infographic – với những ưu thế nổi trội trong việc cô đọng và truyền tải thông tin có thể được xem là một biện pháp dạy học mới, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ TH Ị TIỆP
ỨNG DỤNG INFOGRAPHIC TRONG
D ẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO
H ỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LU ẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ TH Ị TIỆP
ỨNG DỤNG INFOGRAPHIC TRONG
D ẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO
H ỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LU ẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN NGỮ VĂN
Mã s ố: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Hải Anh
HÀ NỘI – 2020
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong trường Đại học Giáo dục-Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị những tri thức chuyên môn quý giá cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS.Lê Hải Anh – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ hết sức tận tình trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Dù rất tâm huyết và cố gắng song nội dung của luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các đồng nghiệp xa gần để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Hà N ội, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Ngô Th ị Tiệp
Trang 5DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Những biện pháp sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn
bản thông tin ở trường THCS 33
Bảng 1.2 Những khó khăn của GV khi sử dụng infographic 34
Bảng 1.3 Những thuận lợi của GV khi sử dụng infographic 34
Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các công cụ trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở trường THCS 36
Bảng 1.5 Các thức sử dụng infographic của GV tại các trường THCS 36
Bảng 3.1 Thống kê mức độ hứng thú ở lớp đối chứng và thực nghiệm 77
Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm kiểm tra của học sinh lớp đối chứng và lớp
thực nghiệm (theo nhóm điểm và tỉ lệ %) 78
Bảng 3.3 Độ chênh lệch điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và đối chứng 78
Trang 6DANH M ỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Nhận thức của GV về infographic 30
Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng infographic của GV 31
Biểu đồ 1.3 Ưu thế của infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở trường THCS 32
Biểu đồ 1.4 Mức độ hứng thú của HS trong giờ học có sử dụng infographic32 Biểu đồ 1.5 Nhận thức của HS về infographic 35
Biểu đồ 1.6 Những hoạt động GV thường tổ chức trong dạy học khi sử dụng infographic 36
Biểu đồ 1.7 Mong muốn của HS khi GV sử dụng infographic dạy học Ngữ văn 37
Hình 2.1 Phiếu học tập văn bản Ôn dịch, thuốc lá 46
Hình 2.2 Infographic tuyên truyền phòng chống thuốc lá 48
Hình 2.3 Infographic trang bìa tác phẩm Ca Huế trên sông Hương 51
Hình 2.4 Infographic trang bìa Đấu tranh cho một thế giới hòa bình 52
Hình 2.5 Infographic trang bìa tác phẩm Ôn dịch, thuốc lá 52
Hình 2.6 Tờ rơi về Động Phong Nha (1 53
Hình 2.7 Tờ rơi về Động Phong Nha (2) 54
Hình 2.8 Infographic về tác hại của thuốc lá 54
Hình 2.9 Infographic Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử 57
Hình 2.10 Poster tuyên truyền hạn chế sử dụng túi nilon 58
Hình 2.11 Infographic diễn biến tâm lý nhân vật ông Hai 60
trong tác phẩm Làng ( Kim Lân) 60
Hình 2.12 Infographic về nhân vật anh thanh niên 61
trong tác phẩm Lặng lẽ Sapa (Nguyễn Thành Long) 61
Hình 2.13 Infographic tác giả Kim Lân 64
Hình 2.14 Infographic về tác phẩm Những ngôi sao xa xôi 65
Trang 7Hình 2.15 Infographic về tác phẩm Chiếc lược ngà 66
Hình 2.16 Phiếu học tập về Động Phong Nha 68
Hình 2.17 Phiếu học tập về Động Phong Nha 70
Hình 2.18 Infographic Phong Nha – Kì quan đệ nhất động 71
Trang 8M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN i
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH M ỤC CÁC BẢNG iii
DANH M ỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ iv
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 13
1.1.1 Một số định hướng trọng tâm của CTGDPT mới (2018) 13
1.1.2 Khái niệm đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ Văn 16
1.1.3 Văn bản thông tin và văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn 19
1.1.4 Infographic và sử dụng infographic trong dạy học 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25
1.2.1 Dạy đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn trong các trường phổ thông hiện nay 25
1.2.2 Ý nghĩa thực tế của ứng dụng infographic trong dạy học và dạy học đọc hiểu môn Ngữ văn 27
1.2.3 Thực trạng sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho HS THCS 29
Ti ểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP SỬ DỤNG INFOGRAPHIC TRONG D ẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN Ở CHƯƠNG TRÌNH NG Ữ VĂN THCS 40
2.1 Thiết kế các chủ đề dạy học ứng dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 40 2.1.1 Xác định các chủ đề dạy học ứng dụng infographic trong dạy học đọc
Trang 9hiểu văn bản thông tin 40
2.1.2 Một số yêu cầu khi thiết kế infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 41
2.2 Qui trình thiết kế infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 42
2.2.1 Xác định mục đích thiết kế 42
2.2.2 Thu thập thông tin, hình ảnh, số liệu 42
2.2.3 Xác định/ Lựa chọn bố cục infographic, xây dựng ý tưởng thành lập một infographic 42
2.2.4 Sử dụng các công cụ để thiết kế infographic 43
2.3 Định hướng sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 43
2.3.1 Sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho những mục tiêu dạy học khác nhau 43
2.3.2 Sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho mô hình dạy học dự án 63
2.3.3 Sử dụng infographic trong kiểm tra đánh giá 68
Ti ểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích thực nghiệm 74
3.2 Ðối tượng,thời gian, địa bàn thực nghiệm sư phạm 74
3.3 Nội dung thực nghiệm và phương pháp thực nghiệm 74
3.4 Kết quả thực nghiệm 76
Tiểu kết chương 3 80
K ẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 84
Trang 10viii
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Infographic hay còn gọi là thiết kế đồ họa thông tin là dạng thức thể
hiện các thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức bằng hình ảnh trực quan Những thiết kế này cung cấp những thông tin phức tạp qua thiết kế dưới dạng ngắn
gọn, rõ ràng bằng ký hiệu, biểu tượng, hình ảnh, … Bùng nổ từ năm 2010 và nhanh chóng tăng vọt về số lượng, sự phát triển của infographic hiện nay là kết quả tất yếu của kỷ nguyên số Khi con người càng tiêu tốn nhiều thời gian vào biển thông tin tràn ngập của thời đại số thì vai trò của infographic càng trở nên quan trọng bởi lẽ infographic là một công cụ cho phép cung cấp, truyền tải thông tin mới đến người đọc một cách nhanh chóng, hiệu quả
Trong bối cảnh phải thích ứng với thời đại, giáo dục cũng đang thực
hiện đổi mới, không chỉ nhằm cung cấp kiến thức mà còn phải tập trung phát huy các năng lực của HS Tuy nhiên, với lượng thông tin quá lớn yêu cầu HS
cần ghi nhớ, vận dụng trong các môn học như hiện nay, rõ ràng việc cần có
những phương tiện dạy học mới nhằm hỗ trợ đắc lực cho việc tiếp nhận của người học là một yêu cầu cấp thiết Mặc dù những năm gần đây, infographic
đã được các cơ quan truyền thông lựa chọn để truyền tải thông tin với tần suất ngày càng cao nhưng trong giáo dục, đặc biệt là trong dạy học Ngữ văn thì còn khá mới mẻ
Ngữ văn là bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục hiện nay, cũng là bộ môn có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS Tuy nhiên, thực tế dạy học Ngữ văn hiện nay đang phải đối diện với nhiều
vấn đề, thậm chí là thử thách lớn với GV, đặc biệt là vấn đề khơi gợi hứng thú
học tập của HS và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Việc dạy như thế nào
để đảm bảo hiệu quả phát huy được năng lực của người học, tạo sự hứng thú, say mê cho HS đang là bài toán chưa có lời giải đáp thỏa đáng Và sử dụng
Trang 12infographic – với những ưu thế nổi trội trong việc cô đọng và truyền tải thông tin có thể được xem là một biện pháp dạy học mới, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, đồng thời khơi dậy được
hứng thú học tập, tư duy sáng tạo của HS…
CTGDPT môn Ngữ văn 2018 (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo) đã nhận định về quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ văn có tính
kế thừa và phát huy những ưu điểm của các chương trình đã có, đặc biệt là chương trình hiện hành và tuân thủ qui định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể Về mục tiêu chung của CTGDPT năm 2018 nói chung, mục tiêu của dạy học Ngữ văn nói riêng, HS sẽ khám phá được bản thân mình để
có thể thấu hiểu con người và hình thành quan điểm, cách ứng xử nhân văn;
có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và có khả năng hội nhập quốc
tế Ngoài phát triển phẩm chất chủ yếu mục tiêu chương trình còn định hướng phát triển năng lực chung: tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, đặc biệt là sự phát triển ngôn ngữ, năng lực văn học (nghe - nói - đọc - viết), có kiến thức nền tảng về tiếng Việt, văn học để phát triển tư duy hình tượng, logic và có đủ năng lực tiếp nhận, đánh giá các loại văn bản trong môn Ngữ văn
Văn bản thông tin được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức,
nhằm cập nhật những kiến thức của HS trong trường học với nhiệm vụ giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của các em Vì vậy, dạy đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông cũng phù
hợp với định hướng phát triển năng lực người học, làm cho HS không chỉ
“biết cái gì” mà còn vận dụng cái đã biết để “làm được những việc gì” Văn
bản thông tin rất phổ biến trong sách giáo khoa các môn học, các phương tiện thông tin đa phương tiện Mỗi bài học trong chương trình môn Ngữ văn chính
là một văn bản thông tin được viết theo các phong cách ngôn ngữ khác nhau
Trang 13(nghệ thuật, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính, …) Với sự phát triển
của kinh tế - xã hội, sự phát triển của khoa học – kĩ thuật cũng như nhu cầu
của cá nhân con người, việc tiếp nhận văn bản thông tin trở thành yêu cầu cấp thiết, quan trọng trong một xã hội văn minh, phát triển Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn Ngữ văn chủ yếu chú trọng yêu cầu đọc hiểu về văn bản văn học mà văn bản thông tin thì chưa chú trọng nhiều
Xuất phát từ những thực tế nói trên, với mong muốn góp
một phần vào việc tạo thêm hứng thú cho người học, giúp HS tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng thời
nhằm góp phần đổi mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống, chúng tôi lựa chọn đề tài “Ứng dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn
b ản thông tin cho học sinh THCS” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
của mình
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 D ạy học sử dụng infographic
Sử dụng infographic trong dạy học nói chung là một vấn đề còn khá mới
mẻ Tuy nhiên, khai thác và sử dụng infographic đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học thuộc các lĩnh vực: báo chí, truyền thông, giảng dạy kiến trúc, địa lý, lịch sử, … Cụ thể:
Trần Thúy Duyên (2017), Thiết kế và sử dụng infographic animation trong dạy học địa lý 11, Kỷ yếu hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh Tác giả khẳng định: “Infographic Animation chính là m ột trong nhiều phương tiện trực quan hiện đại đáp ứng được những yêu c ầu trên và mang lại hiệu quả thiết thực Thông qua các hình ảnh đồ họa,
hi ệu ứng sinh động và sự sắp xếp ý tưởng sáng tạo, những kiến thức Địa lí được truyền tải đến HS một cách trực quan, sinh động hơn Nội dung bài học
s ẽ không còn khô khan và nhàm chán, bên cạnh đó lại cập nhật thêm những
s ự kiện Địa lí mới đang diễn ra trên thế giới (TG), giúp HS dễ dàng ghi nhớ
Trang 14ki ến thức và bổ sung thêm những thông tin bổ ích bên ngoài sách giáo khoa (SGK)” [8]
Nguyễn Thanh Hà (2015), Sử dụng thông tin đồ họa trên báo điện tử hiện
nay, Luận văn thạc sĩ Báo chí, Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu những
vấn đề của việc sử dụng đồ họa trên các tác phẩm báo mạng điện tử Trên cơ
sở phân tích làm rõ những đặc trưng, đặc điểm, ưu thế và hạn chế của thông tin đồ họa, đề tài đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng sử dụng thông tin đồ họa trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Huỳnh Phẩm Dũng Phát, Trần Thị Hoa Lan, Nguyễn Thị Thanh Thùy, Sử
d ụng Piktochart thiết kế infographic phục vụ giảng dạy địa lí, tạp chí Khoa
học trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh Trong bài viết bày, tác giả có khẳng định: Infographic sẽ là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho bộ môn Địa lí sau này để
GV cung cấp và HS khai thác thông tin tích cực Các dữ liệu sẽ được chọn lọc
và thiết kế theo mục tiêu định trước Với mỗi vấn đề, infographic có thể chọn
lựa nhiều hướng tiếp cận khác nhau nên hoàn toàn có thể sử dụng infographic
để phát huy cá tính sáng tạo riêng của HS trong quá trình tự học
Nguyễn Kiều Oanh, Lưu Minh Hoàn (2019), Bí quyết tăng nhanh điểm
ki ểm tra Ngữ văn 9, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Các tác giả đã khẳng định
để phát huy được tính tích cực và chủ động trong việc học, bên cạnh sự hướng
dẫn của GV trong quá trình học thì việc tự học đóng một vai trò rất quan
trọng giúp các em làm chủ hoàn toàn các đơn vị kiến thức lý thuyết, thành
thạo các kĩ năng cần thiết của môn học Và cuốn sách đầu tiên đem đến cho các em cách tiếp cận mới với các đơn vị kiến thức lý thuyết qua ứng dụng infographic Thông qua việc xử lý các đơn vị kiến thức bằng ứng dụng infographic các kiến thức phức tạp được trình bày một cách hệ thống, rõ ràng
và trực quan thông qua việc kết hợp mô tả bằng hình ảnh Ngoài ra, các tác
giả còn mở rộng biên tập cuốn Bí quyết tăng nhanh điểm kiểm tra Ngữ văn 8
cũng sử dụng infographic để hỗ trợ HS trong quá trình học tập bộ môn
Trang 15Những nội dung về khai thác và sử dụng infographic còn được đề cập đến
trong các đề tài luận văn khác như: Nguyễn Thị Thiện (2011), Vấn đề sử dụng
đồ họa trong thông tin báo chí Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội; Đào Thu Trang (2013), Đồ họa trong tác ph ẩm báo chí trên báo mạng điện tử Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội…
Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về infographic và cách sử dụng infographic trong dạy học Ngữ văn Bước đầu có
2 cuốn sách sử dụng infographic để thiết kế các nội dung của bộ môn đều là
của tác giả Nguyễn Kiều Oanh, Lưu Minh Hoàn (2019), nxb Đại học Quốc gia Hà Nội là: Bí quyết tăng nhanh điểm kiểm tra Ngữ văn 8 và Bí quyết tăng nhanh điểm kiểm tra Ngữ văn 9
Như vậy, việc sử dụng infographic đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như một phương pháp mới trong cách thức hệ thống hóa thông tin, thậm chí được ứng dụng trong dạy học
một số môn ở trường THPT Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào đề cập đến việc ứng dụng infographic vào quá trình dạy học Ngữ văn nhằm nâng cao hiệu quả bài học và phát huy năng lực của HS Đây là cơ sở
bước đầu để tác giả đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu trong đề tài của mình
2.2 D ạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nổi tiếng, nhiều công trình nghiên cứu
đề cập vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ và các nước phương Tây, làn sóng
nghiên cứu về ĐH đã nổi lên từ những năm 80, 90 của thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI Tất cả các công trình nghiên cứu đều coi trọng vai trò của ĐH Đến nay,
ở Mỹ các cuốn sách về đọc hiểu như Reading Comprehension strategies (Chiến lược đọc hiểu) của Danielle S McNamara [167], Reading and Learning to Read (fifth edition) (Đọc và học cách đọc – Tái bản lần 5) của Jo
Trang 16Anne L Vacca (và các tác giả khác), Literacy for the 21 st Century A Balanced Approach (Biết chữ cho thế kỉ 21: Cách tiếp cận cân bằng) của Gail E Tompkins [168], Readings for the 21 st century (fifth edition) ( Dạy đọc hiểu trong thế kỉ 21 – Tái bản lần thứ 5) của William Vesterman [181] đang được coi là những tài liệu quý dành cho giới nghiên cứu về ĐHVB [12, tr 17]
Đọc hiểu còn là một trong ba lĩnh vực cốt lõi mà chương trình đánh giá
HS quốc tế (PISA) tiến hành khảo sát… Báo cáo giám định kết quả đọc hiểu
của Đức khẳng định: Kĩ năng đọc hiểu đúng thực là một trình độ then chốt và
là một điều kiện chủ đạo cho việc tham gia vào nhiều lĩnh vực đời sống xã
hội Ngược lại, cơ hội lập nghiệp đi kèm cùng với khả năng đọc hiểu yếu kém
giảm sút thấy rõ Với vai trò là một dụng cụ văn hóa cơ bản, kĩ năng đọc hiểu chính là một điều kiện cốt yếu với sự thành công trong trường học và nghề nghiệp, cũng như đối với việc học hỏi suốt đời [42, tr 24, 25]
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về văn bản thông tin và vấn đề dạy học
đọc văn bản thông tin chưa nhiều Trong CTGDPT hiện hành, các nhà khoa
học chưa đề cập khái niệm “văn bản thông tin” (mặc dù, số lượng loại văn
bản này được đưa vào chương trình Ngữ văn và các môn học khác chiếm tỉ lệ lớn) Khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy có một số công trình đã bàn tới vấn
đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin như: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông của tác giả Phạm Thị Thu Hương, cuốn
Kĩ năng đọc hiểu văn của Nguyễn Thanh Hùng, bài viết Xây dựng hệ thống câu hỏi đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản thông tin của học sinh trong môn Ngữ văn (lớp 12) của Nguyễn Thế Hưng… Những nghiên cứu của các tác giả
trên dù xuất phát từ những góc nhìn khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một điểm: văn bản thông tin khác văn bản văn học Điều này giúp độc giả có sự phân định rạch ròi giữa hai loại văn bản
Quan tâm đến văn bản thông tin, tác giả Phạm Thị Thu Hiền, Luận án
tiến sĩ (2014), So sánh vấn đề đọc hiểu văn bản trong CTGDPT môn Ngữ văn
Trang 17c ủa Việt Nam và một số nước trên thế giới tác giả liệt kê những tiêu chí (mục
tiêu đọc hiểu, chuẩn đọc hiểu, văn bản đọc hiểu, phương pháp dạy học đọc
hiểu, đánh giá kết quả đọc hiểu) nhằm so sánh vấn đề đọc hiểu văn bản trong chương trình của các nước Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore và Bang Califonia Kết luận chỉ ra rằng so với chương trình ở các cấp học dưới, nội dung chương trình Trung học phổ thông các nước nhìn chung đều chú ý nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản và làm văn, cung cấp nhiều hơn so với chương trình Trung học cơ sở một số kiến thức phổ thông về lí luận và lịch sử văn
học Tác giả cũng khẳng định: “CTGDPT môn Ngữ văn hiện hành của Việt Nam đã thể hiện khá rõ quan điểm hình thành và phát triển năng lực của người học, từ việc đưa năng lực vào một trong các mục tiêu của chương trình, xây d ựng bài học theo sự gắn kết các nội dung văn học, tiếng Việt, làm văn để hướng tới các hoạt động đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản (nói và viết)
c ủa HS, định hướng dạy học theo phương pháp tích hợp và tích cực, tăng cường các nội dung gắn với thực tế cuộc sống” [12, tr.13]
Trần Thị Ngọc trong bài viết được in trên Tạp chí Giáo dục số 64 (số đặc biệt) tháng 4/2016 viết về Văn bản đa phương thức và tầm quan trọng của đọc hiểu văn bản này Theo đó, trong văn bản thông tin có tồn tại văn bản đa phương thức, nghĩa là văn bản thông tin hình thành dưới nhiều dạng/loại khác nhau trong đời sống như: văn bản thuần túy (ngôn ngữ), văn bản kết hợp ngôn
ngữ với hình ảnh, văn bản kết hợp hình ảnh với âm thanh, hoặc chỉ mỗi hình ảnh hay âm thanh,… Văn bản thông tin với đặc trưng cung cấp thông tin nhưng trong đời sống thông tin có thể chưa đựng ở nhiều dạng/loại khác nhau
mà vẫn đạt được mục đích giao tiếp vì vậy chúng tôi đồng tình khi tác giả đã
chỉ ra những đặc điểm, phân loại văn bản đa phương thức Từ đó tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc đọc hiểu văn bản đa phương thức trong đời sống
xã hội, trong giáo dục để đáp ứng xu thế của giáo dục hiện đại
Trang 18Phạm Thị Thu Hiền (2016), Đề xuất về việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở trường trung học của Việt Nam trong thời gian tới, in trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc Đổi mới và giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường
Sư phạm của Trường ĐHSPHN, NXB Giáo dục Việt Nam đã khẳng định tầm
quan trọng của văn bản thông tin trong dạy học đọc hiểu môn Ngữ văn là cần được chú trọng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đọc hiểu văn bản thông tin cho HS
Tác giả Phạm Thị Thu Hiền trong Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM có
bài viết Một số vấn đề đổi mới dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông có nêu ra bốn yêu tố cần triển khai đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn và bắt kịp xu thế quốc tế đó là: mục tiêu đọc hiểu, chuẩn đọc hiểu, văn bản đọc hiểu, phương pháp dạy học đọc hiểu, đánh giá kết quả đọc hiểu
Một, với mục tiêu đọc hiểu cần có định hướng mới tức là định hướng theo cách tiếp cận năng lực để phát triển bốn kĩ năng (nghe – nói – đọc – viết) chứ không tập trung cung cấp kiến thức như chương trình hiện hành; Hai, văn bản đọc hiểu cần phải được mở rộng chứ không bó hẹp theo phân phối giảm dần
của chương trình hiện hành mà cần làm phong phú nguồn tài liệu của văn bản thông tin như các văn bản thuần túy ngôn ngữ, văn bản đa phương thức kết
hợp giữa âm thanh, hình ảnh,…ở cả hai hình thức in và kĩ thuật số; Ba, chuẩn đọc hiểu cần phải xây dựng với những mục tiêu cả về kiến thức lẫn kĩ năng
bằng những động từ cụ thể tránh lỗi diễn đạt chung chung, mơ hồ cả về cách
hiểu lẫn hành động như trong chương trình hiện hành Từ đó người đọc hoàn toàn có thể hiểu được mục đích cũng như lợi ích sau khi đọc/học văn bản thông tin theo chuẩn đọc hiểu đã được xây dựng trước đó; Bốn, đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu trong bài viết tác giả cũng phân biệt thuật ngữ
“dạy học đọc hiểu” khác với “giảng văn” Hiểu một cách đơn giản là dạy học
đọc hiểu sẽ thiên về dạy phương pháp đọc cho HS (lấy người học làm trung tâm); Cuối cùng đánh giá kết quả đọc hiểu là khâu quan trọng để thu thập
Trang 19thông tin phản hồi giúp người dạy nắm bắt được chất lượng để từ đó có điều
chỉnh phù hợp cho công tác giảng dạy
Lã Thị Thanh Huyền trong bài nghiên cứu Dạy đọc hiểu văn bản thông tin trong môn Ng ữ văn ở trường THCS cho học sinh dân tộc Mông (2016),
đăng trên website khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội có khẳng
định vai trò của việc dạy đọc hiểu văn bản thông tin: “văn bản thông tin sẽ giúp h ọc sinh học được phương pháp học, học để làm việc, học để sống trong
cu ộc sống với những mối quan hệ với con người và thiên nhiên, học để khẳng định những giá trị của bản thân mình trong cuộc sống” Từ đó, tác giả đề xuất
các nội dung, phương pháp dạy đọc hiểu văn bản thông tin nhằm phát triển năng lực cho HS, đặc biệt là HS dân tộc miền núi
Trịnh Thị Lan trong bài Ngôn ngữ học văn bản và việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở trường phổ thông trên Tạp chí giáo dục có đề cập đến
ngôn ngữ học văn bản và những nội dung cơ bản về đặc điểm của văn bản thông tin và đề xuất định hướng vận dụng ngôn ngữ học văn bản vào dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở trường phổ thông
Nguyễn Thị Ngọc Thúy với bài viết Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới, đã chia sẻ về một số kinh nghiệm thu được từ việc khảo sát chương trình giảng dạy văn bản thông tin
trong khung chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới như: Mĩ,
Singapore, Úc Tác giả cho biết, ở những nước này, “chuẩn đầu ra của việc giảng dạy văn bản thông tin được thiết kế rất chi tiết, cụ thể; chủ yếu hướng đến việc hình thành và rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản thông tin”
Vũ Thị Thu Hương trong bài viết Văn bản thông tin và vấn đề phát triển năng lực dạy học dạy học văn bản thông tin cho giáo viên Ngữ văn trung học đã đem đến một cái nhìn khái quát về những công trình nghiên cứu
về văn bản thông tin; đồng thời khẳng định sự cần thiết phải phát triển năng lực dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho GV Ngữ văn trung học trong quá trình đào tạo lại
Trang 20Năm 2018 và 2019, tác giả Đỗ Ngọc Thống và các cộng sự cho ra mắt
độc giả hai cuốn sách: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học
cơ sở và Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông
Theo đó, đặc điểm của văn bản thông tin trong nhà trường trung học, yêu cầu
và quy trình dạy đọc hiểu văn bản thông tin đã được các tác giả đề cập và có giới thiệu bài dạy minh họa
Việc đổi mới cách ra đề khâu kiểm tra, đánh giá của Bộ GD-ĐT trong môn Ngữ văn những năm trở lại đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản thông tin cho HS bởi lẽ đề thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia môn Ngữ văn các năm của Bộ đều có phần đọc hiểu với nội dung là các văn bản ngoài chương trình sách giáo khoa Trong đó, văn bản thông tin được người ra đề rất quan tâm
Như vậy, có thể thấy, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú trọng
vị trí của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn và vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong nhà trường Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin không chỉ là điểm mới, thể hiện bước tiệm cận với chương trình giáo dục hiện đại của thế giới mà còn hướng tới mục tiêu phát triển các năng lực cho người học, đưa Văn học về gần hơn với cuộc sống Tuy nhiên, vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản thông tin như thế nào cho hiệu quả, tạo sự hứng thú cho người học lại là vấn đề chưa được đề cập đến nhiều Trong bối cảnh đó, dạy học đọc hiểu văn bản thông tin có sử dụng infographic hoàn toàn là một hướng đi mới, không chỉ đảm bảo trang bị cho các em kiến thức, kĩ năng mà còn mở ra triển vọng phát triển nhiều mặt năng lực của HS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm, khẳng định vai trò của infographic, đề tài đi sâu đề xuất một số biện pháp sử dụng có hiệu quả infographic để dạy đọc hiểu văn bản thông tin trong dạy học Ngữ văn THCS Qua đó, thúc đẩy
Trang 21tính tích cực, chủ động của HS cũng như tăng khả năng tư duy và sáng tạo trong quá trình dạy học đọc hiểu nhằm phát triển các năng lực cơ bản và chuyên biệt mà CTGDPT 2018 đã xây dựng
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đưa ra, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chính
cụ thể là:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về phương pháp dạy học Ngữ văn,
về dạy học đọc hiểu; khái niệm, đặc trưng của văn bản thông tin, infographic
- Tìm hiểu thực tế dạy học các văn bản thông tin trong chương trình
Ngữ văn THCS hiện hành
- Đề xuất một số biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin có ứng
dụng infographic cho HS THCS
- Thực nghiệm sư phạm dạy học đọc hiểu văn bản thông tin có ứng
dụng infographic cho HS lớp 6 ở trường THCS để kiểm định tính khả thi của
đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản thông tin có sử dụng infographic cho HS THCS
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học đọc hiểu văn bản thông tin môn Ngữ văn THCS
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứu chính như sau: Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: được dùng trong việc thu thập tư
liệu, nghiên cứu các vấn đề lí luận làm cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu
Đó là các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa các luận điểm khoa học của các chuyên ngành liên quan như tâm lí học, giáo dục học,
Trang 22xã hội học, văn hóa học, lí luận văn học, phương pháp dạy học… để có hệ
thống cơ sở lí luận khoa học cho các đề xuất có ý nghĩa thực tiễn
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra (khảo sát bằng phiếu hỏi)
+ Điều tra tình hình giảng dạy của GV ở một số trường THCS trong
tỉnh về mức độ và cách thức sử dụng infographic trong dạy học Ngữ văn + Điều tra nhận thức và mức độ được tiếp cận của HS về các nội dung bài học được GV sử dụng infographic
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm
nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã đưa ra
- Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
6 C ấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận và khuyến nghị, Thư mục tham
khảo, luận văn được triển khai thành những chương cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Đề xuất biện pháp sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn THCS
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 M ột số định hướng trọng tâm của CTGDPT mới (2018)
CTGDPT năm 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp HS hình thành và phát triển những
phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng Quan điểm này được
thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết
quả giáo dục của các môn học Cụ thể:
V ề nội dung:
Theo CTGDPT môn Ngữ văn hiện hành ở trường THCS và THPT, HS được hướng dẫn tìm hiểu hai loại văn bản: văn bản văn học và văn bản nhật
dụng Trong đó, văn bản nhật dụng “không phải một thể loại văn học hay một
ki ểu văn bản Sở dĩ gọi văn bản nhật dụng là xuất phát từ nội dung đề tài (g ắn với những vấn đề có tính thời sự)… và vì thế những văn bản này có thể thu ộc bất kì thể loại nào của văn học hoặc không phải văn bản văn học Như
v ậy, khái niệm văn bản thông tin chưa xuất hiện trong chương trình Ngữ văn hiện hành” [41, tr 90]
Tuy nhiên, nếu hiểu “văn bản thông tin chủ yếu được viết để truyền đạt thông tin ho ặc kiến thức Do đó, kiểu văn bản này thường trình bày thông tin
m ột cách khách quan: cung cấp thông tin về đối tượng một cách trung thực, giúp người đọc/ người nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu”
[41, tr 91] thì có thể thấy hầu hết các văn bản trong các sách giáo khoa các môn học đều có thể coi là văn bản thông tin; riêng đối với sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành, có một số văn bản nhật dụng viết theo phương thức thuyết minh được xếp vào nhóm văn bản thông tin như:
Trang 24+ Lớp 9: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình; Tuyên bố thế giới về sự
sống còn; quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
Ngoài ra, một số đoạn tóm tắt (trước) hoặc đoạn chú thích (sau) các bài đọc hiểu thực chất cũng là văn bản thông tin
Qua những thống kê trên có thể thấy số lượng văn bản thông tin trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành là không nhiều Các văn bản đó cũng được trình bày chủ yếu dưới dạng chữ, hầu như không
có thêm các sơ đồ, bảng số liệu minh họa,… Đặc biệt, thể loại của văn bản thông tin chưa đa dạng, chưa có nguồn văn bản kĩ thuật số để hướng dẫn HS đọc hiểu
Theo CTGDPT năm 2018, do chủ trương xây dựng chương trình theo hướng mở, thể hiện ở việc không qui định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ qui định những yêu cầu cần đạt về nghe, nói, đọc, viết ở mỗi lớp Bên cạnh
một số văn bản bắt buộc là một danh mục gợi ý các văn bản ngữ liệu cho phép GV được chọn và sử dụng Không những thế, trên cơ sở kế thừa, CTGDPT mới phát triển định hướng dạy học tích hợp và phân hóa theo định hướng phát triển năng lực người học
V ề phương pháp:
Trước đây, chương trình Ngữ văn của chúng ta chưa quan tâm nhiều đến phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin cho HS bởi HS chủ yếu chỉ được tìm hiểu hệ thống văn bản văn chương Các nhà trường không chỉ dành quá ít thời gian cho việc rèn luyện năng lực đọc hiểu loại văn bản thông tin
mà ngay cả những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại này cũng chiếm một số lượng rất khiêm tốn trong toàn bộ chương trình Ngữ văn Mặc dù vẫn xuất
Trang 25Thực tế chỉ ra rằng, việc dạy loại văn bản thông tin theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học có ý nghĩa lớn trong bối cảnh hiện
nay Bởi lẽ: “Một trong những lí do quan trọng nhất để cắt nghĩa tại sao cần
h ọc môn này sớm và trước các môn khác là xuất phát từ tính chất công cụ - phương tiện của môn học Rõ ràng, biết đọc, biết viết là cơ sở và công cụ cho
vi ệc học những nội dung khác, những môn học khác Ban đầu là học để biết đọc, biết viết, sau đó thông qua đọc và viết để học, học trong nhà trường và
h ọc suốt đời Cũng phải thông qua đọc và viết mà làm, thì làm mới có hiệu
qu ả cao… Chính xuất phát từ tầm quan trọng này mà cho đến đầu thế kỉ XXI, yêu c ầu biết đọc, biết viết cho tất cả mọi người vẫn là một trong những mục tiêu quan tr ọng mà UNESCO kêu gọi tất cả các quốc gia hoàn thành vào năm
2015” [43, tr 23]
Trong bối cảnh cần phải nâng cao năng lực đọc hiểu để đảm bảo thực
hiện mục tiêu thiết yếu có tính quốc tế, chương trình Ngữ văn của Việt Nam được tiến hành xây dựng, đổi mới theo yêu cầu của thời đại và của Nghị quyết
29 Ban Chấp hành trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo Theo đó, CTGDPT môn Ngữ văn năm 2018 được xây dựng vừa tuân thủ các qui định cơ bản của chương trình tổng thể vừa căn cứ vào những đặc điểm riêng của bộ môn Chương trình môn Ngữ văn mới lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học
nhằm đáp ứng của yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và đảm bảo tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp
Trang 26và kĩ năng tự nhiên, xã hội trước khi học lên cao hơn hoặc ra ngoài cuộc
s ống… Có thể thấy tỉ lệ đọc hiểu văn bản văn chương sẽ giảm dần, còn tỉ lệ
c ủa văn bản thông tin sẽ tăng dần theo cấp lớp và chiếm khối lượng đáng kể trong chương trình đọc hiểu Việc này nhằm đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và
cu ộc sống của người học trong tương lai” [43, tr 86]
V ề kiểm tra, đánh giá:
Để khắc phục hạn chế của cách kiểm tra đánh giá theo chương trình cũ, trong chương trình mới, để đảm bảo tính mở, tăng cường khả năng chủ động
và sáng tạo của GV và HS, kiểm tra đánh giá là khâu cần được thay đổi một cách đồng bộ Việc kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình dạy học được thực
hiện thông qua các sản phẩm hoạt động học trên lớp và ở nhà Các bài kiểm tra, đánh giá và thi cũng không yêu cầu ghi nhớ kiến thức một cách máy móc
mà yêu cầu HS sử dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn
đề trong học tập, cũng như trong thực tiễn Qua đó, đánh giá được sự phát triển về phẩm chất, năng lực của HS
1.1.2 Khái ni ệm đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ văn
1.1.2.1 Đọc hiểu
Đọc hiểu văn bản là nội dung nghiên cứu đã thu hút tâm sức của rất nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới trong khoảng 50 năm trở lại đây… đặc biệt là ở Mĩ và các nước phương Tây Đã có nhiều công trình nghiên cứu
về đọc hiểu và đọc hiểu văn bản Tiêu biểu có thể kể đến như:
Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA - The program for International Student Assessement) quan niệm: “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử
Trang 27d ụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết nhằm đạt được những mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội
c ủa mỗi cá nhân” Theo PISA, định nghĩa về đọc và đọc hiểu có sự thay đổi
theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội “Khái niệm đọc và đặc
bi ệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc đọc hiểu” Quan
niệm này của PISA hoàn toàn phù hợp với quan niệm của UNESCO về năng
lực đọc hiểu: “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối
c ảnh khác nhau “Literacy” đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn” Có thể nói quan niệm và yêu cầu của
PISA về đọc hiểu không dựa theo một CTGDPT của một quốc gia cụ thể nào Nhưng việc nhiều nước tham gia PISA, trong đó có Việt Nam, chứng tỏ trong
xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, các nước đang xích lại gần nhau, thống nhất
một quan niệm chung về vai trò của văn bản thông tin trong học tập và trong đời sống của mỗi người [41, tr 92 – 93]
Bàn về đọc hiểu, giáo sư Nguyễn Thanh Hùng cho rằng “đọc - hiểu là
m ột khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động học; đọc –
hi ểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc… Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa mối quan hệ đó Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu tức là phải trả lời câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết và làm trong đọc hiểu… Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn” [24, tr 23]
1.1.2.2 D ạy đọc hiểu trong môn Ngữ văn
Bắt đầu từ năm 2000, dưới chỉ đạo của Bộ, chương trình, sách giáo khoa có sự thay đổi mà đặc biệt là khi thay đổi cách thức ra đề thi môn Ngữ văn thì vấn đề dạy đọc hiểu trong môn Ngữ văn bắt đầu được coi trọng
Trang 28Tuy nhiên, thời gian đầu, các tài liệu tham khảo dành cho GV và HS
đều có “nội dung viết vẫn là phân tích, thẩm bình văn bản của cá nhân tác giả
ho ặc bám theo câu hỏi sách giáo khoa để hướng dẫn trả lời… xét về mặt định hướng phương pháp dạy học, các tài liệu ấy chưa cho giáo viên và học sinh
th ấy rõ đường đi nước bước của việc dạy đọc hiểu, đặc biệt là việc tổ chức các ho ạt động cụ thể để khuyến khích và kiểm soát sự hiểu của học sinh trong quá trình đọc văn bản” [24, tr 16]
Hiện nay, vấn đề dạy đọc hiểu Ngữ văn trong CTGDPT mới là nội dung được chú trọng, gắn liền với việc hình thành kĩ năng đọc và phát triển năng lực đọc hiểu cho HS
Kĩ năng đọc được hiểu theo nghĩa rộng với nhiều yêu cầu và mức độ khác nhau, nhưng thường gom vào hai yêu cầu lớn là đọc thông và đọc hiểu Đọc thông là đọc đúng, tròn âm, rõ chữ, dừng ngắt đúng chỗ, không ê a ngắc
ngứ Đọc hiểu thể hiện khả năng hiểu được và ngộ ra trong khi đọc văn bản
hiểu được văn bản và ngộ ra được, hiểu được chính mình (người đọc) Đọc
hiểu ở mức độ thấp là đọc để nắm thông tin, hiểu tác giả, hiểu văn bản nói gì,
ở yêu cầu cao hơn là đọc thẩm mĩ (tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức) văn bản,
nhất là văn bản văn học [41, tr 21 - 22] Chính vì vậy, trong dạy học văn bản, người ta chú ý cả hai kiểu đọc: đọc hướng tới khách thể (văn bản) và đọc hướng tới chủ thể (người đọc)… Hai kiểu đọc này luôn gắn bó với nhau, đều quan trọng và đều là mục tiêu của dạy học Ngữ văn Tuy nhiên, tùy vào lứa
tuổi HS để gia giảm các yêu cầu của mỗi cách đọc Có thể nói, đọc hiểu cần được coi là một năng lực cốt lõi, thiết yếu ai cũng cần có, còn đọc thẩm mĩ là năng lực chuyên môn, thậm chí là năng lực đặc biệt (năng khiếu) [41, tr 22]
“Năng lực đọc hiểu là sự tương tác tích cực với văn bản bằng các hoạt động nhận thức và siêu nhận thức, tạo nên những hiểu biết, phản hồi, sử dụng đối với văn bản trong bối cảnh cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đọc và tự phát tri ển tiềm năng của bản thân” [20]
Trang 29Như vậy, có thể khẳng định: Đọc hiểu văn bản là thao tác có vai trò quan trọng khi người đọc làm việc với văn bản Đọc hiểu và dạy đọc hiểu là khâu then chốt trong giáo dục nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng Muốn nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, muốn tăng cường tính ứng dụng của bộ môn trong cuộc sống, trang bị cho HS những nền tảng cơ bản và quan trọng
để thành công trong các lĩnh vực học tập khác của hệ thống giáo dục, cần đảm
bảo năng lực đọc hiểu cho HS
1.1.3 Văn bản thông tin và văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn
Trong CTGDPT môn Ngữ văn hiện hành, khái niệm “văn bản thông
tin” chưa xuất hiện, thay vào đó là khái niệm “văn bản nhật dụng” với cách hiểu “không phải là một thể loại văn học hay một kiểu văn bản Sở dĩ gọi văn bản nhật dụng là xuất phát từ nội dung đề tài (gắn với những vấn đề có tính thời sự) và vì thế những văn bản này có thể thuộc bất kì thể loại nào của văn học hoặc không phải văn bản văn học” [ 12, tr 166]
Theo tác giả Vũ Thị Thu Hương: Thuật ngữ “văn bản thông tin” xuất
hiện trong nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới từ trước những năm
2000 Văn bản thông tin có mục đích chủ yếu nhằm cung cấp thông tin, không sử dụng yếu tố hư cấu Văn bản thông tin có vai trò rất quan trọng trong nhịp sống của xã hội hiện đại và tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau:
tờ rơi, phiếu thu ngân, đơn thuốc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, bảng báo giá, quảng cáo chào hàng, clip, biển thông báo… Hàng ngày, con người thường xuyên tiếp xúc với loại văn bản này để giải quyết công việc hoặc đơn thuần là đáp ứng các nhu cầu về thông tin trong thời đại công nghệ 4.0
Mặc dù có nhiều quan điểm cụ thể khác nhau, nhưng “trong sự khác nhau đến đối lập giữa các quan niệm, vẫn có thể nhận thấy sự thống nhất của các tác giả ở đặc điểm chung là: Văn bản thông tin không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng và mục đích chính là cung cấp thông tin Văn bản thông tin tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau (sách giáo khoa, báo chí,
Trang 30tạp chí, áp phích, tờ rơi quảng cáo, bảng chỉ dẫn công việc, phiếu thanh toán, trang mạng hay đĩa CD, )”
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: văn bản thông tin là bản viết
hoặc in, mang nội dung thông tin, có mục đích chính là cung cấp thông tin
Dạy đọc hiểu văn bản thông tin rất quan trọng “Về cơ bản chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn
b ản thành tri thức của mình với mục đích sử dụng luôn trong học tập và đời
s ống hoặc làm tư liệu cho mai sau Chỉ nguyên mục đích đó đã làm cho việc đọc hiểu văn bản thông tin khác với đọc văn bản văn học Như Rosenblatt (1978) đã gợi ý, người đọc sẽ có hai tư tưởng khi đọc văn bản thông tin,
m ột là để trải nghiệm, hai là để tìm kiếm và ghi nhớ thông tin Do đó, với
h ầu hết các văn bản thông tin, sự chú ý của người đọc sẽ tập trung chủ yếu vào nh ững điều họ sẽ thu được từ việc đọc – tức là thông tin chứa đựng trong văn bản” [43, tr 106]
Trong chương trình Ngữ văn theo CTGDPT mới, văn bản thông tin được cân nhắc giảng dạy ở một mức độ phù hợp với vị trí quan trọng của loại văn bản này trong cuộc sống Chúng ta không nên chỉ coi trọng văn bản văn chương mà quên đi vai trò của văn bản thông tin trong việc chuẩn bị kỹ năng đọc hiểu cho HS trước hết là ở những bậc học sau trung học cũng như cho cuộc sống và công việc của các em trong tương lai Vì vậy, khi thiết kế nội dung giảng dạy văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn trong CTGDPT mới, cần lưu ý đến tính đa dạng của kiểu loại văn bản này để tạo
cơ hội giúp HS tiếp cận với càng nhiều kiểu loại văn bản thông tin cụ thể càng tốt vì đây chủ yếu là những dạng văn bản mà các em tiếp xúc hàng ngày Đó cũng là một trong những tiêu chí để HS cảm thấy môn Ngữ văn thiết thực, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và công việc của mình
1.1.4 Infographic và s ử dụng infographic trong dạy học
1.1.4.1 Khái quát v ề infographic
* Khái ni ệm
Trang 31Infographic là từ ghép của “Information” và “graphic” Theo Wikipedia, “Information graphics or infographics are graphic visual representations of information, data or knowledge intended to present complex information quickly and clearly ” Tạm dịch là “Information graphics
ho ặc infographics là nghĩa là hình thức đồ họa trực quan sử dụng hình ảnh
để trình bày thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức thể hiện những thông tin phức
t ạp một cách nhanh và rõ ràng”
Hay theo từ điển Oxford, infographic là cách thể hiện trực quan thông tin ho ặc dữ liệu như dạng biểu đồ, sơ đồ
Thông tin đồ họa (Infographics hay Information graphics) là hình thức
đồ họa trực quan sử dụng hình ảnh để trình bày thông tin, dữ liệu hoặc kiến
thức tạo thành những thống kê chính xác và rõ ràng giúp cho người đọc dễ
hiểu Thông tin đồ họa thường được bố trí khoa học, đẹp mắt giúp người đọc
dễ hiểu, thay vì bạn phải đọc và xem qua hàng ngàn trang web, hay thiết kế, các thống kê phức tạp… thì chỉ cần xem một thông tin đồ họa là có thể nắm
đủ thông tin của chủ đề mà mình muốn xem [3, tr 1]
Thuật ngữ “infographic” tức là “đồ họa thông tin”, được hiểu là
phương thức sử dụng hình ảnh đồ họa để mô tả thông tin, kiến thức, dữ liệu,
Mục tiêu của infographic là giúp khối dữ liệu khổng lồ, rối rắm trở nên rõ ràng, sống động và hấp dẫn hơn bằng cách chọn lọc và diễn giải chúng thành các biểu đồ, hình ảnh… theo chủ đề riêng biệt [11]
Như vậy, infographic có thể hiểu đơn giản là thiết kế đồ họa thông tin,
cụ thể chính là dạng thức thể hiện các thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức phức
tạp bằng những hình ảnh trực quan, sinh động
* Đặc điểm
Một infographic gồm 3 phần chính: Hình ảnh, nội dung và kiến thức + Phần hình ảnh bao gồm màu sắc và đồ họa Đồ họa tham khảo thường là các biểu tượng có thể được sử dụng để trỏ đến dữ liệu nhất định,
mặc dù không phải lúc nào chúng ta cũng nhìn thấy chúng
Trang 32Mặc dù có nhiều loại infographic nhưng về cơ bản, các infographic đều
có một số đặc điểm chung sau:
Th ứ nhất, infographic mang tính khái quát cao
Tính khái quát của infographic được đảm bảo bởi hệ thống hình ảnh
biểu tượng cho phép cung cấp một lượng lớn thông tin; vừa làm rõ những dữ
liệu phức tạp, vừa tổng hợp thông tin thông qua cách sắp xếp các nội dung và
biểu tượng
Th ứ hai, infographic có tính logic
Thông qua infographic, các thông tin có giá trị được tổng hợp theo hệ
thống và đơn giản hóa để đảm bảo dễ hiểu trong một thời gian ngắn Việc logic các nội dung kiến thức và hệ thống hóa theo một trật tự nhất định, được
thể hiện trên một trang giấy thể hiện tính khoa học và logic của infographic
Th ứ tư, infographic có tính sáng tạo
Infographic là một sản phẩm độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân của người thiết kế, đa dạng về màu sắc và ý tưởng trình bày Mỗi một sản phẩm infographic là một sản phẩm thể hiện ý đồ riêng của người thiết kế Cùng một
nội dung, thông tin, nhưng cách thể hiện của mỗi người là khác nhau tùy vào
Trang 33góc nhìn, khả năng (tổng hợp, chọn lọc kiến thức và thẩm mĩ) của mỗi người cũng như mục đích thành lập infographic đó
* Nh ững ưu điểm khi sử dụng infographic
Về bản chất, infographic là hình thức dùng hình ảnh để trình bày thông tin – thường là những thống kê trên số lượng lớn Những infographic thường được bố trí khoa học, đẹp mắt và theo một cách dễ hiểu nhất nhằm giúp người đọc có thể hiểu được Tuy thời gian và công sức để làm ra một sản phẩm infographic có thể mất nhiều hơn so với sử dụng văn bản hoặc sơ đồ tư duy nhưng những lợi ích mà nó mang lại thì vượt trội hơn rất nhiều Thay vì phải đọc và xem qua nhiều trang web, tài liệu với các thống kê phức tạp… giờ đây,
HS chỉ cần xem một trang hình ảnh infographic là có đầy đủ thông tin cần thiết và biết cách logic các thông tin đó với nhau
Thêm vào đó, định hướng chính của CTGDPT 2018 là tập trung phát triển năng lực HS Trong số các môn học, Ngữ văn có ưu thế trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và đặc biệt là năng lực văn học Nhằm thực hiện mục tiêu này, hoàn toàn có thể sử dụng infographic trong quá trình dạy học Vì để xây dựng một infographic đòi hỏi người làm phải có khả năng đánh giá, nhận
biết, phân loại văn bản, lựa chọn thông tin và tìm cách diễn đạt ngắn gọn,
trọng tâm, đủ ý, trình bày có ý tưởng sáng tạo và nghệ thuật… các thao tác này rất hữu hiệu cho HS phát triển các năng lực đọc, viết, thuyết trình…
Đây cũng là những nguyên nhân cơ bản để có thể ưu tiên sử dụng infographic trong dạy học thay vì các văn bản thông tin truyền thống Trong các thế mạnh của infographic, có những điểm có thể hỗ trợ tốt cho giáo dục
để đưa infographic vào dạy học đọc hiểu văn bản thông tin như một phương
tiện dạy học mới, đáp ứng được những yêu cầu trong dạy học hiện nay như
kh ả năng tạo sự thu hút lớn, giúp người học nhớ nhanh và lâu kiến thức, tiết
ki ệm thời gian học tập, từ đó nâng cao hiệu quả học tập
* M ột số hạn chế khi sử dụng infographic
Trang 34Th ứ nhất, infographic là sản phẩm được tạo ra từ góc nhìn, quan điểm,
khả năng của người sáng tạo Mỗi infographic là một sản phẩm riêng biệt, mang đậm tính cá nhân của tác giả, phản ánh cái nhìn mang tính chủ quan của người thiết kế Do đó, một infographic có thể được xem là đẹp, ấn tượng với người này nhưng là chưa đẹp, chưa ấn tượng với những người khác Với đặc điểm này, việc đưa infographic vào làm ngữ liệu trong quá trình cần sự cân
nhắc kĩ lưỡng của GV; việc đánh giá infographic do HS thiết kế cũng cần khách quan trên tôn trọng ý tưởng sáng tạo của các em
Th ứ hai, do đặc điểm là có tính khái quát cao, thiết kế infographic yêu
cầu về khả năng tổng hợp kiến thức và kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin
ở trình độ nhất định Thời gian để thiết kế các infographic là tương đối nhiều
Những yêu cầu này khiến cho việc thiết kế một infographic không phải là việc
dễ dàng và nhanh chóng, trái lại cần đầu tư thời gian, tâm huyết và tinh thần
học hỏi của GV
Th ứ ba, infographic không thể thay thế hoàn toàn văn bản truyền thống,
đặc biệt là các văn bản nghệ thuật với chất thơ từ vẻ đẹp của ngôn từ, âm điệu, Là sản phẩm cô đọng thông tin để tối ưu hóa lượng thông tin cần truyền tải, ngôn ngữ trong infographic là những từ khóa đắt nhất, cô đọng và hàm súc nhất Do đó, tùy mục đích sử dụng mà GV phải thiết kế infogaphic cho phù hợp
1.1.4.2 Sử dụng infographic trong dạy học
Trong thời đại hiện nay, giáo dục cũng như bất cứ ngành nào đều muốn nâng cao hiệu quả công việc thông qua việc nâng cao năng suất và giảm thiểu
thời gian Theo lẽ thông thường, để tiếp nhận dữ liệu càng lớn thì thời gian
cần bỏ ra càng nhiều để cố gắng và tìm hiểu nó, tìm ra xu hướng và truyền đạt thông tin đó tới người khác Rõ ràng, HS THCS phải đảm bảo học tập cùng lúc nhiều môn học, với khối lượng kiến thức lớn ở mỗi tiết/bài/chương/học kì…; đồng thời cần có thời gian để thực hành, học kĩ năng sống,… thì việc
Trang 35giảm thiểu tối đa thời gian học tập trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả, chất lượng việc học là điều thực sự có ý nghĩa
Thực tế chỉ ra rằng, HS mất nhiều thời gian và thường bị nhàm chán
nếu đọc những thông tin dài thể hiện dưới một trang giấy Bẩm sinh con người khám phá thế giới bằng trực quan (thông qua 5 giác quan) nhưng chúng
ta tiếp nhận thông tin nhiều hơn qua thị giác so với 4 giác quan còn lại bởi 90% thông tin được não ghi nhận dưới dạng hình ảnh Cơ chế hoạt động của
bộ não vốn xử lý hình ảnh nhanh hơn chữ viết Khoảng chú ý trung bình của con người là 8 giây, còn thời gian não xử lý tín hiệu thị giác là ¼ giây Do đó,
sử dụng hình ảnh giúp truyền đạt một lượng lớn thông tin chỉ trong tích tắc
Yếu tố hình ảnh chính là thế mạnh vượt trội của infographic Để tiết
kiệm thời gian, đồng thời giúp HS tránh nhàm chán và nhớ lâu hơn, infographic hỗ trợ xử lý và sắp xếp một cách hợp lý (sáng tạo) các thông tin
cần thiết khiến HS chú ý vào cách trình bày ấn tượng của infographic và tự
hỏi xem những biểu đồ, màu sắc, đường nét, hình ảnh ấy đang nói về cái gì?
Bằng cách này, HS có thể tiếp thu được nhiều thông tin chỉ trong một thời gian rất ngắn
Không những thế, xuất phát từ tâm lý HS THCS là hứng thú với những điều mới mẻ, hứng thú với màu sắc và hình ảnh hơn là những nội dung được truyền tải trên mặt chữ, hoàn toàn có thể sử dụng infographic để thay đổi cách
tiếp cận bộ môn cũng như phát triển các năng lực sử dụng ngôn ngữ và công nghệ thông tin; đặc biệt là năng lực sáng tạo và năng lực nghệ thuật cho HS
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 D ạy đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn trong các trường phổ thông
hi ện nay
Nói như GS Trần Đình Sử: Thực tế, môn văn trong nhà trường là môn đọc văn Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kỹ năng đọc để HS có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà tiếp nhận các giá trị
Trang 36văn học, thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của HS
Điều này càng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu văn hóa quốc tế được gia tăng, khi điều kiện tiếp xúc các nguồn văn bản được mở rộng hơn bao giờ hết Trong bối cảnh đó trình độ văn hóa được đánh giá bằng năng lực nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin từ các văn bản khác nhau Con người trong thời đại mới, để có thể thích ứng tốt với môi trường phải là những người có năng lực đọc và nắm bắt thông tin, xử lý thông tin nhanh nhạy Đó cũng chính là mục tiêu của giáo dục trong việc đào tạo ra những thế hệ tương lai
Ngày nay, cơ hội để HS hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu rất phong phú và đa dạng, vì hàng ngày cả trong môi trường lớp học và môi trường xã hội, HS được tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau Tùy theo tiêu chí phân loại, văn bản sẽ được sắp xếp theo những hệ thống khác nhau, ví
dụ như văn bản in và văn bản điện tử, văn bản liên tục và văn bản không liên tục (văn bản gồm chữ và các số, chữ và biểu đồ, bảng biểu, v.v), văn bản hư cấu và văn bản phi hư cấu, văn bản văn chương và văn bản thông tin Do đó, điều cần thiết là phải trang bị cho HS có được kĩ năng đọc hiểu, không đơn thuần chỉ là đọc hết thông tin, đọc diễn cảm mà phải nắm bắt được tinh thần của tác phẩm, hiểu rõ được nội dung then chốt thể hiện tư tưởng của tác giả
Trong chương trình Ngữ văn của chúng ta hiện nay, HS chủ yếu chỉ được tìm hiểu hệ thống văn bản văn chương Còn một hệ thống văn bản khác
có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông
Trang 37tin thì lại chưa được quan tâm giảng dạy đúng mức, tương xứng với vị trí và tầm quan trọng của nó trong cuộc sống xã hội Đó là một vấn đề bất cập Nhà trường phổ thông của chúng ta không chỉ dành quá ít thời gian cho việc rèn luyện năng lực đọc hiểu loại văn bản này mà ngay cả những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại này cũng chiếm một số lượng rất khiêm tốn trong toàn bộ chương trình Ngữ văn
Khắc phục những hạn chế đó, trong CTGDPT năm 2018, văn bản được chọn làm ngữ liệu đọc bao gồm văn bản văn học (chủ yếu là truyện, thơ, kịch, kí), văn bản nghị luận (nghị luận xã hội, nghị luận văn học), văn bản thông tin (văn bản thuyết minh, văn bản nhật dụng) Trong đó mặc dù kĩ năng đọc văn bản văn học được đặc biệt chú trọng nhưng vẫn cần đảm bảo cân đối giữa việc dạy đọc văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin Thêm vào đó, GV được lựa chọn sách giáo khoa, sử dụng một hay kết hợp nhiều sách, nhiều nguồn tư liệu khác nhau để dạy học trên cơ sở bám sát mục tiêu
và đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình Việc đánh giá kết quả học tập định kì không dựa vào các ngữ liệu đã học trong một cuốn sách giáo khoa Ngữ văn cụ thể mà lấy yêu cầu cần đạt nêu trong văn bản chương trình môn học làm căn cứ để biên soạn đề kiểm tra, đánh giá Những thay đổi này là cơ
sở để dạy học Ngữ văn được phát triển theo hướng “mở”, phát huy được năng
lực sáng tạo không chỉ của GV mà của cả HS Và sử dụng infographic được xem là một hướng đi mới, đáp ứng được xu hướng đổi mới đó
1.2.2 Ý nghĩa thực tế của ứng dụng infographic trong dạy học và dạy học đọc hiểu môn Ngữ văn
Ứng dụng infographic thiết kế các văn bản thông tin trong dạy học đọc
hiểu văn bản nói chung và văn bản thông tin nói riêng được xem là một phương pháp dạy học mới có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học Ngữ văn hiện nay
V ề kiến thức:
Trang 38Sử dụng infographic góp phần cô đọng và tổng hợp kiến thức theo logic
một cách nhanh chóng Tiếp nhận thông tin từ infographic giúp cho văn bản thông tin trở nên ngắn gọn, trọng tâm hơn và từ đó hiệu quả hơn Quá trình tìm tòi, thu thập các thông tin để tạo ra infographic của mình cũng tạo điều
kiện cho HS được tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng, mở rộng vốn kiến
thức của các em
V ề kĩ năng:
Khi khai thác thông tin từ một infographic – tức là HS được tiếp cận
với hệ thống những thông tin đã được tổng hợp, khái quát hóa ở mức cao, đòi
hỏi HS cần huy động các kĩ năng của tư duy: phân tích, so sánh, đánh giá… từ
đó nâng cao kĩ năng đọc của các em Trong trường hợp HS là người được giao nhiệm vụ thiết kế infographic văn bản thông tin thì các kĩ năng tổng hợp
sẽ được phát huy tối đa trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
V ề thái độ:
Mỗi infographic được thiết kế mang đậm màu sắc cá nhân của tác giả
HS THCS đang có nhu cầu khẳng định bản thân sẽ hứng thú với việc tự thiết
kế và biết trân trọng sản phẩm học tập của chính mình, trên cơ sở đó hứng thú hơn với bộ môn
V ề định hướng phát triển năng lực:
Sử dụng infographic trong thiết kế và khai thác văn bản thông tin không chỉ hỗ trợ HS phát triển các năng lực của bộ môn mà còn phát triển các năng lực chung, đặc biệt là năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực sáng tạo, năng lực nghệ thuật (phù hợp với đặc thù môn học)
Trang 39Như vậy, ứng dụng infographic với tư cách là một công cụ hỗ trợ có tính trực quan trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin được xem là một phương pháp dạy học mới không chỉ nhằm nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học văn bản thông tin nói riêng mà còn tăng tính hứng thú
học tập của HS, tăng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để
thực hành sáng tạo, từ đó hình thành các năng lực cho người học cũng như khuyến khích sự sáng tạo của GV trong quá trình dạy học
1.2.3 Th ực trạng sử dụng infographic trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin cho HS THCS
Những năm gần đây, do đáp ứng nhu cầu thi cử, việc dạy học đọc hiểu trong các nhà trường phổ thông đã được chú trọng nhiều hơn trước Đặc biệt
là trong xu hướng đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay, khái niệm văn bản thông tin xuất hiện càng nhiều thì theo đó, việc dạy
học đọc hiểu văn bản thông tin cũng trở thành một vấn đề được GV quan tâm Trong kỉ nguyên khoa học công nghệ, văn minh thông tin đang chiếm lĩnh,
việc tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho người học rèn luyện được kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin cũng như tạo lập văn bản thông tin chuẩn xác, hiệu quả cao là biểu hiện của dạy học gắn với đời sống, đáp ứng nhu cầu
của thực tiễn Đây cũng chính là mục tiêu mà các GV đang hướng đến trong
dạy học môn Ngữ văn Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng các văn bản thông tin trong chương trình chưa nhiều; dạy học đọc hiểu lại gặp nhiều khó khăn bởi
bản chất của quá trình đọc hiểu là sự lĩnh hội của người đọc Động cơ của
hoạt động đọc là do nhu cầu hiểu biết, nhu cầu bộc lộ và nhu cầu hành động
của người đọc; do đó, dạy đọc hiểu văn bản thông tin thực chất là dạy một kĩ năng học tập – là vấn đề khó không chỉ với HS mà với cả GV Khắc phục tình
trạng đó, mỗi GV lại tìm kiếm những phương pháp khác nhau để việc dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trở nên hấp dẫn, phát huy được hứng thú của HS
Trang 40trong đó có ứng dụng infographic nhưng chưa thật sự hiệu quả, các giờ học
vẫn chủ yếu được tiến hành theo phương pháp truyền thụ Thực tế này được
phản ánh qua kết quả khảo sát của chúng tôi
Cụ thể:
1.2.3.1 V ề phía GV
Với phiếu khảo sát giành cho GV, chúng tôi khảo sát với GV dạy Ngữ văn của một số trường THCS trên địa bàn tỉnh như: THCS Đào Dương - Ân Thi, THCS Nhân Hòa - Mĩ Hào, THCS Lạc Hồng - Văn Lâm, THCS Nghĩa Dân - Kim Động, THCS Toàn Thắng - Kim Động và THCS Vĩnh Xá - Kim Động Số phiếu phát ra là 50, số phiếu thu về là 41
Kết quả thu được như sau:
Với câu hỏi: Thầy/Cô hiểu như thế nào về infographic? Hầu hết các GV đều đã nhận thức đúng được bản chất của infographic là sử dụng hình ảnh để truyền tải thông tin (nội dung đáp án A và B)
Bi ểu đồ 1.1 Nhận thức của GV về infographic