Dù có sự hiện diện của con người, họ cũng thường lặng lẽ, tìm cách ẩn mình, rút lui khỏi ánh trăng để giữ lại không gian yên tĩnh cho riêng mình.
“ Trai đường giảng hậu tăng quy viện”.
Họ là những cao tăng với tu hạnh thâm sâu, luôn giữ tâm bình thản trước mọi sự việc Tuy nhiên, sự tĩnh lặng của họ lại làm cho cảnh vật trở nên sống động, ánh trăng dường như cũng chuyển động theo nhịp sống của họ.
“Giang quán canh sơn nguyệt thượng kiều”.
Trăng của vua Trần Nhân Tông phản ánh sự hòa hợp với thời gian vũ trụ, luôn đúng hẹn và đúng giờ Quan trọng hơn, ánh trăng trong thơ của đức Phật Hoàng mang đến cho con người cảm giác phiêu diêu, tự do trong không gian bao la của trí tuệ Hình ảnh ánh trăng hiện lên rộng lớn và kỳ vĩ giữa thiên nhiên tươi đẹp, tạo nên một cảm xúc sâu lắng và thi vị.
Ánh trăng và con người
Trong Hạnh Thiên Trường hành cung, ánh trăng xuất hiện qua cái nhìn của Thánh Tông thượng hoàng là hình ảnh:
“Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự”
Ánh trăng “vô sở sự sự” chiếu sáng con người “vô sở sự sự”, thể hiện sự hòa quyện giữa tâm hồn con người và ánh trăng Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông cũng phản ánh sự tương đồng này, tạo nên một bức tranh tĩnh lặng và sâu lắng.
Thi nhân cảm nhận thiên nhiên một cách gần gũi, giữa nỗi sầu nặng trĩu, chén rượu như làm dịu đi nỗi buồn Cảm giác đậm đà lan tỏa trên chiếc chiếu trúc trải sẵn, tạo nên khoảnh khắc an lạc cho khách thơ.
Hoan bá kiêu sầu phong vị trường, Đào sinh, trúc đạm ổn long sàng.
Nhất thiên như thủy, nguyệt như trú, Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường.
(Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ)
Rượu tưới sầu tan, vị đậm đà, Giường rồng, chiếu trúc trải bày ra.
Trời trong như nước, trăng vằng vặc, Giấc mộng xuân dài dưới bóng hoa.
Ánh trăng không chỉ tác động đến con người mà còn làm cho ngoại cảnh trở nên lung linh, khiến vũ trụ rung động Những cánh hoa cũng trở nên sống động, rung rinh và phản chiếu ánh sáng, tạo nên những hình ảnh đa dạng Tại đây, chúng ta bắt gặp hình ảnh của vị Thái thượng hoàng trong tác phẩm "Cư trần lạc đạo phú".
Mình ngồi thành thị Nết dùng sơn lâm Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính
3 Từ điển Hán Việt Thiều Chửu – tr.29 Nxb Đà Nẵng.
Nửa ngày tự tại giữa thành phố, tâm không dính mắc vào tham ái và thị phi, giống như sống trong rừng núi Nếu tâm không bị xô bồ bởi ngoại cảnh, ta vẫn có thể tìm thấy sự bình yên giữa đô thị Ngược lại, nếu lên núi mà vẫn nhớ về thành phố, thì có thực sự là sống ở núi rừng? Khi tất cả nghiệp chướng lắng xuống, tâm sẽ an nhàn “Nửa ngày rồi” ám chỉ thời gian rảnh rang, ngay cả khi làm Thái Thượng Hoàng, cũng chỉ có nửa ngày để hướng dẫn và chăm sóc dân chúng.
Khi lòng tham được dừng lại, giá trị của châu ngọc sẽ không còn quan trọng Châu yêu, ngọc quý chỉ có giá trị khi con người còn khao khát sở hữu Khi lòng tham đã vơi đi, châu và ngọc trở thành những vật vô tri, không còn ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng ta.
Ánh trăng sáng tỏ như dòng sông mênh mông, thể hiện sự tràn ngập của Thiền đạo trong cuộc sống Cụm từ “Nguyệt bạc” trong bài thơ gợi nhắc con người trở về với bản thể thiện lành và phật tính vốn có trong mỗi người Điều này mang lại cho người đọc cảm giác an lạc, vô ưu và trong sáng, giúp họ thoát khỏi những lo âu thường nhật.
Thơ Trần Nhân Tông thể hiện sự hòa quyện giữa sơn lâm và thành thị, giữa nhập thế và tiêu dao, với nhịp điệu vận động linh hoạt Tác phẩm không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của con người “sát thát” mà còn khắc họa sự thanh tĩnh, sâu lắng của những con người vô ngôn trong cuộc sống.
4 Dầu: tha hồ ( Chú thích Tuyển thơ các vua Trần tr 147 Hội VHNT Nam Hà).
5 Mặt trăng, bầu trời ( Chú thích Tuyển thơ các vua Trần tr 147 Hội VHNT Nam Hà).
6 Sông Thiền ( Chú thích Tuyển thơ các vua Trần tr 147 Hội VHNT Nam Hà).
Trước vẻ đẹp bao la của thiên nhiên, con người Thiền tìm thấy sự thanh thản, quên đi mọi lo âu Hình ảnh ánh trăng khi nhà vua lên núi Bảo Đài, qua rặng trúc ở Yên Tử, mang đến một cái nhìn mới mẻ Nhà thơ như hòa mình vào vũ trụ, khám phá cõi không thực và cõi Chân Như: Địa tịch đài du cổ, Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận, Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy, Bách niên tâm ngữ tâm. Ỷ lan hoành ngọc địch, Minh nguyệt mãn hung khâm.
“Đất vắng, đồi thêm cổ, Ngày qua, xuân chửa nồng.
Gần xa, mây núingất,, Nắng rợp, ngõ hoa lồng.
Muôn việc nước trôi nước, Trăm năm lòng nhủ lòng.
Tựa hiên, nâng sáo ngọc, Đầy ngực, ánh trăng trong.”
7 Có lẽ là một ngọn núi thuộc dãy Yên Tử ( Chú thích Tuyển thơ các vua Trần tr 70 Hội VHNT Nam Hà).
Cảnh vật xung quanh yên tĩnh và vắng vẻ, không có quần thần hay đội ngũ ngự lâm hộ vệ, chỉ còn lại vẻ đẹp trang nghiêm của đền cổ “đài du cổ” Trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, ánh trăng chiếu rọi, tạo nên một không gian huyền bí và thơ mộng, chỉ có thi nhân hiện diện.
Cảm hứng thơ tươi tắn lan tỏa qua từng bước chân nhẹ nhàng giữa mây, núi, lá và hoa, tạo nên không gian đầy vẻ đẹp và sự vô thường của vạn vật, trong khi vẫn giữ được bản thể vĩnh cửu.
Con người lặng lẽ đón nhận ánh trăng, mang đến cho thơ ca một nguồn cảm hứng và mở rộng cảm xúc vô hạn Trong những khoảnh khắc ấy, con người như được thăng hoa, thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống Tinh thần nhân văn trong thơ Trần Nhân Tông nhẹ nhàng hiện lên giữa vũ trụ bao la, thể hiện khát vọng tìm kiếm một lối sống đẹp, sống cho hiện tại và cho cuộc đời Ánh trăng tỏa sáng một cách im lặng, khiến nghệ sĩ chỉ cần "hoành ngọc địch" mà không cần thổi sáo Hoàng đế tôn trọng ánh trăng và cảm nhận được sự vô cơ của nó, trong khi ánh trăng hòa quyện vào nội tâm của thi sĩ, gợi ra cảm giác vắng lặng và trong trẻo.
Và khi vừa ngắm trăng, nhà thơ lại suy ngẫm:
Vạn sự thủy lưu thủy Bách niên tâm ngữ tâm
Trăng không chỉ là cầu nối cho những tâm hồn đồng điệu trong khoảnh khắc nhất định, mà còn là phương tiện để đối thoại giữa các sự kiện của hiện tại và quá khứ.
“ Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung
Như kim kham phá đông hoàng diện, Thiền bản bồ đoàn, khán trụy hồng ”.
Ngô Tất Tố dịch thơ:
Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng Chúa xuân nay đã thành quen mặt Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng
Trần Nhân Tông, từng ở đỉnh cao quyền lực và vinh quang, đã có thể từ bỏ mọi thứ để tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn Qua những mùa xuân trong cuộc đời, ông không rơi vào sự say mê cực đoan mà thay vào đó, phát triển một cái nhìn tĩnh lặng và điềm đạm, giúp ông hiểu rõ lẽ biến diệt của tự nhiên và tạo hóa.
Tuổi trẻ thường đầy ắp khát khao và niềm vui khi mùa xuân đến, nhưng khi đã hiểu rõ bản chất của cuộc sống, con người sẽ nhận ra vẻ đẹp thật sự của mùa xuân không còn mang lại niềm vui như trước Thay vào đó, họ tìm thấy sự bình yên trong việc ngắm nhìn hoa rơi, thể hiện sự tĩnh lặng trong tâm hồn.
Trần Nhân Tông đang thưởng thức vẻ đẹp của ánh trăng trong “Nguyệt” với tâm hồn thanh tịnh, đứng trên mảnh đất Dà Lam, hoàn toàn không bị chi phối bởi những lo toan của cuộc sống hay ảnh hưởng từ bên ngoài.
Tư tưởng Phật giáo
Thiền tông chủ trương đốn ngộ, tức là giác ngộ bất ngờ không cần qua ngôn ngữ hay giảng truyền Điều này thể hiện rõ trong chất “Vô Ngôn” của thơ Trần Nhân Tông, người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Thiền.
Trần Nhân Tông, một nhân vật lịch sử quan trọng, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Phật giáo, từ thời điểm ông lãnh đạo đất nước cho đến khi trở thành Thiền sư Tâm hồn ông luôn tràn đầy sự "đốn ngộ", cởi mở và phá chấp, điều này thể hiện rõ trong thơ ca của ông, mang đậm chất Thiền Hình ảnh ánh trăng trong thơ của ông, khác biệt so với các nhà thơ khác, phản ánh sự ảnh hưởng không thể phủ nhận của tư tưởng Phật giáo.
Thơ Trần Nhân Tông phản ánh sâu sắc đời sống tâm hồn con người, thể hiện sự hòa hợp giữa tu hành và cuộc sống trần thế Dù là vua, tướng hay nhà sư, ông vượt ra ngoài những giáo điều khô khan để tạo nên một tinh thần khai phóng, cởi mở Những bài thơ của ông vừa siêu thoát vừa gần gũi, mang lại giá trị cho cuộc sống mà không vi phạm giáo lý nhà Phật.
“Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả uổng công
…Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông”
( Cư trần lạc đạo phú)
Tinh thần khai phóng trong tư tưởng “hòa quang đồng trần” không chỉ hiện hữu trong “Cư trần lạc đạo” mà còn phổ biến trong thơ thiên nhiên của Trần Nhân Tông Tư tưởng này nhấn mạnh con người với trí tuệ siêu việt, có khả năng tự mình “xung thiên khí” và “bùng nổ giác ngộ tâm Phật” một cách độc lập Con người sống tự nhiên, tùy duyên, không dính mắc, ung dung và tự tại Trong mối giao cảm vô biên giữa chủ thể và khách thể, mọi thứ hòa quyện trong ánh trăng, biểu trưng cho sự trong sáng và thuần khiết của vật chất và tâm hồn Hình ảnh ánh trăng luôn gắn liền với tư tưởng giác ngộ và đạt đạo của người có trí tuệ bát nhã siêu việt.
…Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ…
“Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết
Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương”
Trong khoảnh khắc ấy, thiên nhiên hiện ra một cách rõ ràng và rạng rỡ, sẵn sàng chào đón những tâm hồn yêu thơ Hình ảnh thi nhân hòa quyện vào cảnh sắc tươi đẹp của đất trời, khiến con người tạm gác lại những lo toan đời thường, từ công danh đến địa vị Ngay cả thiền gia cũng quên đi khái niệm tìm cầu hay giải thoát Lúc này, chỉ còn lại tâm hồn của nhà thơ hòa quyện với vạn vật, tạo nên sự bình đẳng và chan hòa Dư âm cuối cùng là cảm giác thư thái tuyệt diệu, một tâm hồn sống trọn vẹn trong khoảnh khắc ấy.
Hình ảnh của trăng mang đến sự thanh đạm và nhẹ nhàng, khác hẳn với sự nóng bức của mặt trời ban ngày Trăng xuất hiện vào ban đêm, tỏa ra ánh sáng mát dịu và tao nhã, giúp làm sạch tâm hồn con người và kết nối họ với bản thể của chính mình.
“ Cửu Than minh nguyệt hữu long lai”
(Tây chinh đạo trung) Trăng sáng rồng về bãi cửu than
8 Năm Trùng Hưng thứ 6 (1290) Trần Nhân Tông đem quân đánh biên giới phía Tây.
Trần Nhân Tông thường sử dụng hình ảnh ánh trăng trong thơ Thiền của mình, không phải ngẫu nhiên, mà vì ánh trăng tượng trưng cho sự khai sáng và giác ngộ trong tư tưởng Phật giáo Hình ảnh “nguyệt bạc” tỏa sáng như ban ngày, gợi lên cảm hứng Thiền và làm cho không gian trở nên lung linh huyền diệu Nó vừa mang tính tả thực, vừa chứa đựng bút pháp ẩn dụ độc đáo, thể hiện sự bừng sáng về trí tuệ giữa không gian bao la Lúc này, tâm con người được giác ngộ một cách trọn vẹn, và ánh sáng vầng trăng trở thành thứ ánh sáng huyền diệu trong tâm thức của người đang trên con đường giác ngộ.
Sống theo đúng nghĩa của tùy duyên giúp ta an nhiên và nhận ra ánh sáng của cuộc đời Để đạt được điều này, cần chứng nghiệm từ bản thân mà không phụ thuộc vào giác ngộ của người khác Đây là cơ hội để khuyến khích những ai muốn tự thức tỉnh và khai thị tư tưởng Làm người, chúng ta có khả năng suy ngẫm và quan sát cảm xúc như giận dữ hay ghen tuông Khi cảm thấy lộn xộn hay tức giận, hãy kiên nhẫn quan sát, vì những trạng thái này luôn thay đổi và không bền vững.
Vô thường và khổ đau là những đặc tính vốn có của cuộc sống Để nhận thức rõ ràng về chúng, ta cần sự thấu hiểu từ tâm thức Thiền là một phương pháp hiệu quả giúp ta nhận ra và chấp nhận những điều này.
Thiền không chỉ là một khái niệm, mà là hành động thực tiễn Để hiểu rõ giá trị của Thiền, con người cần sống một cách trọn vẹn và đầy ý nghĩa, để cảm nhận ánh sáng của Thiền trong cuộc sống hàng ngày.
Minh nguyệt mãn hung khâm …
…và nhiệm vụ của mỗi chúng ta là hãy cố gắng lay mình tỉnh dậy, xua tan những cơn say dài mộng mị, mà “thụy khởi”:
Bán song đăng ảnh, mãn sàng thư Lộ trích thu đình, dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ
Vẫn âm vang sự huyền diệu, thấm đẫm ánh sáng của Thiền cảm, vẫn là cái
Thiền nhân thường không thể diễn đạt trọn vẹn cảm xúc của mình bằng lời nói, vì ngôn từ hữu hạn không thể nào nắm bắt được cái vô và cái không tuyệt đối của bản thể Những cảm xúc chân thật không thể bị giới hạn trong vài trang giấy hay dòng chữ vô tri Trong bài viết này, tác giả sẽ mượn ngôn từ để khám phá hình ảnh ánh trăng trong thơ Trần Nhân Tông và thơ văn của ông nói chung.
Những tác phẩm thơ văn đẹp thường mang trong mình nội dung sâu sắc, thể hiện giá trị thẩm mỹ kết hợp giữa nghệ thuật và ý nghĩa Trong thơ Trần Nhân Tông, ta cảm nhận một con người lặng lẽ, vì ngôn ngữ hữu hạn không thể diễn đạt chân lý vô cùng Thơ ông vừa miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên vừa chiêm nghiệm cuộc sống, thể hiện sự thâm trầm qua hình ảnh “đứng tựa lan can cầm ngang sáo trúc” để đón nhận “trăng sáng tràn cả ngực” Nghệ thuật vô ngôn của ông cho phép người đọc cảm nhận sâu sắc mà không cần phân tích logic từ ngữ, tạo nên sự kết nối giữa nội dung và nghệ thuật Trần Nhân Tông mang trong mình tinh thần thực tiễn, táo bạo và nhân văn, khiến cho các thi phẩm của ông, đặc biệt là những tác phẩm có hình ảnh ánh trăng, luôn tỏa sáng và trong trẻo trong tâm hồn người đọc.
Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca thể hiện sự giao hòa giữa thực tại và tâm hồn thi nhân, mang đến cảm nhận về những đóa hoa tuyệt mỹ và vầng trăng cao nhã, đầy ý nghĩa, tạo nên không gian thanh bình và an nhiên.
Trăng là hình ảnh của bồ tát, mang đến vẻ đẹp thanh khiết cho mọi người, dẫn dắt những tâm hồn yêu thích cái đẹp và đạo đức Vẻ đẹp của trăng không bị ảnh hưởng bởi những dục vọng trần tục hay tội lỗi, mà là biểu tượng của sự huyền bí và ánh sáng tinh khiết Trăng thể hiện lòng từ bi, mang đến sự dịu dàng và an ủi cho chúng sanh, đồng thời cũng là sự hỉ xả, trao tặng giọt nước mát của chân mỹ rồi lặng lẽ rời đi, không bận tâm đến những điều phù du của cuộc sống.
Trăng luôn mang đến sự bình đẳng và rộng lượng, không phân biệt hay lo lắng về việc tình cảm của mình sẽ đến với ai và có được đón nhận hay không.