1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giải pháp áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 705,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích thống kê cho kết quả xác định 05 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Trang 1

Trịnh Hồng Hạnh

Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng

Ngày nhận: 04/03/2021

Ngày nhận bản sửa: 14/04/2021

Ngày duyệt đăng: 19/05/2021

Tóm tắt : Kế toán giá trị hợp lý trong ngân hàng là thực sự cần thiết bởi đối tượng

kế toán ngân hàng chủ yếu là các công cụ tài chính mà giá trị của chúng thường xuyên biến động theo giá thị trường Các ngân hàng cần công bố thông tin về các đối tượng kế toán theo nguyên tắc giá trị hợp lý thay vì nguyên tắc giá gốc để phản ánh đúng giá trị thực của chúng, đảm bảo cho các thông tin được cung cấp một cách trung thực, hợp lí, minh bạch hơn, giúp cho những người sử dụng thông tin có hiệu quả hơn Cùng với xu hướng hội nhập kế toán quốc tế, việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một xu thế tất yếu Dựa trên tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng

kế toán giá trị hợp lý, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích thống kê cho kết quả xác định 05 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế

Resolution for applying fair value accounting according to international standards at

Vietnamese commercial banks

Abstract: Fair value (FV) accounting in banks is really necessary because the object of banking

accounting is mainly financial instruments whose values fluctuate according to market prices Banks need to disclose information about the accounting objects on the principle of fair value instead of the original price principle to accurately reflect their true value, ensuring that the information is provided

in an honest and reasonable manner, more transparently, to help people use information more effectively Along with the trend of international accounting integration, the application of standardized accounting according to international standards at Vietnamese commercial banks is an inevitable trend Based on a research overview of factors affecting the application of FV accounting, the article builds research models, actual surveys, and through that statistical analysis results have identified 5 groups of factors affects the application of FV accounting of Vietnamese commercial banks, including: perceptions of the benefits and disadvantages of FV, legal environment, professional environment, business environment and economic environment This is the basis for proposing solutions to apply international standard FV accounting at Vietnamese commercial banks in the coming time.

Keywords: international accounting standards, fair value accounting, commercial bank.

Hanh Hong Trinh

Email: hanhth@hvnh.edu.vn

Faculty of Banking, Banking Academy of Vietnam

Trang 2

toán giá trị hợp lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm: cảm nhận về lợi ích và bất lợi của giá trị hợp lý, môi trường pháp luật, môi trường nghề nghiệp, môi trường kinh doanh và môi trường kinh tế Đây là cơ sở đề xuất giải pháp áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa : chuẩn mực kế toán quốc tế, kế toán giá trị hợp lý, ngân hàng thương mại.

1 Giới thiệu

Kế toán giá trị hợp lý (GTHL) đã được thực

hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới với việc

áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc

tế (IFRS) về GTHL theo những cách thức

khác nhau, nhằm phát huy những lợi ích của

nó đối với các quốc gia, các cơ quan quản

lý cũng như các nhà đầu tư Ở Việt Nam,

kế toán GTHL bước đầu đã được áp dụng,

và lần đầu tiên Luật Kế toán (sửa đổi) số

88/2015/QH13 được Quốc hội thông qua

ngày 20/11/2015 đã quy định về GTHL,

thể hiện xu hướng và sự cần thiết của vấn

đề này Việc áp dụng kế toán GTHL tại các

ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam

cũng đã bước đầu được thực hiện thông qua

hướng dẫn chế độ kế toán của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam (NHNN), tuy nhiên so

với chuẩn mực kế toán quốc tế thì vẫn còn

nhiều hạn chế Mặc dù chưa phải là một

yêu cầu bắt buộc theo luật và quy định của

Việt Nam, tuy nhiên, một số NHTM thuộc

top đầu đã và đang thực hiện lập báo cáo

tài chính (BCTC) theo IFRS (trong đó có

sử dụng GTHL để công bố thông tin về tài

sản, nợ phải trả của ngân hàng) do nhu cầu

tự thân như: họ cần nộp BCTC được lập

theo IFRS cho Ngân hàng Thế giới (WB),

các tổ chức tài chính quốc tế, hay nhà đầu

tư nước ngoài để được vay vốn, hoặc để

phục vụ cho mục đích xếp hạng tín nhiệm

Nhiều ngân hàng cũng muốn quản trị rủi

ro tốt hơn, theo thông lệ quốc tế, nên ngoài

việc lập BCTC theo Chuẩn mực Kế toán

Việt Nam (VAS) thì họ cũng lập thêm BCTC theo IFRS Tuy nhiên BCTC theo IFRS không được các ngân hàng công bố rộng rãi

Theo khảo sát của tác giả, tính đến năm

2019 mới có khoảng 20% ngân hàng đã và đang lập BCTC theo IFRS, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thuộc nhóm 10 ngân hàng được NHNN lựa chọn thực hiện thí điểm Basel 2 như: VCB, BIDV, Vietinbank, Sacombank, VIB, MB, Techcombank, VP Bank, Maritimebank, ACB… Hầu hết các ngân hàng mới chỉ lập BCTC theo IFRS trên cơ sở chuyển đổi BCTC theo VAS sang và có sự hỗ trợ chuyển đổi thủ công của công ty kiểm toán Ở phương diện nào

đó, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiếp xúc thì đây cũng là sự hạn chế bởi nhà đầu tư mong muốn các ngân hàng có BCTC theo chuẩn quốc tế do chính ngân hàng thực hiện chế độ kế toán theo chuẩn quốc tế, chứ không phải đơn thuần là công tác chuyển đổi BCTC vào cuối năm Hơn nữa việc chuyển đổi các khoản mục của BCTC theo VAS sang IFRS chủ yếu là thực hiện các bút toán phân loại lại, điều chỉnh giá trị các khoản mục theo đúng phương pháp kế toán quy định ở các chuẩn mực kế toán quốc

tế, chưa sử dụng GTHL trong đánh giá sự suy giảm giá trị của tài sản, việc đánh giá lại GTHL của các khoản mục tài sản và nợ phải trả chưa được thực hiện đầy đủ theo đúng chuẩn mực quốc tế

Mặc dù số lượng các ngân hàng tự nguyện

áp dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực

Trang 3

quốc tế còn ít, song điều đó cũng thể hiện

các ngân hàng đã dần nhận thấy việc áp

dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc

tế là cần thiết Vì vậy vấn đề Bài viết đặt ra

và giải quyết là cần đưa ra giải pháp nhằm

áp dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực

quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thời

gian tới, trên cơ sở xác định các nhân tố và

mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc áp

dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc

tế tại các NHTM Việt Nam

2 Tổng quan nghiên cứu các nhân tố

ảnh hưởng đến việc áp dụng các chuẩn

mực kế toán quốc tế

Các nghiên cứu trên thế giới cũng đề cập

đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp

dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế nói

chung và kế toán GTHL nói riêng Nhìn

chung, phần lớn các nhân tố này có liên

quan đến các yếu tố môi trường, bao gồm

những nhân tố sau:

a Môi trường pháp lý và thuế

Môi trường pháp lý và thuế có ảnh hưởng

trực tiếp đến cách thức quản lý kế toán

Chand và Patel (2008) khẳng định rằng các

chuẩn mực và thực hành kế toán hiện hành

được thiết lập theo truyền thống Chúng có

ảnh hưởng quan trọng đến quá trình hội tụ

với chuẩn mực BCTC quốc tế Lundqvist

và các cộng sự (2008) bổ sung thêm rằng

các phương pháp kế toán hiện hành có thể

dẫn đến áp dụng sai các chuẩn mực

Môi trường thuế cũng có tác động đến

khung BCTC Francis và các cộng sự

(2002) chỉ ra rằng: ở các nước

Anglo-Saxon (như Anh) chính sách kế toán có thể

bị ảnh hưởng trong một số lĩnh vực nhất

định bởi thuế; ở các nước châu Âu lục địa

(như Đức), có một liên kết ràng buộc toàn

diện giữa thuế và các quy tắc kế toán

b Môi trường nghề nghiệp

Chất lượng của BCTC bị ảnh hưởng bởi

mức độ phát triển của nghề kế toán Sự phát triển của nghề kế toán là một khái niệm rộng Nó có thể được đo bằng nhiều cách, trong đó, các chỉ số quan trọng là: Sự hiện diện và tầm quan trọng của các hiệp hội nghề nghiệp (Askary, 2006), mức độ đầy

đủ của của các chứng chỉ kế toán (Chen và cộng sự, 2002; Spathis và Geograkopoulou, 2007; và Lundqvist và cộng sự, 2008), và

sự sự ủng hộ pháp luật và điều lệ quy tắc (Ashraf và Ghani, 2005)

c Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh xác định mức độ, hình thức và nội dung thông tin cần thiết

và do đó giúp định hình các quy tắc và thực tiễn khung BCTC Hung và Subramanyam (2007), Floropoulos (2006) chỉ ra một số yếu tố đáng chú ý trong môi trường kinh doanh: Đặc điểm của công ty; Mức độ phát triển thị trường vốn; và Loại hệ thống tài chính hiện tại

d Môi trường kinh tế

Nhiều nghiên cứu đều khẳng định môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến các khung BCTC Môi trường kinh tế cung cấp các cấu trúc xác định thông tin cần được báo cáo Các yếu tố kinh tế chính ảnh hưởng đến sự phát triển của các khung BCTC là: Cổ phần hoá (Ashraf và Ghani, 2005); Mở cửa kinh tế (Irvine và Lucas,

2006 và Irvine, 2008); Giai đoạn phát triển kinh tế (Archambault và Archambault, 2003); và Thương mại quốc tế (Irvine, 2008)

e Môi trường quốc tế

Môi trường quốc tế có thể đóng góp rất nhiều trong việc định hình các đặc điểm của khung BCTC, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Kế toán ở một quốc gia cụ thể

có thể được phát triển là kết quả của sự gia nhập của đất nước vào cộng đồng quốc tế Chand và Patel (2008) nhận thấy rằng sự hiện diện của các công ty kế toán quốc tế là một trong những thuộc tính ảnh hưởng đến

Trang 4

sự hội tụ với IFRS Trong bối cảnh tương

tự, Irvine và Lucas (2006) và Irvine (2008)

cho rằng việc áp dụng IFRS của UAE được

lấy cảm hứng từ các công ty kế toán quốc

tế Joshi và Ramadhan (2002) và Joshi và

các cộng sự (2008) cũng xác nhận điều này

cho Bahrain

f Yếu tố văn hoá - tâm lý

Một số lượng đáng kể các nghiên cứu đã

đề cập đến mối quan hệ giữa khung BCTC

và môi trường văn hóa Các nghiên cứu

được biết đến rộng rãi nhất là bởi Hofstede

(1980, 1983, và 1984) và Gray (1988)

Hai tác giả đã đề xuất các mô hình liên

kết giá trị văn hóa với khung BCTC của

một quốc gia Perera và Baydoun (2007)

tuyên bố rằng ngành kế toán của Indonesia

nhiều khả năng xếp hạng cao trên cả khía

cạnh thận trọng và bí mật, dựa trên mức độ

chuyên nghiệp thấp và khoảng cách quyền

lực lớn ở Indonesia Điều này dẫn đến mức

độ minh bạch thấp trong các BCTC

Các nghiên cứu trong nước về GTHL chủ

yếu là những nghiên cứu về sự ủng hộ áp

dụng GTHL tại các doanh nghiệp, có thể

kể đến là các nghiên cứu của các tiến sĩ,

các nhà khoa học Việt Nam như: Nguyễn

Thế Lộc (2010), Mai Ngọc Anh (2010),

Lê Hoàng Phúc (2012), Hà Thị Ngọc Hà

(2016) và một số các nghiên cứu khác Các

nghiên cứu đưa ra những vấn đề khác nhau

trong việc áp dụng GTHL, nhưng đều có sự

đồng thuận về quan điểm ủng hộ áp dụng

GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp

Việt Nam

Bài viết này nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến việc áp dụng kế toán GTHL tại

các NHTM Việt Nam, xây dựng mô hình

nghiên cứu, lấy phiếu khảo sát thực tế và

kiểm định bằng công cụ thống kê SPSS để

xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng

của các nhân tố đến việc áp dụng kế toán

GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại các

ngân hàng Trên cơ sở đó đề xuất những

giải pháp phù hợp, khả thi nhằm áp dụng

kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thời gian tới

3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi về việc áp dụng kế toán GTHL tại các NHTM Việt Nam Các dữ liệu thu thập được phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm định các giả thuyết với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22

a Biến số nghiên cứu và thiết kế phiếu khảo sát

Từ tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán GTHL, tác giả đề xuất mô hình với các giả thuyết nghiên cứu như sau:

H11: Yếu tố Chính sách - pháp luật có tác

động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (PL)

H21: Yếu tố Môi trường nghề nghiệp có tác

động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (NN)

H31: Yếu tố Môi trường kinh doanh có tác

động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (KD)

H41: Yếu tố Môi trường kinh tế - quốc tế

có tác động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (KT)

H51: Yếu tố Văn hóa - tâm lý có tác động

đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (TL)

Trong đó do yếu tố tâm lý được chia ra làm hai nhóm được kỳ vọng có tác động đến mức độ áp dụng GTHL tại các ngân hàng ngược chiều nhau, nhóm 5a1 là các yếu tố liên quan đến cảm nhận lợi ích của GTHL (TLI) và nhóm 5b1 là các yếu tố liên

Trang 5

quan đến cảm nhận những bất lợi cũng như

những khó khăn khi triển khai kế toán theo

GTHL (TLB) Từ các giả thuyết đặt ra, ta

có phương trình hồi quy bội như sau:

HL = α + β1*PL + β2*NN + β3*KD + β4*KT

+ β5*TLI + β6*TLB + ε

Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu,

tác giả đã cùng các cộng sự xây dựng bảng

câu hỏi để khảo sát tại các ngân hàng Tất

cả các biến được đo bằng cách sử dụng các

câu phát biểu dưới dạng Likert với thang

điểm đánh giá là 5 (từ “1 = Hoàn toàn

không đồng ý” cho đến “5 = Hoàn toàn

đồng ý”), trừ một số câu hỏi về những vấn

đề khác Thang đo cũng được gửi đến một

số chuyên gia trong lĩnh vực kế toán ngân

hàng đọc trước, trả lời và bổ sung Các câu

hỏi sau khi được chỉnh sửa, bổ sung hoàn

thiện nhằm khảo sát mức độ sử dụng kế

toán GTHL tại các ngân hàng thể hiện tại

Bảng 1

b Phương pháp đánh giá độ tin cậy của

thang đo

Sau khi nhận được phản hồi, tác giả tiến

hành làm sạch thông tin, lọc bảng câu hỏi

và mã hóa những thông tin cần thiết trong

bảng câu hỏi, nhập và phân tích dữ liệu

bằng phần mềm SPSS 22

Xử lý dữ liệu bao gồm thống kê mô tả dữ liệu thu thập và Phân tích dữ liệu qua các bước: (1) Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha để loại bỏ các câu hỏi không phù hợp và hạn chế các câu nhiễu trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo; (2) Kiểm định giá trị của biến bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factors Analysis) và (3) Phân tích tương quan, hồi quy đa biến để kiểm tra mối quan

hệ tuyến tính giữa các biến và mô hình hoá mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố khác nhau đối với mức độ áp dụng GTHL tại các ngân hàng thông qua mô hình hồi quy bội Trong đó biến phụ thuộc là mức

độ áp dụng GTHL, còn biến độc lập là các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ áp dụng GTHL Mô hình hồi quy được chạy bằng phần mềm SPSS 22 theo phương pháp Enter

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các đối tượng khảo sát là nhân viên kế toán và trưởng, phó phòng, phụ trách hoạt động kế toán tại các ngân hàng theo phương pháp

Bảng 1 Câu hỏi khảo sát các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất

Ký hiệu Câu hỏi khảo sát

Biến phụ thuộc: HL thể hiện mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng

HL1 Lãnh đạo cấp cao đã nhận thức về GTHL

HL2 Lãnh đạo cấp cao mong muốn chuyển hẳn sang GTHL.

HL3 Ngân hàng đã sử dụng GTHL trong các hoạt động.Liệt kê những hoạt động sử dụng GTHL………

HL4 Ngân hàng đã có hướng dẫn phương pháp định giá theo GTHL.

HL5 Ngân hàng sử dụng kỹ thuật định giá theo IFRS.

HL6 Ngân hàng sử dụng năm kỹ thuật định giá theo tiêu chuẩn thẩm định giá.

HL7 Ngân hàng sử dụng phương pháp khác.Tên phương pháp khác:……….

HL8 Tóm lại, ngân hàng có thể sử dụng GTHL trong giai đoạn hiện nay.

Trang 6

Ký hiệu Câu hỏi khảo sát

Các biến độc lập

Yếu tố chính sách-pháp luật (PL)

PL1 Chưa có Quyết định quy định GTHL là cơ sở định giá trong kế toán

PL2 Chưa có chuẩn mực kế toán Việt Nam về đo lường GTHL

PL3 Một số chuẩn mực kế toán hiện tại của Việt Nam có đề cập đến GTHL nhưng chưa rõ ràng, đầy đủ.

PL4 NHNN chưa yêu cầu bắt buộc sử dụng GTHL đối với các NHTM

PL5 Quy định về thuế của Việt Nam không khuyến khích ghi nhận theo GTHL.

Yếu tố Môi trường nghề nghiệp (NN)

NN1 Các tổ chức kiểm toán chưa có vai trò trong việc tư vấn cho các NH áp dụng kế toán GTHL.

NN2 Chương trình giảng dạy ngành kế toán tại các trường đại học đề cập rất ít đến GTHL.

NN3 Các NH vẫn coi trọng nguyên tắc kế toán theo giá gốc.

NN4 Số lượng kế toán viên chuyên nghiệp có trình độ (am hiểu về chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung và về kế toán GTHL nói riêng) tại các NH Việt Nam còn rất hạn

chế.

Yếu tố Môi trường kinh doanh (KD)

KD1 Sở giao dịch chứng khoán chưa có lộ trình yêu cầu các tổ chức báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL.

KD2 Nhà đầu tư (kể cả nhà đầu tư chiến lược) không có nhu cầu về việc ngân hàng nên báo cáo theo GTHL.

KD3 Thị trường hàng hóa, công cụ tài chính ở Việt Nam chưa phát triển.

KD4 Việt Nam chưa có các tổ chức định giá độc lập hoạt động.

Yếu tố Môi trường kinh tế-quốc tế (KT)

KT1 Ngân hàng không bị áp lực phải công bố báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. KT2 Các tổ chức quốc tế (WTO, WB, IFM…) không gây áp lực yêu cầu ngân hàng lập báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL. KT3 Các ngân hàng/công ty đa quốc gia không kỳ vọng ngân hàng lập báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL.

Cảm nhận về những lợi ích của Giá trị hợp lý (TLI)

TLI1 BCTC minh bạch, thông tin thích hợp, dễ so sánh

TLI2 Giúp cơ quan quản lý nắm được giá trị thực tế của NH

TLI3 Tiếp cận thị trường vốn quốc tế dễ dàng hơn

Cảm nhận về những bất lợi của Giá trị hợp lý (TLB)

TLB1 Sử dụng GTHL không cải thiện được chất lượng báo cáo.

TLB2 Cập nhật quy trình kế toán GTHL khó khăn, phức tạp

TLB3 Lợi ích mang lại từ việc báo cáo theo GTHL không tương xứng với chi phí

TLB4 Không có sự đồng thuận về GTHL từ người làm kế toán, nhà quản lý đến đối tượng sử dụng.

Nguồn: Tác giả xây dựng từ tổng quan nghiên cứu và chỉnh sửa sau góp ý của các chuyên gia

Trang 7

chọn mẫu thuận tiện không xét đến hình

thức sở hữu, quy mô của các ngân hàng,

trong khoảng thời gian từ tháng 10/2019-

12/2019

Phương pháp khảo sát được thực hiện bằng

việc gửi phiếu khảo sát qua Email, sử dụng

bảng câu hỏi thiết kế trên Google form và

thu hồi phiếu qua bảng tổng hợp tự động

của Google

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Kết quả nghiên cứu

a Thống kê mô tả số liệu

Trên cơ sở gửi bảng câu hỏi tới các đối

tượng khảo sát, kết quả thu về được 165

phiếu trả lời Sau khi rà soát các phiếu trả

lời, loại bỏ các phiếu trả lời có khả năng

là đánh giá không nghiêm túc, còn lại 157

phiếu trả lời hợp lệ, chiếm tỷ lệ 95,15%

được sử dụng cho nghiên cứu chính

Bảng 2 tóm tắt mô tả mẫu nghiên cứu

Trong số 157 câu trả lời, người được khảo

sát làm kế toán viên chiếm tỷ trọng lớn nhất (61%), 17% người trả lời khảo sát là trưởng phòng (hoặc phụ trách hoạt động)

kế toán, còn lại 22% là đối tượng khác; đa

số có trình độ đại học (74,5%) và sau đại học (23%)

b Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm định dựa trên hệ số Cronbach’ Alpha cho thấy nhóm biến Cảm nhận bất lợi của GTHL không đảm bảo đạt yêu cầu

về giá trị đo lường nên biến này bị loại ra Các biến còn lại đều có hệ số Cronbach Alpha của nhóm > 0,7 nên đều đạt yêu cầu được giữ lại phân tích trong bước tiếp theo Kiểm định giá trị của các biến thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy các biến đo lường đều có giá trị

Factor Loadings > 0,45 Các thang đo được

chiết xuất thành sáu nhóm tương ứng với

6 nhóm yếu tố lựa chọn ban đầu Các chỉ báo đo lường giải thích khá tốt cho các khái niệm nghiên cứu Trừ biến TLB1 bị loại từ trước, các biến còn lại đều đạt yêu cầu và phù hợp để đưa vào phân tích tiếp theo

Bảng 2 Mô tả mẫu nghiên cứu

Số lượng Tỷ lệ phần trăm

Vị trí công việc

Bằng cấp

Số năm kinh nghiệm

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các phiếu khảo sát

Trang 8

Thực hiện các thao tác tương tự đối với

biến phụ thuộc HL cũng cho kết quả đáng

tin cậy tương tự và tiếp tục được sử dụng

trong phân tích tương quan và phân tích hồi

quy nhằm kiểm định giả thuyết đặt ra

c Phân tích hệ số tương quan

Bảng 4 trình bày ma trận tương quan giữa

các biến Kết quả (theo giá trị sig.) tương

quan Pearson giữa các biến độc lập PL,

NN, KD, KT, TLI, TLB với biến phụ thuộc

HL đều nhỏ hơn 0,05 Như vậy các biến

độc lập đều thích hợp để đưa vào mô hình

phân tích hồi quy bội về các nhân tố tác

động đến mức độ sử dụng GTHL Theo

các tiêu chuẩn về dấu hiệu của hiện tượng

đa cộng tuyến thì có thể thấy rằng các hệ số

tương quan đều nhỏ hơn 0,7 nên khả năng có

đa cộng tuyến là thấp

d Kết quả phân tích hồi quy bội về các

nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng giá

trị hợp lý

Kết quả mô hình hồi quy được tóm tắt trong

Bảng 5 Về sự phù hợp của mô hình: Kiểm

định F với hệ số sig.= 000 < 0,05 cho thấy

mô hình hồi quy là phù hợp Khả năng giải

thích của mô hình nghiên cứu là 53,8% (R2

= 0,538) Điều này có nghĩa là các biến độc

lập giải thích được 53,8% sự biến động của

biến phụ thuộc (mức độ sử dụng GTHL),

còn lại là do các biến ngoài mô hình và các

sai số ngẫu nhiên

Từ Bảng 5 cho thấy, các giả thiết H11, H21, H31, H41, H5a1, H5b1 đều được chấp nhận vì giá trị ý nghĩa của thống kê t đều nhỏ hơn 0,05

Phương trình hồi quy cụ thể như sau:

HL = 4,279 – 0,207PL – 0,193NN – 0,148KD – 0,146 KT + 0,345 TLI – 0,278 TLB (1)

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu

Phương trình (1) cho thấy ảnh hưởng của biến độc lập tới biến phụ thuộc, hệ số tương quan của các biến đều có dấu như

kỳ vọng ban đầu đặt ra, cho thấy các yếu tố bao gồm Chính sách-pháp luật, Môi trường nghề nghiệp, Môi trường kinh doanh, Môi trường kinh tế- quốc tế, Cảm nhận về bất lợi của GTHL đang cản trở, trong khi Cảm nhận về lợi ích của GTHL có tác động thúc đẩy việc sử dụng GTHL tại các ngân hàng Việt Nam Trong các biến, biến Cảm nhận về lợi ích của GTHL có hệ số hồi quy lớn nhất (0,345), thể hiện là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ sử dụng GTHL Đây cũng là yếu tố đang tạo ra động lực lớn nhất với việc sử dụng GTHL tại các NHTM Việt Nam Các yếu tố còn lại hiện tại đều ít nhiều cản trở hoặc là làm cho việc sử dụng GTHL cũng như quá trình hội tụ với IFRS của Việt Nam còn diễn ra chậm chạp Về

Bảng 3 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo qua Cronbach Alpha

Yếu tố tâm lý- văn hóa 1 (Lợi ích của báo cáo theo GTHL- TLI)) 0,930 Yếu tố tâm lý- văn hóa 2 (Bất lợi khi chuyển sang báo cáo theo GTHL- TLB) 0,729

Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS

Trang 9

thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần, nhóm

Cảm nhận về bất lợi của GTHL (trong đó

điển hình nhất là nỗi lo về quy trình cập

nhật GTHL khó khăn, phức tạp), tiếp theo

là nhóm Môi trường pháp luật và nhóm Môi

trường nghề nghiệp lần lượt xếp tiếp theo

với các mức ảnh hưởng trung bình Hai

nhóm biến thuộc Môi trường kinh doanh

và Môi trường kinh tế đứng cuối cùng với các tác động yếu hơn

5 Đề xuất giải pháp áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bảng 4 Kết quả phân tích tương quan Pearson

* Correlation is significant at the 0,05 level (2-tailed)

** Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed)

Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS

Bảng 5 Bảng tóm tắt kết quả mô hình hồi quy

Model

Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig. Collinearity Statistics

Dependent

Variable

R2

Adjusted

R2

Durbin-Watson

F

Sig

HL 0.538 0.519 1.535 29.095 0.000

Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS

Trang 10

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm

về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng

kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại

các NHTM Việt Nam, các giải pháp nhằm

thúc đẩy việc áp dụng kế toán GTHL theo

chuẩn mực quốc tế tại các NHTM Việt

Nam được đề xuất theo thứ tự mức độ ảnh

hưởng (cản trở) của các nhân tố

5.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức

của các ngân hàng thương mại về việc áp

dụng kế toán giá trị hợp lý

Thứ nhất, các NHTM Việt Nam cần xác định

việc áp dụng IFRS và GTHL là một xu thế

mà các ngân hàng cần phải hướng tới Lợi

ích mà IFRS mang lại cho các ngân hàng sẽ

vượt xa những chi phí trước mắt mà ngân

hàng phải bỏ ra

Thứ hai, các NHTM Việt Nam cần mạnh

dạn nghiên cứu vận dụng GTHL, đặc biệt

là khối ngân hàng niêm yết; Chủ động minh

bạch thông tin tài chính, tiếp cận thu hút

vốn nước ngoài; Thể hiện phương pháp xác

định GTHL một cách rõ ràng trên Thuyết

minh BCTC

Thứ ba, các NHTM phải thay đổi quan điểm

lập BCTC: BCTC phải hướng tới mục tiêu

đáp ứng nhu cầu thông tin của cổ đông, đặt

lợi ích của cổ đông lên trên hết và đáp ứng

nhu cầu của các nhà đầu tư, đối tác, đặc biệt

là các đối tác nước ngoài

Thứ tư, chủ động nâng cao trình độ chuyên

môn về kế toán, về thị trường cho cả người

quản lý ngân hàng, quản lý tài chính cũng

như nhân viên kế toán

5.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ sở

pháp lý cho việc áp dụng kế toán giá trị

hợp lý theo chuẩn mực quốc tế

Ở Việt Nam, tính đến nay Bộ Tài chính đã

ban hành 26 chuẩn mực kế toán (CMKT)

theo 5 đợt từ năm 2001 đến năm 2005

Tuy nhiên, hệ thống các CMKT Việt Nam hiện nay chưa có đầy đủ các chuẩn mực tương đương với chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) Việc đo lường và trình bày về công

cụ tài chính, GTHL và giảm giá tài sản là những lĩnh vực còn thiếu trong chuẩn mực

kế toán Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính với đối tượng kế toán chủ yếu là các công cụ tài chính với giá trị thường xuyên biến động thì đây là những CMKT rất cơ bản cần thiết phải có Hơn nữa các chuẩn mực hiện tại cũng có một số khác biệt so với các CMKT quốc tế tương đương do chưa được cập nhật bởi từ khi ban hành đến nay chưa có sự điều chỉnh nào trong khi chuẩn mực quốc tế thường xuyên có sự điều chỉnh

Với Luật Kế toán sửa đổi, bổ sung số 88/2015/QH13, một trong các nội dung quan trọng được bổ sung đó là qui định các nguyên tắc kế toán liên quan đến GTHL Các qui định về GTHL được đề cập trong Điều số 3, số 6 và số 28 trong Luật Kế toán năm 2015 Tuy nhiên, trong Điều 6 Khoản

1 lại có qui định: “Giá trị tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc” là không tương thích với qui định của IFRS (IFRS qui định tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính khi ghi nhận ban đầu được xác định theo GTHL)

Do vậy, để có đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc áp dụng kế toán GTHL tại các NHTM Việt Nam thì cần phải nghiên cứu chỉnh sửa, bổ sung các văn bản từ cấp cao nhất

là Luật Kế toán cho đến các chuẩn mực kế toán và thông tư hướng dẫn theo hướng tiếp cận với hệ thống chuẩn mực quốc tế

Cụ thể là: sửa đổi nguyên tắc giá gốc trong Luật Kế toán số 88/2015/QH13 theo hướng không quy định cụ thể trong Luật vì đã có quy định trong Chuẩn mực chung, tức là chỉ cần quy định “các nguyên tắc kế toán

áp dụng phải tuân thủ theo quy định của Chuẩn mực chung”; nghiên cứu ban hành

Ngày đăng: 09/06/2021, 09:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w