1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập cá nhân của người lao động ở Việt Nam

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 578,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với mong muốn nghiên cứu ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập cá nhân của người lao động, bài viết đã sử dụng mô hình hồi quy vốn con người theo thu nhập của Mincer. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.

Trang 1

của người lao động ở Việt Nam

Phạm Thị Lý

Đại học Kinh tế TP HCM

Nguyễn Thanh Trọng

Đại học Kinh tế - Luật TP HCM

Lê Thị Kim Huệ

Học viện Ngân hàng - Phân viện Phú Yên

Nguyễn Thị Đông

Đại học Kinh tế- Luật TP.HCM

Ngày nhận: 21/02/2021

Ngày nhận bản sửa: 16/03/2021

Ngày duyệt đăng: 23/03/2021

Tóm tắt : Các nghiên cứu về tăng trưởng trong những năm gần đây thường đề cập đến mối quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế Điều này khẳng định tầm quan trọng của vốn con người là không thể tranh cãi Với mong muốn nghiên cứu ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập cá nhân của người lao động, bài viết đã sử dụng mô hình hồi quy vốn con người theo thu nhập của Mincer Kết quả

The impact of human capital on individual income in Vietnam

Abstract: In recent years, studies on the topic of growth often refer to the relationship between human

capital and economic growth This asserts that the importance of human capital is undisputed With the desire to study the effect of human capital on individual income in Vietnam, the article has used the Mincer earnings function Research results show that employee’s income is affected by three factors: education expenditure, working time, and education level However, the study also shows that the correlation between college graduation and higher and income growth is quite low Through these research results, Vietnam needs to continue to improve its human resource development strategy as well as increase the efficiency of investment in education in the coming years.

Keywords: human capital, individual income, earnings function.

Ly Thi Pham

Email: ptly@ueh.edu.vn

University of Economics Ho Chi Minh City

Trong Thanh Nguyen

Email: trongnt@uel.edu.vn

University of Economics and Law, Vietnam National University Ho Chi Minh City

Hue Thi Kim Le

Email: hueltk@hvnh.edu.vn

Banking Academy – Phu Yen Campus

Dong Thi Nguyen

Email: dongnt@hvnh.edu.vn

University of Economic and Law, Vietnam National University Ho Chi Minh City

Trang 2

nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập của người lao động chịu ảnh hưởng bởi mức chi tiêu cho giáo dục, thời gian làm việc và trình độ học vấn của người lao động Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan giữa trình độ tốt nghiệp bậc cao đẳng trở lên và tăng trưởng thu nhập vẫn còn khá thấp Với kết quả nghiên cứu trên, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực cũng như tăng cường hiệu quả đầu tư cho giáo dục trong những năm tới

Từ khoá : vốn con người, thu nhập cá nhân, hàm thu nhập.

1 Giới thiệu

Vốn con người từ lâu được xác định là tài

sản của mỗi quốc gia và là một trong bốn

nguồn lực tạo ra tăng trưởng kinh tế bên

cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, tư bản

hiện vật và tri thức công nghệ Từ khi có sự

phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật

cùng với sự khan hiếm tài nguyên thiên

nhiên, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc cách

mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột

phá chưa từng có về sản xuất thông minh,

thì vốn con người càng trở thành đối tượng

ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển

đất nước Theo đó, vốn con người có thể

giúp người lao động nâng cao năng suất lao

động, tăng khả năng tìm kiếm việc làm và

tăng thu nhập cá nhân (Koch & McGrath,

1996; Vinokur, 2000; Dong & Hue, 2019)

Vốn con người có thể tác động tích cực đến

năng lực và khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp (Lepak & Snell, 1999; Arthur J B.,

1992; Arthur J B., 1994) Vốn con người

là động lực, là nền tảng để thúc đẩy nền

kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu dựa

vào máy móc và công nghệ (Nelson &

Phelps, 1966; Mincer, 1981; Khan, 2005;

Affandi, Anugrah, & Bary, 2019)

Việt Nam là đất nước dồi dào về nguồn lao

động nhưng tài nguyên vốn con người chưa

được phát huy Mặc dù đất nước đã trải qua

30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh

tế, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch

mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp

và dịch vụ, nhưng lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ trọng cao Tính riêng cho khu vực nông nghiệp đến năm 2019 vẫn thu hút gần 41% lao động đang làm việc trong nền kinh tế, và trong tổng lao động nông nghiệp vẫn còn có đến 86,1% là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo nên kết quả sản xuất chỉ tạo ra được 16% GDP với năng suất lao động đạt ở mức 36,6% so với năng suất lao động chung, 33% so với năng suất lao động của nhóm ngành dịch vụ và 26,4% so với năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2020) Do đó, để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, Việt Nam cần hướng đến một mô hình tăng trưởng mới: tăng trưởng dựa vào năng suất lao động, gắn với tạo ra nhiều việc làm có chất lượng cao trên quy

mô toàn xã hội Trên cơ sở nhận định vốn con người là nguồn lực chủ yếu góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo nền tảng vững chắc để đảm bảo mức sống ngày càng được cải thiện của người dân, trong bài viết này, nhóm tác giả hướng tới phân tích yếu

tố vốn con người trong tương quan với thu nhập cá nhân của người lao động dựa trên

mô hình thu nhập của Mincer và sử dụng số liệu từ khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) giai đoạn 2002- 2018

2 Tổng quan nghiên cứu

Khái niệm vốn con người

Vốn con người đã từng được đề cập bởi

Trang 3

nhà kinh tế học Adam Smith (1776),“tuy

vậy khái niệm này vẫn còn quá xa lạ khi

các nhà kinh tế học thời bấy giờ thường

chỉ chú trọng đến hai yếu tố đầu vào trong

sản xuất là vốn tư bản và máy móc thiết

bị.”Đến những năm 60 của thế kỷ XX,

Mincer (1958), Becker (1964) và Schultz

(1961) được coi là những người đã khởi

đầu cho sự quan tâm đến khái niệm vốn con

người, họ cho rằng yếu tố hình thành nên

vốn con người là kỹ năng và tri thức”mà

người lao động thu nhận được Sau đó,

vốn con người được Westphalen (1999),

Rastogi (2002) khái quát hóa thành kiến

thức, năng lực, thái độ và hành vi trong một

cá nhân Mở rộng hơn về khái niệm này,

OECD (2001) đã nhấn mạnh đến phẩm

chất và kỹ năng trong quá trình phát triển

vốn con người Các phẩm chất và kỹ năng

đó bao gồm: khả năng nghe, nói, đọc, viết

bằng tiếng mẹ đẻ và bằng ngoại ngữ (khả

năng giao tiếp);“khả năng đòi hỏi tính logic

của toán học (khả năng số học); sự kiên trì,

sự tiên phong, khả năng tự học, tự điều tiết

bản thân, đánh giá sự việc dựa trên những

chuẩn mực đạo đức nhất định và mục tiêu

sống của chính người đó (khả năng tự thấu

hiểu).”Tiếp tục vòng luân chuyển, vốn con

người sẽ đại diện cho nhân tố con người

(human factor) trong một tổ chức, đại diện

cho kiến thức chuyên môn (expertise), kỹ

năng (skills), sự hiểu biết (intelligence)

để giúp tạo ra sự khác biệt cho tổ chức đó

(Bontis, 1998)

Xét về nguồn gốc vốn con người, Bong

(2009) nhận định giá trị của vốn con người

được tạo ra thông qua gia đình, trường học,

công việc Cụ thể hơn, Alan và cộng sự

(2008) phân tích vốn con người được hình

thành từ các loại hình đào tạo bắt buộc, đào

tạo sau trung học hay đào tạo nghề Bên

cạnh giáo dục, Appleton & Teal(1998) còn

cho rằng y tế đóng vai trò quan trọng trong

quá trình hình thành vốn con người, bởi nó

cung cấp sức khỏe và dinh dưỡng để tạo nên một cơ thể khỏe mạnh, có sức sống, từ

đó giúp con người hấp thụ được lượng kiến thức và kỹ năng từ trường học

Tựu trung lại, vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm được tích lũy chủ yếu thông qua quá trình đầu tư suốt đời cho giáo dục đào tạo cũng như quá trình tích lũy kinh nghiệm Định nghĩa trên cho thấy vốn con người là vô hình, lượng vốn con người không thể xác định một cách trực tiếp giống như vốn vật chất, do đó việc

đo lường vốn con người phải được xác định một cách gián tiếp.”

Vai trò của vốn con người đối với thu nhập và các nghiên cứu liên quan

Ở bất kỳ hình thái kinh tế- xã hội nào, trình

độ và tính chất của lực lượng sản xuất ra sao thì các nguồn lực cho sự phát triển của mỗi quốc gia vẫn là tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, máy móc thiết bị, khoa học công nghệ và con người Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất vì nó là nguồn gốc của mọi của cải vật chất và có sức sáng tạo ra các nền văn minh (Dong & Hue, 2019) Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, một quốc gia giàu có chưa hẳn là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên

và có địa thế thuận lợi cho sự phát triển Trong đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ hay Singapore đều là những minh chứng cụ thể Vì tầm quan trọng của vốn con người nên rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu

về vai trò của nó dưới cả 2 góc độ vi mô và

vĩ mô

Ở cấp độ vĩ mô, vốn con người của một quốc gia phụ thuộc vào hệ thống giáo dục quốc gia, hệ thống việc làm, mức độ hội nhập của nền kinh tế, sự đổi mới của khoa học- công nghệ, sự ổn định của nền kinh tế

Ở cấp độ vi mô, Mincer (1981) tiếp cận vốn con người thông qua mô hình hồi quy theo

Trang 4

hàm thu nhập, nghiên cứu này cho thấy

tích luỹ vốn con người của từng cá nhân

mang lại lợi ích kinh tế cho chính cá nhân

đó Điều đó có nghĩa là muốn thu nhập của

cá nhân tăng lên thì phải gia tăng tích lũy

vốn con người Đây cũng là giải pháp để

những người có thu nhập thấp cải thiện thu

nhập của mình, từ đó giảm bớt khoảng cách

giàu nghèo trong xã hội Tương tự Mincer,

Moock và cộng sự (1998) đã nghiên cứu về

tác động của trình độ giáo dục đến sự gia

tăng của thu nhập Kết quả nghiên cứu cho

thấy có sự tác động của trình độ giáo dục

đến thu nhập và sự tác động này là khác

biệt theo khu vực và giới tính Theo đó,

đối với khu vực Nhà nước thì tác động của

trình độ giáo dục đối với thu nhập là mạnh

hơn so với khu vực tư nhân và đối với nữ

giới thì sự tác động này là mạnh hơn

Ở một khía cạnh khác, Fernandez &

Rogerson (1992) đã nghiên cứu mối quan

hệ giữa tích lũy của vốn con người và phân

phối thu nhập Nghiên cứu cho rằng các cá

nhân đều nhận thức được tầm quan trọng

của giáo dục đối với thu nhập trong tương

lai Tuy nhiên, vì thu nhập ban đầu của mỗi

cá nhân là khác nhau, nên khả năng đầu tư

vào giáo dục của họ cũng khác nhau Trong

trường hợp này, chất lượng của hệ thống

giáo dục cùng với trợ cấp của chính phủ sẽ

làm tăng tích lũy vốn con người Cùng quan

điểm này, Jong-Wha & Hanol (2018) đã

sử dụng dữ liệu xuyên quốc gia trong giai

đoạn 1980- 2015 để chạy hồi quy mối quan

hệ giữa vốn con người và bất bình đẳng thu

nhập với quy mô mẫu bao gồm 95 quốc gia

thuộc các nền kinh tế phát triển (24); khu

vực Đông Á, Thái Bình Dương (11); Đông

Âu, Trung Á (7); Vùng Caribe và Mỹ Latin

(20); Nam Á (5); Trung Đông (9); Châu Phi

hạ Sahara (19) Kết quả nghiên cứu cho

thấy phân phối giáo dục công bằng sẽ góp

phần đáng kể vào việc giảm bất bình đẳng

thu nhập Mở rộng giáo dục là một yếu tố

chính trong việc giảm bất bình đẳng giáo dục và do đó sẽ làm giảm bất bình đẳng thu nhập Trái với Jong-Wha & Hanol, Climent & Domenech (2014) sử dụng bộ

dữ liệu cập nhật về bất bình đẳng vốn con người và thu nhập cho 146 quốc gia trong giai đoạn 1950- 2010, nghiên cứu phát hiện

ra rằng mặc dù có sự giảm bất bình đẳng

về vốn con người trên toàn thế giới, nhưng

sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập hầu như không thay đổi Ở nhiều vùng, hệ

số Gini thu nhập năm 1960 rất giống với năm 2005 Do đó, nghiên cứu đưa ra kết luận rằng cải thiện giáo dục không phải

là điều kiện đủ để giảm bất bình đẳng thu nhập, mặc dù chúng cải thiện đáng kể mức sống của những người ở dưới mức thu nhập trung bình

Ở Việt Nam, các công trình tiêu biểu nghiên cứu về sự tác động của vốn con người (được đại diện bởi trình độ giáo dục) đến thu nhập

cá nhân phải kể đến là Nguyễn Nguyệt Nga

(2002) trong nghiên cứu “Trends in the Education Sector from 1993- 98” đã kết

luận nếu trình độ giáo dục được nâng lên cấp cơ sở trung học sẽ làm cho thu nhập

cá nhân được tăng thêm Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các hệ dạy nghề không có tác động đến sự gia tăng thu nhập của cá nhân Nguyễn Bá Ngọc (2008) đã đặt ra câu hỏi “Tại sao mức thu nhập của mọi người là khác nhau?”, đồng thời ông

có đưa ra câu trả lời đó chính là: Mọi người

có thu nhập khác nhau cơ bản là do vốn con người khác nhau Vì vậy việc mọi người đầu tư vào vốn con người bao gồm việc đưa

ra các quyết định về giáo dục, đào tạo, y tế

và những yếu tố khác nhằm bổ sung cho kiến thức, kỹ năng và sức khỏe sẽ làm cải thiện thu nhập và nghề nghiệp trong tương lai Ngoài ra, Bùi Quang Bình (2008) đã có một nghiên cứu cụ thể hơn đối với các hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên Theo đó, tác giả này dựa trên cách tiếp cận của Mincer

Trang 5

với các số liệu điều tra từ các hộ gia đình

trồng cà phê ở Tây Nguyên đã đưa ra kết

luận: trình độ học vấn của các chủ hộ trồng

cà phê tỷ lệ thuận với thu nhập của họ

Như vậy, tổng quan các nghiên cứu quốc

tế và trong nước cho thấy mối quan hệ biện

chứng giữa vốn con người và thu nhập của

cá nhân Các nghiên cứu đều chứng minh

rằng vốn con người có vai trò vô cùng quan

trọng đối với thu nhập của các cá nhân

người lao động, và giáo dục là nhân tố thúc

đẩy tăng năng suất, tạo điều kiện nâng cao

đời sống vật chất của người lao động Một

khi vốn con người, mà đại diện là các chỉ số

của giáo dục- đào tạo được tăng lên thì thu

nhập của người lao động cũng sẽ tăng lên

Mở rộng ở cấp độ vĩ mô, vốn con người là

nhân tố quan trong giúp các quốc gia có

thể duy trì tốc độ và chất lượng tăng trưởng

kinh tế

3 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên lập luận rằng số tiền công được

trả cho một người trong hiện tại phụ thuộc

vào mức độ đầu tư vào vốn con người của

bản thân họ trước đó, Mincer (1974) đã xây

dựng phương trình về thu nhập có dạng

như sau:

Lnyt = α0+ α1S + α2Z + α3Z2 + u

Trong đó:

- S: số năm đi học

- Z: số năm kinh nghiệm tính đến thời điểm

t, với giả định kinh nghiệm là liên tục và

bắt đầu ngay khi kết thúc việc đi học thì

số năm kinh nghiệm sẽ được tính bằng số

tuổi hiện tại (t) trừ đi số năm đi học (s) và

trừ đi số tuổi bắt đầu đi học (là 6) Vậy: z

= t – s – 6

- α0: thu nhập hàng năm của người không đi

học và không có kinh nghiệm

- α1, α2,α3 lần lượt là các hệ số hồi quy giải

thích phần trăm thay đổi của thu nhập khi

các biến độc lập tăng thêm một năm Hàm thu nhập của Mincer cho thấy sức ảnh hưởng của vốn con người đối với thu nhập cá nhân là vô cùng quan trọng Do

đó, muốn gia tăng thu nhập thì cần phải gia tăng tích luỹ vốn con người thông qua giáo dục và đào tạo Đây cũng là phương trình tiền lương dạng tĩnh được sử dụng rất nhiều trong các công trình nghiên cứu

về tiền lương và phân tích sự chênh lệch tiền lương Kế thừa phương pháp này, Card (1995) đã mở rộng hàm thu nhập với các biến độc lập không chỉ cố định ở các biến S hay Z như trong phương trình của Mincer (1974), mà còn có thêm các biến độc lập khác có tác động đến thu nhập như giới tính, chi tiêu cho giáo dục, công việc, ngành nghề Tham khảo mô hình hàm thu nhập Mincer được mở rộng bởi Card (1995), cùng với tính khả thi của số liệu hiện có, nghiên cứu đã thiết lập phương trình hồi quy về thu nhập của người lao động Việt Nam có dạng như sau:

Lnyt = α0+ α1LnEdu + α2Hour + α2H + u Trong đó, Y là thu nhập bình quân trong năm của người lao động; Edu là chi tiêu cho giáo dục trong năm; Hour là số giờ làm việc trung bình trong tuần; H là trình độ lao động, được chia thành ba mức: H1, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học cơ sở; H2, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông và H3, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng trở lên

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng số liệu từ khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) giai đoạn 2002 - 2018 Đây là các khảo sát được tiến hành bởi Tổng cục Thống kê nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam

Từ năm 2002 đến nay, Tổng cục Thống

Trang 6

kê đã tiến hành điều tra khảo sát mức sống

hộ gia đình Việt Nam 2 năm một lần vào

những năm chẵn Nội dung thu thập từ

cuộc điều tra VHLSS chủ yếu phản ánh

mức sống của người dân trong hộ gia đình

và những điều kiện kinh tế - xã hội cơ bản

của xã/phường có tác động đến mức sống

của người dân nơi hộ sinh sống Đối tượng

điều tra của VHLSS gồm các hộ gia đình,

các thành viên trong hộ gia đình và các

xã phường” trên phạm vi tất cả các tỉnh/

thành phố trực thuộc trung ương Phương

pháp chọn mẫu của VHLSS được thực hiện

thông qua sự tư vấn và giám sát của Viện

khoa học Thống kê, UNDP và WB nhằm

đảm bảo tính đại diện của mẫu được chọn

cho tổng thể nghiên cứu

Quy mô mẫu nghiên cứu trong bài viết bao

gồm 45 quan sát, trải dài trong 9 năm chẵn

của giai đoạn 2002 – 2018 với mỗi năm có

5 quan sát tương ứng với 5 nhóm thu nhập

khác nhau Đây là tổng số nhân khẩu điều

tra được sắp xếp theo mức thu nhập bình

quân đầu người từ thấp đến cao, sau đó chia

thành 5 nhóm với số nhân khẩu bằng nhau,

mỗi nhóm có 20% số nhân khẩu theo thứ

tự: nhóm 1, nhóm có thu nhập thấp nhất;

nhóm 2, nhóm có thu nhập dưới trung bình;

nhóm 3, nhóm có thu nhập trung bình;

nhóm 4, nhóm có thu nhập khá; và nhóm 5,

nhóm có thu nhập cao nhất

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Mô tả kết quả thống kê

Thực hiện hồi quy ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập cá nhân của người lao động Việt Nam giai đoạn 2002- 2018, các biến số trong mô hình hồi quy được mô tả bởi giá trị trung bình ở Bảng 1 Tại đó, giá trị trung bình cho biết mức độ san bằng giá trị của các biến qua thời gian, còn độ lệch chuẩn cho biết mức độ dao động của biến

số đó xung quanh giá trị trung bình

4.2 Kết quả hồi qui

Bên cạnh mô tả thống kê dữ liệu nghiên cứu, kiểm định nghiệm đơn vị cũng được thực hiện để tránh hồi quy giả mạo Tính toán

từ số liệu thu thập của Tổng cục Thống kê cho thấy các biến số nghiên cứu đều dừng ở chuỗi gốc, D(0), với mức ý nghĩa 1% và 5% Trên cơ sở chạy hồi quy theo dữ liệu bảng với hiệu ứng ngẫu nhiên dựa trên phần mềm Eview 10, với nhiều phương án các nhân tố đầu vào khác nhau theo các mức trình độ học vấn khác nhau, kết quả được tóm tắt ở Bảng 3

Bảng 1 Mô tả thống kê dữ liệu nghiên cứu

Tên biến Giải thích Số quan sát Giá trị trung bình Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất Độ lệch chuẩn

LnEdu Logarit của chi tiêu cho giáo dục trong năm 45 7,61 9,60 5,46 1,03

Hour Số giờ làm việc trung bình trong tuần 45 32,27 42,3 22,5 6,26

H3 Tỷ lệ lao động tốt nghiệp Cao đẳng trở lên 45 12,88 38,4 0,9 11,4

Nguồn: Kết quả tính toán của nhóm tác giả từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Trang 7

4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả ước lượng hàm thu nhập theo vốn

con người ở Bảng 3 cho thấy trong cả ba

phương trình hồi quy [1], [2], [3] đều nhận

định chi tiêu cho giáo dục đã có ảnh hưởng

rất lớn đến thu nhập hàng năm Hệ số ước

lượng đạt từ 0,92 - 0,97 hàm ý rằng nếu các

yếu tố khác không thay đổi, thì sự gia tăng

1% của chi tiêu cho giáo dục sẽ làm mức thu

nhập hàng năm tăng thêm 0,92% - 0,97%

Như vậy, khi vốn con người được đo bằng

mức chi tiêu cho giáo dục, thì việc đầu tư

vốn con người có vai trò làm gia tăng thu

nhập rất lớn cho các nhóm cá nhân Ví dụ, đối với nhóm thu nhập thấp, tổng thu nhập trong năm của họ là 10 triệu đồng và mức chi của giáo dục là 2 triệu đồng, nếu họ bỏ thêm 2 triệu đồng để chi tiêu cho giáo dục thì thu nhập kỳ vọng của họ sẽ tăng từ 9,2 - 9,7 triệu đồng Tuy nhiên, phải khẳng định vốn con người là sự tích luỹ của đầu tư cho giáo dục đào tạo trong nhiều năm nên tác động của nó đến thu nhập thường có độ trễ nhất định Do vậy, cho dù các hộ gia đình

có thu nhập thấp hiểu được giá trị và hiệu quả của việc đầu tư cho giáo dục đối với tương lai của gia đình mình, thì họ vẫn rất

Bảng 2 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả từ số liệu thống kê

Bảng 3 Kết quả hồi quy theo các trường hợp

Phương trình hồi quy LnY[1] LnY[2] LnY[3]

C 1,68***(7,05) 1,34***(5,77) 1,77***(8,49) Lnedu 0,97***(46,72) 0,96***(27,43) 0,92***(37,6) Hour 0,02***(6,33) 0,02***(3,23) 0,01***(3,15)

Ghi chú: Ký hiệu *, ** và *** thể hiện các mức ý nghĩa thống kê

10%, 5% và 1%

Giá trị trong dấu ngoặc đơn ( ) là giá trị thống kê t Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả từ số liệu thống kê

Trang 8

khó để ra quyết định chi tiêu, bởi họ không

có đủ điều kiện để chi tiêu cho giáo dục quá

nhiều so với thu nhập trong thời điểm hiện

tại của họ Mặc dầu vậy, kết quả này một

lần nữa cho thấy đầu tư vào giáo dục là sự

đầu tư đáng tin cậy để có một tương lai tươi

sáng hơn cho các hộ gia đình

Biến số thời gian làm việc trung bình trong

tuần có hệ số 0,01 - 0,02 cho biết nếu thời

gian làm việc trung bình tăng lên 1 tiếng/

tuần thì thu nhập của các nhóm sẽ tăng từ

1% - 2%/năm Kết quả trên cho thấy tình

trạng thu nhập của các nhóm cá nhân không

phụ thuộc nhiều vào khối lượng thời gian

làm việc trung bình Điều này hoàn toàn

dễ chấp nhận, bởi thời gian làm việc chưa

phản ánh hết được chất lượng công việc mà

người lao động hưởng lương Đồng thời,

số liệu thống kê về số giờ làm việc trung

bình trong tuần của các nhóm thu nhập

không chênh lệch quá nhiều nên mức ảnh

hưởng của thời gian làm việc lên thu nhập

là không đáng kể

Thước đo tỷ lệ lao động tại mỗi trình độ

tuy không phản ánh toàn diện mức vốn con

người nhưng vẫn rất ý nghĩa khi xem xét vai

trò của từng bậc giáo dục tới tăng trưởng thu

nhập của người lao động Trong mô hình hồi

quy này, nghiên cứu chia trình độ giáo dục

theo 3 nhóm: (1) nhóm đã tốt nghiệp trung

học cơ sở nhưng chưa hoàn thành bậc trung

học phổ thông; (2) nhóm đã tốt nghiệp trung

học phổ thông nhưng chỉ dừng lại ở đó; và

(3) là nhóm có trình độ tốt nghiệp trung cấp

chuyên nghiệp trở lên

Ngay ở trường hợp đầu tiên của hồi quy đối

với tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học cơ sở

(H1), tại mức ý nghĩa thống kê 5%, kết quả

thể hiện H1 có mối quan hệ ngược chiều

với thu nhập Từ kết quả trên có thể thấy

ngay rằng khi tỷ lệ lao động trình độ thấp

càng giảm thì thu nhập đạt được sẽ càng

cao và ngược lại Hệ số của H1 là -0,014

hàm ý rằng trong điều kiện các yếu tố khác

không thay đổi, thì 1% suy giảm của H1

sẽ giúp thu nhập của các nhóm nghiên cứu tăng thêm 0,014% Điều này dường như là

dễ hiểu vì bậc trung học cơ sở là cấp học chỉ cung cấp được lượng kiến thức và các

kỹ năng cơ bản nhất cho người lao động, trong khi xã hội hiện đại ngày nay buộc người lao động muốn tìm kiếm được thu nhập tốt thì cần phải trau dồi và củng cố kiến thức nhiều hơn so với bậc học này

Khác với H1, hệ số ước lượng của tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông H2 trong phương trình hồi quy không có ý nghĩa thống kê Lý do có thể là kết quả của

hệ thống đào tạo nghề và giáo dục trung học chuyên nghiệp, là những bậc nối tiếp sau trung học phổ thông, có tiềm ẩn tác động tới các nhóm thu nhập Tuy nhiên,

số liệu về tỷ lệ đào tạo nghề và trung học chuyên nghiệp lại chưa được sử dụng làm thước đo vốn con người trong nghiên cứu này (do thiếu dữ liệu ở một số năm), do đó

có thể gây ra sai số phép đo và tạo nên độ chệch trong mô hình ước lượng

Phương trình hồi quy cuối cùng (phương trình [3] ở Bảng 3) đại diện cho trường hợp

tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng trở lên, kết quả phản ánh mối tương quan dương giữa H3

và thu nhập Giá trị hệ số này là 0,01 giải thích rằng thu nhập của các nhóm sẽ tăng 0,01% khi tỷ lệ lao động tốt nghiệp từ mức cao đẳng trở lên tăng thêm 1%, nếu các điều kiện khác không đổi Kết quả này cho thấy thu nhập của 5 nhóm dân cư chưa dựa nhiều vào lao động đã tốt nghiệp bậc cao đẳng, đại học Một lần nữa, mối quan hệ giữa thu nhập và trình độ lao động tiếp tục phản ánh thực tế đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay là có sự bất cập giữa đào tạo và

sử dụng vốn con người, nhóm lao động có trình độ cao thường có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với nhóm lao động có trình độ thấp hơn Nếu như năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động có trình độ đại học cao

Trang 9

gấp 1,6 lần so với nhóm lao động có trình

độ cao đẳng, gấp 2,6 lần so với nhóm lao

động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp

và gấp 6 lần so với lao động giản đơn, thì

sang năm 2017, nhóm lao động trình độ

cao vẫn có mức thất nghiệp cao hơn gấp

từ 3,2 đến 3,9 lần so với ba nhóm lao động

ở trình độ thấp hơn (Trường Giang, 2019)

Mặt khác, so với năm 2012, nhóm lao động

có trình độ đại học trở lên làm việc tương

đương với những ngành nghề chỉ cần trình

độ bậc trung trở xuống chiếm 15,43%, thì

tỷ lệ này ở năm 2017 là 23% (Huỳnh Anh,

2019) Xu thế này vừa phản ánh sự lãng

phí trong đầu tư cho đào tạo và sử dụng lao

động trình độ cao, vừa cho thấy sự không

tương xứng giữa bằng cấp và chất lượng

thực sự của lao động được đào tạo

5 Kết luận và gợi ý chính sách

Dựa trên cơ sở lý thuyết và lượng hóa ảnh

hưởng của vốn con người đến thu nhập ở

Việt Nam giai đoạn 2002 – 2018, kết quả

nghiên cứu cho thấy chi tiêu cho giáo dục

có tác động rất lớn đến thu nhập của người

lao động theo hướng tích cực Tương tự,

thời gian làm việc trong tuần cũng ảnh

hưởng đến thu nhập của người lao động, tuy

nhiên, những nhóm người lao động có trình

độ chuyên môn thấp thì thời gian lao động

có ảnh hưởng đến thu nhập nhiều hơn so

với nhóm lao động có trình độ chuyên môn

từ cao đẳng trở lên Ngoài ra, thu nhập của

người lao động cũng phụ thuộc vào trình độ

học vấn, nhưng mức phụ thuộc này là rất

nhỏ, đặc biệt là đối với nhóm lao động có

trình độ tốt nghiệp bậc cao đẳng trở lên thì

nghiên cứu này cho thấy mối tương quan

giữa trình độ học vấn và tăng trưởng thu

nhập là rất thấp

Với kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, các nhà

hoạch định chính sách cần có những giải

pháp hướng người lao động nhận thức

được tầm quan trọng của việc đầu tư nâng cao năng suất lao động cho chính bản thân mình Việc rèn luyện tư duy lẫn kỹ năng lao động không những được phát triển ở môi trường học tập, mà còn nên được thúc đẩy, khuyến khích bởi các công ty- nơi tiếp nhận lao động để người lao động nhận thức được rằng tư duy làm giàu bằng vốn con người sẽ luôn là giải pháp bền vững Bên cạnh đó, giáo dục và đào tạo là bệ phóng tốt nhất cho việc hoàn thiện vốn con người ở mỗi cá nhân Hệ thống đào tạo cả nước nên hướng tới xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận tri thức tiên tiến từ các nước phát triển trên thế giới, đồng thời phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa

ba nhà bao gồm “nhà trường, nhà khoa học

và nhà doanh nghiệp” nhằm giúp người học chuyển mạnh từ việc học tập và giải quyết vấn đề sang việc tích cực khám phá và áp dụng tri thức hiện đại Hiệu quả của giáo dục và đào tạo không chỉ tính bằng lượng kiến thức đã truyền đạt mà chủ yếu phải tính bằng sự phát triển của năng lực sáng tạo, phương pháp tư duy khoa học, khả năng thích nghi và khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động

Bài viết dừng lại ở việc đo lường vốn con người dựa trên hàm thu nhập Mincer với ba biến số độc lập (chi tiêu cho giáo dục, số giờ làm việc trung bình và trình độ học vấn của người lao động) mà chưa xem xét đến các yếu tố khác như số năm kinh nghiệm, ngành nghề Do đó, trong các nghiên cứu tiếp theo về vốn con người và thu nhập, nhóm tác giả sẽ xem xét bổ sung thêm các biến của vốn con người cũng như sử dụng thêm mô hình khác, hoặc thêm các biến kiểm soát để thấy rõ hơn tác động của vốn con người đến thu nhập cá nhân ■

Trang 10

Tài liệu tham khảo

Affandi, Y., Anugrah, D F., & Bary, P (2019) Human capital and economic growth across regions: a case study

in Indonesia Eurasian Economic Review, 331-347.

Alan, K M., Altman, Y., & Roussel, J (2008) Employee training needs and perceived value of training in the Pearl River Delta of China: A human capital development approach Journal of European Industrial Training, 32(1): 19–31.

Appleton, S., & Teal, F (1998) Human capital and economic development A background paper prepared for the

African Development Report.

Arthur, J B (1992) The link between business strategy and industrial relations systems in American steel minimills Industrial and Labor Relations Review, 488-506.

Arthur, J B (1994) Effects of human resource systems on manufacturing performance and turnover Academy of

Management Journal, 670-687.

Becker, G S (1964) Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to education

Chicago: University of Chicago Press.

Bontis, N (1998) Intellectual capital: An exploratory study that develops measures and models Management Deci-sion, 36(2): 63–76 .

Bùi Quang Bình (2008) Vốn con người và thu nhập của hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, tr 96 - 101.

Card, D (1995) The wage curve: a review In: JSTOR.

Climent, C A., & Doménech, R (2014) Human Capital and Income Inequality: Some Facts and Some Puzzles BBVA Research, Working Paper No.12/28.

Dong, N T., & Hue, L T (2019) The impact of human capital on labor productivity growth in Vietnam Science and Technology Development Journal, 104-110.

Fernandez, R., & Rogerson, R (1992) Human capital accumulation and income distribution NBER Working Papers Series, No.3994 National Bureau of Economic Research.

Jong-Wha, L., & Hanol, L (2018) Human capital and income inequality Journal of The Asia Pacific Economy, Vol.23, No.4: 554-583.

Khan, S (2005) Human Capital and Economic Growth in Pakistan The Pakistan Development Review, 455– 478 Koch, M J., & McGrath, R G (1996) Improving labor productivity: Human resource management policies do matter Strategic management Journal, 335-354.

Kwon, D (2009) Human capital and its measurement Busan, Korea: The 3rd OECD World Forum on “Statistics,

Knowledge and Policy”.

Lepak, D P., & Snell, S A (1999) The human resource architecture: Toward a theory of human capital allocation and development Academy of Management Review, 31-48.

Mincer, J (1958) Investment in human capital and personal income distribution The Journal of Political Economy, 66(4): 281–302.

Mincer, J (1981) Human capital and economic growth NBER Working paper Series National Bureau of Economic Research Mincer, J (1981) Human Capital and Economic Growth National Bureau of Economic Research.

Moock, P R., Patrinos, H A., & Venkatarama, M (1998) Education and Earnings in a Transition Economy: the case

of Vietnam Vietnam Education Financing Sector Study.

Nelson, R., & Phelps, S (1966) Investment in Human, Technological Diffusion and Economic Growth The American Economic Review, 56 (No.1): 69-175.

Nga, N N (2002) Trends in the Education Sector from 1993 - 1998 World Bank Policy Research.

Nguyễn Bá Ngọc (2008) Đầu tư vào vốn con người - vấn đề thu nhập và việc làm Tạp chí nghiên cứu Kinh tế, tr.35 - 42 OECD (2001) Measuring productivity: Measurement of aggregate and industry level productivity growth OECD manual Rastogi, P N (2002) Knowledge management and intellectual capital as a paradigm of value creation Human Sys-tems Management, 21(4): 229–240.

Schultz, T W (1961) Investment in human capital American Economic Review, Vol.31, pp.101 - 124.

Smith, A (1776) An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations Oxford University Press.

Vinokur, A D (2000) Two years after a job loss: Long-term impact of the JOBS program on reemployment and mental health Journal of Occupational Health Psychology, 32-47.

Westphalen, S.-Å (1999) Reporting on human capital; objectives and trends Measuring and Reporting Intellectual Capital: Amsterdam.

Huỳnh Anh (2019) Tỷ lệ thất nghiệp bậc đại học cao hơn dạy nghề Retrieved from

https://zingnews.vn/ty-le-that-nghiep-bac-dai-hoc-cao-hon-day-nghe-post1017729.html

Tổng cục Thống kê (2018) Điều tra mức sống hộ dân cư (VHLSS) từ năm 2002-2018 Tổng cục Thống kê (2020) bổ sung Trường Giang (2019) Tỉ lệ thất nghiệp bậc đại học trở lên cao hơn bậc cao đẳng, trung cấp Retrieved from https://

vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/ti-le-that-nghiep-bac-dai-hoc-tro-len-cao-hon-bac-cao-dang-trung-cap-595526.html

Ngày đăng: 09/06/2021, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w