1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH tại địa bàn huyện đăk hà tỉnh kon tum

123 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 898,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

doanh nghiệp nâng lương bừa bãi cho người lao động trước khi về hưu để được hưởng trợ cấp hưu trí cao hơn.” Nguồn internet Hoạt động chi trả các chế độ là một nhiệm vụ quan trọng của Ngà

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dung bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tá g ả luận văn

Vũ T ị Hương G ng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7 Sơ lược tài liệu chính sử dụng trong nghiên cứu 6

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 7

9 Bố cục luận văn 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 11

1.1 KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 11

1.1.1 Một số khái niệm 11

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH 20

1.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH 21

1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 23

1.2.1 Lập dự toán chi các chế độ BHXH 23

1.2.2 Tổ chức thực hiện chi các chế độ BHXH 27

1.2.3 Công tác quyết toán chi các chế độ BHXH 33

1.2.4 Kiểm tra, giám sát công tác chi trả các chế độ BHXH 34

1.2.5 Xử lý vi phạm pháp luật về công tác chi trả các chế độ BHXH 35

Trang 5

1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội 37

1.3.2 Hệ thống pháp luật, quy định về BHXH 38

1.3.3 Đối tượng hưởng chế độ BHXH 39

1.3.4 Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH 40

1.3.5 Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN ĐẮK HÀ, TỈNH KON TUM 43

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, KINH TẾ 43

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43

2.1.2 Đặc điểm xã hội 44

2.1.3 Đặc điểm kinh tế 47

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH TẠI HUYỆN ĐẮK HÀ 50

2.2.1 Thực trạng lập dự toán chi các chế độ BHXH 50

2.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chi các chế độ BHXH 54

2.2.3 Thực trạng công tác quyết toán chi các chế độ BHXH 75

2.2.4 Thực trạng kiểm tra, giám sát công tác chi các chế độ BHXH 78

2.2.5 Xử lý vi phạm trong công tác quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH 79

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 80

2.3.1 Thành công và hạn chế 80

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 83

Trang 6

CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN ĐẮK HÀ 87

3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 87

3.1.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về bảo hiểm xã hội 87

3.1.2 Mục tiêu phát triển của Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum 90

3.1.3 Một số phương hướng chủ yếu hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ trên địa bàn huyện Đắk Hà 92

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH TẠI HUYỆN ĐẮK HÀ, TỈNH KON TUM 94

3.2.1 Hoàn thiện lập dự toán chi trả các chế độ BHXH 94

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức chi trả các chế độ BHXH 95

3.2.3 Hoàn thiện quyết toán chi trả các chế độ BHXH 98

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát chi trả các chế độ BHXH 99

3.2.5 Tăng cường xử lý vi phạm về công tác quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH 100

3.2.5 Các giải pháp khác 101

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 105

3.3.1 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 105

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum 106

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107

KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 7

Từ v ết tắt Ng ĩ t ếng v ệt

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số ệu

2.1

Tình hình dân số của huyện Đăk Hà qua các năm 2014 –

2.2

Tình hình dân số của huyện Đăk Hà qua các năm 2014 –

Số lao động có việc làm trong tuổi lao động theo ngành tại

2.8

Tốc độ tăng trưởng kinh tế - giá trị sản xuất các ngành

giai đoạn 2015 - 2018 của huyện Đăk Hà theo giá so sánh

Trang 9

Số ệu

2.12

Tình hình lập và thực hiện dự toán chi bảo hiểm xã hội tại

Tình hình thực hiện các hình thức chi trả BHXH tại huyện

2.18

Tình hình thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm

xã hội qua tài khoản cá nhân tại huyện Đắk Hà các năm

Số tiền chi trả chế độ MSLĐ, Tử tuất và TNLĐ-BNN tại

2.23

Số tiền chi trả chế độ BHXH một lần tại huyện Đắk Hà

Trang 10

Tình hình thực hiện thanh tra, kiểm tra tại Bảo hiểm xã

hội huyện Đắk Hà qua các năm 2015-2018 83 3.1

Tiêu chuẩn phân biệt phẩm chất và năng lực của một

CCVC ngành BHXH thông qua tinh thần phục vụ 100

Trang 11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số ệu

1.1 Mối quan hệ giữa chính sách BHXH và chính sách

2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH huyện Đăk Hà 56 2.2 Quy trình chi trả các chế độ BHXH hàng tháng 64 2.3 Quy trình chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn 65 2.4 Quy trình chi trả các chế độ BHXH một lần 67

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số ệu

2.1 Đối tượng hưởng chế độ BHXH tại huyện từ năm 2015

Trang 12

M Ở ĐẦU

1 Tính c ấp t ết ủ đề tài

Mục tiêu của quỹ BHXH là để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), là sự đảm bảo thay thế hay bù đắp một phần thu nhập của người lao động (NLĐ) khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp phàn nào

đó của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữa những người lao động tham gia

Hoạt động chi trả các chế độ là một nhiệm vụ quan trọng của Ngành, góp phần thực thi chính sách an sinh của Đảng và nhà nước đối với người lao động

Người lao động muốn có thể được hưởng quyền lợi từ nguồn BHXH thì

họ phải có nghĩa vụ đóng góp theo các phương thức thích hợp bắt buộc hay tự nguyện, ít chế độ hay nhiều chế độ BHXH, thường xuyên và đều đặn trong những tháng, năm còn đang ở tuổi lao động Quyền lợi phải phù hợp với mức đóng góp và thời gian đóng góp của từng người lao động theo quy định của pháp luật Vì thế, muốn tạo ra được một nguồn tài chính ổn định cho quỹ, cần

có sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và của Nhà nước

Do vậy, những đơn vị sử dụng lao động trốn tránh nghĩa vụ đóng góp, phải xử

lý thật nghiêm túc Vì họ trốn tránh nghĩa vụ không những làm tổn thất đến quyền lợi của người lao động, mà còn gây ra bất bình đẳng với các đơn vị sử dụng lao động thực hiện nghiêm túc

“Thực hiện nguyên tắc này sẽ xoá bỏ được bao cấp trong chế độ nó tạo

ra sự bình đẳng giữa người lao động trong các thành phần kinh tế, tạo ra khả năng cân đối thu, chi quỹ BHXH, xoá bỏ được sự thiếu trách nhiệm của các

Trang 13

doanh nghiệp nâng lương bừa bãi cho người lao động trước khi về hưu để được hưởng trợ cấp hưu trí cao hơn.” Nguồn internet

Hoạt động chi trả các chế độ là một nhiệm vụ quan trọng của Ngành, góp phần thực thi chính sách an sinh của Đảng và nhà nước đối với người lao động Và không mang tính chất kinh doanh mà mang tính chất hỗ trợ bảo hiểm Nhận thức được điều đó, thời gian qua tại BHXH huyện Đăk Hà đã rất quan tâm đến công tác quản lý chi trả các chế độ trên địa bàn huyện Đăk Hà Trong năm 2018 đã chi trả cho các đối tượng dài hạn và ngắn hạn, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và chi tận tay cho đối tượng hưởng thụ Đã chi trả cho trên 2.604 người hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, chế độ một lần với

số tiền trên 93,3 tỷ đồng; 711 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe với số tiền trên 4,4 tỷ đồng; 1.469 lượt người hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp với số tiền trên 3,7 tỷ đồng Với các nguyên tắc công bằng, có đóng mới có hưởng, chia sẻ nhưng phải đảm bảo bền vững tài chính Trong khi đó một bộ phận doanh nghiệp nhân cơ hội này luồn lách, làm trái quy định pháp luật, gây thiệt hại quyền lợi của người lao động bằng cách đóng BHXH cho người lao động với mức lương tối thiểu Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí nhưng khiến người lao động chỉ được trả mức trợ cấp thấp khi nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Các đơn vị, doanh nghiệp chưa hiểu về chính sách Bảo hiểm thất nghiệp và quy trình giải quyết chế độ chính sách của hệ thống BHXH còn quá lỏng lẻo tạo nhiều khe hở cho người lao động và người sử dụng lao động có cơ hội chiếm dụng, vấn đề này chưa được quán triệt đầy đủ nên có nguy cơ quỹ hưu trí tử tuất mất cân đối trong dài hạn Trong khi đó chính sách về Bảo hiểm thất nghiệp nặng về giải quyết hậu quả khi người lao động thất nghiệp mà chưa chú ý thỏa đáng đến phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng thất nghiệp đến người lao động trên địa bàn

Trang 14

huyện Bởi vậy, việc quản lý nhà nước về công tác chi trả các chế độ là công việc cấp bách để đảm bảo quyền lợi của người tham gia, đảm bảo quỹ được

an toàn không thất thoát, cân đối quỹ, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà nước Đó là lí do tác giả chọn nghiên cứu đề tài:

“Quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH tại địa bàn huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum”

2 Mụ tiêu nghiên cứu ủ đề tài

và những nguyên nhân chủ yếu

+ Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn

3 Câu ỏ ng ên ứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu trong đề tài này cần thực hiện là:

- Nội dung, nguyên tắc và công cụ quản lý nhà nước về chi trả các chế

độ BHXH là gì?

- Thực trạng công tác quản lý nhà nước về chi trả các chế độ BHXH tại huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum được tổ chức, thực hiện những năm qua như thế

Trang 15

nào? Những thành công đạt được, hạn chế và nguyên nhân?

- Các giải pháp nào để hoàn thiện quản lý nhà nước về chi trả các chế

độ trên địa bàn huyện Đắk Hà tỉnh Kon Tum trong thời gian tới?

Các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong 5 năm tới

5 P ương pháp nghiên ứu

Để thực hiện được các mục tiêu trên, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp được thu thập dựa vào các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết của các địa phương và trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan tổ chức Các số liệu được tham khảo các báo cáo hàng tháng, hàng kỳ, hàng năm của BHXH huyện Đăk Hà trong giai đoạn 5 năm gần đây (2014 – 2018), báo cáo tổng kết hàng năm của BHXH Việt Nam

5.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin

- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm mô tả và

phân tích các tình huống trong quản lý chi trả các chế độ BHXH

Trang 16

- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để xử lý và

phân tích các con số của các hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của chúng trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Phương pháp này kết hợp với phân tích đồ họa đơn giản như các đồ thị mô tả dữ liệu, biểu diễn các dữ liệu thông qua đồ thị, bảng biểu diễn số liệu tóm tắt Chúng tạo ra được nền tảng để phân tích định lượng về số liệu về thực trạng quản lý chi trả các chế độ BHXH Để từ đó hiểu được hiện tượng và đưa ra quyết định đúng đắn và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở những kiến thức đã được

tích lũy về chi các chế độ BHXH, kết hợp với quá trình tham khảo tài liệu chuyên ngành, tạp chí BHXH để phân tích, đánh giá về lĩnh vực

- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chủ yếu trong phân tích

hoạt động quản lý chi trả để xác định xu hướng và sự thay đổi của các chỉ tiêu phân tích Để thực hiện được phương pháp này cần xác định số gốc để so sánh, xác định những điều kiện để so sánh và mục tiêu để so sánh Tìm ra những quy luật thay đổi trong quá trình quản lý chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn huyện Đắk Hà

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia am hiểu

về đề tài nghiên cứu

6 Ý ng ĩ o ọ và t ự t ễn ủ đề tà

- Về lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công tác chi trả các chế độ BHXH ở cấp huyện

- Về thực tiễn: Công tác quản lý chi trả và hoạt động chi trả của BHXH

là công tác có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người dân cũng như ảnh hưởng tới việc sử dụng kinh phí của BHXH một cách chính xác, hiệu quả Trong thực tế, nguồn quỹ bảo hiểm đang còn có sự phát triển chậm do người dân chưa ý thức được vai trò và lợi ích của BHXH, thì hoạt động quản lý chi

Trang 17

càng thể hiện được ý nghĩa quan trọng giúp nguồn quỹ BHXH được sử dụng một cách hiệu quả nhất Mà đội ngũ quản lý chi trả và chi trả trực tiếp hiện nay chính là BHXH cấp huyện, thị Từ đó cho thấy, công tác chi của BHXH cấp huyện, thị có vai trò thiết thực nhất trong việc thực hiện quy định của bảo hiểm trong hoạt động chi trả cho người được hưởng quyền lợi

7 Sơ lượ tà l ệu ín sử ụng trong ng ên ứu

- Giáo trình “Quản lý nhà nước về xã hội” Học viện Hành chính Quốc

gia [27], đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về xã hội, luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm bởi vai trò, tầm ảnh hưởng và sự tác động của nó liên quan đến mọi mặt của đời sống con người Giáo trình đã tiếp cận các thuật ngữ xã hội và quản lý nhà nước về xã hội dưới góc độ khoa học quản lý hành chính, hệ thống cái khái niệm, nội dung và phương thức quản lý nhà nước về xã hội

- Giáo trình “Bảo hiểm xã hội”, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân của

tác giả Nguyễn Văn Định (2012), Trang bị những kiến thức cơ bản về BHXH cũng như sự cần thiết, định nghĩa và bản chất của BHXH, đối tượng nghiên cứu và mối quan hệ giữa bảo hiểm với phát triển kinh tế xã hội; Trong giáo trình đã trình bày được những nội dung cơ bản về BHXH, BHYT cũng như Bản chất, đối tượng, tính chất và chức năng của nó; Quỹ BHXH, BHYT; Hệ thống các chế độ BHXH, BHYT Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường; vấn đề lý luận và thực tiễn để giải quyết các vấn đề có tính chuyên môn trong thực tiễn công việc

- Sách “Giáo trình Bảo hiểm xã hội” của Hoàng Mạnh Cừ và Đoàn Thị

Thu Hương (2011), Nhà xuất bản Tài chính [22], đã hệ thống những vấn đề

cơ bản về BHXH như những khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động này tại Việt Nam và thế giới, khái quát về quản lý nhà nước đối với BHXH, đưa ra các mô hình quản lý tại Việt Nam, sự cần thiết khách quan có

Trang 18

sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực này, cũng như hệ thống các văn bản

pháp quy trong lĩnh vực bảo hiểm

8 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu

Quản lý nhà nước về BHXH có ý nghĩa rất lớn trong quá trình tổ chức thực hiện ASXH cho mọi người Công tác quản lý nhà nước nhằm góp phần ổn định, phát triển hệ thống BHXH; góp phần củng cố lòng tin của nhân dân lao động vào cơ quan BHXH; từ đó góp phần nâng cao đời sống của người dân, ổn định kinh tế xã hội của đất nước Trên thế giới hiện nay, có một số tài liệu nghiên cứu liên quan đề cập đến vấn đề ASXH, trong đó nêu lên các chương trình ASXH hoặc BHXH mà các nước trên thế giới đang tổ chức thực hiện Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ nghiên cứu một cách tổng quan chung chung

mà không xem xét kĩ vào vấn đề công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH

Trong những năm qua, hoạt động BHXH ở nước ta đã được tổ chức thực hiện theo cơ chế mới Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nó, cụ thể:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH

bắt buộc khi thực hiện Luật BHXH” của Phạm Đỗ Nhật Tân (2007) [31] Từ

các ngồn thu bắt buộc đã hình thành ra các quỹ BHXH thành phần như là: quỹ chi trả chế độ hưu trí, tử tuất (gọi là quỹ dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (quỹ ngắn hạn) Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống được các quy định của Nhà nước về đối tượng thu, mức thu, cách thức vận hành và quản lý quỹ từ đó phân tích đánh giá thực trạng tình hình thu - chi quỹ này ở Việt Nam, từ đó đề tài đã đưa ra các dẫn chứng về những ưu điểm và những mặt hạn chế về việc duy trì

và mở rộng nguồn thu, sử dụng quỹ, điều kiện để hưởng các chế độ chính sách nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ, cân đối quỹ trong tương lai

- Đề tài khoa học: "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế

độ BHXH ở Việt Nam" năm 2010 do Ths Nguyễn Thị Chính làm Chủ nhiệm

Trang 19

Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở nước ta Đề tài đã tổng hợp, phân tích có hệ thống

về hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam Qua đó đã có những đánh giá xác đáng về hệ thống tổ chức chi trả các chế độ Đồng thời, nghiên cứu hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2003 đến 2008 về quy trình chi trả, phương thức chi trả, lệ phí chi trả, cơ sở vật chất phục vụ công tác chi trả… rút ra kết quả đạt được và một số vấn đề còn tồn tại Đề tài đã đưa ra các giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện hệ thống tổ chức chi trả; Đổi mới công tác lập kế hoạch chi trả; Hoàn thiện phương thức chi trả; Quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí chi trả; Tăng cường phương tiện phục vụ công tác chi trả; Kiện toàn công tác cán bộ; Tăng cường kiểm tra và thanh tra trong các khâu chi trả; Quản lý chặt chẽ chi trả các chế độ ngắn hạn; Tăng lệ phí chi trả và một số giải pháp khác Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến công tác quản lý đối tượng, chưa đi sâu nghiên

cứu các rủi ro có thể xảy ra khi công tác quản lý đối tượng không chặt chẽ

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác quản lý chi trả BHXH

trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” của Hoàng Thị Minh Hòa

(2012) [26], đã làm rõ được tầm quan trọng của công tác quản lý chi trả và trên cơ sở phân tích thực trạng công tác chi trả trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, từ đó đánh giá những hạn chế, tồn tại trong quá trình tổ chức công tác chi trả và quản lý chi trả; tìm ra những nguyên nhân và đã đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi trả trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Luận văn vẫn còn nặng về phân tích quy trình chi trả, chưa chú trọng về phân tích quản lý đối tượng

- Đề tài khoa học: “Đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam” năm

2015 của Ths Nguyễn Thị Hào làm Chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu đã đưa ra

Trang 20

khái niệm đảm bảo tài chính cho BHXH dưới góc độ kinh tế chính trị học và luận giải nội dung đảm bảo tài chính bao gồm các vấn đề: đảm bảo thu; đảm

bảo chi; đảm bảo duy trì sự cân đối và ổn định quỹ trong dài hạn; đảm bảo sự công bằng đối với các đối tượng tham gia Đề tài đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính cho BHXH bao gồm: mức độ bao phủ của hệ thống; mức độ tuân thủ; mức độ thụ hưởng của NLĐ phân theo loại chế độ, khu vực kinh tế và giới tính; mức độ bền vững về tài chính … Trên cơ sở những tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính cho BHXH, đề tài đã làm rõ những kết quả và những hạn chế về đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế

- Các bài báo được đăng tải trên các tạp chí, báo khoa học của ngành… Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động BHXH ở một số tỉnh trong cả nước (Đồng Nai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Tuyên Quang …), với nhiều góc độ khác nhau về cách tiếp cận, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các đề tài đó đã đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động của BHXH và có những liên quan nhất định đến công tác quản

lý chi trả các chế độ BHXH Tuy nhiên, có đề tài được thực hiện trước khi có Luật BHXH và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn thiện về công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH tại huyện Đăk Hà một

cách cập nhật và toàn diện Xuất phát từ lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Quản lý

nhà nước về chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và kiến nghị của mình nhằm hoàn

thiện quản lý công tác chi trả các chế độ BHXH tại huyện Đăk Hà, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

9 Bố ụ luận văn

Ngoài các phần: Mục lục, mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục các bảng biểu số liệu, luận văn được bố cục gồm

Trang 22

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN C Ơ BẢN CỦA QUẢN LÝ

N HÀ N Ư Ớ C V Ề CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 KHÁI QUÁT V Ề QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH

1.1.1 Một số á n ệm

a Bảo hiểm xã hội

- Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO: “ BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng

để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [11]

- Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế: “Là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”

- Theo Bộ Lao động: “Là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [43]

- “BHXH là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người

Trang 23

lao động làm công ăn lương trong xã hội” [43]

- Đó là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [23, tr.28-29]

- Và là biện pháp mà Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm, khi họ gặp phải những biến

cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [32, tr.14]

Từ các khái niệm trên cho thấy, BHXH có thể tiếp cận ở các góc độ khác nhau:

- Theo góc độ chính sách: “BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động

và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia”

- Theo góc độ tài chính: “Đó là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước”

- Theo góc độ thu nhập: “Là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập”

- Theo góc độ quản lý: “Là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội”

Nhìn theo nhiều góc độ trên, có thể định nghĩa chung nhất: “BHXH là sự

Trang 24

bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ

bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ” (Theo Điều 3.1

Luật BHXH số 58/2014/QH13) [30]

Từ các khái niệm trên cho chúng ta thấy được bản chất của BHXH là:

- Bản chất kinh tế: “Không phải là dịch vụ sản xuất mà nó là dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những khoản thu nhập bị mất của NLĐ khi gặp sự

cố trong cuộc sống”

- Là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội rất cao “Là sự san sẻ rủi

ro giữa tập thể NLĐ Qua đó cũng thể hiện rõ trách nhiệm xã hội giữa chủ SDLĐ với NLĐ, của NLĐ với nhau và sự quan tâm của Nhà nước tới sự cống hiến cho lợi ích xã hội của họ”

- Bản chất pháp lý: “là bản cam kết giữa cơ quan BHXH, người sử dụng lao động và NLĐ về trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên thông qua các quy định của pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về BHXH”

b Quỹ bảo hiểm xã hội

“Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước được nhà nước bảo hộ và đền bù, Quỹ này được quản lý theo cơ chế cân bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự biến động theo chiều hướng tăng lên hoặc thâm hụt Được hình thành từ đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu khác, sử dụng

để bù đắp, hoặc thay thế thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước” [32, tr.26]

Quỹ được hình thành và hoạt động tạo ra khả năng giải quyết những rủi

ro cho những người tham gia vì rủi ro được dàn trải cho số đông người tham

Trang 25

gia Khi có biến cố xã hội xảy ra như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh quỹ này cũng góp phần giảm chi ngân sách cho Nhà nước vì cũng đóng góp một khoản không nhỏ giúp Nhà nước thay cho cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, …

Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau:

- NSDLĐ đóng theo quy định của luật: Thông thường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị, doanh nghiệp NSDLĐ đóng góp một phần cho NLĐ sẽ giảm bớt mẫu thuẫn và tranh chấp giữa chủ

và thợ đồng thời sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ

- NLĐ đóng theo quy định của luật: NLĐ đóng góp một phần vào quỹ để dàn trải các rủi ro theo thời gian, và để dành dụm, tiết kiệm về sau bằng cách

là hưởng lương hưu hoặc hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra Vì vậy đòi hỏi nghĩa vụ và quyền lợi phải được thực hiện một cách chặt chẽ

- Hỗ trợ của nhà nước: Khi mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn và tranh chấp mà hai bên không thể tự giải quyết được thì Nhà nước thông qua các chính sách, pháp luật để điều hòa nhằm mục đích đảm bảo các hoạt động xã hội được diễn ra ổn định Và quỹ BHXH được nhà nước bảo hộ và đóng góp khi bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ xã hội

- Các nguồn thu hợp pháp khác: như các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng

hộ, lãi đầu tư nhàn rỗi, khoản nộp tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH

Quỹ được sử dụng chủ yếu cho hai nội dung: Chi trả các chế độ và chi cho hoạt động quản lý sự nghiệp BHXH Trong đó, nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm đại bộ phận trong việc sử dụng quỹ BHXH Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ban hành Công ước số 102 ngày 04 tháng 6 năm 1952 về quy phạm tối thiểu an

Trang 26

toàn xã hội, trong đó có quy định 9 chế độ trợ cấp, bao gồm: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hưu bổng); trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất

- Chi trả các trợ cấp: Đây là khoản chi chủ yếu của quỹ Tuỳ theo quy định của từng nước, các chế độ trợ cấp có thể khác nhau Tuy, có thể có các loại trợ cấp sau:

+ Các trợ cấp ngắn hạn: dùng để chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, BHYT, thất nghiệp; trợ cấp gia đình

+ Các trợ cấp dài hạn: dùng để chi trả các chế độ dài hạn như hưu trí; tử tuất, TNLĐ - BNN nặng;

Các trợ cấp này được xác định theo những căn cứ kinh tế - xã hội và các điều kiện sinh học của mỗi nước trong giai đoạn nhất định và được pháp luật quy định

- Chi phí quản lý BHXH: Đây là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của tổ chức, bao gồm:

+ Chi lương cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH;

+ Chi phí nghiệp vụ;

+ Chi nghiên cứu khoa học;

+ Chi phí hành chính (điện, nước, văn phòng phẩm, );

+ Khấu hao tài sản cố định;

+ Chi phí mua sắm, sửa chữa

- Chi phí đầu tư: khoản chi này để đảm bảo các hoạt động đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ được diễn ra bình thường và đạt hiệu quả cao Về mặt kế toán, khoản chi này có thể lấy trong tổng thu được từ lợi nhuận đầu tư

- Chi dự phòng: Đây là khoản dự trữ có thể phát sinh trong năm ngoài dự liệu

Trang 27

- Những chi phí khác có liên quan đến hoạt động BHXH

c Chi bảo hiểm xã hội

Chi BHXH là một trong những nhiệm vụ trung tâm và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành

“Chi bảo hiểm xã hội (thực chất là chi trả các chế độ BHXH) được hiểu

là việc cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan bảo hiểm xã hội) sử dụng số tiền thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho đối tượng thụ hưởng theo luật định”

“Hoạt động chi trả BHXH được thực hiện sau khi người tham gia đã hoàn thành nghĩa vụ nộp bảo hiểm cho cơ quan BHXH Nó vừa có vai trò thực thi quyền lợi của người tham gia vừa góp phần ổn định đời sống, đảm bảo ASXH”

Nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ cho người lao động được lấy

từ NSNN (đối với người lao động nghỉ hưởng BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 và thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước,

có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ) và Quỹ BHXH Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ:

- Phân phối quỹ: “là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH đến các quỹ thành phần”

- Sử dụng quỹ: “là quá trình chi tiền từ quỹ đến tay đối tượng thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể”

Chi BHXH là một nhiệm vụ quan trọng của ngành góp phần thực thi chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước đối với người lao động

d Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng cách hiểu chung nhất là:

"Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối

Trang 28

tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau” [27, tr.11]

Đối với hoạt động BHXH thì quản lý bao gồm quản lý đối tượng tham gia và đối tượng thụ hưởng, quản lý thu, quản lý công tác chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng

Theo quyết định 828/QĐ-BHXH, “Quản lý nhà nước về chi trả BHXH

là các hoạt động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chi trả các chế độ Các hoạt động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các

cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu chi đúng đối tượng, chi đủ số lượng và đám bảo đến tận tay đối tượng thụ hưởng đúng thời gian quy định”

Quản lý nhà nước về chi BHXH được hiểu là: “sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán,

tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế

độ BHXH nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định”

Khi nói tới chi BHXH là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan

hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động Trong các mối quan hệ trên thì người lao động và chủ sử dụng lao động là đối tượng quản lý Chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH các cấp

từ Trung ương tới địa phương Cơ quan quản lý ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh

Trang 29

Mục tiêu của quản lý chi BHXH là làm cho quá trình tổ chức chi trả chế

độ thông suốt, chi trả đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia và hưởng các chế độ ngày càng tốt hơn, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.1.2 Đặ đ ểm ủ quản lý n à nướ về trả á ế độ BHXH

Thứ nhất, nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động chi Các hoạt động chi và các chế độ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và do luật định Hoạt động của BHXH chịu sự quản lý và bảo hộ của Nhà nước và chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức công đoàn)

và người sử dụng lao động (thông qua tổ chức của giới chủ) theo cơ chế ba bên

Thứ hai, Mang tính chất đặc thù Khi người lao động tham gia BHXH sẽ được đảm bảo thu nhập (bảo hiểm) cả trong và sau quá trình lao động và được bảo hiểm cho đến lúc chết Như vậy khi còn làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con; người

bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; còn khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí (ở Việt nam còn gọi là lương hưu), khi chết thì được tiền chôn cất và gia đình được hưởng trợ cấp tuất

- Các chế độ bảo hiểm đi đôi với các rủi ro xã hội liên quan đến thu nhập của người lao động gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết Vì những rủi ro không may này mà người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng (còn gọi là mất việc làm, thất nghiệp), dẫn đến việc họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Vì vậy, người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để có thể ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH Tuy nhiên, điều này còn liên qua đến quyền và nghĩa

vụ của người lao động không phải người lao động cứ bị mất thu nhập bao

Trang 30

nhiêu là được bù bấy nhiêu Mà quyền và nghĩa vụ của người lao động được pháp luật BHXH quy định Đây là đặc trưng rất cơ bản của bảo hiểm xã hội

Thứ ba, gắn liền trực tiếp và có mối quan hệ mật thiết với chính sách BHXH và chính sách ASXH và các chính sách khác của Đảng và Nhà nước

Dưới góc độ cơ cấu, có thể mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội như sau:

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa chính sách BHXH và chính sách ASXH

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Chính sách BHXH có mối quan hệ qua lại và chịu ảnh hưởng bởi các chính sách xã hội khác Ví như ở sơ đồ trên khi chính sách dân số có sự thay đổi về mức sinh sẽ làm cho cơ cấu dân số thay đổi Chính vì điều này sẽ ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu của đối tượng tham gia và cả đối tượng hưởng thụ BHXH, và từ đó quy định các trợ cấp BHXH cũng bị ảnh hưởng Hệ quả của chính sách dân số là tạo ra xu hướng già hóa hoặc trẻ hóa vì vậy làm tăng lên hoặc giảm số người nghỉ hưu, vì vậy chính sách BHXH cũng phải điều

xã hội

CS trợ cấp gia đình

Các dịnh

vụ

xã hội công cộng

CS dân

số

Cs lao động việc làm

CS chăm sóc sức khỏe dân

Trang 31

chỉnh theo là tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu Cũng tương tự như vậy, chính sách BHXH và chính sách lao động - việc làm có mối quan hệ qua lại, vừa có mối quan hệ nhân quả Như khi chính sách tuyển dụng lao động được thực hiện tốt, người lao động có công ăn việc làm Ngược lại, khi chính sách lao động - việc làm không được thực hiện tốt, thì người lao động không có khả năng có việc làm dẫn đến không đóng BHXH làm tăng số người hưởng thất nghiệp, chính vì điều nay sẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với hệ thống BHXH Chính sách chăm sóc sức khỏe dân cư có mối quan hệ đặc biệt tới chính sách BHXH Khi người dân và người lao động được chăm sóc sức khỏe tốt, ít bị đau ốm, bệnh tật thì chi phí từ BHXH cho các trợ cấp ốm đau bệnh tật này sẽ giảm đi Ngược lại, khi tỷ lệ ốm đau của người lao động lớn, số tiền chi cho BHYT và trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH sẽ nhiều lên Đồng thời, khi chính sách chăm sóc sức khỏe người dân tốt làm tăng tuổi thọ của người dân; thì khi

đó, chính sách BHXH phải điều chỉnh như tăng thời gian đóng BHXH, tăng tuổi nghỉ hưu Mô hình ở trên còn thể hiện chính sách BHXH còn có mối quan hệ mật thiết với các chính sách KT-XH khác như chính sách tài chính quốc gia, chính sách xóa đói - giảm nghèo; chính sách tiền lương; chính sách phát triển doanh nghiệp

Trang 32

- Đối với người SDLĐ: Thực hiện tốt công tác quản lý chi cũng chính là góp phần đảm bảo ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp khi mà tâm lý NLĐ tin tưởng, nguồn tài chính thuận lợi, mối quan hệ người SDLĐ - NLĐ thêm bền chặt, uy tín và niềm tin về doanh nghiệp được củng cố

- Đối với hệ thống BHXH: Thực hiện tốt công tác quản lý chi là góp phần đảm bảo quản lý và tăng trưởng quỹ an toàn, không bị thất thoát, từ đó tăng được niềm tin, thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư, tài trợ, viện trợ vào phát triển quỹ Đồng thời, cũng góp phần tiết kiệm chi phí quản lý hành chính, chi phí đầu tư, góp phần cân đối quỹ

- Đối với hệ thống ASXH: Thực hiện tốt công tác quản lý chi là góp phần thực hiện tốt chính sách ASXH cơ bản nhất của quốc gia vào phát triển con người, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững

- Đối với xã hội: Thực hiện tốt quản lý chi góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vì đã đáp ứng được nhu cầu thiết thân nhất của con người, giúp cân đối ngân sách quốc gia trong trường hợp phải bù thiếu từ

đó số tiền nhàn rỗi trong quỹ và ngân sách sẽ được đầu tư vào những hạng mục thiết yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

1.1.4 Nguyên tắ quản lý n à nướ về chi trả á ế độ BHXH

Để quản lý nhà nước về chi trả các chế độ đúng theo quỹ đạo, đạt được mục tiêu, cần tuân thủ các nguyên tắc quản lý sau:

- Nguyên tắc có đóng - có hưởng

Theo nguyên tắc này, những người muốn được hưởng thụ từ quỹ thì đều phải tham gia đóng góp tài chính vào quỹ trong một thời gian nhất định Người được hưởng thụ các quyền lợi do cơ quan BHXH đảm bảo, hoặc họ trực tiếp đóng góp vào quỹ, hoặc được cá nhân hay tổ chức có trách nhiệm đóng góp vào quỹ theo quy định

Trang 33

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động BHXH nói chung và hoạt động quản lý chi nói riêng, nhằm đảm bảo duy trì và tồn tại nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động chi trả chế độ cho người tham gia Nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia là nguồn đóng góp quan trọng để có nguồn đảm bảo chi trả các chế độ

- Nguyên tắc chi đúng, đủ và kịp thời

Chi đúng là đúng đối tượng tham gia, đảm bảo nguyên tắc tham gia có đóng - có hưởng Thực hiện chi đúng cho đối tượng là đảm bảo sự công bằng trong hưởng thụ các chế độ, loại bỏ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng các chế độ

Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc của công tác quản lý chi trả Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng tham gia khi được hưởng trợ cấp bảo hiểm thì cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ các khoản trợ cấp Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu đối tượng tham gia đóng góp tài chính nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao, đóng góp ít thì được hưởng mức trợ cấp thấp, tỷ lệ thương tật cao thì được hưởng trợ cấp mức cao và ngược lại Khi đã xác định đúng tỷ lệ trợ cấp phải tổ chức chi trả

đủ số tiền cho người được hưởng Để thực hiện được yêu cầu này cần thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định tỷ lệ thương tật, bệnh tật đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng được hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả

Chi kịp thời là nguyên tắc thể hiện vai trò của BHXH trong việc ổn định cuộc sống cho đối tượng Muốn vậy, phải quy định rõ ràng thời gian chi trả

và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian đó Trên cơ sở quy định thời gian

đó, BHXH tổ chức các hình thức chi trả kịp thời, thuận lợi, không gây phiền

hà cho đối tượng

Để thực hiện được nguyên tắc chi đúng, đủ, kịp thời đòi hỏi trong bất kỳ

Trang 34

hoàn cảnh, điều kiện nào của nền kinh tế - xã hội thì quỹ BHXH cũng phải đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ cho những người được thụ hưởng

- Nguyên tắc tập trung, thống nhất, công bằng, công khai

Quỹ BHXH phải được quản lý tập trung không phân tán để điều hòa trong toàn quốc đảm bảo nhu cầu chi tiêu kịp thời cho các đối tượng hưởng chế độ Chính sách, chế độ chi được ban hành thực hiện thống nhất trong cả nước Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không có sự phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính, thành phần kinh tế Phải thực hiện chế độ công khai trong hoạt động chi, có sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan quản

lý Nhà nước và các tổ chức xã hội

- Nguyên tắc đảm bảo an toàn, tiết kiệm và hiệu quả

Nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ cho đối tượng được hưởng bảo hiểm phải được quản lý chặt chẽ, chi tiêu đảm bảo đúng tiêu chuẩn, chế

độ quy định, tiết kiệm và đạt được hiệu quả cao Đây cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết đặt ra với hoạt động quản lý chi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thất thoát, mất mát nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm cho quỹ BHXH

Quản lý chi trả các chế độ tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trên không những để quỹ BHXH tránh được thất thoát, đảm bảo nguồn lực chi trả, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia mà còn là động lực thúc đẩy niềm tin cho mọi người lao động tích cực tham gia BHXH ngày càng nhiều

1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ CÁC CHẾ

ĐỘ BHXH

1.2.1 Lập ự toán á ế độ BHXH

- Lập dự toán chi là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đối với

Trang 35

toàn bộ các khâu của quá trình quản lý chi BHXH Lập dự toán chi thực chất

là lập kế hoạch chi trong một năm Kết quả của khâu này là phải đảm bảo mục tiêu sẽ đáp ứng được việc tổ chức thực hiện chế độ chính sách của đơn vị

- Dự toán chi các chế độ BHXH là xác định kế hoạch chi trả các chế độ

do hai nguồn kinh phí (NSNN và Quỹ BHXH) đảm bảo để đủ nguồn chi trả hàng tháng cho các đối tượng hưởng Dự toán phải kèm theo thuyết minh về

sự biến động tăng, giảm đối tượng hưởng và các nội dung chi khác trong năm (nếu có)

- Xây dựng kế hoạch chi hằng năm của BHXH các cấp căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

+ Đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH

+ Dự báo tăng, giảm đối tượng hưởng BHXH trong năm đối với từng loại đối tượng cụ thể

+ Dự báo tăng kinh phí chi trả BHXH do Nhà nước điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu hoặc thay đổi chính sách tiền lương cho người hưởng trợ cấp BHXH

- Xác định đối tượng chi (đối tượng thụ hưởng)

Hàng năm căn cứ vào số đối tượng đang hưởng các chế độ có mặt đến cuối năm trước và chế độ được hưởng của từng loại đối tượng, BHXH Việt Nam phải lập dự toán chi cho các đối tượng để trình Hội đồng Quản lý thông qua và gửi Bộ Tài chính Bộ Tài chính kiểm tra và tổng hợp vào tổng dự toán NSNN để trình Quốc hội Căn cứ vào dự toán được Quốc hội phê chuẩn, hàng quý, Bộ Tài chính cấp kinh phí chi (phần do NSNN đảm bảo) cho BHXH Việt Nam để có nguồn kinh phí chi cho các đối tượng hưởng các chế độ Sau

đó, cấp kinh phí chi (cả 2 nguồn) cho các tỉnh, thành phố trực thuộc để chi đúng, đủ, kịp thời cho đối tượng hưởng

Đối tượng thụ hưởng là những người lao động và gia đình họ khi có phát

Trang 36

sinh BHXH, nghĩa là khi người lao động gặp các sự kiện bảo hiểm hoặc các rủi ro bảo hiểm thì mới được hưởng trợ cấp (các sự kiện và các rủi ro được bảo hiểm gồm: ốm đau; thai sản; TNLĐ-BNN; thất nghiệp; hưu; tử tuất), và được phân thành 2 loại:

+ Đối tượng hưởng chế độ hàng tháng (dài hạn): Gồm những người hưởng các chế độ hưu trí, TNLĐ-BNN, trợ cấp tuất

+ Đối tượng hưởng chế độ một lần (ngắn hạn): Gồm những người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phụ hồi sức khỏe, trợ cấp mai táng phí

và trợ cấp một lần

- Xác định mức chi (mức hưởng)

Các trợ cấp BHXH phải được xác định, xây dựng và phải tuân thủ theo những quy định của Luật BHXH, các văn bản hướng dẫn và phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc:

+ Mức trợ cấp phải bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động + Mức trợ cấp phải thấp hơn mức lương hoặc mức tiền công khi đang làm việc của người lao động một cách hợp lý

+ Phải dựa trên cơ sở mức đóng góp và thời hạn đóng góp Mức trợ cấp phải trên cơ sở tương ứng đóng góp

+ Mức trợ cấp phải phản ánh được nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Lợi ích phải kết hợp hài hòa giữ các bên tham gia

- Lập dự toán chi

+ Tại BHXH huyện: Hàng năm huyện lập dự toán chi cho đối tượng hưởng trên địa bàn huyện Trong năm thực hiện, nếu có phát sinh chi vượt kế hoạch được duyệt phải báo cáo, giải trình để BHXH tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo chi trả kịp thời cho đối tượng hưởng

+ Tại BHXH tỉnh: Dự toán chi được lập trên cơ sở tổng hợp dự toán chi

Trang 37

của các huyện và số chi trả trực tiếp tại Văn phòng tỉnh Trong năm thực hiện, nếu có phát sinh chi vượt kế hoạch được duyệt phải báo cáo, giải trình để BHXH Việt Nam xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo chi trả kịp thời cho đối tượng hưởng Sau khi nhận được dự toán chi của huyện gửi về, tổ chức thảo luận về dự toán chi năm kế hoạch với các đơn vị trực thuộc để rà soát các chỉ tiêu dự toán chi đảm bảo phù hợp với chính sách, chế độ theo quy định

Tổng hợp dự toán chi năm kế hoạch của đơn vị trình Giám đốc xem xét, quyết định; gửi BHXH Việt Nam Hàng năm hướng dẫn, tổ chức xét duyệt và thông báo dự toán kinh phí chi trả các chế độ cho các huyện; lập dự toán chi cho đối tượng hưởng trên địa bàn tỉnh

+ Vì quỹ được quản lý tập trung, thống nhất tại Trung ương, trong thời gian nhàn rỗi, quỹ được thực hiện các biện pháp đầu tư nên việc lập dự toán chi đúng đắn phải dựa trên các báo cáo về số đối tượng tăng, giảm và có mặt thường xuyên trong kỳ có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí kinh phí đầy

đủ, kịp thời cho quá trình chi trả

- Xét duyệt dự toán chi

+ Tại BHXH Việt Nam: Sau khi nhận được dự toán chi của các tỉnh gửi, xây dựng kế hoạch tổ chức thảo luận dự toán trình Lãnh đạo Ngành và tổ chức thực hiện sau khi phê duyệt; Tổng hợp kết quả thảo luận dự toán, báo cáo Lãnh đạo Ngành xem xét, quyết định; Thực hiện tổng hợp và lập dự toán chi hàng năm của toàn ngành và báo cáo Tổng Giám đốc xem xét, quyết định; trình Hội đồng quản lý thông qua và gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính,

Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

+ Sau khi được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định giao dự toán thu, chi, BHXH Việt Nam thực hiện phân bổ dự toán chi và hướng dẫn thực hiện

dự toán chi cho các tỉnh

+ Tại BHXH tỉnh: Trên cơ sở dự toán chi đã được xét duyệt, thực hiện

Trang 38

phân bổ dự toán chi cho các huyện dựa trên số dự toán của huyện đã được thông qua và có sự điều chỉnh hợp lý

1 2.2 Tổ ứ t ự ện á ế độ BHXH

a Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chi trả

BHXH là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

Và là tổ chức sự nghiệp có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các chế độ theo quy định của Nhà nước thông qua hệ thống văn bản pháp quy, với nhiệm

vụ chủ yếu quản lý các nghiệp vụ gồm: quản lý đối tượng, quản lý thu, quản

lý chi trả các chế độ cho NLĐ,

Cơ quan BHXH tổ chức chi trả các chế độ theo mô hình thống nhất từ trung ương đến địa phương, cơ quan ở Trung ương sẽ có trách nhiệm hướng dẫn, xét duyệt, cấp phát nguồn kinh phí để chi trả; còn cơ quan ở địa phương

sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho các đối tượng hưởng theo đúng chế độ, chính sách và quy định của nhà nước

Cơ quan BHXH ở địa phương tổ chức thực hiện chi trả có một Giám đốc

và các Phó giám đốc Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ thì có Giám đốc phụ trách tài chính, chuẩn bị ngân sách, điều hành công tác kế toán và kiểm soán nội bộ; Phó giám đốc phụ trách nguồn thu; còn một Phó giám đốc phụ trách mảng chính sách, giám định BHYT Theo đó sẽ hình thành các bộ phận chức năng như: bộ phận kế hoạch tài chính, bộ phận chế độ chính sách BHXH, bộ phận thu, bộ phận giám định BHYT

Đối với quản lý nhà nước về chi trả các chế độ tại BHXH cấp huyện, các

bộ phận chịu trách nhiệm chi gồm Bộ phận Kế toán Chi, chịu quản lý trực

Trang 39

tiếp của Giám đốc huyện Song song đồng hành cùng công tác quản lý chi còn có sự tham gia của các bộ phận như : Bộ phận TN&trả KQ, Bộ phận Kiểm tra nội bộ, Bộ phận Chế độ BHXH Các bộ phận này được quản lý bởi các Phó giám đốc BHXH cấp huyện theo sự phân cấp quản lý như sơ đồ 1.2 dưới đây

Quá trình thực hiện công tác quản lý cũng như công tác chi trả thì điều quan trọng nhất đó là sự gắn kết chặt chẽ giữa các bộ phận Như vậy, quá trình quản lý chi tại BHXH cấp huyện cần sự phối hợp của gần như toàn bộ các bộ phận trong cơ cấu tổ chức tại huyện Do vậy cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Giám đốc, các Phó Giám đốc quản lý các bộ phận trong việc trao đổi, kiểm tra kết quả làm việc của các bộ phận mà mình quản lý một cách hiệu quả

Sơ đồ 1.2 Tổ chức bộ máy BHXH cấp huyện

Nguồn: BHXH Việt Nam

Trang 40

hưởng

- Phân cấp đối tượng hưởng

+BHXH Việt Nam Chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, hướng dẫn việc quản lý người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng theo quy định của Luật BHXH, Luật An toàn, vệ sinh lao động (không bao gồm người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp)

+ BHXH tỉnh thực hiện quản lý người hưởng như sau:

* Chịu trách nhiệm toàn diện trong việc quản lý người hưởng lương hưu

và trợ cấp BHXH hàng tháng trên địa bàn tỉnh thuộc phạm vi quản lý

* Hàng tháng, tổng hợp dữ liệu người hưởng duyệt tăng mới, từ tỉnh khác chuyển đến vào phần mềm quản lý

* Giảm người hưởng trên danh sách chi trả do: chuyển đi tỉnh khác nhận chế độ BHXH; người hết thời hạn hưởng; người có quyết định thôi hưởng, dừng hưởng các chế độ BHXH, đồng thời giảm trên phần mềm quản lý

* Tạm dừng in danh sách chi trả đối với trường hợp quá 6 tháng liên tục không lĩnh lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng

+ BHXH huyện thực huyện quản lý người hưởng như sau:

* Chịu trách nhiệm quản lý người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng trên địa bàn huyện thuộc phạm vi quản lý

* Xét duyệt Giấy đề nghị truy lĩnh, tiếp tục nhận chế độ đối với trường hợp quá 6 tháng không nhận lĩnh đã tạm dừng in danh sách chi trả

* Tổng hợp các trường hợp giảm do: người hưởng chết; xuất cảnh trái phép; bị tòa án tuyên bố mất tích

* Tổng hợp người hưởng di chuyển: chuyển tổ chi trả trong cùng xã; chuyển xã trong địa bàn huyện; chuyển huyện khác trong tỉnh

* Tổng hợp người hưởng thay đổi phương thức nhận chế độ: Người hưởng lĩnh chế độ BHXH hàng tháng bằng tiền mặt chuyển sang lĩnh bằng tài

Ngày đăng: 09/06/2021, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w