1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ sự kiến tạo căn tính dân tộc qua việt điện u linh và lĩnh nam chích quái​

106 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 260,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phẩm chứa đựng những yếu tố đặc trưng tính dân tộc Việt Nam vì chúng mang bề dày những chứngtích, trầm tích văn hóa dân gian về cội ngu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LÊ THỊ MINH THUÝ

SỰ KIẾN TẠO CĂN TÍNH DÂN TỘC QUA VIỆT ĐIỆN U LINH VÀ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LÊ THỊ MINH THUÝ

SỰ KIẾN TẠO CĂN TÍNH DÂN TỘC QUA VIỆT ĐIỆN U LINH VÀ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8229030.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thu Hiền

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâusắc tới TS Đỗ Thu Hiền, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡtôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, tập thể giảng viên,cán bộ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ, góp ý, tư vấn vàtạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và học tập tại trường

Tôi xin tri ân sự động viên, khích lệ và ủng hộ của gia đình, người thân, bạn

bè và đồng nghiệp đã giúp tôi yên tâm và có thêm động lực để hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày …… tháng…… năm……

Học viên cao học

Lê Thị Minh Thuý

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Lê Thị Minh Thuý, học viên cao học lớp QH K 2018 – 2019, KhoaVăn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôixin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu cá nhân dưới sự hướng dẫnkhoa học của TS Đỗ Thu Hiền, hiện là giảng viên khoa Văn học, Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn là sự trung thực, khôngsao chép ở bất cứ công trình nào khác Vì vậy, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệmtrước cam kết cá nhân

Hà Nội, ngày … tháng … năm ……

Học viên cao học

Lê Thị Minh Thuý

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13

7 Đóng góp của luận văn 14

8 Cấu trúc luận văn 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ TÁC PHẨM VIỆT ĐIỆN U LINH, LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 15

1.1 Vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam 15

1.1.1 Nội hàm về khái niệm căn tính dân tộc 15

1.1.2 Căn tính dân tộc trong văn học 17

1.1.3 Các biến động lịch sử và ý thức dân tộc 18

1.2 Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trong sự vận động của lịch sử văn xuôi Việt Nam trung đại 20

1.2.1 Khái lược về văn xuôi trung đại Việt Nam 20

1.2.2 Việt điện u linh và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại21 1.2.3 Lĩnh Nam chích quái và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại 23

CHƯƠNG 2: XÁC LẬP CĂN TÍNH DÂN TỘC QUA SỰ ĐỐI KHÁNG, GIAO LƯU VÀ TIẾP NHẬN VĂN HOÁ TRUNG HOA

2.1 Sự giao lưu và tiếp nhận văn hóa Trung Hoa

2.1.1 Tư tưởng tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giao

2.1.2 Nguồn gốc xuất thân các vị thần

2.2 Tinh thần đối kháng với văn hóa Trung Hoa

2.2.1 Xác lập căn tính về nguồn gốc và giống nòi Việt Nam

2.2.2 Diễn ngôn khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc

2.3 Ý thức xây dựng đế chế và đạo sắc phong thần

Trang 6

2.3.1 Ý thức xây dựng đế chế 44

2.3.2 Chiến đấu chống tà thần 47

2.3.3 Thần quyền như một công cụ đắc lực duy trì quyền lực của giai cấp thống trị (âm phù) 52

2.3.4 Đạo sắc phong thần 56

3.1 Ảnh hưởng của văn hóa dân gian Việt Nam 62

3.1.1 Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian 62

3.1.2 Tín ngưỡng dân gian thờ nhân thần 64

3.1.3 Tín ngưỡng dân gian thờ nhiên thần 69

3.2 Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trong mối quan hệ với Sử 70

3.3 Sự quay trở về với yếu tố dân gian trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái nhìn từ yếu tố hình thức nghệ thuật 74

3.3.1 Type và motif dân gian 74

3.3.2 Yếu tố “linh” và “quái” 82

Tiểu kết Chương 3 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ công nghệ của thế kỷ XXI, chúng

ta đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 Thế giới giờđây được coi như là một ngôi nhà chung và không có ranh giới đường biên Vì thếnhững yếu tố thuộc về văn hoá truyền thống dân tộc, bản sắc dân tộc, căn tính dântộc, tinh thần dân tộc lại trở thành một vấn đề được quan tâm nhiều hơn trong thờigian gần đây Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành trung ương khoá VII

đã khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiềusâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhấttrong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là mộtđộng lực thúc đẩy vừa là một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta Vìthế tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội đều có nhiệm vụ nêu cao tinh thần dântộc thể hiện ở việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tạo nên bản sắc vănhoá của dân tộc Văn học, nghệ thuật cũng nằm trong quỹ đạo đó, đặc biệt lĩnh vựcvăn học có sứ mệnh thời đại quan trọng trong việc kiến tạo, duy trì, phát huy, gìngiữ tính dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc vì văn học chính là tư liệu, bằng chứng thểhiện tính cách, nhân cách, tâm hồn người Việt

Là những nhà Nho yêu nước với niềm tự hào về lịch sử, văn hoá của dân tộcmình, Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đã chép lại những câu chuyện về thần, người

và đất Việt để con cháu đời sau ghi nhớ Chính mục đích đó đã thôi thúc họ sưu tập

và biên soạn nên hai cuốn sách có giá trị lớn lao: Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Việt điện u linh (cõi u linh của nước Việt) là công trình do Lý Tế Xuyên biên

soạn tập hợp các truyền thuyết về các vị phúc thần được thờ ở đền, miếu nước ta

Lĩnh Nam chích quái (những truyện kỳ lạ thu góp được, lượm lặt được ở cõi Lĩnh

Nam) do Trần Thế Pháp sưu tầm và biên soạn lại những truyền thuyết và cổ tích vềcõi Lĩnh Nam được lưu hành trong dân gian

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phẩm văn xuôi tự sự cổ nhất của nước ta mở đầu cho thời kỳ

văn xuôi trung đại Việt Nam Hai tác phẩm không chỉ có giá trị to lớn về văn học

Trang 8

mà còn có giá trị lịch sử sâu sắc Hơn nữa đây còn là hai tư liệụ vô giá phản ánh mọimặt đời sống tinh thần của nhân dân ta từ thời tối cổ Hai cuốn sách tồn tại như mộthiện tượng “quý hiếm” với hai phạm trù lịch sử, hai phạm trù văn hóa đó là dân tộc

và quốc gia Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phẩm chứa đựng

những yếu tố đặc trưng tính dân tộc Việt Nam vì chúng mang bề dày những chứngtích, trầm tích văn hóa dân gian về cội nguồn dân tộc, kết tinh sâu sắc của một nềnvăn hóa lâu đời, của một thời đại lịch sử, khái quát một cách toàn diện và sâu đậmnhững dấu ấn riêng về văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, hay tâm lí,tính cách con người Việt Việc sưu tầm, biên soạn, sáng tác những truyện xưa, tích

cũ có liên quan đến lịch sử dân tộc, văn hoá dân tộc, triều đại, dòng họ, thần tích,địa linh, đền miếu, anh tài nhân kiệt, đời sống tâm linh và sinh hoạt cộng đồng củangười Việt cổ xưa, đã khơi nguồn hồn cốt văn hoá và điểm tô diện mạo lịch sử dântộc Đồng thời trong từng thiên truyện của hai tác phẩm gửi gắm tình yêu tổ quốc,niềm tự hào, lòng tự tôn về tổ quốc Với nguồn gốc giống nòi cao quý, sự hìnhthành quốc gia vững mạnh, ý thức xây dựng lãnh thổ rộng lớn, tinh thần khẳng địnhchủ quyền, độc lập dân tộc, những địa linh nhân kiệt xuất chúng, những giá trị vănhóa vật chất, giá trị văn hoá tinh thần, đã chứng minh căn tính dân tộc Việt Namkhông trộn lẫn với bất cứ quốc gia nào Trở về với quá khứ lịch sử tức là trở về bản

sắc dân tộc và cội nguồn tổ tiên Nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái chính là trở về cội nguồn dân tộc, các giá trị cố

kết dân tộc Những giá trị văn học, văn hoá, lịch sử của người đời xưa để lại chưabao giờ vắng bóng trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt ngày nay và đãxuyên thấm trong tư tưởng, tình cảm của nhiều thế hệ, tạo nên một dòng chảy củalịch sử văn hóa dân tộc

Trải qua hàng nghìn năm, hai cuốn sách này vẫn luôn là một trong những đềtài cuốn hút mạnh mẽ nhiều nhà học giả quan tâm Từ trước đến nay, chúng đượcnhiều học giả hoài cổ lại, chấp bút “phục chế” lại trên những trang sách của mình.Hai tác phẩm được ghi chép, trùng bổ, khảo đính, biên dịch, giới thiệu, khảo cứu,nghiên cứu với mục đích bảo tồn, phát huy những truyền thống văn hóa dân tộc, thểhiện tình yêu và lòng tự hào Tổ quốc đồng thời phản ánh sự vận động tất yếu của

Trang 9

tiến trình lịch sử, văn học nước nhà Điều đó cho thấy giá trị to lớn, sức sống bất

diệt và vị trí quan trọng của Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Thế nhưng, hai

cuốn sách có sức sống mãnh liệt và giá trị quan trọng như vậy song vẫn có khoảngtrống cho người viết nghiên cứu

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi quyết định lựa chọn “Sự

kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái” làm đề tài

cho luận văn của mình

có nhiều công trình mang tính lý luận chung về hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái gắn liền với những tên tuổi của các tác giả: Vũ Quỳnh, Kiều

Phú, Đinh Gia Khánh, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na, Trần Nho Thìn, NguyễnHùng Vĩ, Tạ Chí Đại Trường,

Trước hết, chúng ta nhắc tới Vũ Quỳnh và Kiều Phú - hai người đầu tiên có

công phát hiện và biên soạn Lĩnh Nam chích quái vì hai nhà sử gia đã nói lên niềm

tự hào dân tộc trong những thiên truyện Cách đây hơn năm trăm năm, trong bài tựa

Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Vũ Quỳnh đã viết:“ Kẻ ngu tôi xin nghiên cứu gốc ngọn, trần thuật lại mà suy xét cho sáng tỏ ý người viết truyện Xem Truyện Hồng Bàng thì hiểu rõ được việc lai do khai sáng nước Hoàng Việt; Truyện Dạ Thoa Vương lược thuật về điềm manh nha của nước Chiêm thành Có Truyện Bạch Trĩ chép sự tích họ Việt Thường; Truyện Rùa Vàng chép sử vua An Dương Vương.

Đồ sính lễ quý nhất nước Nam không gì bằng trầu cau cũng lấy đó mà biểu dương nghĩa vợ chồng, tình huynh đệ Nước Nam Việt về mùa hạ không gì quý bằng quả dưa hấu cũng dùng nó mà kể truyện tự cậy vật báu của mình, quên cả ơn chúa Truyện Bánh chưng ngợi khen lòng hiếu dưỡng; Truyện Ô Lôi răn dặn thói dâm ô, Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Lý Ông Trọng diệt Hung Nô, đủ để biết nước Nam

Trang 10

có người tài giỏi Chử Đồng Tử gá nghĩa cùng Tiên Dung, Thôi Vĩ tao phùng tiên khách cho nên ơn đức có thể thấy vậy Những truyện Đạo Hạnh, Không Lộ khen việc báo được thù cha, các vị thần tăng ấy há có thể mai một sao? Những Truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh nêu rõ sức trừ yêu quái mà ơn đức Long Quân không thể quên được vậy! Hai Bà Trưng trung nghĩa, khi chết thành thần minh, treo cờ mà biểu dương, ai dám nói không được? Thần Tản Viên linh thiêng, trừ loài thủy tộc, nêu lên cho hiển hách, ai lại bảo không phải? Than ôi! Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ

Đế, nước mất lại biết phục thù; Man Nương là mẹ Mộc Phật năm hạn làm được mưa rào; Tô Lịch là thần đất Long Đỗ; Xương Cuồng là thân cây chiên đàn; một đằng thì lập đàn tế lễ, dân được hưởng phúc, một đằng thì dùng trò vui mà trừ, dân được thoát hoạ, việc tuy kì dị mà không quái đản, văn tuy thần bí mà không nhảm nhí, tuy có phần hoang đường mà tông tích vẫn có phần bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục mà thôi ư!” [105, tr 25] Tuy trích dẫn hơi dài nhưng Vũ Quỳnh đã đưa ra những nhận

xét vô cùng chính xác thâu tóm được cái thần, hồn của các thiên truyện

Nhận xét về mặt nội dung của hai tác phẩm, Đinh Gia Khánh có viết: “Viện điện u linh trước hết có giá trị lịch sử […] Việt điện u linh giúp ta tìm hiểu một phần nào đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục, của một thời đại lịch sử rất xưa Ngoài ra Việt điện u linh cũng mang những khía cạnh tích cực thuộc truyền thống tốt đẹp của dân tộc Hầu hết các vị nhân quân, nhân thần đều là người nước

ta, những công tích siêu việt của các vị đó há chẳng đáng cho dân tộc tự hào vì nhân vật nước ta hay sao? Các vị thần thuộc loại hạo khí anh linh há chẳng đủ biểu dương khí thiêng sông núi của đất nước ta hay sao?” [46, tr 9] Là người có công dịch Lĩnh Nam chích quái, ông cũng đưa ra một nhận xét rất sắc sảo tổng quát được nội dung cốt lõi của tác phẩm, đó là: “ít nhiều chúng ta vẫn thấy được ở các truyện

ấy lòng yêu, ghét của nhân dân, yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, yêu cái gì có lợi cho nhân dân, ghét cái gì có hại cho nhân dân, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người” [105, tr 24].

Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã có những nhận xét về Việt điện u linh như sau: “Việt điện u linh tập, một quyển, Lý Tế Xuyên đời Trần

Trang 11

soạn, chép những truyện linh dị về các đền thần nước ta, chuyện nào cũng chép kỹ lưỡng Tập này chép những đế vương và bề tôi các đời, những người có tiếng anh linh, gồm 28 truyện” [80, tr 45].

Trần Quốc Vượng trong công trình Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, ở

mục “Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kỳdựng nước” cụ thể là thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương đã nghiên cứu về

một số thiên truyện trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái với mục đích khôi

phục dần vốn từ vựng cơ bản và hệ thống ngữ âm tiếng Việt cổ nhằm khẳng địnhrằng tên riêng trong truyền thuyết là một nguồn tài liệu quý đối với ngôn ngữ họclịch sử đặc biệt đối với giai đoạn lịch sử trước thế kỷ X ở nước ta Bên cạnh đó ôngcũng cho rằng truyền thuyết có tính “dân gian hoá” và bản thân nó không phải lịchsử

Trần Đình Sử trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam cho rằng Việt điện u linh thuộc truyện thần linh còn Lĩnh Nam chích quái tiêu biểu cho truyện thần quái Việt Nam Hai chữ “u linh” trong Việt điện u linh đã nói rõ đối

tượng thể hiện trong truyện là các thần linh thông minh, chính trực được phong tặngdanh hiệu và được thờ cúng dó có công đức với đất nước Chính đặc điểm này làm

cho tác phẩm thuần nhất, linh thiêng [108, tr 340] Ông còn cho rằng so với Việt điện u linh và Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái có sự đa dạng về nội dung

và thể loại, có truyện thần, có truyện quái, có truyền thuyết lịch sử, có truyện cổtích, truyện tình yêu, truyện tiên, truyện Phật, truyện trong nước, truyện ngoài

nước, Cái mới của Lĩnh Nam chích quái là thu thập được nhiều truyện quái lạ về cội nguồn dân tộc, anh hùng dân tộc, thần thiêng sông núi, về các phong tục độc đáo, về chiến công trừ hại của tiên nhân Ý thức về dân tộc, dòng giống, quốc gia qua các truyện ấy là hết sức rõ rệt Ngoài ra còn có truyện đền ơn, truyện dị nhân, truyện báo oán, thác sinh, truyện hiếu sắc Tình tiết các truyện đã phức tạp hơn nhiều [108, tr 344].

Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, dựa trên xu hướng phát triển của văn xuôi tự sự, ông xếp Lĩnh Nam chích quái vào xu

hướng dân gian (sưu tầm, ghi chép, cải biên truyện dân gian) nhưng cũng có mầm

Trang 12

mống của xu hướng thế tục và Việt điện u linh vào xu hướng lịch sử (sưu tầm, ghi

chép về nhân kiệt địa linh đất Việt, bao gồm các nhân vật lịch sử (người, thần) vàcác sự kiện lịch sử) [59, tr 34- 42]

Nguyễn Hùng Vĩ trong bài viết Lĩnh Nam chích quái từ điểm nhìn văn hoá,

đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học (số 8), trang 98 - 112, năm 2006 cho rằng

“Lĩnh Nam chích quái là một tượng đài tinh thần cổ kính vừa thiêng liêng vừa kì diệu Đó là một kì quan văn hóa kết tụ qua thăng trầm của một lịch sử phức tạp nhưng đầy quyết tâm cho độc lập dân tộc, cho văn hiến bản địa Về cấu trúc, Lĩnh Nam chích quái đã hướng hẳn về cội nguồn dân tộc, về phía nhân dân và văn hóa bản địa.” Đồng thời, ông nhấn mạnh tư tưởng ái quốc trong tác phẩm chính là kim

chỉ nam cho mọi học giả dù tiếp cận tác phẩm dưới bất cứ phương pháp khoa họcngữ văn nào Ông còn cho rằng với 22 cốt truyện, mỗi câu chuyện là một diễn ngôn

lịch sử, “Lĩnh Nam chích quái trình diễn trước chúng ta ý thức về truyền thống lịch

sử riêng của đất nước từ buổi hồng hoang đến những câu chuyện xảy ra ở thời đại nhà Trần Sau này, các bậc túc nho giàu nhiệt huyết có bổ sung thêm bao nhiêu đi nữa thì vẫn theo tư tưởng đó: đây là những câu chuyện được truyền ở cõi Lĩnh Nam, khác với Trung Hoa.” Bên cạnh đó về mặt nghệ thuật, ông còn chỉ ra Lĩnh Nam chích quái là “sử trong truyện” với kiểu tự sự trầm tích và kết cấu các thiên

truyện theo mạch thẳng của trình tự thời gian đồng dạng với kiểu chí quái, truyền kì

Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người và Đất Việt, tác giả đã có những đóng

góp về phương pháp nghiên cứu mới về tôn giáo và tín ngưỡng Tác giả đã nhấnmạnh những biến chuyển văn hóa ẩn sâu dưới lớp hỗn độn của thần thoại, huyền sử

và tín ngưỡng Trong đó tác giả nhắc tới “Lĩnh Nam chích quái vì là truyện dângian, chỉ cần có các dấu vết niên đại đủ làm nên khung truyện, còn nội dung thì dàntrải ra trong sự phô diễn phần ý thức xã hội…” [87, tr 27] Tác giả không chỉ dừnglại ở việc khảo sát hệ thống thần linh thủa sơ khai với các Nhiên thần: các thần Cây

đá, thần Sông nước và các Nhân thần như Cao Lỗ, An Dương Vương, Hai BàTrưng,… mà còn đặt những bước đi đầu tiên trong việc làm sáng tỏ chiều hướng kếttập thần linh mới

Trang 13

Trần Đăng Trung trong bài viết “Mối quan hệ giữa quyền lực và diễn ngôn

văn chương qua trường hợp Lĩnh Nam chích quái” (2014), đăng trên tạp chí nghiên cứu Văn học (số 2), tr 88 – 98 chỉ ra rằng: “Lĩnh Nam chích quái không đơn thuần chỉ là sưu tầm, biên soạn hay bảo tồn các sáng tác dân gian, mà sâu xa hơn, tất cả các truyện kể ở đây đều nhằm tới việc xây dựng và củng cố quyền lực phong kiến trên hai bình diện chính: kiến tạo một ý niệm chính thống về vương quyền và độc tôn các giá trị của ý thức hệ Nho giáo, tất nhiên, theo những cách hết sức tinh vi và không dễ nhận ra.” Mặc dù 22 cốt truyện là những sáng tác truyền miệng đặc sắc

dân gian, nhưng các quan điểm của học thuyết Nho giáo, hệ giá trị thuộc về tầng lớpthống trị khẳng định vị trí tối thượng của vua có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và xuyên

suốt “như một quyền lực chi phối sự hình thành văn bản Lĩnh Nam chích quái Hệ thống các yếu tố mang tính chất phong kiến ở đây phải được nhìn nhận như một trung tâm kiến tạo ý nghĩa của tác phẩm.” [97, tr 88 -98]

Bên cạnh đó, Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái còn là đối tượng tìm

hiểu của các luận án, luận văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp Xu hướng chung củacác công trình nghiên cứu là phương diện nghệ thuật của hai tác phẩm

Đào Phương Chi trong luận án Tiến sĩ: Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh

và quá trình dịch chuyển văn bản ( 2006) đã khảo sát toàn bộ các văn bản Việt điện

u linh hiện còn để tìm ra một văn bản gần với bản gốc nhất Đào Phương Chi cũng

cho rằng giữa Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái có sự khai thác một số nhân

vật giống nhau ở các thiên truyện như: Lý Ông Trọng, Trương Hống, Trương Hát,thần Tô Lịch, thần Tản Viên nhưng mỗi tác phẩm có chức năng khác nhau Tác giả

luận án khẳng định Việt điện u linh là tác phẩm văn học chức năng lễ nghi được viết một cách tóm lược còn Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm dân gian mang đặc trưng

văn học nghệ thuật thiên về kể và khai thác tình tiết

Vũ Thị Hương trong luận án Nghiên cứu so sánh Sư thần ký (Trung Quốc) với một số truyện chí quái Việt Nam từ góc độ đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn năm 2016 chỉ ra đặc trưng riêng thể loại chí quái của mỗi nước song về hình

thức ngôn ngữ cơ bản là giống nhau Bên cạnh đó, tác giả luận án chỉ ra một số hiệntượng ngữ pháp tiêu biểu cho thể loại chí quái Đó là hiện tượng ngữ pháp bạch

Trang 14

thoại thời kỳ đầu Đồng thời chỉ ra câu tồn tại và câu phán đoán là hai loại câu tiêubiểu được sử dung làm câu mở đầu của chí quái như một khuôn mẫu nhất định.

Kim Kỳ Hiền trong luận án Nhân vật trong truyền kỳ ảo trung đại Việt Nam

và Hàn Quốc dưới góc nhìn so sánh năm 2019 tiến hành phân tích hai kiểu nhân vật

tuyến nhần vật kỳ ảo và tuyến nhân vật bình thường gắn bó chặt chẽ và thể hiện sinhđộng những vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn con người, những thuần phong mỹ tục, vănhoá truyền thống Việt Nam cũng như Hàn Quốc thời đại lúc bấy giờ Nhìn chung,qua nhân vật trong truyện kỳ ảo trung đại của Việt Nam và Hàn Quốc, những chiềucạnh văn hoá được biểu hiện như văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho giáo, văn hoá Lão– Trang Đồng thời tác giả luận án cũng khẳng định truyện kỳ ảo trung đại Việt Nam

và Hàn Quốc có quá trình hình thành, phát triển khá sớm dựa trên cơ sở tiếp thutruyền thống văn học dân gian của mỗi dân tộc

Bên cạnh đó còn có một số luận văn thạc sĩ:

Đinh Thị Lệ Phương trong bài viết Thế giới biểu tượng trong Lĩnh Nam chích quái năm 2017 đã phân tích một cách toàn diện và có hệ thống về thế giới biểu tượng trong Lĩnh Nam chích quái đồng thời chỉ ra những đặc trưng cơ bản của

hệ biểu tượng này cũng như các phương thức cơ bản xây dựng biểu tượng

Nguyễn Thị Huyền Thu trong bài viết Phương thức thể hiện nhân vật kỳ ảo trong truyện chí quái Việt Nam (Qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái lục)

năm 2017 đã chỉ ra và phân tích các phương thức xây dựng nhân vật kì ảo mà Lý TếXuyên, Trần Thế Pháp sử dụng Từ đó, có thể thấy được những thành tựu trong xây

dựng nhân vật kì ảo của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Nhận thức

được những đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện chí quái Việt Nam giai đoạnđầu Góp phần hình dung thêm về con đường hình thành và phát triển của văn xuôi

kì ảo Việt Nam nói riêng và văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam nói chung

Như vậy, điểm qua đã có những nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật của

hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Những công trình này chưa đi

sâu vào sự kiến tạo căn tính dân tộc Chính vì vậy, trên tinh thần tiếp thu kết quả và

sự gợi ý của những công trình nghiên cứu đã có trước đây, trong luận văn này chúngtôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc trong hai tác phẩm

Trang 15

trên nhằm đưa ra những phát hiện góp phần mở rộng và phát triển thêm giá trị củahai tác phẩm đầu tiên của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam.

Bàn luận về sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là một công việc có ý nghĩa Chúng tôi mong muốn góp một phần công

sức nhỏ bé của mình để tìm hiểu về tính dân tộc, cội nguồn dân tộc, tinh thần dântộc và bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện tâm hồn, tính cách, nhân cách con ngườiViệt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, chúng tôi nhằm:

- Chỉ ra vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam

- Nghiên cứu sự xác lập căn tính dân tộc qua sự đối kháng, giao lưu và tiếp nhận

văn hóa Trung Hoa

- Nghiên cứu sự xác lập căn tính dân tộc qua sự quay trở về với các yếu tố văn hóabản địa

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc được

thể hiện trong hai tập Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Đồng thời chúng tôi

sẽ tìm hiểu và tham khảo thêm nội dung các tài liệu sử học khác, các tài liệu vănhọc khác gắn liền với hai bộ phận văn học: văn học dân gian, văn học trung đại để

thấy sự kiến tạo căn tính dân tộc biểu hiện trong hai tập Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh nói riêng và văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại nói chung.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong điều kiện còn khá nhiều dị bản và rất phức tạp trong quá trình truyềnbản của hai tác phẩm, chúng tôi tập trung nghiên cứu và khảo sát các thiên truyện

trong tập Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên do Trinh Đình Rư dịch theo bản A.751

của Thư viện Khoa học Xã hội được Đinh Gia Khánh giới thiệu, xuất bản năm

1960, nhà xuất bản Văn hoá

Trang 16

Về tác phẩm Lĩnh Nam chích quái, trong tình hình tài liệu hiện nay, việc tìm

ra bản Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp là rất khó vậy nên chúng tôi khảo

sát và nghiên cứu bản dịch của Vũ Quỳnh, Kiều Phú sưu tập biên soạn ở thế kỷ XV

và Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San biên khảo, giới thiệu in lần thứhai có sửa chữa, bổ sung của nhà xuất bản Văn học Hà Nội năm 1990

Căn cứ vào nhu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự kiến tạo căn

tính dân tộc qua hai tập Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh về những phương

diện: đề tài, thi pháp, thể loại, khuynh hướng sáng tác, hình tượng nhân vật, motif

và type, sự ảnh hưởng môi trường văn hóa, bản sắc dân tộc gắn liền với sự hìnhthành tín ngưỡng tâm linh của người Việt… nhằm có cái nhìn tổng thể và khái quát

về sự kiến tạo căn tính dân tộc Việt Nam Qua việc nghiên cứu và bàn luận về sự

kiến tạo căn tính dân tộc trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam qua hai tập Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh chúng tôi muốn chỉ ra điểm đặc sắc trong cội rễ

văn hoá, các giá trị cố kết dân tộc, nét truyền thống, sự kế thừa tinh hoa của nền vănhọc dân tộc Đồng thời chỉ ra những sáng tạo, cách tân trong phương pháp, tư duy lýluận thực tiễn trong việc nghiên cứu của những học giả ngày nay khi tìm về nhữnggiá trị truyền thống văn hóa, văn học dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng những phương pháp chủ yếu dưới đây:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: sử dụng phương pháp này để nghiên cứu sâu

về phương diện nghệ thuật trong mối quan hệ với nội dung để chỉ ra những đặctrưng nghệ thuật, quá trình hình thành và phát triển của hai tác phẩm

- Phương pháp liên ngành: kết hợp giữa các phương pháp tiếp cận văn hoá học,

phương pháp lịch sử, để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan:

+ Phương pháp tiếp cận văn hoá học: vận dụng những tri thức về văn hoá để nhậndiện và giải mã các yếu tố thi pháp, nội dung của hai tác phẩm đồng thời thấy đượctinh thần dân tộc, đời sống cộng đồng, đời sống tâm linh con người Việt Nam

+ Phương pháp lịch sử: Văn học là một hình thái ý thức xã hội được đặt trong hệ

quy chiếu của bối cảnh lịch sử xã hội Nghiên cứu hai văn bản Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái không thể không đặt trong bối cảnh lịch sử ra đời của hai tác

Trang 17

phẩm, những tác động của lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của haivăn bản Bên cạnh đó, hai văn bản này có chứa đựng nhiều giá trị sử học nên cầnphải xem xét nó trong mối quan hệ với lịch sử để khẳng định tính khách quan và xácthực.

- Phương pháp tự sự học: nghiên cứu cấu trúc, đặc điểm nghệ thuật trần thuật củahai tác phẩm Từ đó, chúng ta hình dung thêm về con đường hình thành và pháttriển của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: đi sâu phân tích sự kiến tạo căn tính dân tộc

Việt Nam trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trên hai khía cạnh nội dung

và thi pháp nghệ thuật Sau khi đã nghiên cứu các chi tiết, sự kiện, nội dung của cácthiên truyện, chúng tôi tiến hành kết luận, tổng hợp lại những nội dung, phươngdiện hình thành nên căn tính dân tộc Việt Nam qua hai tác phẩm

Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp với các thao tác:

+ So sánh: chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu hai tác phẩm Đồng thời chúng tôicòn tiến hành so sánh các thể loại văn học với nhau, giữa truyền thuyết, thần thoại

và sử ký để thấy được nét tương đồng và khác biệt

+ Thống kê: các thiên truyện, các nhân vật, các vị thần, địa danh, tình tiết trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái để hình dung cụ thể về hệ thống nhân vật, các vị

thần thánh trong hai tác phẩm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nếu thực hiện tốt luận văn chúng tôi sẽ xác lập được sự kiến tạo căn tính dân

tộc được thể hiện qua hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái Điều

này sẽ hoàn thiện thêm cho việc tiếp cận hai tác phẩm này dưới góc độ nội dung, tư

tưởng Mặt khác, việc chỉ ra được cụ thể, rõ ràng sự phát triển giữa Việt điện u linh

và Lĩnh nam chích quái sẽ góp phần vào việc nghiên cứu quá trình hình thành và

phát triển của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Nghiên cứu “Sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái” còn cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy

hai tác phẩm này

Trang 18

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn Sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái sẽ đóng góp vào việc xác lập căn tính dân tộc Việt Nam qua Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái Đồng thời giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện và thấu đáo hơn

khi đánh giá hai tác phẩm và hiểu thêm về con đường đi của thể loại văn xuôi tự sựViệt Nam trung đại

Thực hiện đề tài này, người viết chỉ mong được coi là đã đóng góp một phầncông sức nhỏ bé trong hành trình trở về cội nguồn dân tộc Đây cũng là một vấn đềkhông giản dị, đòi hỏi người viết phải có tri thức, kĩ năng thấu hiểu văn hoá, lịch sử

và văn học nước nhà

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần thư mục tài liệu tham khảo, phầnNội dung chính của luận văn được bố cục thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề căn tính dân tộc và tác phẩm Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái.

Chương 2: Xác lập căn tính dân tộc qua sự đối kháng, giao lưu và tiếp nhận văn hoáTrung Hoa

Chương 3: Xác lập căn tính dân tộc qua sự quay trở về với các yếu tố văn hoá bản địa

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ TÁC

PHẨM VIỆT ĐIỆN U LINH, LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

1.1 Vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam

1.1.1 Nội hàm về khái niệm căn tính dân tộc

Các khái niệm: Quốc gia/dân tộc/quốc gia tính/dân tộc tính/Căn tính dântộc/bản sắc dân tộc (nation/nationality/nationalism) đều có sự giống nhau và cùngmột trường từ vựng Do đó việc định nghĩa những khái niệm này là vô cùng khókhăn Vì thế trước khi đi vào bài nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể, chúng tôi sẽxem xét vắn tắt về hai khái niệm “dân tộc” và “căn tính dân tộc” để đưa ra một địnhnghĩa hợp lí nhất

Trước hết chúng tôi bàn luận về khái niệm dân tộc (nation) Benedict

Anderson trong công trình nghiên cứu Những cộng đồng tưởng tượng do Lưu Ngọc

An dịch cho rằng: các khái niệm “dân tộc”, “căn tính dân tộc” được hình thành vàocuối thế kỷ XVIII như là một cấu trúc xã hội để thay thế các chế độ quân chủ, trật tự

xã hội nặng về tôn giáo trước đây [2, tr 29] Với một tinh thần nhân học, BenedictAnderson nhận định: dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng - được tưởngtượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu [2, tr 23] Nó được tưởng tượngnên bởi lẽ các thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng không bao giờbiết hết đồng bào của mình, gặp họ hay thậm chí nghe nói về họ, nhưng trong ý thứcmỗi người vẫn duy trì một hình ảnh về cộng đồng mình” Có nghĩa là, theo ông, cáigọi là quốc gia/dân tộc, không phải là điều gì có sẵn và có tính thực hữu, mà chỉ làmột sự tưởng tượng - hay dùng thuật ngữ của ông: “một cộng đồng được tưởngtượng mà ra” Những cộng đồng đó mang trong mình những “giới hạn” (mọi quốcgia dân tộc đều có biên giới), “chủ quyền” như một “cộng đồng” và có một dân sốnhất định, chứ không phải một thực thể hữu cơ, vĩnh cửu [2, tr 25] Bên cạnh đó,cũng theo ông, các căn tính (indentity) của một dân tộc không phải là một thực thểtồn tại hoàn toàn khách quan tự nhiên mà là những tạo tác văn hóa có tính nhân tạo

Do vậy, căn tính dân tộc không phải là một yếu tố được hình thành một

Trang 20

cách khách quan, lịch sử mà được hun đúc lên từ một loạt các yếu tố văn hóa dântộc bắt đầu từ các huyền thoại về tổ quốc đến các nhân vật lịch sử.

Dân tộc thuộc phạm trù lịch sử, phạm trù văn hóa Có rất nhiều các địnhnghĩa khác nhau về khái niệm dân tộc Theo quan niệm của một số nhà sử học, “dântộc” là những cộng đồng người được hình thành trong quá trình lịch sử, trên cở sởnhững chung đụng về giống nòi, ngôn ngữ, lãnh thổ, tổ chức đời sống chính trị, đờisống kinh tế và văn hoá, đặc biệt là về truyền thống văn hoá Mỗi dân tộc đều cóquá trình hình thành và phát triển không giống nhau gắn liền với điều kiện lịch sử,địa lý, văn hoá, tâm lý, dân tộc ấy Dân tộc khác với chủng tộc và giai cấp Chủngtộc là cơ sở tập hợp dựa trên sự khác nhau của đặc tính di truyền về màu da, màutóc, cấu tạo cơ thể hay các đặc tính về khuôn mặt Cũng cần phân biệt dân tộc với

bộ lạc, bộ lạc là một phạm trù nhân chủng chỉ có trong chế độ cộng sản nguyênthủy, còn dân tộc là một phạm trù lịch sử do những người thuộc nhiều chủng tộc, bộlạc họp nhau lại mà thành Còn giai cấp đề cập đến các bậc thứ khác nhau để phânbiệt giữa các cá nhân hoặc các nhóm người trong các xã hội hoặc các nền văn hóadựa trên cơ sở địa vị khác nhau, sở hữu vật chất khác nhau và thành quả lao độngkhác nhau trong một hệ thống sản xuất, hình thái xã hội nhất định của giai đoạn lịch

sử cụ thể Dân tộc là một cộng đồng người, nó bao gồm nhiều giai cấp Đặc tính dântộc không thể và không phải là những gì chung cho mọi giai cấp, mọi người trêncùng một lãnh thổ

Về khái niệm căn tính dân tộc Đó là đặc tính, tính chất riêng biệt chỉ có ở mộtdân tộc nào đó làm nổi bật lên bản sắc của dân tộc ấy Đó là cái làm cho dân tộc nàykhác với dân tộc khác dựa trên cơ sở những giá trị vốn có, sẵn có hay tái tạo và sángtạo từ những giá trị văn hóa của dân tộc khác Trong bài nghiên cứu này, căn tính dântộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán,

tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tínngưỡng, của một dân tộc nào đó Ở nhiều nước Âu - Mĩ , dân tộc sinh ra trong thời kỳ

tư bản chủ nghĩa, còn ở Việt Nam, dân tộc được hình thành từ rất sớm, có thể bắt đầu

có từ khi lập nước Ðiều kiện để dân tộc Việt Nam hình thành sớm là do các cộng đồngngười cần liên kết nhau lại để chống thiên tai, để sản xuất lúa nước, để

Trang 21

chống giặc ngoại xâm và ổn định địa bàn cư trú Căn tính dân tộc Việt Nam được hiểu

là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đờisống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng,

của người Việt Nam Đó chính là gia tài, cái vốn liếng thiêng liêng của quốc gia và làsản nghiệp chung của giống nòi người Việt đã được hình thành trong suốt quá trìnhhàng nghìn năm lịch sử với muôn vàn biến cố, thăng trầm và được biểu hiện ở các giátrị trong truyền thống văn hóa của người Việt Khẳng định về tầm quan trọng của đặc

tính dân tộc, Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: “Dân tộc và quốc gia là hai phạm trù lịch sử, hai phạm trù văn hóa Nó nảy sinh trong lịch sử như kết quả phát triển lâu dài của nhân loại cả ở phương diện thực tiễn, cả về phương diện tinh thần Đến bây giờ, ta có thể vững tin ở sự tồn tại lâu bền của nó cùng nhân loại tương lai Không một nhà văn hóa nào lại tưởng tượng được không gian văn hóa dân tộc, không gian văn hóa quốc gia một ngày nào đó sẽ mất đi Sự mất đi của nó sẽ đồng nghĩa với sự tàn lụi của bản sắc văn hóa ở cấp cộng đồng cơ bản nhất [79] Chúng ta tự định nghĩa bản thân trong

phạm trù có tính quốc gia, dân tộc: Việt Nam Và khi làm thế, một trong những chúng

ta chắc chắn coi bản thân mình là một nhân tố được quyền sống trong một không gian

xã hội và lãnh thổ kế thừa từ các giá trị cố hữu của quá khứ tiền cách mạng Theo cácnhà dân tộc học, trên lãnh thổ dân tộc Việt Nam có

54tộc người sinh sống với những nét văn hoá riêng nhưng lại gắn bó chặt chẽ nhau trong vận mệnh dân tộc chung

1.1.2 Căn tính dân tộc trong văn học

Trong kho tàng văn chương nhân loại, ta thấy mỗi dân tộc có một nền vănchương riêng, một truyền thống văn chương khác nhau Cái làm nên sự phân biệt ấychính là bản sắc dân tộc của văn chương Tính dân tộc trong văn học còn thể hiện ởcái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảmnhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và các mối quan hệ giữa conngười với con người

Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ,nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giaicấp mà họ đang sống Vì thế có thể nói văn học được coi là một phương tiện bảo

Trang 22

tồn và phát huy căn tính dân tộc Trước hết văn học phản ánh rõ ràng linh hồn vàtính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa ViệtNam dựa trên cơ sở ngôn ngữ tiếng Việt Văn học được khơi nguồn từ những cănnguyên chân thật của lịch sử, những biến đổi của đời sống xã hội và sự thay đổitrong nhận thức về thế giới của con người Hay nói các khác, mỗi dân tộc được hìnhthành trong quá trình lịch sử đã tạo ra những đặc trưng, truyền thống văn hoá gắnliền với những đặc trưng hình thành của chính dân tộc ấy Nó được hình thành dựatrên các cơ sở: điều kiện địa lý, lịch sử, tôn giáo, điều kiện xã hội,… Chính vì vậybản sắc dân tộc, căn tính dân tộc của văn học được xem xét là sản phẩm của mộtquá trình lịch sử và phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử, truyền thống văn hoáthông qua khung tham chiếu của người nghệ sĩ hoặc các nhà nghiên cứu Nói tớidân tộc, đặc tính dân tộc, chúng thường mang tính ổn định, ít biến đổi bởi chúngđược thừa nhận như một thuộc tính có tính chất truyền thống.

Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học Căn tính dân tộc trong nềnvăn học Việt Nam nói chung và nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng được thểhiện trong phương diện nội dung, tư tưởng tác phẩm ở các khía cạnh: Tình cảm yêunước nhiệt thành, niềm tự hào về truyền thống, về đất nước độc lập, ý thức tự tôndân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổquốc, đạo lý Việt Nam,… Còn trong phương diện nghệ thuật, tính dân tộc được biểuhiện ở các khía cạnh: ngôn ngữ, thể loại, hình tượng nghệ thuật,…

1.1.3 Các biến động lịch sử và ý thức dân tộc

Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIV – XV đã có nhiều thay đổi hếtsức cơ bản Đất nước mở ra kỷ nguyên mới Các triều đại phong kiến đã thực hiệnchính sách “khoan dân”, “thư dân” để ổn định đời sống trong nước, thu phục lòngdân, đoàn kết nhân dân cả nước, góp phần bảo vệ sự thống trị của nhà nước phongkiến Về chính sách đối ngoại, nước ta giữ gìn được quan hệ với các nước lánggiềng nhất là với Trung Quốc Các lĩnh vực: nông nghiệp, thương nghiệp, thủ côngnghiệp phát triển mạnh mẽ, giao thông được mở mang Chế độ phong kiến ViệtNam nhìn chung phát triển

Trang 23

Đất nước bước vào thời kỳ phục hưng văn hoá dân tộc lần thứ nhất Mặc dù,chịu ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài song nền văn hoá vẫn mang đậm nét dân tộc

và dân gian Vì vậy, văn hoá nước Đại Việt là một lĩnh vực nhận được nhiều quantâm của một lực lượng Nho sĩ trí thức đông đảo Với tinh thần dân tộc và ý thứcquốc gia sâu sắc họ tái hiện lại một thời kỳ lịch sử gắn liền với tiến trình văn hoádân tộc, tri thức văn học dân tộc, các nhà nho đã góp phần thúc đẩy tinh thần yêunước, đấu tranh giành quyền tự chủ, khơi gợi lòng tự tôn và niềm tự hào dân tộc.Qua đó còn phản ánh trí tuệ và tâm hồn của tầng lớp trí thức và nhân dân bấy giờ,phản ánh không khí xây dựng đất nước trong hòa bình và quá trình phục hưng dântộc, phát triển quốc gia trong thế kỉ XIV của dân tộc Việt Nam Như là một sự tri ânsâu sắc với những thành quả to lớn mà ông cha ta để lại, các nhà nho đã “dấn thân”vào một cuộc hành trình, công cuộc tìm kiếm lại những “chiến tích” của một thời kỳlịch sử mang đầy bản sắc văn hóa truyền thống riêng biệt không trộn lẫn với bất cứquốc gia nào Đó cũng là một công việc để khẳng định khát vọng độc lập dân tộc

Họ đã dùng những tựu của văn hoá dân gian như một vũ khí sắc bén chống lại dãtâm cướp nước của các chế độ phong kiến phương Bắc và phục hồi quốc thống Họ

đã dùng thành tựu văn hoá văn nghệ dân gian để nêu cao những cuộc đấu tranh bảo

vệ Tổ quốc, hay những truyền thuyết về một số vị thần đã tăng thêm niềm tự hàodân tộc Gìn giữ văn hoá vật chất đã khó song lưu giữ văn hoá tinh thần còn khóhơn Tuy khó, song những nhà nho đã lưu giữ được những câu chuyện thể hiệnnhiều mặt của văn hoá Việt, góp phần khẳng định nền văn hoá bản địa Thực chấtđây là một kỳ tích vì cha ông không chỉ giành được thắng lợi trên mặt trận quân sự

mà còn chiến thắng trên mặt trận tinh thần với bản lĩnh trí tuệ của mình

Hoàn cảnh lịch sử - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp các tác giả sưu

tầm, biên soạn hai cuốn sách Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Không chỉ

lưu giữ giá trị văn hoá những nhà chấp bút đã khẳng định được độc lập dân tộc Qua

đó góp phần khẳng định quốc gia ta trường tồn theo thời gian, không một thế lựcnào đô hộ được trên phương diện chính trị cũng như tinh thần

Trang 24

1.2 Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trong sự vận động của lịch sử văn xuôi Việt Nam trung đại

1.2.1 Khái lược về văn xuôi trung đại Việt Nam

Văn học là một hình thái ý thức gắn liền với văn tự, bởi vậy khi nghiên cứucăn tính dân tộc hay bản sắc văn hoá dân tộc qua văn học tất yếu gắn liền với tiếntrình phát triển văn học dân tộc Văn xuôi tự sự là một bộ phận cấu thành nền vănhọc Việt Nam trung đại và phát triển song song với văn học dân gian gắn liền vớidiễn trình lịch sử văn học dân tộc

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đồng tình và nhất trí với quan điểm củaNguyễn Đăng Na về phân loại và tiến trình phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam trung

đại Theo Nguyễn Đăng Na trong công trình Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại tập I, ông cho rằng có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm: truyện ngắn, kí, tiểu

thuyết chương hồi và con đường hình thành, phát triển văn xuôi tự sự Việt Namtrung đại vận động theo bốn giai đoạn Giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ X – XIV, thế kỷlấy văn học dân gian và văn học chức năng làm cơ sở Văn xuôi tự sự giai đoạn nàychưa tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng với hai thể loại: truyện dân

gian và truyện lịch sử dân tộc, truyện lịch sử tôn giáo Trong đó Việt điện u linh thuộc loại truyện lịch sử tôn giáo (lễ nghi, tập tục, tín ngưỡng), còn Lĩnh Nam chích quái thuộc truyện dân gian (gồm sưu tầm, ghi chép, chỉnh lí truyện dân gian) Văn

học thời kỳ này tập trung khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lịch sử nước Việt Vềphương diện nghệ thuật văn học giai đoạn này vẫn kế tục đặc trưng thể loại, motif,

… của văn học dân gian Giai đoạn thứ hai, từ thế kỷ XV – XVII đây là thời kỳ pháttriển mạnh mẽ của văn xuôi tự sự Các tác phẩm thời kỳ này đã thoát khỏi đặc trưngcủa văn học dân gian và văn học chức năng từ đó có sự xuất hiện loại hình truyệnngắn văn học mang đậm sắc thái dân tộc và phản ánh hiện thực đương thời Văn tự

sự đi vào quỹ đạo nghệ thuật: văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâmphản ánh Về phương diện nghệ thuật, giai đoạn văn học này đỉnh cao của thể loạitruyền kỳ Giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ XVIII đến giữa XIX, đây là thế kỉ của ký, tiểuthuyết chương hồi, truyện ngắn đều được hoàn thiện và dần tiếp cận với văn

Trang 25

học cận - hiện đại Giai đoạn thứ tư, nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn chuyển giao

giữa văn xuôi trung đại với văn xuôi cận – hiện đại Tác giả xếp Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái vào giai đoạn thứ nhất Cũng theo Nguyễn Đăng Na, trong bài nghiên cứu Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, ông cho rằng Văn xuôi tự sự

Việt Nam trung đại phát triển theo ba xu hướng: xu hướng dân gian, xu hướng lịch

sử và xu hướng thế tục, trong đó Viêt điện u linh theo xu hướng lịch sử và Lĩnh Nam chích quái theo xu hướng dân gian phần lớn là truyện có tính chất truyền thuyết.

Với tư cách là một loại hình nghệ thuật thuộc hình thái ý thức xã hội, nền vănxuôi tự sự Việt Nam trung đại phát triển qua ba xu hướng, ba hình thức tự sự và bốngiai đoạn với những đặc trưng, quy luật riêng nhưng tựu trung văn xuôi tự sự vẫnhoàn thành sứ mệnh của mình: phản ánh đời sống tâm linh của người Việt Nam thờitrung đại

1.2.2 Việt điện u linh và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại

Việt điện u linh - Tập sách chép những truyện linh thiêng ở đất nước Việt làtác phẩm của đại tạng thư hoả chính chưởng Trung phẩm phụng ngự An Tiêm lộChuyển vận sứ Lý Tế Xuyên biên soạn vào năm Khai Hựu (開開) nguyên niên 1329đời Trần Hiến Tông (開開開) Lý Tế Xuyên dựa vào những bản thần tích trong các đợt

phong thần của vua nhà Trần, tham khảo Báo cực truyện, Ngoại sử ký và ít nhiều cũng có dựa vào lời truyền tụng của nhân dân mà soạn sách Việt điện u linh.

Về tiểu sử Lý Tế Xuyên, ở lời ghi trong cuối bài tựa đầu của cuốn sách có viết:

“Thủ Đại tạng thư, Hỏa chính trưởng, Trung phẩm phụng sứ, An Tiêm lộ chuyển vận sứ” Theo như lời ghi thì Lý Tế Xuyên giữ chức Thủ Đại tạng thư Hỏa chính trưởng

(chức quan đứng đầu Nội mật viện, phụ trách kho tài liệu sách vở lưu trữ của Nhànước, coi giữ việc tế lễ, tham gia việc quản giám bách thần), chức An Tiêm Chuyển vận

sứ (chức quan nắm việc vận tải thủy bộ, lương gạo, tiền tệ, hóa vật một vùng) Ngoài

Lý Tế Xuyên ra còn một số tên tuổi gắn với Việt điện u linh nữa như Nguyễn Văn Chất

(thế kỉ XV) viết phần Tục biên, Lê Tư Chi viết phụ lục, năm 1712 Lê Thuần Phủ viếtbài Bạt, đầu thế kỉ XIX năm 1807 là Cao Huy Diệu viết Bổ chú và Tiếm bình, NgôGiáp Đậu năm 1919 (thế kỉ XX) viết Trùng Bổ và Bạt Trùng Bổ,

Trang 26

Việt điện u linh là tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh Việt Nam ở

vào thời xa xưa biểu hiện quan niệm về thế giới quan thần thoại của nhân dân ta

Ban đầu Việt điện u linh có 27 truyện kể về các vị thần linh được chính quyền công

nhận được thờ ở Việt Nam gồm các vua chúa (nhân quân), bề tôi trung liệt (nhân

thần), thần sông, thần núi (hạo khí anh linh) Nhưng theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, ông cho rằng Việt điện u linh gồm 28 truyện [80, tr 45] Sau đây sẽ thống kê 27 truyện trong Việt điện u linh đã được Trịnh Đình Rư dịch theo bản A 751 của Thư viện khoa học, Đinh Gia Khánh giới thiệu như sau: 1 Bố Cái đại vương; 2 Triệu Việt Vương và Lý Nam đế; 3 Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân; 4 Chế thắng Nhị Trưng phu nhân; 5 Hiệp chính Hựu thiện Trinh liệt Chân mãnh phu phân; 6 Uy minh Dũng liệt Hiển trung Tá thánh Phu hựu Đại vương; 7 Hiệu úy Uy mãnh Anh liệt Phụ tín đại vương; 8 Thái úy Trung phụ Dũng Vũ uy Thắng công; 9 Bảo quốc Trấn linh Định bang, Quốc đô Thành hoàng đại vương;

10 Hồng thánh Trung vũ Tá trị đại vương; 11 Đô thống Khuông quốc Tá thánh

vương; 12 Thái úy Trung tuệ Vũ lượng công; 13 Khước địch Thiện hựu, Trợ thuận đại Vương, Uy địch dũng cảm, Hiển thắng đại vương; 14 Chứng an Minh ứng Hựu quốc công; 15 Phụ chép sự tích thần xã An Sở; 16 Hồi thiên Trung liệt Uy vũ trợ thuận Vương; 17 Quả nghị Cương chính Uy huệ Vương; 18 Ứng thiên hóa dục Nguyên trung Hậu thổ địa kỳ nguyên quân; 19 Minh chủ Linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu đại vương; 20 Quảng lợi Thánh hựu uy Tế phu ứng đại vương; 21 Khai nguyên Uy hiển Long trứ Trung vũ đại vương; 22 Xung thiên Dũng liệt Chiêu ứng

Uy tín đại vương; 23 Tản viên Hựu thánh Khuông quốc Hiển ứng Vương; 24; Khai thiên trấn quốc Trung Phụ Tá dực đại vương; 25 Trung dực Vũ phụ Uy hiển Vương;

26 Thiện hộ Linh ứng Chương vũ quốc công; 27 Lợi tế Linh thông Huệ tín Vương.

Việt điện u linh thuộc bộ phận văn học chức năng mang tính tự sự gắn liền

với chức năng lễ nghi tôn giáo, chức năng giữ nước và luôn song hành với văn học

nghệ thuật suốt thời trung đại Tinh thần dân tộc trong Việt điện u linh không chỉ thể

hiện trong việc ghi chép sự tích và tập hợp thần linh có công “cứu giúp sinh linh”,địa linh, hào khí của núi sông được chính quyền công nhận mà còn được thể hiện

Trang 27

trong tín ngưỡng dân gian thờ cúng nhân quân, phụ thần và nhiên thần Tập truyệntrước hết biểu dương công lao to lớn của các bậc đế vương, bầy tôi các đời đã hysinh thân thế để mang lại hạnh phúc cho dân Việt Tiếp theo là những câu chuyện vềhạo khí anh linh có nguồn gốc từ thần thoại với sự xuất hiện của các vị thần phù trợgiúp vua Hình tượng nhân vật trong truyện là những bậc vĩ nhân có tinh thần “trungquân ái quốc”, trung trinh, ngay thẳng, không ghi truyện các ác thần, dâm thần, tiêubiểu là các nhân vật: Bố cái đại vương, Trưng Trắc Trưng Nhị, Cao Lỗ, Lý PhụcMan, thần Long Đỗ,… Từ đó khẳng định tinh thần dân tộc, sức mạnh dân tộc, ýthức độc lập tự chủ, tự cường và niềm tự hào dân tộc.

Có thể nói Việt điện u linh là một tác phẩm có giá trị, ý nghĩa, mở đầu cho

văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại và là một tác phẩm văn xuôi tự sự cổ nhất

của Việt Nam còn lưu giữ được cho đến ngày nay Tinh thần dân tộc trong Việt điện

u linh được thể hiện từ lòng tự hào về các nhân vật lịch sử, các nhân vật văn hóa

dân tộc; tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thống văn hiến lâuđời của người Việt Cuốn sách không chỉ mang giá trị sử học, giá trị văn học mà conmang giá trị truyền thống văn hoá sâu sắc chứa đựng quốc hồn quốc tuý của mộtthời đại, một văn hoá của dân tộc Việt Nam

1.2.3 Lĩnh Nam chích quái và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại

Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm ghi chép truyền thuyết và truyện cổ tích ở

nước ta ra đời vào thời Lý – Trần Đây là một tác phẩm viết bằng chữ Hán mang giátrị lịch sử và văn hóa của đời sống người Việt cổ Lĩnh Nam (chữ Hán: 開開) là vùngđất phía nam núi Ngũ Lĩnh trong truyền thuyết xưa ở Việt Nam và Trung Quốc Ở

đây, Lĩnh Nam hiểu theo nghĩa hẹp chỉ gồm nước ta mà thôi Lĩnh Nam chích quái

(開開開開) nghĩa là những truyện kỳ lạ thu góp được, lượm lặt được ở cõi Lĩnh Nam.Cuốn sách là một tập hợp các truyền thuyết và truyện cổ tích dân gian Việt Namđược sưu tập, biên soạn bởi tác giả Trần Thế Pháp, soạn vào khoảng cuối thế kỷXIV và hoàn thành vào đời Lê cuối thế kỷ XV do Vũ Quỳnh và Kiều Phú chỉnh lýnhưng theo lời tựa của Vũ Quỳnh thì sách này “viết ra đầu tiên là những bậc tài caohọc rộng đời Lý - Trần” Tác phẩm là tập truyện cổ gồm nhiều

Trang 28

truyện thần thoại, truyền thuyết gắn liền với lịch sử, với việc giải thích về nòi giống

và nguồn gốc dân tộc, sự tích một số di tích văn hoá, một số phong tục tập quán, cácnhân vật lịch sử, anh hùng tài giỏi, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cư

dân Việt cổ, có ý nghĩa củng cố ý thức quốc gia dân tộc Lời tựa Lĩnh Nam chích quái thể hiện niềm tự hào về một đất nước “núi non kì lạ, đất đai linh thiêng, nhân

dân anh hào, truyện tích thần kì thường thường vẫn có”

Về nhan đề Lĩnh Nam chích quái (Sưu tập, lượm lặt những sự lạ trong cõi Lĩnh Nam) ban đầu có tên là Lĩnh Nam chích quái lục do Trần Thế Pháp đặt Còn tên gọi Lĩnh Nam chích quái liệt truyện có từ 1492 do Vũ Quỳnh đặt.

Về tác giả Trần Thế Pháp, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quí Đôn viết về Lĩnh Nam chích quái có đoạn như sau: “Sách Lĩnh Nam chích quái, tục truyền do Trần

Thế Pháp viết, sách Thiếu vi nam bản cũng nói vậy Chúng ta không rõ Thế Phápngười ở đâu Hiện nay chỉ thấy được bài nói đầu của Vũ Quỳnh,…” [38, tr 243]

Bên cạnh đó, trong phần Phàm lệ sách Việt Giám vịnh sử thi tập (hoàn thành năm

1520), nhà sử học, nhà thơ Đặng Minh Khiêm có viết: “Trong những năm HồngThuận, tôi vào sử quán, trộm có ý thuật lại chuyện xưa, hiềm rằng các sách ở Bí thưcác bị binh hoả nên khuyết mất nhiều Tôi chỉ còn thấy được toàn tập sách Đại Việt

sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp…” [105, tr 7].

Tiểu sử của Trần Thế Pháp còn rất hạn chế Căn cứ vào một bản chép tay ở Thưviện khoa học xã hội (ký hiệu A 33) thì chúng ta chỉ biết rằng Trần Thế Pháp cóhiệu là Thức Chi, quê ở Thạch Thất, Sơn Tây Ông là người đầu tiên sáng tạo ra

Lĩnh Nam chích quái Về sau, hai nhà nho Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã biên soạn lại Lĩnh Nam chích quái Vũ Quỳnh tự Thủ Phác, hiệu Đốc Trai, quê ở làng Mộ Trạch,

huyện Đường An, tỉnh Hải Dương Ông sinh năm 1453, đậu tiến sĩ năm 26 tuổi(niên hiệu Hồng Đức thứ 9, 1478) làm quan đến Lễ bộ Thượng thư dưới thời Lê sơ

Ông đã soạn nhiều công trình có giá trị: bộ sử Việt giám thông khảo, tập thơ Tố Cầm, tập truyện Lĩnh Nam chích quái, sách Đại thành toán Pháp Nếu căn cứ vào ý

kiến của Đặng Minh Khiêm là người sống cùng thời với Vũ Quỳnh ta thấy Trần Thế

Pháp đã soạn Lĩnh Nam chích quái trước sau đó Vũ Quỳnh dựa vào nguyên bản để

Trang 29

soạn lại tác phẩm Một tên tuổi khác được nhắc đến cùng với Lĩnh Nam chích quái

là Kiều Phú Kiều Phú hiệu là Hiếu Lễ, người làng Lạp Hạ, huyện An Sơn, tỉnh SơnTây Ông sinh năm 1450, đậu tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 6 (1475) và là một danh

thần triều Lê Trong sách Đăng khoa lục bị khảo, phần Sơn Tây, An Sơn viết về Kiều Phú có đoạn như sau: “ lại cùng Vũ Quỳnh người Đường An, soạn Lĩnh Nam chích quái Kiều Phú sống đồng thời cùng Vũ Quỳnh cho nên những điều viết trong thư tịch cổ nói đến sự cộng tác giữa hai ông để soạn sách Lĩnh Nam chích quái có thể tin được”.[105, tr 8] Trong bài hậu tự sách Lĩnh Nam chích quái, ông có viết:

“…cho nên, kẻ ngu này tham chép thêm sách khác, phụ thêm ý riêng của mình sửa lại cho đúng, biện chính những điều ngoa của thưở trước, để gỡ khỏi tiếng chê cười của thời sau, lại bớt chỗ rườm rà, theo chỗ giản dị để dễ bỏ vào níp vào giỏ, tiện coi tiện xem Mong các bậc quân tử bác nhã dung tha cho cái tội mạo muội ấy…” [105, tr 109] Như vậy, sách Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh, Kiều Phú biên soạn lại đã có chỉnh sửa, thêm bớt đi nhiều so với sách Lĩnh Nam chích quái cổ.

Về số truyện trong Lĩnh Nam chích quái, căn cứ vào 9 bản Lĩnh Nam chích quái khác nhau với tổng số các truyện được chép lên đến 76 truyện khác nhau.

Trong số 76 truyện đó chỉ có một số truyện do Vũ Quỳnh, Kiều Phú sưu tập Theo

Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (quyển 45) nguyên bản

của Vũ Quỳnh – Kiều Phú gồm 22 truyện, tập hợp trong hai quyển, về sau thêm mộtquyển thứ ba gồm 19 truyện [80, tr 52] Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San chorằng: “Trong số 22 truyện mà Vũ Quỳnh đã nêu lên thì có một truyện không nêu ởbài hậu tự của Kiều Phú: đó là truyện Hai Bà Trưng Trong số 22 truyện mà KiềuPhú nêu lên thì có một truyện không nêu ở bài tựa của Vũ Quỳnh đó là truyện LongNhãn Như vậy, đem tổng cộng số truyện mà cả hai ông nhắc đến thì ta có con số 23chứ không phải 22 như Phan Huy Chú đã viết” [105, tr 10] Để gần với văn bảnnguyên tác hơn cả, chúng tôi đồng ý với con số 22 truyện mặc dù trình tự sắp xếpcác văn bản được sắp xếp không theo trình tự thời gian Mặt khác, căn cứ vào bàihậu tự của Vũ Quỳnh (căn cứ vào bản A.33) và bài hậu tự của Kiều Phú (căn cứ bảnA.1300) thì con số 22 có lẽ gần đúng với nguyên tác nhất Hai mươi hai truyện

Trang 30

trong Lĩnh Nam chích quái do Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San giới thiệu trong

bản dịch của mình được thống kê như sau [105, tr 11]:

Quyển thượng gồm: 1 Truyện Họ Hồng Bàng; 2 Truyện Ngư tinh; 3 Truyện

Hồ Tinh; 4 Truyện Đổng Thiên Vương; 5 Truyện Nhất Dạ Trạch; 6 Truyện Mộc Tinh; 7 Truyện Cây cau; 8 Truyện Bánh chưng; 9 Truyện Dưa hấu; 10 Truyện Chim Bạch trĩ.

Quyển hạ gồm: 11 Truyện Lý Ông Trọng; 12 Truyện Giếng Việt; 13 Truyện Rùa vàng; 14 Truyện Hai bà Trinh linh phu nhân họ Trưng; 15 Truyện Man Nương; 16 Truyện Nam Chiếu; 17 Truyện sông Tô Lịch; 18 Truyện núi Tản Viên;

19 Truyện Hai vị thần ở Long Nhãn, Như nguyệt; 20 Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không; 21 Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải; 22 Truyện Hà Ô Lôi.

Hai mươi hai truyện truyện thần thoại, truyền thuyết đan xem nhiều yếu tố kỳ

ảo mang nhiều biểu tượng của triết lý sống và tâm linh Việt Nam Cuốn sách là tậphợp những truyện được truyền miệng trong dân gian từ lâu đời phần lớn có tính chấttruyền thuyết Về nội dung có nhiều truyện gắn với việc giải thích nguồn gốc nòigiống dân tộc, phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên mở mang đất đai, ổn định địabàn quốc gia cổ đại trên ba địa bàn cư trú: đồng bằng, sông nước, rừng núi; đếntruyện đánh giặc giữ nước, truyện xây dựng đất nước như đắp thành Loa, chế nỏthầ, phát minh tiền đồng; tiếp đến giải thích sự tích một số địa danh, một số phongtục tập quán; tôn vinh linh khí núi sông; các nhân vật lịch sử; anh hùng dân tộc,phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Việt cổ có ý nghĩa củng cố ýthức quốc gia dân tộc Tất cả những truyện này “có quan hệ đến cương thường vàphong hoá” với mục đích “khuyến thiện, trừng ác, bỏ nguỵ theo chân” Về hìnhthức, mặc dù có những yếu tố kì ảo, quái dị nhưng tác phẩm không có tính chất mêtín dị đoan, tà thần hay dối trá mà vẫn đảm bảo giá trị lịch sử sâu sắc đến thời nay

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Lĩnh Nam chích quái là một tác

phẩm kết tinh của một nền văn hóa, thời đại lịch sử và có sứ mạng đặc biệt trongđời sống của một dân tộc, quốc gia Nó không chỉ có giá trị về mặt văn học nghệthuật mà nó còn là cốt lõi lịch sử hình thành dân tộc Cuốn sách không chỉ ghi chép

Trang 31

về những mối quan hệ thần thoại, mối quan hệ cộng đồng mà còn ghi chép về mối

quan hệ thế sự Với số phận của mình, Lĩnh Nam chích quái tồn tại như một hiện

tượng hi hữu độc nhất vô nhị với hai phạm trù lịch sử, hai phạm trù văn hóa đó là

dân tộc và quốc gia Trong đó Truyện Hồng Bàng Thị là truyện có ý nghĩa to lớn chỉ

thời đại khai sáng đầu tiên của dân tộc với mối quan hệ cộng đồng cội nguồn dân

tộc Truyện Rùa vàng để lại sự tích đấu tranh và xây dựng đất nước của An Dương Vương gắn liền với bi kịch của dân tộc Truyện Bánh Trưng ca ngợi những phong

tục tập quán tốt đẹp của dân tộc và lòng hiếu thảo ở mỗi người con… Những

Truyện Phù Đổng, Truyện Rùa vàng, Truyện Hai Bà Trưng, Truyện Lý Ông Trọng

nêu cao tinh thần dân tộc và lên án tội ác của giặc Những truyện thần thoại phản

ánh cuộc đấu tranh chống thiên nhiên: Truyện Sơn Tinh, Truyện Ngư Tinh, Truyện Mộc Tinh, Những truyền thuyết lịch sử được giải thích dưới hình thức huyền thoại về công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm: Truyện Thánh Gióng, Truyện Rùa vàng,… Những truyện ghi lại các mối quan hệ thế sự đầy ân nghĩa bè bạn, tình yêu, anh em, vợ chồng: Truyện cây cau, Truyện Nhất Dạ Trạch, Truyện Dưa hấu, Truyện

Hà Ô Lôi,… Kết cấu câu chuyện theo trình tự thời gian, lai lịch các nhân vật rõ ràng, sáng sủa, cấu tạo truyện tự do, phóng khoáng và mang giá trị văn học hơn Việt điện u linh.

Lĩnh Nam chích quái đã tự xác lập chủ quyền và lịch sử riêng biệt, không

nằm trong quỹ đạo của truyền thống văn hóa Trung Quốc Tư tưởng chủ đạo trongtác phẩm là tư tưởng ái quốc là kim chỉ nam cho mọi học giả dù tiếp cận tác phẩmdưới bất cứ phương pháp khoa học nào thì vẫn phải đứng trên tư cách của mộtngười ái quốc Tư tưởng ái quốc được thể hiện trong việc phản ánh nguồn gốc ra đờicủa người Việt, sự hình thành lãnh thổ, những địa linh nhân kiệt trên đất nước cổxưa, tái hiện quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc và quá trình chinh phục

tự nhiên mở mang đất đai Đồng thời phần nào phản ánh thể chế mẫu hệ và kết tinhtinh thần độc lập dân tộc Đằng sau những mảng truyền thuyết về các vị anh hùngdân tộc, truyền thuyết về phong tục, tôn giáo, những mối bang giao chính là biểutượng cho sự lớn mạnh về ý thức tự cường, tự lập của dân tộc Đó là sự kết tinh củatinh thần độc lập chặng đầu của kỷ nguyên Đại Việt hào hùng nó mang tầm

Trang 32

quan trọng của một tác phẩm khởi nguyên có giá trị tổng kết lịch sử sâu sắc hướng

về cội nguồn dân tộc, về nhân dân, về văn hóa bản địa Tính chất dân tộc của Lĩnh Nam chích quái gắn liền với tính chất nhân dân tuy rằng các truyện dân gian được

ghi chép lại mang sắc thái của chế độ phong kiến

Lĩnh Nam chích quái là một tác phẩm văn học mang vị trí đặc biệt, dấu mốc

quan trọng trong sự phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại thể hiện ý thức dân

tộc, tinh thần dân tộc Ít nhiều, người đọc vẫn thấy được “lòng yêu, ghét của nhân dân, yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, yêu cái gì có lợi cho nhân dân, ghét cái gì có hại cho nhân dân, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người” Chính vì vậy trong công trình nghiên cứu với nhan đề:

“Lĩnh Nam chích quái” - từ điểm nhìn văn hóa” của Nguyễn Hùng Vĩ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học tác giả đã đánh giá: Lĩnh Nam chích quái như một loại tự

sự sơ khai và đơn giản, một loại văn xuôi mở màn cho văn xuôi trung đại Việt Nam Đây cũng là tác phẩm khởi nguyên có giá trị tổng kết lịch sử sâu sắc chứa đựng lòng yêu nước, tình yêu truyền thống, văn hoá dân tộc Việt Nam [79].

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 chúng tôi đã trình bày những vấn đề chung về phạm trù dân tộc,căn tính dân tộc và vị trí của hai tác phẩm trong sự vận động của lịch sử văn xuôiViệt Nam trung đại

Trước hết về khái niệm dân tộc Dân tộc là những cộng đồng người được hìnhthành trong quá trình lịch sử, trên cở sở những chung đụng về giống nòi, ngôn ngữ,lãnh thổ, tổ chức đời sống chính trị, đời sống kinh tế và văn hoá, đặc biệt là về truyềnthống văn hoá Mỗi dân tộc đều có quá trình hình thành và phát triển không giống nhaugắn liền với điều kiện lịch sử, địa lý, văn hoá, tâm lý, dân tộc ấy Căn tính dân tộc làđặc tính, tính chất riêng biệt chỉ có ở một dân tộc nào đó làm nổi bật lên bản sắc củadân tộc ấy Đó là cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác dựa trên cơ sở nhữnggiá trị vốn có, sẵn có hay tái tạo và sáng tạo từ những giá trị văn hóa của dân tộc khác.Trong bài nghiên cứu này, căn tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng

về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh

Trang 33

hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng, của một dântộc nào đó Căn tính dân tộc Việt Nam được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng

về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đờisống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng, của người Việt Nam Tính dân tộcđược thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của một cộng đồng mang đặc điểm riêng nổibật của dân tộc, cộng đồng ấy Tuy nhiên, văn học được coi là một phương tiện bảotồn và phát huy căn tính dân tộc một cách sâu sắc Căn tính dân tộc trong nền vănhọc Việt Nam nói chung và nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng được thể hiệntrong hai phương diện nội dung và nghệ thuật

Hoàn cảnh lịch sử - xã hội thế kỷ XIV - XV đã tạo điều kiện thuận lợi giúp

các tác giả sưu tầm, biên soạn hai cuốn sách Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái Với tinh thần dân tộc và ý thức quốc gia sâu sắc, các tác giả của hai cuốn sách

không chỉ lưu giữ giá trị văn hoá truyền thống bản địa mà còn khẳng định được độc

lập dân tộc Có thể nói Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phẩm văn

xuôi tự sự cổ nhất của nước ta đặt nền móng đầu tiên cho thời kỳ văn xuôi trung đạiViệt Nam Trong kho tàng văn học nước nhà, hai cuốn sách là hai tác phẩm thiêngliêng kết tinh đặc biệt của một nền văn hóa, thời đại lịch sử và có một sứ mạng quantrọng trong đời sống của một dân tộc, quốc gia thể hiện được những truyền thống tốtđẹp và sức mạnh của dân tộc Việt Nam

Trang 34

CHƯƠNG 2: XÁC LẬP CĂN TÍNH DÂN TỘC QUA SỰ ĐỐI KHÁNG, GIAO

LƯU VÀ TIẾP NHẬN VĂN HOÁ TRUNG HOA 2.1 Sự giao lưu và tiếp nhận văn hóa Trung Hoa

Việt Nam là một quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương, nằm gần trung tâmkhu vực Đông Nam Á; phía Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; phíađông và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ và biển Đông với đường bờ biển 3260km; phíatây và tây nam giáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia

Do có vị trí địa lý như vậy nên Việt Nam sớm trở thành điểm đón nhận nhiều luồnggiao lưu và tiếp xúc với các nền văn hoá khác nhau trong khu vực Đông Nam Ánhư: Chàm, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước Tây Phương Đặc biệt là cuộc tiếpxúc với nền văn hoá Trung Hoa – một trong những nền văn hoá lớn của nhân loại.Thực chất ngay từ thời kỳ Bắc thuộc người Việt đã hấp thụ văn minh Trung Hoa đểlàm phong phú bản sắc riêng cho chính mình Thời kỳ đó có sự truyền bá vừa dunghoà vừa cưỡng bức lối sống, văn minh, văn hoá Hán vào đất Việt một cách lâu dài

và trực tiếp Không một ai có thể phủ nhận những ảnh hưởng rất lớn về văn hoá,chính trị và nếp sống của thể chế Trung Hoa đến nước ta qua nhiều thời kỳ

2.1.1 Tư tưởng tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giao

Từ khi đất Việt còn là thuộc địa, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đã sớm xâmnhập vào nước ta và tác động mạnh mẽ tới cuộc sống tâm linh của người dân Việtdưới hình thức là các lễ thức, lễ nghi trên nền tảng tín ngưỡng bản địa hầu như

không bị biến dạng Hầu hết các truyện xuất hiện trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái đều được bao trùm trong bức màn tôn giáo bình dân, huyền bí: Phật

giáo, Đạo giáo, Nho giáo Hình ảnh con người của ba học thuyết này thường hướngđến những giá trị siêu việt, thoát tục và phi thường

Mặc dù Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp chỉ sưu tầm và biên soạn lại nhữngtruyện xa xưa nhưng tư tưởng tôn giáo trong hai tác phẩm đã được hai nhà nho nàythể hiện rất rõ Trước hết, Phật Giáo Việt Nam từ thế kỉ V trở về trước là Phật giáoĐại thừa còn từ thế kỷ thứ VI trở về sau đến hết thời Bắc thuộc Phật giáo TrungQuốc du nhập vào Việt Nam với hai dòng thiền: thiền Nam Phương và thiền Quan

Bích Trong Lĩnh Nam chích quái, tư tưởng Phật giáo, lý thuyết nhà Phật được

Trang 35

đề cao hơn so với Việt điện u linh Điều đó thể hiện qua những truyện: Truyện Man Nương (Man Nương thành Phật gia ân cho dân), Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không (tuyên truyền thuyết luân hồi của nhà Phật), Truyện Hà Ô Lôi (chống điều dâm loạn), Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải (những vị thiền sư thần thông giáo lý nhà Phật), Truyện Mộc Tinh (quan niệm về thác sinh, luân hồi), Truyện Nhất Dạ Trạch, Truyện Đổng Thiên Vương Trước hết Phật Mẫu Man

Nương là một nhân vật mở màn cho sự việc đạo Phật mới du nhập sang đất Việt.Ngay từ khi còn trẻ, Man Nương đã dốc lòng theo học đạo Phật, về sau với câytrượng mà sư Đồ - lê giao cho, nàng đã cứu sống dân chúng khỏi đại hạn Hànhđộng đó của Man Nương đã nêu lên giáo lý của nhà Phật: cứu độ chúng sanh thoátkhỏi cảnh khổ và cái chết Trong Phật giáo sự giác ngộ luôn luôn được gắn chặt vớimột số phẩm chất có tính năng lực siêu nhiên Chăng hạn Nguyễn Minh Không cónhững pháp lực siêu việt Khi thiết đãi sứ giả và các quân lính, Minh Không mờimọi người ăn một nồi cơm nhỏ, hơn một trăm người cùng ăn cũng không hết Ôngcòn khiến cho triều đình kinh hoàng về thần lực phi thường của mình khi dùng haingón tay nhổ được một chiếc đinh lớn dài hơn năm tấc đóng vào cột điện Mặt khác,

trong Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải xuất hiện những những bài kệ

thấm nhuần giáo lý của Phật giáo Thiền sư Không Lộ sau khi nắm được một sốphương pháp thiền định đã đạt tới một số quyền năng, phép thuật siêu hình: “baytrên không, đi trên băng giá, bắt được hổ phải phục, bắt được rồng phải giáng”.Thiền sư Giác Hải có tài đọc thần chú khiến từng con tắc kè rơi xuống đất Từ Lộ vàNguyễn Minh Không được coi là Thánh Tổ của Phật giáo dưới triều nhà Lý Từ Lộ

có phép lực cao siêu, duyên thiền ngày càng kết có thể “đốt ngón tay cầu đảo, phunnước trị bệnh”, khiến các loài rắn núi, thú đồng đến quấn quanh mình Bên cạnh đó,

Từ Lộ còn là nhân vât truyền tải thông điệp về thuyết đầu thai, luân hồi của nhàPhật Ở những vị thiền sư này không chỉ thấm nhuần những giáo lý của Phật Giáo

mà còn thông thạo pháp môn Mật Tông Họ có những pháp thuật kỳ lạ, cao siêu lại

có lúc thể hiện sự giác ngộ của mình bằng những bài kệ triết lý:

Trang 36

“Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết khôngHữu không như thủy nguyệtVật chước khả không không”

(Từ Đạo Hạnh)Bài thơ đã thể hiện triết lý về “chân tâm” của Phật Giáo Có hay không đều

do tâm cả Nếu tâm giữ được sự tĩnh lặng và an lạc như mặt trăng dưới nước thì mọi

sự vang động của ngoại cảnh đều là không cả Khi tâm đạt đến không sắc tướng,tâm không còn cái giả tướng, cái vô thường, cái luân hồi nữa thì ta mới thấy đượcchân như bản tính được Tức là ta đã siêu việt trong chính nội tại của mình Takhông có dấu ấn tâm lý, không vui, không buồn, không đợi, không chờ, không tiễnđưa, không nuối tiếc, tóm lại là vô ưu Từ những nhân vật và sự kiện trên chúng tathấy được đặc trưng của giai đoạn đầu của Phật giáo Việt Nam Đây là đạo Phật dângian pha trộn với những niềm tin dân gian là nền tảng cho sự phát triển Phật giáo ởgiai đoạn sau Bên cạnh đạo Phật, Nho giáo cúng có những tác động nhất định đếnđời sống tinh thần của người Việt nói chung và văn học Việt Nam trung đại nói

riêng Về học thuyết Nho giáo, Việt điện u linh có phần đậm nét hơn so với Lĩnh

Nam chích quái trong việc sử dụng thần quyền để duy trì vương quyền Quan niệm

nho giáo được in đậm trong việc đề cao vị thế của các vị vua, chính thần, thánhnhân có công lao hộ quốc tỳ dân Dẫu khi còn sống hay đã thác đa số những vị anhhùng, các vị thần nước Nam đều tham gia và lập công vào công cuộc chống giặcgiúp vua duy trì quyền lực Vua được coi là “thiên tử” và đảm nhiệm mệnh trờiquyết định tất cả mọi việc ở cõi trần lẫn cõi âm, kể cả việc hôn nhân đại sự giữaChử Đồng Tử và Tiên Dung, hơn nữa còn có quyền giết con gái vì tội nghịch tử

(Truyện Rùa vàng), đày người dân ra đảo vì khinh thường vị thế tối cao của vua, vì không tuân theo mệnh trời mà không bị nhân dân oán ghét (Truyện Dưa hấu) Mặt

khác với tư tưởng trung quân ái quốc các vị anh hùng, các vị thần đều hiện lên phùtrợ trong những thời khắc quyết định của sự tồn vong của nhà nước phong kiến.Tiêu biểu là tấm lòng trung nghĩa của hai anh em Trương Hống, Trương Hát khôngthờ hai chủ, họ hết mực trung thành với Triệu Việt Vương và quyết không theo Lý

Trang 37

Nam Đế Với những quy định về “tam tòng tứ đức” mà Mỵ Ê đã giữ gìn trinh tiếtcủa mình rồi trở thành liệt nữ Quan niệm của Nho giáo về vũ trụ và nhân sinh chorằng trời đất là căn nguyên của vạn vật vì thế hình ảnh bánh chưng, bánh giày trong

Truyện Bánh Chưng thấm đượm triết lý trời đất và truyền tải đạo lý biết ơn công đức sinh thành của cha mẹ, ông bà cũng như tổ tiên: “Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn tượng trưng hình đất và trời rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ” Từ đó phương

diện tam cương ngũ thường cũng được biểu hiện rõ nét mà người đầu tiên đặt nềntảng cho những chuẩn mực đạo đức đó là Lạc Long Quân Về sau trong cuộc sống

thường nhật, vợ chồng có sự đồng thuận, anh em có tình gắn bó (Truyện Cây cau), đạo hiếu được đề cao, (Truyện Bánh Chưng, Truyện Hồng Bàng Thị) hoàn cảnh sinh sống ẩn chứa những bài học làm người (Truyện Nhất Dạ Trạch, Truyện Dưa hấu),

Về học thuyết Đạo giáo, trong Việt điện u linh được thể hiện qua các truyện: Thái

Uý trung tuệ Vũ Lượng công, Ứng thiên hoá dục nguyên trung hậu thổ địa kì nguyên quân, Quảng lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương, Tản Viên hựu thánh khuông quốc hiển ứng đại vương, Thiên hộ linh ứng chương vũ quốc công, Lợi tế linh thông huệ tín đại vương Còn trong Lĩnh Nam chích quái, học thuyết này được biểu hiện qua những truyện: Truyện Hồng Bàng, Truyện Ngư Tinh, Truyện Mộc Tinh, Truyện Hồ Tinh, Truyện Cây cau, Truyện Nhất Dạ Trạch, Truyện Đổng Thiên Vương Nhân vật điển hình cho học thuyết này xuất hiện trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái phải kể đến Cao Biền với âm mưu yểm bùa và triệt hạ long

mạch nước Nam Cao Biền là một đạo sĩ am hiểu phong thuỷ, tướng số, bùa chú,thiên văn, địa lý, âm dương, ngũ hành, có tài điều khiển âm binh Nhằm huỷ diệtvăn hoá phương Nam, tiêu diệt hết thần linh nước Việt, Cao Biền có âm mưu thâmđộc “mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi nhồi cỏ bấc vào bụng,mặc quần áo vào, rồi đặt lên ngai, tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm

mà chém” Thế nhưng phép thuật của Cao Biền luôn bị vô hiệu hoá và bị “phảnbùa” khi liên tục bị các thần linh đất Việt trừng trị từ thần Tô Lịch, thần Long Đỗ,đến Cao Lỗ, Tản Viên Sơn Thánh Hình ảnh các cao nhân đắc đạo được học “phép

trời” đến giúp đỡ dân chúng cũng xuất hiện: đạo sĩ Lưu Huyền (Truyện Cây

Trang 38

cau), ông Thánh Trấn Võ của đạo giáo phương Bắc (Truyện Rùa Vàng), Chử Đồng

Tử, Sơn Tinh, Phù Đổng Thiên Vương trở thành trở thành ba vị thánh trong bộ “tứbất tử” của đạo Thần tiên Việt Nam, Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải cũng có

những phép thuật giống đạo sĩ Bênh cạnh đó hình ảnh chiếc bánh chưng (Truyện Bánh Chưng) ngoài mang ý nghĩa tượng trưng cho trời, đất của học thuyết Nho gia

thì đó còn là một sản phẩm thấm đượm triết lý âm dương, tam tài, ngũ hành, cànkhôn của Kinh Dịch mang đậm tính cộng động trong nền văn hóa nông nghiệp lúanước của dân tộc ta Bánh có hình vuông (âm), nhân bánh hình tròn (dương) vớinăm màu sắc tượng trưng cho ngũ hành trong triết lý phương Đông: màu đen (hạttiêu) - Thủy, màu đỏ (thịt heo) - Hỏa, màu xanh (lá dong) - Mộc, màu trắng (gạonếp) - Kim và màu vàng (đậu xanh) - Thổ

Sự ảnh hưởng của ba học thuyết Nho, Đạo, Phật trong hai tác phẩm khôngtồn tại với tư cách độc lập mà ở đó có sự hợp nhất, dung nạp giữa ba học thuyết

Chẳng hạn sự kết hợp tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo qua các truyện: Truyện Man Nương, Truyện Nhất Dạ Trạch, Truyện Núi Tản Viên, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải Những tôn

giáo này không những không bài xích nhau trái lại còn hòa đồng khá chặt chẽ tạonên những giá trị tinh thần mang đậm đà văn hóa Việt Nam Sự kết hợp và dung hoà

giữa các tôn giáo với tín ngưỡng, văn hoá bản địa đã được phản ánh trong Việt điện

u linh tập và Lĩnh Nam chích quái khiến chúng mang tính chất riêng khác với nguyên bản của Trung Hoa Tuy nhiên Nho giáo - học thuyết chính trị có tính chính

thống và độc tôn hơn so với Phật giáo và Đạo giáo bởi học thuyết này chi phối sựhình thành của hai văn bản mà bằng chứng xuất hiện ở bài tự đầu của hai cuốn sách.Các nhà nho đã khẳng định các thiên truyện biểu lộ khá rõ rệt tính chất tôn giáonhằm hướng đến tính đúng đắn trong quan hệ “cương thường và phong hoá” vớimục đích “khuyến thiện, trừng ác, bỏ nguỵ theo chân”

2.1.2 Nguồn gốc xuất thân các vị thần

Là một trong những nền văn minh phương Đông cổ đại, Trung Hoa là mộtquốc gia có nhiều dân tộc với một nền tôn giáo “đa thần” Cuốn sách ghi chép sớm

nhất về các vị thần của Trung Hoa là cuốn Sơn hải kinh Tác phẩm chứa những ghi

Trang 39

chép về địa lý, thiên văn, lịch sử, khí tượng, y dược, khoáng vật, động vật, thực vật,những tập quán, và đặc biệt là những câu chuyện kì dị về các vị thần mang màu sắcthần thoại Một trong những vị thần đầu tiên có công khai sáng vạn vật mà cuốnsách có nhắc đến là thần Hỗn Độn – vị thần sáng thế Còn theo các nguồn tiên đạo,Đạo giáo lại cho rằng vị thần đầu tiên của vạn vật là vị thần Bàn Cổ hoặc NguyênThuỷ Thiên Tôn Hệ thống những vị thần được thờ cúng trong tín ngưỡng dân gianTrung Hoa gồm: Ngọc Hoàng, Ông bà tổ tiên, Khổng Tử, Thổ địa, Bồ tát, Quân

Âm, Táo Quân, các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, các vị vua, các nhà hiềntriết, nữ thần, các vị thần tự nhiên,… Những vị thần này đa số là những bậc kỳ nhânhiếm thấy hoặc là những người vĩ đại, bậc hiền nhân có công với dân tộc hay cácthực thể tự nhiên huyền bí Trên cơ sở đó, Việt Nam có sự tiếp nhận tín ngưỡng dângian thờ thần của Trung Hoa Một mặt do ảnh hưởng của hệ tư tưởng tam giáo: Nho,Phật, Đạo du nhập nên đa số hệ thống các vị thần được tôn thờ của trung Hoa cũngxuất hiện trong hệ thống thờ thần của Việt Nam Tuy nhiên các tầng lớp dân chúngcủa Việt Nam đã tiếp thu tín ngưỡng dân gian Trung Hoa một cách có chọn lọc vàsáng tạo, hay nói cách khác tín ngưỡng thờ thần của họ đã được bản địa hoá để phùhợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng của người dân Việt Trong hệ thống thờthần của Việt Nam, trước hết phải kể đến các vị thần khai thiên lập địa như: KinhDương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ Theo tư tưởng Phật giáo có: Phật Mẫu manNương, Tứ Pháp, Thạch quang Phật,… Theo tư tưởng Đạo giáo có: Sơn Tinh,Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, công chúa Liễu Hạnh Theo tư tưởng Nho giáo cóKhổng Tử, Nhan Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử,… Thần tự nhiên có: thần đất, thần sông,thần núi, thần cây,… Nữ thần gồm có: Man Nương, Mẹ Thánh Gióng, Hai BàTrưng, Bà Triệu,… Nam thần có 18 các vị vua Hùng, Thánh Gióng, Ngô Quyền,Phùng Hưng, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn,…

Nếu như Sơn hải kinh là cuốn sách đầu tiên ghi chép về các vị thần của Trung Hoa thì Việt điện u linh là cuốn sách cổ đầu tiên ghi chép lại thành tích của

các vị thần “khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh toả rộng đến đời sau” của ViệtNam Lý Tế Xuyên đã viết: “Thánh nhân xưa nói: thông minh, chính trực mới đánggọi là thần, không phải hạng dâm thần, tà ma quỷ quái mà lạm gọi là thần được đâu

Trang 40

Trong nước Hoàng Việt ta, các thần thờ ở miếu đền xưa nay rất nhiều nhưng màcông tích to lớn, rõ rệt, cứu giúp sinh linh thì có được mấy đâu Tuy nhiên các thầnvốn có phẩm loại không ngang nhau, có vị là tinh túy của núi sông, có vị là nhân vậtkiệt linh, khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau” [46, tr 13].

Vì thế trong Việt điện u linh Lý Tế Xuyên chỉ ghi chép về một loại thần “khí thế

rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau” “Thần của Lý Tế Xuyêntrước hết là những người thực, khi chết được suy tôn là những mỹ hiệu cao quý, tiêubiểu cho truyền thống của dân tộc như Trương Tín, Sùng Nghĩa, Uy Minh, Anh Liệt,Bảo Quốc… và bất cứ người dân Việt Nam nào cũng biết đến Đó là sự biết ơn, làlời hứa để khẳng định sự trường tồn của dân tộc Không chỉ vậy, việc thờ thần cònmang đậm ý nghĩa đạo lý biểu hiện sự tôn kính với các thế lực có sức mạnh và thểhiện chủ nghĩa nhân đạo sắc: kính trọng và biết ơn người hiền tài

2.2 Tinh thần đối kháng với văn hóa Trung Hoa

Một sự thật đau đớn và cũng là một niềm kiêu hãnh khi thực tế cho chúng tathấy rằng Việt Nam nằm cạnh một “ông” láng giềng Trung Hoa đã dùng nhiều kế đểđồng hoá nước ta Trải qua trên dưới một ngàn năm người Tàu đã thiết lập một chế

độ đô hộ hà khắc, tàn bạo để biến ta thành thuộc địa của chúng Tuy nhiên kế hoạchcủa họ bất thành vì người Việt sớm có ý thức quốc gia, tinh thần tự chủ tổ chứcthành một quốc gia tự lực, tự cường Với lòng tự tôn dân tộc, niềm tự hào dân tộc vàniềm kiêu hãnh mạnh mẽ, nhân dân ta bắt đầu hình thành tinh thần đối kháng vớivăn hoá Trung Hoa và xây dựng những khái niệm khẳng định chủ quyền độc lập,lãnh thổ riêng: Nam quốc, Nam nhân, Nam đế, Đại Việt trên tinh thần không thuakém, ngang hàng với nhau

2.2.1 Xác lập căn tính về nguồn gốc và giống nòi Việt Nam

Khi nói đến cội nguồn của một dân tộc, một quốc gia là nói đến giang sơn và

nguồn gốc giống nòi của dân tộc, quốc gia đó Lĩnh Nam chích quái đã lý giải nguồn gốc, giống nòi người Việt qua Truyện Hồng Bàng Thị giống như: “Ôi! Nếu trời đã sai chim huyền điểu xuống để sinh ra nhà Thương, thì ắt có việc trăm trứng

nở ra con, chia nhau đi cai trị nước Nam, Truyện Hồng Bàng thị không thể mất được”[105, tr 108] Đây là câu chuyện thần thoại về thủy tổ người Việt lý giải

Ngày đăng: 09/06/2021, 08:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w