Dựa trên tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích thống kê cho kết quả xác định 05 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Trang 1Trịnh Hồng Hạnh
Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng
Ngày nhận: 04/03/2021
Ngày nhận bản sửa: 14/04/2021
Ngày duyệt đăng: 19/05/2021
Tóm tắt : Kế toán giá trị hợp lý trong ngân hàng là thực sự cần thiết bởi đối tượng
kế toán ngân hàng chủ yếu là các công cụ tài chính mà giá trị của chúng thường xuyên biến động theo giá thị trường Các ngân hàng cần công bố thông tin về các đối tượng kế toán theo nguyên tắc giá trị hợp lý thay vì nguyên tắc giá gốc để phản ánh đúng giá trị thực của chúng, đảm bảo cho các thông tin được cung cấp một cách trung thực, hợp lí, minh bạch hơn, giúp cho những người sử dụng thông tin có hiệu quả hơn Cùng với xu hướng hội nhập kế toán quốc tế, việc áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một xu thế tất yếu Dựa trên tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng
kế toán giá trị hợp lý, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích thống kê cho kết quả xác định 05 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế
Resolution for applying fair value accounting according to international standards at
Vietnamese commercial banks
Abstract: Fair value (FV) accounting in banks is really necessary because the object of banking
accounting is mainly financial instruments whose values fluctuate according to market prices Banks need to disclose information about the accounting objects on the principle of fair value instead of the original price principle to accurately reflect their true value, ensuring that the information is provided
in an honest and reasonable manner, more transparently, to help people use information more effectively Along with the trend of international accounting integration, the application of standardized accounting according to international standards at Vietnamese commercial banks is an inevitable trend Based on a research overview of factors affecting the application of FV accounting, the article builds research models, actual surveys, and through that statistical analysis results have identified 5 groups of factors affects the application of FV accounting of Vietnamese commercial banks, including: perceptions of the benefits and disadvantages of FV, legal environment, professional environment, business environment and economic environment This is the basis for proposing solutions to apply international standard FV accounting at Vietnamese commercial banks in the coming time.
Keywords: international accounting standards, fair value accounting, commercial bank.
Hanh Hong Trinh
Email: hanhth@hvnh.edu.vn
Faculty of Banking, Banking Academy of Vietnam
Trang 2toán giá trị hợp lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm: cảm nhận về lợi ích và bất lợi của giá trị hợp lý, môi trường pháp luật, môi trường nghề nghiệp, môi trường kinh doanh và môi trường kinh tế Đây là cơ sở đề xuất giải pháp áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa : chuẩn mực kế toán quốc tế, kế toán giá trị hợp lý, ngân hàng thương mại.
1 Giới thiệu
Kế toán giá trị hợp lý (GTHL) đã được thực
hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới với việc
áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc
tế (IFRS) về GTHL theo những cách thức
khác nhau, nhằm phát huy những lợi ích của
nó đối với các quốc gia, các cơ quan quản
lý cũng như các nhà đầu tư Ở Việt Nam,
kế toán GTHL bước đầu đã được áp dụng,
và lần đầu tiên Luật Kế toán (sửa đổi) số
88/2015/QH13 được Quốc hội thông qua
ngày 20/11/2015 đã quy định về GTHL,
thể hiện xu hướng và sự cần thiết của vấn
đề này Việc áp dụng kế toán GTHL tại các
ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
cũng đã bước đầu được thực hiện thông qua
hướng dẫn chế độ kế toán của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam (NHNN), tuy nhiên so
với chuẩn mực kế toán quốc tế thì vẫn còn
nhiều hạn chế Mặc dù chưa phải là một
yêu cầu bắt buộc theo luật và quy định của
Việt Nam, tuy nhiên, một số NHTM thuộc
top đầu đã và đang thực hiện lập báo cáo
tài chính (BCTC) theo IFRS (trong đó có
sử dụng GTHL để công bố thông tin về tài
sản, nợ phải trả của ngân hàng) do nhu cầu
tự thân như: họ cần nộp BCTC được lập
theo IFRS cho Ngân hàng Thế giới (WB),
các tổ chức tài chính quốc tế, hay nhà đầu
tư nước ngoài để được vay vốn, hoặc để
phục vụ cho mục đích xếp hạng tín nhiệm
Nhiều ngân hàng cũng muốn quản trị rủi
ro tốt hơn, theo thông lệ quốc tế, nên ngoài
việc lập BCTC theo Chuẩn mực Kế toán
Việt Nam (VAS) thì họ cũng lập thêm BCTC theo IFRS Tuy nhiên BCTC theo IFRS không được các ngân hàng công bố rộng rãi
Theo khảo sát của tác giả, tính đến năm
2019 mới có khoảng 20% ngân hàng đã và đang lập BCTC theo IFRS, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thuộc nhóm 10 ngân hàng được NHNN lựa chọn thực hiện thí điểm Basel 2 như: VCB, BIDV, Vietinbank, Sacombank, VIB, MB, Techcombank, VP Bank, Maritimebank, ACB… Hầu hết các ngân hàng mới chỉ lập BCTC theo IFRS trên cơ sở chuyển đổi BCTC theo VAS sang và có sự hỗ trợ chuyển đổi thủ công của công ty kiểm toán Ở phương diện nào
đó, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiếp xúc thì đây cũng là sự hạn chế bởi nhà đầu tư mong muốn các ngân hàng có BCTC theo chuẩn quốc tế do chính ngân hàng thực hiện chế độ kế toán theo chuẩn quốc tế, chứ không phải đơn thuần là công tác chuyển đổi BCTC vào cuối năm Hơn nữa việc chuyển đổi các khoản mục của BCTC theo VAS sang IFRS chủ yếu là thực hiện các bút toán phân loại lại, điều chỉnh giá trị các khoản mục theo đúng phương pháp kế toán quy định ở các chuẩn mực kế toán quốc
tế, chưa sử dụng GTHL trong đánh giá sự suy giảm giá trị của tài sản, việc đánh giá lại GTHL của các khoản mục tài sản và nợ phải trả chưa được thực hiện đầy đủ theo đúng chuẩn mực quốc tế
Mặc dù số lượng các ngân hàng tự nguyện
áp dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực
Trang 3quốc tế còn ít, song điều đó cũng thể hiện
các ngân hàng đã dần nhận thấy việc áp
dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc
tế là cần thiết Vì vậy vấn đề Bài viết đặt ra
và giải quyết là cần đưa ra giải pháp nhằm
áp dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực
quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thời
gian tới, trên cơ sở xác định các nhân tố và
mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc áp
dụng kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc
tế tại các NHTM Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến việc áp dụng các chuẩn
mực kế toán quốc tế
Các nghiên cứu trên thế giới cũng đề cập
đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp
dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế nói
chung và kế toán GTHL nói riêng Nhìn
chung, phần lớn các nhân tố này có liên
quan đến các yếu tố môi trường, bao gồm
những nhân tố sau:
a Môi trường pháp lý và thuế
Môi trường pháp lý và thuế có ảnh hưởng
trực tiếp đến cách thức quản lý kế toán
Chand và Patel (2008) khẳng định rằng các
chuẩn mực và thực hành kế toán hiện hành
được thiết lập theo truyền thống Chúng có
ảnh hưởng quan trọng đến quá trình hội tụ
với chuẩn mực BCTC quốc tế Lundqvist
và các cộng sự (2008) bổ sung thêm rằng
các phương pháp kế toán hiện hành có thể
dẫn đến áp dụng sai các chuẩn mực
Môi trường thuế cũng có tác động đến
khung BCTC Francis và các cộng sự
(2002) chỉ ra rằng: ở các nước
Anglo-Saxon (như Anh) chính sách kế toán có thể
bị ảnh hưởng trong một số lĩnh vực nhất
định bởi thuế; ở các nước châu Âu lục địa
(như Đức), có một liên kết ràng buộc toàn
diện giữa thuế và các quy tắc kế toán
b Môi trường nghề nghiệp
Chất lượng của BCTC bị ảnh hưởng bởi
mức độ phát triển của nghề kế toán Sự phát triển của nghề kế toán là một khái niệm rộng Nó có thể được đo bằng nhiều cách, trong đó, các chỉ số quan trọng là: Sự hiện diện và tầm quan trọng của các hiệp hội nghề nghiệp (Askary, 2006), mức độ đầy
đủ của của các chứng chỉ kế toán (Chen và cộng sự, 2002; Spathis và Geograkopoulou, 2007; và Lundqvist và cộng sự, 2008), và
sự sự ủng hộ pháp luật và điều lệ quy tắc (Ashraf và Ghani, 2005)
c Môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh xác định mức độ, hình thức và nội dung thông tin cần thiết
và do đó giúp định hình các quy tắc và thực tiễn khung BCTC Hung và Subramanyam (2007), Floropoulos (2006) chỉ ra một số yếu tố đáng chú ý trong môi trường kinh doanh: Đặc điểm của công ty; Mức độ phát triển thị trường vốn; và Loại hệ thống tài chính hiện tại
d Môi trường kinh tế
Nhiều nghiên cứu đều khẳng định môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến các khung BCTC Môi trường kinh tế cung cấp các cấu trúc xác định thông tin cần được báo cáo Các yếu tố kinh tế chính ảnh hưởng đến sự phát triển của các khung BCTC là: Cổ phần hoá (Ashraf và Ghani, 2005); Mở cửa kinh tế (Irvine và Lucas,
2006 và Irvine, 2008); Giai đoạn phát triển kinh tế (Archambault và Archambault, 2003); và Thương mại quốc tế (Irvine, 2008)
e Môi trường quốc tế
Môi trường quốc tế có thể đóng góp rất nhiều trong việc định hình các đặc điểm của khung BCTC, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Kế toán ở một quốc gia cụ thể
có thể được phát triển là kết quả của sự gia nhập của đất nước vào cộng đồng quốc tế Chand và Patel (2008) nhận thấy rằng sự hiện diện của các công ty kế toán quốc tế là một trong những thuộc tính ảnh hưởng đến
Trang 4sự hội tụ với IFRS Trong bối cảnh tương
tự, Irvine và Lucas (2006) và Irvine (2008)
cho rằng việc áp dụng IFRS của UAE được
lấy cảm hứng từ các công ty kế toán quốc
tế Joshi và Ramadhan (2002) và Joshi và
các cộng sự (2008) cũng xác nhận điều này
cho Bahrain
f Yếu tố văn hoá - tâm lý
Một số lượng đáng kể các nghiên cứu đã
đề cập đến mối quan hệ giữa khung BCTC
và môi trường văn hóa Các nghiên cứu
được biết đến rộng rãi nhất là bởi Hofstede
(1980, 1983, và 1984) và Gray (1988)
Hai tác giả đã đề xuất các mô hình liên
kết giá trị văn hóa với khung BCTC của
một quốc gia Perera và Baydoun (2007)
tuyên bố rằng ngành kế toán của Indonesia
nhiều khả năng xếp hạng cao trên cả khía
cạnh thận trọng và bí mật, dựa trên mức độ
chuyên nghiệp thấp và khoảng cách quyền
lực lớn ở Indonesia Điều này dẫn đến mức
độ minh bạch thấp trong các BCTC
Các nghiên cứu trong nước về GTHL chủ
yếu là những nghiên cứu về sự ủng hộ áp
dụng GTHL tại các doanh nghiệp, có thể
kể đến là các nghiên cứu của các tiến sĩ,
các nhà khoa học Việt Nam như: Nguyễn
Thế Lộc (2010), Mai Ngọc Anh (2010),
Lê Hoàng Phúc (2012), Hà Thị Ngọc Hà
(2016) và một số các nghiên cứu khác Các
nghiên cứu đưa ra những vấn đề khác nhau
trong việc áp dụng GTHL, nhưng đều có sự
đồng thuận về quan điểm ủng hộ áp dụng
GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp
Việt Nam
Bài viết này nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến việc áp dụng kế toán GTHL tại
các NHTM Việt Nam, xây dựng mô hình
nghiên cứu, lấy phiếu khảo sát thực tế và
kiểm định bằng công cụ thống kê SPSS để
xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đến việc áp dụng kế toán
GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại các
ngân hàng Trên cơ sở đó đề xuất những
giải pháp phù hợp, khả thi nhằm áp dụng
kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thời gian tới
3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi về việc áp dụng kế toán GTHL tại các NHTM Việt Nam Các dữ liệu thu thập được phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm định các giả thuyết với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22
a Biến số nghiên cứu và thiết kế phiếu khảo sát
Từ tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán GTHL, tác giả đề xuất mô hình với các giả thuyết nghiên cứu như sau:
H11: Yếu tố Chính sách - pháp luật có tác
động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (PL)
H21: Yếu tố Môi trường nghề nghiệp có tác
động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (NN)
H31: Yếu tố Môi trường kinh doanh có tác
động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (KD)
H41: Yếu tố Môi trường kinh tế - quốc tế
có tác động đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (KT)
H51: Yếu tố Văn hóa - tâm lý có tác động
đến mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng (TL)
Trong đó do yếu tố tâm lý được chia ra làm hai nhóm được kỳ vọng có tác động đến mức độ áp dụng GTHL tại các ngân hàng ngược chiều nhau, nhóm 5a1 là các yếu tố liên quan đến cảm nhận lợi ích của GTHL (TLI) và nhóm 5b1 là các yếu tố liên
Trang 5quan đến cảm nhận những bất lợi cũng như
những khó khăn khi triển khai kế toán theo
GTHL (TLB) Từ các giả thuyết đặt ra, ta
có phương trình hồi quy bội như sau:
HL = α + β1*PL + β2*NN + β3*KD + β4*KT
+ β5*TLI + β6*TLB + ε
Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu,
tác giả đã cùng các cộng sự xây dựng bảng
câu hỏi để khảo sát tại các ngân hàng Tất
cả các biến được đo bằng cách sử dụng các
câu phát biểu dưới dạng Likert với thang
điểm đánh giá là 5 (từ “1 = Hoàn toàn
không đồng ý” cho đến “5 = Hoàn toàn
đồng ý”), trừ một số câu hỏi về những vấn
đề khác Thang đo cũng được gửi đến một
số chuyên gia trong lĩnh vực kế toán ngân
hàng đọc trước, trả lời và bổ sung Các câu
hỏi sau khi được chỉnh sửa, bổ sung hoàn
thiện nhằm khảo sát mức độ sử dụng kế
toán GTHL tại các ngân hàng thể hiện tại
Bảng 1
b Phương pháp đánh giá độ tin cậy của
thang đo
Sau khi nhận được phản hồi, tác giả tiến
hành làm sạch thông tin, lọc bảng câu hỏi
và mã hóa những thông tin cần thiết trong
bảng câu hỏi, nhập và phân tích dữ liệu
bằng phần mềm SPSS 22
Xử lý dữ liệu bao gồm thống kê mô tả dữ liệu thu thập và Phân tích dữ liệu qua các bước: (1) Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha để loại bỏ các câu hỏi không phù hợp và hạn chế các câu nhiễu trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo; (2) Kiểm định giá trị của biến bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factors Analysis) và (3) Phân tích tương quan, hồi quy đa biến để kiểm tra mối quan
hệ tuyến tính giữa các biến và mô hình hoá mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố khác nhau đối với mức độ áp dụng GTHL tại các ngân hàng thông qua mô hình hồi quy bội Trong đó biến phụ thuộc là mức
độ áp dụng GTHL, còn biến độc lập là các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ áp dụng GTHL Mô hình hồi quy được chạy bằng phần mềm SPSS 22 theo phương pháp Enter
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các đối tượng khảo sát là nhân viên kế toán và trưởng, phó phòng, phụ trách hoạt động kế toán tại các ngân hàng theo phương pháp
Bảng 1 Câu hỏi khảo sát các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất
Ký hiệu Câu hỏi khảo sát
Biến phụ thuộc: HL thể hiện mức độ sử dụng kế toán GTHL tại các ngân hàng
HL1 Lãnh đạo cấp cao đã nhận thức về GTHL
HL2 Lãnh đạo cấp cao mong muốn chuyển hẳn sang GTHL.
HL3 Ngân hàng đã sử dụng GTHL trong các hoạt động.Liệt kê những hoạt động sử dụng GTHL………
HL4 Ngân hàng đã có hướng dẫn phương pháp định giá theo GTHL.
HL5 Ngân hàng sử dụng kỹ thuật định giá theo IFRS.
HL6 Ngân hàng sử dụng năm kỹ thuật định giá theo tiêu chuẩn thẩm định giá.
HL7 Ngân hàng sử dụng phương pháp khác.Tên phương pháp khác:……….
HL8 Tóm lại, ngân hàng có thể sử dụng GTHL trong giai đoạn hiện nay.
Trang 6Ký hiệu Câu hỏi khảo sát
Các biến độc lập
Yếu tố chính sách-pháp luật (PL)
PL1 Chưa có Quyết định quy định GTHL là cơ sở định giá trong kế toán
PL2 Chưa có chuẩn mực kế toán Việt Nam về đo lường GTHL
PL3 Một số chuẩn mực kế toán hiện tại của Việt Nam có đề cập đến GTHL nhưng chưa rõ ràng, đầy đủ.
PL4 NHNN chưa yêu cầu bắt buộc sử dụng GTHL đối với các NHTM
PL5 Quy định về thuế của Việt Nam không khuyến khích ghi nhận theo GTHL.
Yếu tố Môi trường nghề nghiệp (NN)
NN1 Các tổ chức kiểm toán chưa có vai trò trong việc tư vấn cho các NH áp dụng kế toán GTHL.
NN2 Chương trình giảng dạy ngành kế toán tại các trường đại học đề cập rất ít đến GTHL.
NN3 Các NH vẫn coi trọng nguyên tắc kế toán theo giá gốc.
NN4 Số lượng kế toán viên chuyên nghiệp có trình độ (am hiểu về chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung và về kế toán GTHL nói riêng) tại các NH Việt Nam còn rất hạn
chế.
Yếu tố Môi trường kinh doanh (KD)
KD1 Sở giao dịch chứng khoán chưa có lộ trình yêu cầu các tổ chức báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL.
KD2 Nhà đầu tư (kể cả nhà đầu tư chiến lược) không có nhu cầu về việc ngân hàng nên báo cáo theo GTHL.
KD3 Thị trường hàng hóa, công cụ tài chính ở Việt Nam chưa phát triển.
KD4 Việt Nam chưa có các tổ chức định giá độc lập hoạt động.
Yếu tố Môi trường kinh tế-quốc tế (KT)
KT1 Ngân hàng không bị áp lực phải công bố báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. KT2 Các tổ chức quốc tế (WTO, WB, IFM…) không gây áp lực yêu cầu ngân hàng lập báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL. KT3 Các ngân hàng/công ty đa quốc gia không kỳ vọng ngân hàng lập báo cáo theo IFRS và sử dụng GTHL.
Cảm nhận về những lợi ích của Giá trị hợp lý (TLI)
TLI1 BCTC minh bạch, thông tin thích hợp, dễ so sánh
TLI2 Giúp cơ quan quản lý nắm được giá trị thực tế của NH
TLI3 Tiếp cận thị trường vốn quốc tế dễ dàng hơn
Cảm nhận về những bất lợi của Giá trị hợp lý (TLB)
TLB1 Sử dụng GTHL không cải thiện được chất lượng báo cáo.
TLB2 Cập nhật quy trình kế toán GTHL khó khăn, phức tạp
TLB3 Lợi ích mang lại từ việc báo cáo theo GTHL không tương xứng với chi phí
TLB4 Không có sự đồng thuận về GTHL từ người làm kế toán, nhà quản lý đến đối tượng sử dụng.
Nguồn: Tác giả xây dựng từ tổng quan nghiên cứu và chỉnh sửa sau góp ý của các chuyên gia
Trang 7chọn mẫu thuận tiện không xét đến hình
thức sở hữu, quy mô của các ngân hàng,
trong khoảng thời gian từ tháng 10/2019-
12/2019
Phương pháp khảo sát được thực hiện bằng
việc gửi phiếu khảo sát qua Email, sử dụng
bảng câu hỏi thiết kế trên Google form và
thu hồi phiếu qua bảng tổng hợp tự động
của Google
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Kết quả nghiên cứu
a Thống kê mô tả số liệu
Trên cơ sở gửi bảng câu hỏi tới các đối
tượng khảo sát, kết quả thu về được 165
phiếu trả lời Sau khi rà soát các phiếu trả
lời, loại bỏ các phiếu trả lời có khả năng
là đánh giá không nghiêm túc, còn lại 157
phiếu trả lời hợp lệ, chiếm tỷ lệ 95,15%
được sử dụng cho nghiên cứu chính
Bảng 2 tóm tắt mô tả mẫu nghiên cứu
Trong số 157 câu trả lời, người được khảo
sát làm kế toán viên chiếm tỷ trọng lớn nhất (61%), 17% người trả lời khảo sát là trưởng phòng (hoặc phụ trách hoạt động)
kế toán, còn lại 22% là đối tượng khác; đa
số có trình độ đại học (74,5%) và sau đại học (23%)
b Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Kết quả kiểm định dựa trên hệ số Cronbach’ Alpha cho thấy nhóm biến Cảm nhận bất lợi của GTHL không đảm bảo đạt yêu cầu
về giá trị đo lường nên biến này bị loại ra Các biến còn lại đều có hệ số Cronbach Alpha của nhóm > 0,7 nên đều đạt yêu cầu được giữ lại phân tích trong bước tiếp theo Kiểm định giá trị của các biến thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy các biến đo lường đều có giá trị
Factor Loadings > 0,45 Các thang đo được
chiết xuất thành sáu nhóm tương ứng với
6 nhóm yếu tố lựa chọn ban đầu Các chỉ báo đo lường giải thích khá tốt cho các khái niệm nghiên cứu Trừ biến TLB1 bị loại từ trước, các biến còn lại đều đạt yêu cầu và phù hợp để đưa vào phân tích tiếp theo
Bảng 2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Số lượng Tỷ lệ phần trăm
Vị trí công việc
Bằng cấp
Số năm kinh nghiệm
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các phiếu khảo sát
Trang 8Thực hiện các thao tác tương tự đối với
biến phụ thuộc HL cũng cho kết quả đáng
tin cậy tương tự và tiếp tục được sử dụng
trong phân tích tương quan và phân tích hồi
quy nhằm kiểm định giả thuyết đặt ra
c Phân tích hệ số tương quan
Bảng 4 trình bày ma trận tương quan giữa
các biến Kết quả (theo giá trị sig.) tương
quan Pearson giữa các biến độc lập PL,
NN, KD, KT, TLI, TLB với biến phụ thuộc
HL đều nhỏ hơn 0,05 Như vậy các biến
độc lập đều thích hợp để đưa vào mô hình
phân tích hồi quy bội về các nhân tố tác
động đến mức độ sử dụng GTHL Theo
các tiêu chuẩn về dấu hiệu của hiện tượng
đa cộng tuyến thì có thể thấy rằng các hệ số
tương quan đều nhỏ hơn 0,7 nên khả năng có
đa cộng tuyến là thấp
d Kết quả phân tích hồi quy bội về các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng giá
trị hợp lý
Kết quả mô hình hồi quy được tóm tắt trong
Bảng 5 Về sự phù hợp của mô hình: Kiểm
định F với hệ số sig.= 000 < 0,05 cho thấy
mô hình hồi quy là phù hợp Khả năng giải
thích của mô hình nghiên cứu là 53,8% (R2
= 0,538) Điều này có nghĩa là các biến độc
lập giải thích được 53,8% sự biến động của
biến phụ thuộc (mức độ sử dụng GTHL),
còn lại là do các biến ngoài mô hình và các
sai số ngẫu nhiên
Từ Bảng 5 cho thấy, các giả thiết H11, H21, H31, H41, H5a1, H5b1 đều được chấp nhận vì giá trị ý nghĩa của thống kê t đều nhỏ hơn 0,05
Phương trình hồi quy cụ thể như sau:
HL = 4,279 – 0,207PL – 0,193NN – 0,148KD – 0,146 KT + 0,345 TLI – 0,278 TLB (1)
4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Phương trình (1) cho thấy ảnh hưởng của biến độc lập tới biến phụ thuộc, hệ số tương quan của các biến đều có dấu như
kỳ vọng ban đầu đặt ra, cho thấy các yếu tố bao gồm Chính sách-pháp luật, Môi trường nghề nghiệp, Môi trường kinh doanh, Môi trường kinh tế- quốc tế, Cảm nhận về bất lợi của GTHL đang cản trở, trong khi Cảm nhận về lợi ích của GTHL có tác động thúc đẩy việc sử dụng GTHL tại các ngân hàng Việt Nam Trong các biến, biến Cảm nhận về lợi ích của GTHL có hệ số hồi quy lớn nhất (0,345), thể hiện là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến mức độ sử dụng GTHL Đây cũng là yếu tố đang tạo ra động lực lớn nhất với việc sử dụng GTHL tại các NHTM Việt Nam Các yếu tố còn lại hiện tại đều ít nhiều cản trở hoặc là làm cho việc sử dụng GTHL cũng như quá trình hội tụ với IFRS của Việt Nam còn diễn ra chậm chạp Về
Bảng 3 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo qua Cronbach Alpha
Yếu tố tâm lý- văn hóa 1 (Lợi ích của báo cáo theo GTHL- TLI)) 0,930 Yếu tố tâm lý- văn hóa 2 (Bất lợi khi chuyển sang báo cáo theo GTHL- TLB) 0,729
Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS
Trang 9thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần, nhóm
Cảm nhận về bất lợi của GTHL (trong đó
điển hình nhất là nỗi lo về quy trình cập
nhật GTHL khó khăn, phức tạp), tiếp theo
là nhóm Môi trường pháp luật và nhóm Môi
trường nghề nghiệp lần lượt xếp tiếp theo
với các mức ảnh hưởng trung bình Hai
nhóm biến thuộc Môi trường kinh doanh
và Môi trường kinh tế đứng cuối cùng với các tác động yếu hơn
5 Đề xuất giải pháp áp dụng kế toán giá trị hợp lý theo chuẩn mực quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 4 Kết quả phân tích tương quan Pearson
* Correlation is significant at the 0,05 level (2-tailed)
** Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed)
Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS
Bảng 5 Bảng tóm tắt kết quả mô hình hồi quy
Model
Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig. Collinearity Statistics
Dependent
Variable
R2
Adjusted
R2
Durbin-Watson
F
Sig
HL 0.538 0.519 1.535 29.095 0.000
Nguồn: Tổng hợp kết quả trên phần mềm SPSS
Trang 10Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm
về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng
kế toán GTHL theo chuẩn mực quốc tế tại
các NHTM Việt Nam, các giải pháp nhằm
thúc đẩy việc áp dụng kế toán GTHL theo
chuẩn mực quốc tế tại các NHTM Việt
Nam được đề xuất theo thứ tự mức độ ảnh
hưởng (cản trở) của các nhân tố
5.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức
của các ngân hàng thương mại về việc áp
dụng kế toán giá trị hợp lý
Thứ nhất, các NHTM Việt Nam cần xác định
việc áp dụng IFRS và GTHL là một xu thế
mà các ngân hàng cần phải hướng tới Lợi
ích mà IFRS mang lại cho các ngân hàng sẽ
vượt xa những chi phí trước mắt mà ngân
hàng phải bỏ ra
Thứ hai, các NHTM Việt Nam cần mạnh
dạn nghiên cứu vận dụng GTHL, đặc biệt
là khối ngân hàng niêm yết; Chủ động minh
bạch thông tin tài chính, tiếp cận thu hút
vốn nước ngoài; Thể hiện phương pháp xác
định GTHL một cách rõ ràng trên Thuyết
minh BCTC
Thứ ba, các NHTM phải thay đổi quan điểm
lập BCTC: BCTC phải hướng tới mục tiêu
đáp ứng nhu cầu thông tin của cổ đông, đặt
lợi ích của cổ đông lên trên hết và đáp ứng
nhu cầu của các nhà đầu tư, đối tác, đặc biệt
là các đối tác nước ngoài
Thứ tư, chủ động nâng cao trình độ chuyên
môn về kế toán, về thị trường cho cả người
quản lý ngân hàng, quản lý tài chính cũng
như nhân viên kế toán
5.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ sở
pháp lý cho việc áp dụng kế toán giá trị
hợp lý theo chuẩn mực quốc tế
Ở Việt Nam, tính đến nay Bộ Tài chính đã
ban hành 26 chuẩn mực kế toán (CMKT)
theo 5 đợt từ năm 2001 đến năm 2005
Tuy nhiên, hệ thống các CMKT Việt Nam hiện nay chưa có đầy đủ các chuẩn mực tương đương với chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) Việc đo lường và trình bày về công
cụ tài chính, GTHL và giảm giá tài sản là những lĩnh vực còn thiếu trong chuẩn mực
kế toán Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính với đối tượng kế toán chủ yếu là các công cụ tài chính với giá trị thường xuyên biến động thì đây là những CMKT rất cơ bản cần thiết phải có Hơn nữa các chuẩn mực hiện tại cũng có một số khác biệt so với các CMKT quốc tế tương đương do chưa được cập nhật bởi từ khi ban hành đến nay chưa có sự điều chỉnh nào trong khi chuẩn mực quốc tế thường xuyên có sự điều chỉnh
Với Luật Kế toán sửa đổi, bổ sung số 88/2015/QH13, một trong các nội dung quan trọng được bổ sung đó là qui định các nguyên tắc kế toán liên quan đến GTHL Các qui định về GTHL được đề cập trong Điều số 3, số 6 và số 28 trong Luật Kế toán năm 2015 Tuy nhiên, trong Điều 6 Khoản
1 lại có qui định: “Giá trị tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc” là không tương thích với qui định của IFRS (IFRS qui định tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính khi ghi nhận ban đầu được xác định theo GTHL)
Do vậy, để có đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc áp dụng kế toán GTHL tại các NHTM Việt Nam thì cần phải nghiên cứu chỉnh sửa, bổ sung các văn bản từ cấp cao nhất
là Luật Kế toán cho đến các chuẩn mực kế toán và thông tư hướng dẫn theo hướng tiếp cận với hệ thống chuẩn mực quốc tế
Cụ thể là: sửa đổi nguyên tắc giá gốc trong Luật Kế toán số 88/2015/QH13 theo hướng không quy định cụ thể trong Luật vì đã có quy định trong Chuẩn mực chung, tức là chỉ cần quy định “các nguyên tắc kế toán
áp dụng phải tuân thủ theo quy định của Chuẩn mực chung”; nghiên cứu ban hành