Mục đích nghiên cứuTừ việc nghiên cứu cơ sở ly luận và thực trạng sử dụng phương pháp đóngvai, luận văn đề xuất quy trình và một số biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quảphương pháp đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
SỬ DUNGG̣ PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DAỴ HOCG̣ MÔN GIÁO DUCG̣ CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC
NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
SỬ DUNGG̣ PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DAỴ HOCG̣ MÔN GIÁO DUCG̣ CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương - giảng viên Khoa Giáo ducc̣ Chinh ́ tri -c̣ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đểluâṇ văn hoàn thành vàđược phép bảo vệ em đa ̃nhận đươcc̣ sư c̣quan tâm giúp đỡ của nhiều cánhân vàđơn vi.c̣
Em xin được bày tỏlòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến:
- Cô giáo TS Nguyễn Thi c̣Khương - người đa ̃dành nhiều thời gian quy báu đểhướng dân, ̃ góp y, chia sẻ… giúp tôi cóđịnh hướng đúng trong suốt thời gian thưcc̣ hiêṇ luâṇ văn.
- Các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá luận văn đã có nhiều góp y
về mặt khoa học để em hoàn thiện luâṇ văn được tốt hơn.
- Các thầy, cô giáo giảng daỵ lớp cao hocc̣ Lyluâṇ và phương pháp daỵ học bộ môn Lyluâṇ chinh ́ trị - đã giúp em cónền tảng kiến thức đểthưcc̣ hiêṇ luâṇ văn.
- Trường THPT Quế Võ số 1, trường THPT Quế Võ số 2, trường THPT Quế Võ số 3 đa ̃giúp đỡ vàtạo điều kiêṇ thuâṇ lơị cho tôi trong suốt quátri ̀ nh khảo sát và thưcc̣ nghiệm làm luận văn.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân, gia đinh, ̀ đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên, khuyến khi ́ ch vàtaọ điều kiêṇ thuâṇ lơi,c̣ giúp tôi hoàn thành luâṇ văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
MỞ ĐẦU 1
1 Ly do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở ly luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
5 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài 4
6 Kết cấu của đề tài 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài 6
1.2 Cơ sở ly luận của việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 10
1.2.1 Khái niệm và phân loại phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 10
1.2.2 Vị trí, vai trò và những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 21
1.2.3 Cấu trúc và đặc điểm chương trình môn GDCD lớp 12 26
Kết luận chương 1 28
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ
VÕ, TỈNH BẮC NINH 29
2.1 Khái quát chung về các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 29
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung về các trườngTHPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 29
2.1.2 Đặc điểm học sinh các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh .33
2.1.3 Đặc điểm giáo viên dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 34
2.2 Thực trạng việc dạy học và sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 36
2.2.1 Thực trạng của việc day học môn GDCD lớp 12 ở các trườngTHPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 37
2.2.2 Thực trạng của việc sử dụng PPĐV vào dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 39
2.3 Nội dung thực nghiệm sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh .45
2.3.1 Nội dung khoa học thực nghiệm 45
2.3.2 Nội dung thực nghiệm 50
2.3.3 Kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức của học sinh 85
2.3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 86
Kết luận chương 2 94
Chương 3 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 96
3.1 Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD lớp12 ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 96
Trang 73.1.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình 96
3.1.2 Quy trình thiết kế bài giảng 98
3.1.3.Quy trình thực hiện bài giảng bằng PPĐV trong một tiết học 101
3.1.4 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với giờ dạy theo PPĐV ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 103
3.2 Ưu điểm, hạn chế của việc sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD lớp12 ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 107
3.2.1 Ưu điểm 107
3.2.2 Hạn chế 109
3.3 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng PPĐV trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 110
3.3.1 Đối với cấp quản lí 110
3.3.2 Đối với giáo viên 111
3.3.3 Đối với học sinh 114
Kết luận chương 3 115
KẾT LUẬN CHUNG 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng.2.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV ở một số trường THPT huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm học 2016-2017 32
Bảng 2.4 Số lượng GV dạy môn GDCD ở một số trường THPT huyện Quế Võ,tỉnh Bắc Ninh năm hocc̣ 2016 – 2017 35
Bảng 2.5: Nhận thức của GV và HS về vai trò của môn GDCD đối với việc hìnhthành và phát triển nhân cách cho HS 39Bảng 2.6: Các ly do HS cho rằng môn GDCD có vai trò quan trọng 40
Bảng 2.7: Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các PPDH của GV giảng dạy mônGDCD lớp 12 40
Bảng 2.9: Mức độ hứng thú của HS lớp 12 các trường THPT Quế Võ đối với việc
học môn GDCD ( trước quá trình thực nghiệm ) 43Bảng 2.10: Mức độ hứng thú của HS lớp 12 các trường THPT Quế Võ đối với việc học môn GDCD (sau quá trình thực nghiệm) 43Bảng 2.11 Các lớp tham gia thưcc̣ nghiêm 46Bảng 2.12 Điểm khảo sát đầu năm môn GDCD giữa lớp TN và ĐC 47Biểu đồ 1: Điểm khảo sát đầu năm môn GDCD giữa lớp TN và ĐC ởtrường THPTQuế Võ số 1 47Bảng 2.13 Điểm khảo sát đầu năm môn GDCD giữa lớp TN và ĐC ởcác trườngTHPTQuế Võ số 2 48Bảng 2.14 Điểm khảo sát đầu năm môn GDCD giữa lớp TN và ĐC ởtrường THPTQuế Võ số 3 48
Trang 10Bang 2.15 Điểm kiểm tra 1 tiết của
Biểu đồ 5 Điểm thi học kỳ I của lớp TN và lớp ĐC trường THPT Quế Võ số 1 89
Bang 2.17 Điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và ĐC trương THPT Quế Võ số 2 90
̉̀
Biểu đồ 9 : Điểm thi học kỳ I của lớp TN và ĐC ở trương THPT Quế Võ số 3
̉̀
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với xu thế toàn cầu hóa,hội nhập quốc tế, đã và đang đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam những thời cơ, tháchthức mới Nắm vững xu thế đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã cónhiều động thái tích cực nhằm thay đổi toàn diện giáo dục, từ thay đổi chương trình,nội dung đến đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá
Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI về Đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,ghi nhớ máy móc…” [13, tr 4] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của ĐảngCộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Đổi mới chương trình, nội dung giáo dụctheo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu
từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học
đi đôi với hành, ly luận gắn với thực tiễn Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy vàhọc” [14, tr 115]
Đổi mới toàn diện giáo dục cũng có nghĩa là hướng vào quá trình đổi mớichương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, kết hợp hài hòađức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề, chú trọng giáo dục nhân cách,đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và y thức công dân, tập trung vào những giá trị
cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo ly dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giátrị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đểthực hiện được yêu cầu này, cần thiết phải chú trọng tới tất cả các môn học trong đócó môn Giáo dục công dân
Khi đề cập đến môn Giáo dục công dân, nhiều người vẫn nghĩ rằng đó là mônphụ, không quan trọng Kiến thức thì khô khan, có tính triết ly trừu tượng, do đó khó cóthể ứng dụng các phương pháp day học tích cực, hiện đại để đổi mới, nâng cao chấtlượng Cũng vì thế mà còn có nhiều y kiến cho rằng đổi mới giáo dục - đào tạo chỉ cầnđổi mới các môn chính như Toán, Ly, Hóa, Văn, Ngoại ngữ… không cần thiết phải đầu
tư công sức, tiền của vào đổi mới các môn phụ như môn Giáo dục công dân
Trang 12Đây là những quan điểm không đúng, chưa mang tính khách quan Trên thực tế, khinhìn vào nội dung, chương trình môn Giáo dục công dân, chúng ta sẽ thấy đó là mônhọc rất quan trọng Nó quyết định việc hình thành thế giới quan cách mạng, nhân sinhquan cộng sản, ly tưởng đạo đức nhân văn, nhân đạo cho học sinh, trở thành hành trangvững chắc cho các em bước vào cuộc sống Bên cạnh đó, có thể khẳng định môn Giáodục công dân lại là môn học rất dễ ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào đểđổi mới, nâng cao chất lượng Hiểu được y nghĩa và tầm quan trọng của môn học năm
2016, Bộ giáo dục và Đào tạo đã quy định đưa môn GDCD vào thành một bài thi tốtnghiệp cho học sinh Trung học phổ thông và trong Dự thảo chương trình Giáo dục phổthông tổng thể vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra lấy y kiến, một trong nhữngmôn học được cho là quan trọng trong các cấp bậc học buộc HS phải học là mônGDCD Như vậy tầm quan trọng của môn GDCD đã được thừa nhận Tuy nhiên đểphát huy được vai trò và vị trí của môn học này thì cần thiết phải đổi mới phương phápdạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá môn GDCD
Đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong những năm qua, huyệnQuế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng nhiều phương pháp tích cực trong dạy học, trongđó có môn Giáo dục công dân Tuy nhiên, việc đổi mới đó còn chậm chạp và chưađạt hiệu quả cao Đó cũng là vấn đề mà rất nhiều thầy cô giáo ở đây băn khoăn vàtrăn trở Là giáo viên trực tiếp đứng lớp nhiều năm liền ở một trường THPT thuộchuyện Quế Võ, tôi nhận thấy rằng, để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học mônGDCD, cần thiết phải vận dụng nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy họckhác nhau, tương ứng với từng phần trong chương trình môn học
Trong quá trình dạy học môn GDCD, tôi nhận ra đóng vai là một trong nhữngphương pháp dạy học mang lại nhiều hiệu quả Khi sử dụng phương pháp này, giờhọc trở nên sinh động hơn, thiết thực hơn, tính trừu tượng vốn có của môn học, vìthế cũng giảm đi rõ rệt Đặc biệt, nếu sử dụng vào những tiết cuối của buổi học, sẽgiúp cho học sinh hưng phấn hơn, tình trạng ngủ gật, ngáp dài… không xảy rathường xuyên nữa, chất lượng dạy học do đó sẽ được nâng lên rõ rệt
Từ những ly do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng phương pháp
đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 132.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu cơ sở ly luận và thực trạng sử dụng phương pháp đóngvai, luận văn đề xuất quy trình và một số biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quảphương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPThuyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ cơ sở ly luận của việc sử dụng phương pháp đóng vai trongdạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Hai là, khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp đóng vai trong dạyhọc môn Giáo dục công dân ở các trường THPT trong huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Ba là, đề xuất quy trình và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngPPĐV trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninhhiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy họcphần “Công dân với pháp luật” chương trình GDCD lớp 12 ở các trường THPThuyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài dựa trên:
vật lịch sử
nói chung và dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đề tài sử dụng các phương pháp luận của duy vật biện chứng, duy vật lịch sửkết hợp các phương pháp: phân tích, tổng hợp; so sánh; đối chiếu; lịch sử, lôgic… để
Trang 14nghiên cứu phần cơ sở ly luận và biện pháp cần thiết để sử dụng PPĐV trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
sát, quan sát, thống kê… để nghiên cứu phần thực trạng của việc sử dụng PPĐVtrong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
5 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài
pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh
trình dạy học môn Giáo dục công dân nói chung và môn Giáo dục công dân lớp 12nói riêng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
quá trình đổi mới PPDH môn Giáo dục công dân
quan tâm đến PPDH tích cực và đặc biệt là các ngành Giáo dục công dân, Giáo dụcchính trị tham khảo nhằm đổi mới PPDH
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
ĐĨNG VAI TRONG DẠY HỌC MƠN GIÁO DỤC CƠNG DÂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các cơng trình nghiên cứu nước ngồi cĩ liên quan đến phương pháp đĩng vai
Trong cuộc sống, để thỏa mãn nhu cầu của mình, con người khơng ngừngphải tiến hành lao động Lao động đã làm cho con người có cuộc sống đủ đầy hơn.Song, con người cũng phải rất vất vả, mệt mỏi mới có được thành tích ấy Để quátrình lao động đỡ nhàm chán, tăng hưng phấn, niềm say mê trong lao động, conngười đã sử dụng những hình thức nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật đóng vai Cóthể nói, đóng vai là một trong những hoạt động có từ xa xưa của con người Nóđược sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật như Kịch, Tuồng, Chèo, Phimtruyện… Ngày nay, cuộc sống đa dạng, phong phú, nhiều chiều, nên đóng vai khơngchỉ được biểu hiện trong lĩnh vực nghệ thuật mà tồn tại phổ biến ở nhiều lĩnh vựckhác nhau như chính trị, văn hóa…
Trong giáo dục, đóng vai được coi như một hình thức hay một kỹ thuật dạyhọc xuất hiện từ khá lâu Song chỉ vài năm trở lại đây phương pháp đóng vai mớiđược các giáo viên coi là một phương pháp cơ bản trong dạy học và phổ biến trongcác trường học trên thế giới
Trong một báo cáo có nhan đề “Role play as a Teaching Method: A PracticalGuide”, Tiến sĩ Kanokwan Manorom and Zoë Pollock khi đề cập đến đóng vai như là mộtphương pháp giảng dạy đã khẳng định: Học tập để tham gia là một kỹ năng quan trọng đốivới sinh viên khoa học xã hội và nhân văn để học trong thế giới đa phương hiện nay.Phương pháp đóng vai góp phần nâng cao sự hiểu biết nhiều hơn về sự phức tạp thực hànhchuyên mơn và cho phép sinh viên phát triển kỹ năng để tham gia vào các cuộc đàm phán
đa liên đới trong mơi trường có kiểm soát của lớp học Đóng vai trong lớp học có thể đượcthực hiện bằng nhiều cách, có thể gồm yếu tố trực tuyến hay tương
Trang 16tác mặt đối mặt Thời lượng của quá trình này cũng có thể thay đổi tùy theo các mục tiêucủa hoạt động Đóng vai trong lớp học đòi hỏi học sinh, sinh viên chủ động trong quá trìnhhọc tập bằng cách cho phép họ hoạt động như là các bên liên quan trong một kịch bảntưởng tượng hay thực Nó là một kỹ thuật bổ sung cho hình thức phân cơng và giảng dạytruyền thống của bậc học đại học ngành khoa học xã hội Trong báo cáo của mình, Tiến sỹKanokwan Manorom and Zoë Pollock đã phác thảo quy trình của dạy học bằng phươngpháp đóng vai gồm bốn bước là chỉ dẫn, tương tác, diễn đàn và phỏng vấn [42].
Với quan niệm đóng vai như một kỹ thuật, nhiều học giả nổi tiếng như Brierley,Devonshire, Hillman… cho rằng kỹ thuật đó sẽ phát triển các chức năng tìm kiếm trithức cho người học như một sự kết hợp giữa kiến thức mệnh đề (hiểu biết về
năng) và kiến thức có điều kiện (biết được tình huống để sử dụng các kỹ năng)
Còn với tác giả Hirsch thì lại cho rằng đóng vai bao gồm các yếu tố then chốtcủa học tập kinh nghiệm Thơng qua đóng vai các kinh nghiệm của người học đượcbộc lộ và các kiến thức sẽ được tạo ra thơng qua sự biến đổi của kinh nghiệm
Ngày nay, do yêu cầu của đổi mới giáo dục, các quốc gia trên thế giới đã chútrọng nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học, trong đó hướng trọng tâm đổi mớivào các phương pháp dạy học tích cực nhằm tối ưu hóa tính năng động, sáng tạocủa người học Phương pháp đóng vai, giữ vai trò là một trong những phương phápnhư thế nên nó cũng được vận dụng nhiều vào quá trình dạy học ở các trường phổthơng trên thế giới trong đó có Việt Nam
1.1.2 Các cơng trình nghiên cứu trong nước cĩ liên quan đến đề tài
nghệ thuật Trong giáo dục, đặc biệt là những năm gần đây, đóng vai đã trở thànhmột phương pháp dạy học tích cực bên cạnh các phương pháp hiện đại khác nhưthảo luận nhóm, nêu vấn đề, dạy học dự án, dạy học trải nghiệm
Thực tiễn cho thấy, tất cả các cấp học, bậc học, ở mọi ngành nghề đều có sửdụng phương pháp đóng vai ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, số cơng trìnhnghiên cứu về dạy học bằng phương pháp đóng vai, đặc biệt là đối với mơn GDCD
ở trường THPT thì rất ít tác giả bàn luận đến Liên quan đến đề tài của tác giả, có
Trang 17- Các công trình viết dưới dạng các loại sách và sách tham khảo, gồm có các công trình tiêu biểu sau:
“Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” của tác giả Phan TrọngNgọ, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2005 Trong cuốn sách này, tác giả PhanTrọng Ngọ đã phân tích về những vấn đề lí luận chung về dạy học và phương phápdạy học trong nhà trường; các phương pháp dạy học tích cực; các hình thức, cácnguyên tắc dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường… Mặc dù không đềcập sâu tới phương pháp đóng vai, song trong cuốn tài liệu này tác giả cũng khẳngđịnh cùng với các phương pháp dạy học khác, phương pháp đóng vai đã trở thànhmột trong những phương pháp dạy học không thể thiếu trong dạy học ngày nay
“Dạy và học môn GDCD ở trường THPT - Những vấn đề lí luận và thựctiễn” của các tác giả Nguyễn Văn Cư và Nguyễn Duy Nhiên, NXB Đại học Sưphạm năm 2007 Trong tác phẩm này, các tác giả đã trình bày khá sâu những vấn đề
lí luận chung về dạy và học môn GDCD, về đổi mới phương pháp và vận dụngphương pháp dạy học tích cực, về thiết kế một bài giảng cụ thể trong chương trìnhGDCD ở trường THPT… Khi đề cập đến việc sử dụng phương pháp đóng vai tronggiảng dạy pháp luật ở chương trình GDCD lớp 12, các tác giả cho rằng:
“ Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành một sốcách ứng xử nào đó trong tình huống giả định để nắm vững nội dung bài học” [11,tr.22]
“Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT” của các tácgiả Đinh Văn Đức và Dương Thị Thúy Nga (đồng chủ biên), NXB Đại học Sư phạmnăm 2011 Công trình này đã đề cập tới các nội dung như ly luận về phương phápdạy học môn GDCD; về các phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT.Trong khi giới thiệu và phân tích về các phương pháp dạy học đó, các tác giả cũng
đã giới thiệu với độc giả phương pháp đóng vai, trong đó có nêu lên những ưu điểm
và nhược điểm khi dạy học GDCD bằng phương pháp đóng vai
- Các công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án, sáng kiến kinh nghiệm gồm một số công trình sau:
Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học phần "Công dân với đạo đức"môn GDCD ở trường THPT Đoàn Thị Điểm - Hà Nội của tác giả Lưu Thị Biên, năm
Trang 182010 Trong công trình này tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở ly luận và thực tiễncủa việc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học phần "Công dân với đạo đức"môn GDCD lớp 10, thực nghiệm phương pháp dạy học đóng vai trong dạy học phần
"Công dân với đạo đức", Từ đó đưa ra quy trình và điều kiện ứng dụng phươngpháp dạy học đóng vai trong dạy học phần "Công dân với đạo đức" ở trường THPTĐoàn Thị Điểm - Hà Nội
Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Giáo dục công dân phần “Côngdân với pháp luật” ở trường THPT Lê Quy Đôn - Hà Đông, Thành phố Hà Nội của tác giảNguyễn Thị Nga, năm 2014 Trong công trình, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề ly luậnchung về phương pháp đóng vai và vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môngiáo dục công dân phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT Lê Quy Đôn
việc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân phần
“Công dân với pháp luật”, từ đó đề xuất quy trình và đề ra giải pháp nhằm tăngcường , nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáodục công dân ở trường THPT Lê Quy Đôn - Hà Đông, Thành phố Hà Nội
Luận văn thạc sỹ khoa học “Sử dụng phương pháp tình huống kết hợp vớiphương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD lớp 12” (qua khảo sát thực tế tạitrường THPT Lê Viết Thuận, Thành phố Vinh) của tác giả Đào Thị Hường bảo vệ năm
2011 Trong luận văn tác giả đã trình bày cơ sở ly luận của việc kết hợp giữa phươngpháp tình huống với phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD lớp 12; tiến hànhnghiên cứu thực nghiệm, đưa ra quy trình và điều kiện sử dụng phương pháp tìnhhuống kết hợp với phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD lớp
12
Luận văn tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị: Vận dụng phương phápđóng vai trong giảng dạy môn Giáo dục công dân phần “Công dân với pháp luật” ởtrường THPT của tác giả Bùi Thị Thương, năm 2011 Từ cơ sở ly luận chung vềphương pháp đóng vai, tác giả đã nghiên cứu thực trạng việc sử dụng phương phápđóng vai trong giảng dạy môn giáo dục công dân phần “Công dân với pháp luật” ởtrường THPT và đi tới kết luận, nếu chúng ta vận dụng phương pháp đóng vai vào
Trang 19dạy học môn GDCD nói chung và phần “Công dân với pháp luật” nói riêng ở trườngTHPT thì chất lượng dạy học môn GDCD sẽ được cải thiện và nâng cao đáng kể.
“Sử dụng phương pháp đóng vai trong giảng dạy môn Giáo dục công dân bậctrung học phổ thông”, của tác giả Nguyễn Thị Sông Hương viết năm 2015 Trongsáng kiến này, tác giả khẳng định nếu chúng ta sử dụng phương pháp đóng vai trongdạy học môn GDCD sẽ gây hứng thú cho học sinh trong giờ giảng Từ đó góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Cũng trong đề tài này, tác giả Sông Hương
đã chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp đóng vai trong dạy họcmôn GDCD và đề xuất quy trình thực hiện gồm 4 bước, trong đó tác giả có lấy bài
“Công dân với cộng đồng” trong chương trình GDCD lớp 10 làm dẫn chứng đểchứng minh
- Các công trình liên quan đến đề tài được nghiên cứu dưới dạng các bài báo,
tạp chí:
“Kinh nghiệm sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ởtrường trung học cơ sở” của Phạm Thị Minh Phúc đăng trên website:xahoinhanvan.cdsptw.edu.vn Trong bài viết tác giả khẳng định: Việc đóng vai giúphọc sinh liên hệ đến các vấn đề liên quan một cách cụ thể để các em phát huy vốnkinh nghiệm sống của bản thân nhằm phân tích, lí giải, tranh luận các tình huống,các sự kiện thực tế từ đó các em tự rút ra bài học và khắc sâu kiến thức Tác giả đưa
ra 4 bước tiến hành khi dạy học môn GDCD cho học sinh trung học cơ sở bằng
phương pháp đóng vai, đó là: Bước 1 Giáo viên giới thiệu tình huống vào cuối tiết
học tuần trước để học sinh các tổ nhóm xây dựng kịch bản và phân công sắm vai;
Bước 2 Thể hiện kịch bản (tình huống); Bước 3 Học sinh nhận xét rút ra bài học; Bước 4: Giáo viên nhận xét đánh giá
“Một số suy nghĩ từ việc sử dụng phương pháp đóng vai khi giảng chuyên đề kỹnăng giao tiếp” của tác giả Nguyễn Thị Chính, Khoa Nhà nước và Pháp luật đăng trênwebsite: truongleduan.quangtri.gov.vn Trong đó, tác giả khẳng định: Đóng vai làphương pháp đặc trưng bởi một hoạt động với các nhân vật giả định, mà trong đó cáctình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể hiện thành những hành động có tính kịch.Trong các tình huống, các vai khác nhau do chính người học đóng và trình diễn Các
Trang 20hành động có tính kịch được xuất phát từ chính sự hiểu biết, óc tưởng tượng và trísáng tạo của học viên, thậm chí không phải mất thời gian tập dượt hay dàn dựng.
Ngoài các công trình trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác liên quanđến đề tài như vận dụng phương pháp đóng vai vào từng bài cụ thể trong chươngtrình GDCD ở THPT, hay các công trình đề cập đến ly luận về phương pháp đóngvai, các công trình đề cập đến vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học đạođức ở tiểu học, ở THPT với các môn khoa học khác như Lịch sử, Địa ly… Các côngtrình này nếu có cũng chỉ đề cập ở một khía cạnh hẹp hoặc chỉ nêu một cách kháiquát về cơ sở ly luận của phương pháp đóng vai Còn nếu có đề cập chuyên sâu vềphương pháp đóng vai thì lại của môn học khác chứ không phải môn GDCD
1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu
Từ những công trình nghiên cứu trên đây, có thể thấy rằng phương pháp đóngvai đã được quan tâm nghiên cứu để áp dụng vào giảng dạy môn GDCD Song, với
tư cách là một công trình nghiên cứu đầy đủ, chuyên sâu về sử dụng phương phápđóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Quế Võ,tỉnh Bắc Ninh thì chưa có công trình nào đề cập đến
Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài, đề tài tiếp tụcnghiên cứu để làm rơ những nội dung sau:
GDCD
trước hết cho các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
1.2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
1.2.1 Khái niệm và phân loại phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
1.2.1.1 Khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học, phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dân
Trang 21Phương pháp là một phạm trù hết sức quan trọng, có tính chất quyết địnhđối với mọi hoạt động Phương pháp có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhautùy theo quan niệm của mỗi người.
Về mặt thuật ngữ, từ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp là “methodos”.
Nghĩa là của nó là con đường, công cụ để nhận thức thế giới
Theo nghĩa thông thường, phương pháp được hiểu là cách thức, thủ đoạnđược chủ thể sử dụng thực hiện mục đích đề ra Còn theo nghĩa khoa học, phươngpháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật kháchquan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Trong từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ phương pháp được hiểu “là cách thức để
làm một việc gì sau khi nghiên cứu kỹ: làm việc có phương pháp” [30; tr 24] Còn
trong Từ điển Triết học, phương pháp được quan niệm là cách thức đạt tới mục tiêu,
là hoạt động được sắp xếp theo một trình tự nhất định
Như vậy, dù hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa, nói đến phương pháp là người
ta nói đến phương thức hay cách thức đặt ra để thực hiện một mục tiêu nào đó nhằmđem lại hiệu quả cao
* Khái niệm về phương pháp dạy học
Bất cứ một lĩnh vực nào, để thành công, con người cũng phải xây dựng một
hệ thống các phương pháp Trong dạy học cũng vậy, để đạt được mục tiêu dạy học,mỗi giáo viên phải xác định được cho mình phương pháp dạy đúng, thậm chí vớitừng đơn vị kiến thức Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọngcủa quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng học sinh có hứng thú hay không,kết quả bài giảng đạt hiệu quả như thế nào, phần lớn phụ thuộc nhiều vào phươngpháp dạy học của giáo viên
Xung quanh khái niệm phương pháp dạy học, hiện nay còn tồn tại nhiều ykiến khác nhau Đại đa số các y kiến đều hiểu phương pháp dạy học là cách thứctương tác hay giao tiếp giữa thầy và trò để giải quyết các nhiệm vụ dạy học, giúphọc sinh lĩnh hội tri thức Có thể điểm qua một số quan niệm dưới đây: “Phươngpháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụgiáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [16, tr 46]
Trang 22“Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa giáo viên và học sinh đểcho học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo” [21, tr 22].
“Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phốihợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tự giác, tích cực tự lựcđạt tới mục đích dạy học” [17, tr 45]
Cũng như các quan điểm trên, tác giả Phan Thị Hồng Vinh quan niệm vềphương pháp dạy học “là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên vàhọc sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viênnhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học” [39, tr 204]
Tác giả Phạm Viết Vượng với cách hiểu “phương pháp dạy học là tổng hợp cáccách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉđạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học vàhình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo” [40; tr 102-103]
Bên cạnh các cách hiểu trên, còn có một số cách hiểu khác về PPDH với quanniệm đó là tổ hợp những thao tác được sắp xếp theo một trình tự hợp ly, hợp với quyluật khách quan mà chủ thể tác động lên đối tượng nhằm tìm hiểu và cải tiến nó
Như vậy, có thể thấy, khi định nghĩa về phương pháp dạy học, các nhà nghiêncứu đã xem xét nó trên nhiều mặt khác nhau của quá trình dạy học, có tác giả chútrọng đến cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh, có tác giả lại xét về mặtđiều khiển học… Tuy nhiên, các tác giả đều chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng củaphương pháp dạy học Các dấu hiệu đó là:
nhà trường quy định
học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra
+ Phương pháp dạy học phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy
và trò
+ Phương pháp dạy học phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
Từ các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học
như sau: Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của cả thầy giáo và
Trang 23học sinh trong quá trình dạy học dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra.
Phương pháp dạy học không chỉ có hoạt động dạy và cũng không chỉ có hoạtđộng học mà nó phải bao gồm cả hai Nói cách khác nó phải bao gồm phương phápdạy và phương pháp học Hai phương pháp này có mối quan hệ với nhau, trong đóphương pháp dạy giữ vai trò chủ đạo, còn phương pháp học giữ vai trò chủ động, nócó tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối và tác động trở lại phương pháp dạy
*Khái niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn Giáo dục công dânĐóng vai là một phương pháp có từ rất xưa Khi học mẫu giáo, trẻ nhỏ đã được
tham gia vào các trò chơi đóng vai theo chủ đề như đóng vai một gia đình, đóng vaibác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân, đóng vai người bán hàng và người mua hàng,đóng vai là giáo viên và học sinh Thực chất đó là một loại trò chơi con trẻ Trong
cuốn “Giáo dục học mầm non”, tác giả Phạm Thị Châu đã chỉ rõ vai trò của các trò chơi này “là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai chơi cụ thể để tái tạo lại những
ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ một môi trường xã hội của ngườilớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng” [9, tr 158] Đóng vai qua trò chơihay đóng vai theo các nhân vật trong các câu chuyện được thực hiện trên lớp hoặc ởnhà của trẻ chính là những hoạt động đơn giản đầu tiên - bước đầu làm quen và thểhiện phương pháp đóng vai Tuy nhiên, đây chỉ là cách trẻ đóng vai, nói cách khác
là hóa thân thành người khác, chứ không phải là một phương pháp dạy học Nóitheo các của tác giả Hoàng Phê, thì đó “là thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sânkhấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật” [30, tr 337]
Căn cứ vào mục đích, tính chất của các mối tương tác trong dạy học, dựa trên
cơ sở lí thuyết vai trò và lí thuyết kịch trong xã hội học ta có phương pháp dạy họcđóng vai Đây là một trong những phương pháp mang tính chất tương tác giữa GV
và HS, giữa HS với HS, giữa HS với môi trường học tập Nó khuyến khích HS thâmnhập vào đời sống thực tế và thử đặt mình vào các vị trí khác nhau để giải quyết cáctình huống cụ thể của cuộc sống Do đó, đóng vai là phương pháp tổ chức cho ngườihọc thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định
Trang 24Đây là phương pháp dạy học nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằngcách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được.
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ thì “PP đóng kịch trong dạy học là GV cungcấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vai diễn Qua đó họ họcđược cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng như các kỹ năng ứng xửkhác của nhân vật trong kịch bản” [27, tr 283]
Còn tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng “Đóng kịch là PPDH, trong đó GV
tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đónhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập” [29, tr.227]
Với các quan niệm trên thì pháp đóng vai là một phương pháp dạy học trongđó GV hình thành kịch bản có nội dung học tập, yêu cầu người học đóng các vaidiễn đã được phân công Bản chất của nó là sự gia công sư phạm của GV, chế biếnnội dung dạy học thành kịch bản phù hợp để người học sử dụng kịch bản đó và nhậpvai thành nhân vật có trong kịch bản, từ đó thể hiện nội dung kiến thức của bài học
Một cách hiểu khác về phương pháp đóng vai dưới góc độ là phương phápdạy học thực hành, một số tác giả quan niệm: “Đóng vai là phương pháp tổ chứccho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tìnhhuống giả định”, [7, tr 17] Trong định nghĩa này, các tác giả đã tiếp cận theo hướng
GV nên cho tình huống mở, không cho trước “kịch bản” và người học sẽ tự sáng tạokịch bản, lời thoại liên quan đến nội dung kiến thức, thái độ, kỹ năng cần đạt đượccủa bài học để đóng vai Theo một số tác giả khác thì “phương pháp đóng vai làphương pháp tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng xử nào đó trong tìnhhuống giả định để nắm vững nội dung bài học” [20, tr 22]; “Đóng vai là phươngpháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trongmột tình huống giả định” [17, tr169]
Những quan niệm trên, dù có sự khác nhau nhất định về sự thể hiện vai trò củangười dạy và người học, trong đó người học giữ vai trò chủ đạo, song về cơ bản, đều đitới sự khẳng định phương pháp đóng vai là sự thể hiện vai diễn của người học theo sựphân công đã được định trước (hoặc là của người dạy hoặc là của người học) Từ
Trang 25đó, cho thấy bản chất của dạy học đóng vai chính là dạy học thông qua hình thứcđóng kịch.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, đóng vai có các hình thức phảnánh mức độ, yêu cầu và mang lại hiệu quả khác nhau Do đó, dạy học bằng phươngpháp đóng vai không chỉ dừng lại ở việc đóng kịch mà nó còn bao gồm việc xácđịnh, lựa chọn nội dung, xây dựng kịch bản, phân vai, tập luyện và thể hiện vai diễn
mà điều quan trọng hơn là từ việc đóng kịch ấy rút ra bài học nhận thức, thái độ và
kỹ năng gì cho người học Trong phương pháp dạy học bằng đóng vai, việc diễnkhông phải là phần chính, mà quan trọng hơn cả là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Phương pháp dạy học đóng vai rất thích hợp với các môn khoa học xã hội nhằmhình thành cho HS các kĩ năng thâm nhập vào đời sống nội tâm của người khác, thấucảm và lắng nghe tâm sự của người khác cũng như kĩ năng giao tiếp, ứng xử của HS
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các định nghĩa đã có, đồng thời căn cứ vàohình thức thể hiện, phạm vi và hiệu quả ứng dụng của đóng vai trong dạy học, cóthể đưa ra định nghĩa đầy đủ về phương pháp đóng vai như sau:
Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học thông qua hình thức đóng kịch, diễn xuất - sự nhập tâm, hoá thân của HS vào những nhân vật cụ thể và thể hiện thái độ, tư tưởng, hành vi ứng xử của những nhân vật đó, trên cơ sở đó giúp
HS thực hành, trải nghiệm và rút ra những bài học nhận thức và kỹ năng sống phù hợp, tích cực.
Bản chất của phương pháp đóng vai trong dạy học chính là việc ứng dụng cácgiá trị của nghệ thuật đóng kịch vào dạy học, nhưng không bó hẹp ở khuôn khổ củahình thức đóng kịch - một loại hình nghệ thuật Việc đóng vai của HS, không nhấtthiết phải là sự thể hiện các vai diễn của nhiều người có sự đối thoại hay ngôn ngữbiểu diễn, mà có khi chỉ là những lời độc thoại kết hợp hành vi - ngôn ngữ khôngdùng lời nói để thể hiện (chẳng hạn HS đóng vai chính khách, nhà hoạt động chínhtrị - xã hội, nhà quản ly, lãnh đạo… thuyết trình, diễn thuyết, hùng biện, biện hộ vềmột nội dung hay vấn đề nào đó); cũng có thể HS đóng vai GV để điều hành, “làmthử” tổ chức một hoạt động, một nội dung học tập nào đó
Trang 26Như vậy, dạy học thông qua đóng vai là một phương pháp dạy học giúp HStích cực tham gia, sáng tạo, thể hiện bản thân, hoà nhập vào quá trình dạy học, vàomôi trường học tập linh hoạt, năng động Đóng vai, phân tích tình huống, cách ứngxử, giải quyết vấn đề, truyền tải thông tin, thông điệp về kiến thức, thái độ, kỹ năng
sẽ tác động sâu sắc tới suy nghĩ và hành động của cả người dạy và người học Song,để ứng dụng, phát huy giá trị, hiệu quả của phương pháp đóng vai, đòi hỏi phải cónhững yêu cầu nhất định đối với từng lực lương giáo dục là nhà trường, GV và HS
Trong dạy học môn GDCD ở nhà trường THPT, phương pháp đóng vai có thểđược sử dụng ở nhiều đơn vị kiến thức khác nhau từ lớp 10 đến lớp 12 Quy mô, sự
đa dạng của phương pháp đóng vai, tất nhiên được thực hiện trong những tìnhhuống cụ thể
Dựa trên các quan niệm đã có về PPĐV, chúng tôi cho rằng PPĐV trong dạy
học GDCD ở trường THPT là phương pháp mà giáo viên hoặc chính người học lên kịch bản, tập luyện và diễn trước lớp về một chủ đề nào đó gắn với nội dung bài học, qua đó rút ra những nội dung kiến thức và kỹ năng cần thiết cho bản thân.
Với quan niệm này, PPĐV trong dạy học GDCD trở thành một trong nhữngphương pháp dạy học hữu hiệu, giúp người học được trải nghiệm tri thức của bàihọc gắn với hoàn cảnh thực tế Qua đó, thúc đẩy năng lực hành động của học sinhgắn với sự hiểu biết về kiến thức của bài học
1.2.1.2 Phân loại phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
Phương pháp đóng vai có nhiều kiểu và hình thức tổ chức dạy học khác nhau
Việc phân loại hình thức đóng vai được dựa trên những tiêu chí hay các cách tiếpcận dưới đây:
một tiết học và đóng vai có sự chuẩn bị trước ở nhà
Đóng vai trực tiếp: là hình thức đóng vai mà yêu cầu về việc xây dựng kịch bảntheo nhiệm vụ học tập được đặt ra và thể hiện trực tiếp trong cùng một tiết học Đóng vaitheo hình thức này rất ít hoặc không có thời gian chuẩn bị, nó diễn ra một cách nhanhchóng, dựa trên một định hình nội dung, kịch bản siêu tốc, một cá nhân hoặc nhóm HS sẽthể hiện việc diễn xuất ngay trên lớp, với những lời thoại mang đậm chất ngẫu hứng
Trang 27nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ đã định hướng Đóng vai theo hình thức này
là một thách thức, ban đầu khó thực hiện nhưng với những nhóm HS có năng khiếu,năng lực và tự tin thì sẽ nhanh chóng vượt qua, sự thể hiện ở những lần tiếp sau sẽtốt hơn Đây là một thách thức nhưng có thế mạnh là khơi dậy hoặc khích lệ rất lớnđối với HS , giúp HS thể hiện bản lĩnh, nghị lực của bản thân trong bối cảnh
Đóng vai có sự chuẩn bị trước ở nhà: là hình thức đóng vai diễn ra theo mộtquy trình bắt đầu nhận nhiệm vụ từ khi kết thúc tiết học trước cho đến khi thực hiện
gian để xây dựng kịch bản, lời thoại, tập luyện Khi thể hiện trên lớp thường chặtchẽ, trôi chảy và đúng định hướng hơn Đây là hình thức được ứng dụng phổ biếnnhất khi sử dụng PPĐV trong dạy học
sau:
Đóng vai tái hiện - ghi nhớ là hình thức đóng vai dựa trên nền kiến thức đãbiết, xây dựng nội dung kịch bản với những tình huống, vai diễn đơn giản Đó làkịch bản hoá những kiến thức, kỹ năng đã được phân tích từ trước Hình thức này có
ưu điểm là giúp HS tái hiện, ghi nhớ kiến thức một cách bền vững, nhưng ít có tínhsáng tạo vì bị chi phối bởi những cái đã biết
Đóng vai suy luận - phát triển là hình thức đóng vai mà kịch bản, lời thoại,những vấn đề đặt ra trong kịch bản và vai diễn được xây dựng, phát triển từ nhữngkiến thức đã biết suy luận mở rộng ra nội dung kiến thức và những cách ứng xửmới Hình thức này tạo cho HS những hứng thú bởi phải tìm tòi, khám phá để vượtqua những cái đã biết Phương châm của hình thức này là nếu chúng ta làm nhữngcái đã biết thì chúng ta sẽ thu được những cái đã có, nếu chúng ta làm những cáichưa biết thì chúng ta sẽ thu được những cái chưa có
Đóng vai liên hệ - ứng dụng: là hình thức đóng vai trong đó nội dung kịchbản được xây dựng chủ yếu dựa trên những tình huống, những hành vi ứng xử diễn
ra phổ biến trong cuộc sống nhưng được hình tượng hoá, kịch bản hoá và thể hiệnthông qua các vai diễn qua đó giúp HS rút ra những bài học nhận thức, điều chỉnhhành vi ứng xử của bản thân khi gặp phải những vấn đề, tình huống tương tự
Trang 28Dựa trên tiêu chí sự tương tác giữa HS với HS, HS với GV trong quá trìnhthực hiện, có các hình thức sau:
Đóng vai độc lập: là hình thức đóng vai trong đó việc xây dựng kịch bản vàthể hiện vai diễn chủ yếu được thực hiện bởi một cá nhân Hình thức này thườngđược áp dụng đối với những vai diễn có diễn biến tư tưởng, tâm ly phức tạp Nộidung hay những tình huống có vấn đề là sự đấu tranh diễn ra trong bản thân mộtnhân vật (đấu tranh tư tưởng, nội tâm) Hình thức này ít được ứng dụng nhưng cólợi thế về sự chuẩn bị, thể hiện vì nó được thực hiện bởi một HS, độc lập, chủ động,sáng tạo về tư duy, xây dựng hướng kịch bản, lời thoại
Đóng vai theo nhóm là hình thức đóng vai bao gồm các hoạt động chuẩn bị,xây dựng kịch bản, thể hiện kịch bản dựa trên sự tương tác của nhóm HS Đây làhình thức đóng vai diễn ra phổ biến nhất, nó kết hợp linh hoạt PP làm việc theonhóm và phương pháp đóng vai do đó phát huy được sức mạnh chung của tinh thầnnhóm, vì vậy, hiệu quả mang lại rất cao
Đóng vai cùng chủ điểm, chủ đề là hình thức đóng vai mà các nhóm cùng chuẩn bị,thể hiện kịch bản, diễn xuất theo một chủ đề xác định, sau đó việc nhận xét, thảo luận,đánh giá được thực hiện chung cả lớp Hình thức này có ưu điểm là một chủ điểm, một chủ
đề hay một vấn đề sẽ được tiếp cận, thể hiện với các nhóm khác nhau, do đó vừa sâu sắcvừa đa dạng, làm cho việc tiếp thu, nhận thức rõ ràng hơn Tuy nhiên, do giới hạn bởi thờigian và yêu cầu về việc thực hiện hệ thống kiến thức cơ bản, nên nếu tập trung vào một chủđiểm, một vấn đề thì sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện những nội dung khác
Đóng vai khác chủ điểm, chủ đề: là hình thức đóng vai mà mỗi nhóm xâydựng, thực hiện kịch bản, vai diễn theo những chủ điểm, chủ đề khác nhau Hìnhthức này có ưu điểm đảm bảo yêu cầu về thực hiện hệ thống nội dung, kiến thức(tức là nó khắc phục được hạn chế của đóng vai cùng chủ đề) nhưng hạn chế của nó
là có thể làm loãng, ít tập trung vào các nội dung, vấn đề cần giải quyết
Việc phân loại hình thức đóng vai chỉ có y nghĩa tương đối theo những cách tiếpcận hay tiêu chí khác nhau Chẳng hạn, đóng vai về một chủ điểm được thực hiện bởinhóm có chuẩn bị trước nhằm mục đích học tập liên hệ - vận dụng hoặc đóng vai
Trang 29khác chủ đề, được thực hiện bởi nhóm và tiến hành trực tiếp - chuẩn bị nhanh trongcùng một tiết học nhằm mục đích suy luận, phát triển kiến thức, kỹ năng,… Do tínhlinh hoạt của hình thức đóng vai nên trong quá trình vận dụng vào dạy học mônGDCD, GV có thể lựa chọn, thay đổi hình thức cho phù hợp với từng tiết học, bàigiảng.
1.2.1.3 Ưu điểm, hạn chế của PPĐV
* Ưu điểm của PPĐV
Thứ nhất, học sinh được rèn luyện, thực hành kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn Học phải đi đôi vớihành, nếu chỉ học ly thuyết mà không được trải nghiệm qua các tình huống thực tếthì HS rất dễ bị rơi vào trạng thái hụt hẫng, chán chường Nhưng, khi được rènluyện, thực hành, HS sẽ hình thành được những kỹ năng, kinh nghiệm giúp các emvượt qua được khó khăn, thử thách
Thứ hai, PPĐV gây chú y và hứng thú cho HS Với phương pháp này, HSđược trực tiếp khám phá, tìm tòi tri thức nên các em sẽ cảm thấy hào hứng hơntrong học tập và chất lượng của giờ học cũng đạt hiệu quả cao
Qua phương pháp đóng vai, HS được thực hành với các vai diễn mới lạ,không giống với mình trong thực tế Chẳng hạn như: cảnh sát giao thông, GV, thậmchí là cả những kẻ vi phạm pháp luật… Khi đó các em sẽ cảm thấy hứng thú, muốnkhám phá, thể hiện năng lực của mình Từ đây, các tri thức mới có trong nội dungbài học sẽ được vận dụng vào tình huống cụ thể
Thứ ba, đây là phương pháp dạy học khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của
HS theo hướng tích cực Rèn luyện cho HS kỹ năng giải quyết vấn đề, chủ động,sáng tạo xử ly tình huống trong thực tế Phương pháp đóng vai giúp HS phân biệtđược những hành vi đúng, sai trong thực tế, do đó các em sẽ tự điều chỉnh hành vicủa mình sao cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Thứ tư, qua vai diễn có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việclàm mà các vai diễn đã thực hiện Bởi lẽ, mỗi một vai diễn đều mang một nội dungtruyền tải nhất định tới người xem Thông qua những lời nói và việc làm của vai diễnđó, người xem sẽ đánh giá ngay được điều đó là phù hợp hay không phù hợp
Trang 30Vì vậy, từng cử chỉ, lời nói của nhân vật đều có tác động nhất định tới nhận thứccủa người xem.
Thứ năm, phương pháp đóng vai tạo điều kiện phát triển tư duy sáng tạo của
HS, là nơi để các em có thể thể hiện năng lực, tài năng của mình trước tập thể Bằnghình thức dạy học đóng vai, HS là người chủ động tìm tòi, lĩnh hội tri thức, đồngthời còn khơi dậy ở các em sự sáng tạo và tài năng vốn có của mình
Thứ sáu, đóng vai giúp HS khắc phục được tính nhút nhát, e ngại khi xuất hiệntrước đám đông để các em trở nên tự tin hơn, mạnh dạn và trưởng thành hơn trong cuộcsống Bằng phương pháp đóng vai, HS sẽ được hóa thân vào nhân vật Điều đó làm chonhững học sinh luôn có cảm giác tự ti về bản thân khi xuất hiện bằng một vai diễn khácvới bản thân mình, các em sẽ không những không tự ti về bản thân mình nữa, mà còncó thể thỏa sức thể hiện nhân vật bằng khả năng của mình
* Hạn chế của PPĐV
Thứ nhất, nếu HS đóng vai không hiểu rõ vai diễn của mình (lạc đề) thì sẽkhông thu được kết quả như mong muốn, có khi kết quả còn ngược lại Khi đóngvai, một trong những yêu cầu không thể thiếu để góp phần tạo nên sự thành côngcủa vai diễn đó là sự nhập vai của các nhân vật Do đó nếu HS không hiểu rõ vaidiễn của mình thì sẽ không thể truyền tải đúng thông điệp tới người khác và sẽkhông đạt được hiệu quả dạy học như mong đợi
Thứ hai, nếu không có yếu tố hóa trang hoặc đạo cụ thì sẽ giảm hiệu quả củagiờ học, không gây được hứng thú cho HS Người đóng vai ít có kinh nghiệm vàkhả năng diễn đạt sẽ làm cho lớp học không tập trung hoặc rối nhiễu Hóa trang làmột trong những yếu tố cần thiết cho một vai diễn, bởi khi đã đóng vai, chúng tahoàn toàn trở thành một con người khác với mình ở đời thường Vì vậy, để nhập vaitốt thì cần phải có sự đầu tư về trang phục và đạo cụ cần thiết cho vai diễn đó
Thứ ba, nếu GV không bao quát, quản ly lớp tốt trong quá trình tiến hànhđóng vai thì trật tự lớp học rất dễ bị phá vỡ, lớp học trở nên mất trật tự, ồn ào Trongquá trình HS đóng vai, do sự hấp dẫn bởi khả năng diễn xuất của nhóm thực hiện,
HS trong lớp có thể không kiềm chế được cảm xúc của mình có những hành vi làmảnh hưởng tới trật tự lớp học như cười lớn, la hét… Những điều này vô hình chung
đã làm phá vỡ khuôn khổ trật tự trong lớp học
Trang 31Thứ tư, sau khi đóng vai, lớp học dễ bị lộn xộn, khó tập trung để GV tiếp tụcphần giảng dạy tiếp theo Phương pháp đóng vai làm HS tập trung sự chú y vào nộidung vai diễn muốn truyền tải tới người xem bởi sự hấp dẫn trong diễn xuất của nhânvật Do vậy, khi kết thúc tình huống, những dư âm của vai diễn vẫn còn đọng lại khiến
HS phân tâm và chưa thể tập trung vào bài giảng của GV ngay được Điều này cũnggây ra những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng dạy và học của GV và HS
Như vậy, cũng giống như những phương pháp khác, PPĐV tồn tại cả những
ưu điểm và hạn chế Để thực hiện có hiệu quả phương pháp này, GV phải biết tậndụng, phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của nó trong quá trình dạyhọc Người dạy cũng không được lạm dụng nhiều lần PPĐV trong một tiết dạy màcần phải kết hợp với các phương pháp dạy học khác Chỉ khi nào nắm vững nguyêntắc này, việc sử dụng PPĐV trong dạy học môn GDCD ở trường THPT mới dẫn tớithành công
1.2.2 Vị trí, vai trò của môn GDCD và những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
1.2.2.1 Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trường THPT
Nội dung chương trình môn GDCD ở trường THPT được cấu trúc thành 5phần chính như sau:
khoa học
Năm phần trong chương trình trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thờicó quan hệ với chương trình môn GDCD ở THCS theo nguyên tắc đồng tâm, phát triển.Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chương trình còn dành một số thờigian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa, các vấn đề gắn với tình hình địa phương.Nội dung và hình thức của các hoạt động này, giáo viên căn cứ vào các phong tràochính trị - xã hội, địa phương, các chủ trương, chính sách mới, các
Trang 32cuộc vận động chính trị-xã hội lớn của Đảng và nhà nước để thực hiện phục vụ mụctiêu môn học.
Môn “Giáo dục công dân” giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc hìnhthành và phát triển nhân cách của học sinh Trong hệ thống các môn học ở trườngphổ thông, đây là môn góp phần hình thành thế giới quan lành mạnh ở học sinh,giúp học sinh biết phân biệt lẽ phải, trái; biết tôn trọng bản thân và tôn trọng ngườikhác; biết sống trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, biết yêu thương và vị tha; biết
“sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Kiến thức mà môn Giáo dục côngdân trang bị cho học sinh còn giúp hình thành ở học sinh những kỹ năng sống cơbản để vững vàng bước vào đời: biết tôn trọng y thức tổ chức kỷ luật, có niềm tin vàthái độ đúng đắn trong việc nhận thức, chấp hành pháp luật Vị trí, vai trò của mônhọc này được thể hiện cụ thể những điểm sau:
Thứ nhất: Môn Giáo dục công dân giữ vị trí, vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành nhân cách học sinh Học sinh THPT, xét về mặt thể chất và tâm ly,
các em vừa tồn tại giống như người trưởng thành, Nhưng đồng thời trong cuộcsống các em cũng bộc lộ ra như những đứa trẻ nhỏ, sự nhận thức về đạo đức, lốisống, về xã hội còn tinh khiết, trong trắng như tờ giấy Chính sự dạy dỗ của giađình, nhà trường và xã hội ở lứa tuổi này sẽ giúp các em trưởng thành đầy đủ về mặtchất Góp phần hình thành nên nhân cách cho học sinh THPT là môn học Giáo dụccông dân Những tri thức mà môn học này cung cấp sẽ làm cho các em có nhữngquan niệm đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan; những tri thức, niềm tin đạođức; những quan niệm sống… từ đó hình thành nên các hành vi, động cơ đạo đứctrong sáng, lành mạnh
Thứ hai: Giáo dục công dân là môn học cung cấp cho học sinh cái nhìn
đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan Giúp HS nhìn nhận mọi vấn đề một
cách khách quan, không áp đặt y kiến chủ quan của mình Đồng thời, tin tưởng vào
sự phát triển của xã hội, tránh xa những thói hư tật xấu Hơn thế nữa, môn GDCDcòn giúp HS trở nên bình tĩnh trước mọi tình huống bất ổn của cuộc sống, có thái độcầu thị trong học tập, rèn luyện và lao động sản xuất Như vậy, môn GDCD trởthành con đường hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa cho HS
Trang 33Thứ ba: Giáo dục công dân là phương tiện hữu hiệu để giúp học sinh hình
thành kỹ năng sống Kỹ năng sống của học sinh là khả năng vận dụng những kiến
thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ Nhữngkiến thức mà môn Giáo dục công dân cung cấp cho các em giúp các em hình thànhnhững kỹ năng quan trọng mà sau này phải sử dụng trong cuộc sống như: kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng tiếp nhận thông tin, kỹ năng nhận biết, kỹ năngphán đoán, kỹ năng phân tích, kỹ năng phản hồi thông tin… Nhờ những kỹ năngnày mà học sinh có thể tự tin hơn trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thângia đình và xã hội
Với tầm quan trọng đặc biệt như vậy, môn học này đáng ra cần phải được nhìnnhận ở mức độ cao, cần được tôn trọng, được đầu tư công sức để dạy và học thật tốt.Tuy nhiên, vì nhiều ly do khác nhau, chất lượng dạy và học môn học này trong thờigian qua còn có nhiều bất cập, vị trí của môn luôn đứng sau các môn học khác
Nguyên nhân của sự bất cập đó là:
Về phía người học: học sinh thường có tâm ly coi nhẹ môn học này, cho nó
là môn phụ, nên họ dành rất ít thời gian để quan tâm, học tập môn học Một số họcsinh còn có thái độ thiếu nghiêm túc khi học môn học này Đặc biệt, với suy nghĩmôn Giáo dục công dân không phải là môn chính để tuyển sinh vào đại học nên đaphần học sinh nhìn nhận phiến diện, lệch lạc về môn học này Các em chỉ học để đốiphó với giáo viên và để đủ điểm để lên lớp Số học sinh thật sự yêu quy môn họcnày trong phạm vi một trường học là rất ít và chỉ tồn tại ở các HS có y nghĩ chọnmôn học này để thi học sinh giỏi để dễ đạt giải, có “thành tích” - làm bước nhảy đểthi đại học Hiện tượng học sinh không mặn mà trong việc học môn Giáo dục côngdân từ lâu đã trở thành “nếp”, tạo nên sức ì về mặt tâm lí, truyền từ hết thế hệ họcsinh này đến thế hệ học sinh khác trong nhà trường phổ thông
Tuy nhiên, một cách công bằng cho thấy rằng, góp phần làm nên thực trạngtrên còn do phía người dạy, người quản ly Về phía người dạy, qua thực tế cho thấy,những kiến thức môn học vốn đã mang tính ly luận cao, cứng nhắc lại được các thầy côgiảng dạy chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình truyền thống, không có tính chủđộng, sáng tạo hay không áp dụng phương pháp học tập tích cực nên tạo cảm giác
Trang 34khô khan, gượng ép, mệt mỏi, thụ động cho học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức.Cá biệt, một số giáo viên còn cho rằng môn Giáo dục công dân là môn phụ, nên ítcó sự quan tâm, đầu tư trong việc soạn giáo án, chuẩn bị bài lên lớp.
Đã đến lúc chúng ta phải có những đánh giá, nhìn nhận thực sự nghiêm túc,khách quan cả từ phía người dạy lẫn người học, để từ đó có giải pháp nâng cao chấtlượng dạy và học môn GDCD, nhất là trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục hiện nay ở nước ta
Nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dântrong nhà trường hiện nay, trước hết cần nghiêm túc nhìn nhận lại vai trò, vị trí củamôn học này trong trường phổ thông Người học, cần thay đổi thiên kiến của mìnhđối với môn học Giáo viên phải là người giúp các em đánh giá vị trí, vai trò củamôn học trong việc trau dồi nhân cách, hoàn thiện bản thân, từ đó có động cơ vàthái độ học tập đúng đắn đối với môn học Ngoài ra, giáo viên cần phải luôn đổimới, cải tiến phương pháp giảng dạy Giáo viên phải tăng cường các hoạt động có
sự tham gia tích cực của học sinh để phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạocủa học sinh; bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và y chí vươn lên, loại bỏ thói quen học tập thụ động theo kiểu: Thầygiảng - trò nghe, thầy hỏi - trò trả lời, thầy đọc -trò chép và học thuộc
Để các tiết giảng thực sự hiệu quả, học sinh phải nghiên cứu tài liệu trước ởnhà, còn giáo viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung, bố cục, các tình huống sư phạm…trước khi lên lớp Trên lớp giáo viên nên khai thác tối đa vốn hiểu biết và kinh nghiệmsống của học sinh, tạo cơ hội và động viên khuyến khích học sinh bày tỏ quan điểm,
luận, trao đổi, đặt câu hỏi cho thầy, cho bạn để tạo nên mối quan hệ thầy và trò, giữatrò và trò trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập
Thay phương pháp dạy học thụ động sang phương pháp dạy học lấy học sinhlàm trung tâm Giáo viên phải thường xuyên năng động, sáng tạo ra những cách thức cụthể trong việc làm “mềm” hoá môn học vốn được xem là khô khan, trừu tượng Thaynhững ly luận khô cứng bằng ly thuyết mềm dẻo, linh hoạt gắn với những thí dụ sinhđộng trong đời sống thực tế Có thể thay cách thuyết giảng một chiều bằng việc nêunhững câu hỏi gợi mở nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh.Trong một số tiết học, trong những tình huống cụ thể, để tạo sự hào hứng
Trang 35và cuốn hút học sinh vào bài học, có thể dàn dựng những vở kịch ngắn do chính họcsinh thể hiện Mặt khác, cần đầu tư hơn trong việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh minhhoạ, cùng các dụng cụ trực quan tạo ra sự sinh động cho mỗi giờ lên lớp Cácphương pháp dạy học mới như dạy học kiến tạo, dạy học hợp tác, dạy học dự án,PPĐV… là những phương pháp dạy học tích cực cần phải được áp dụng để nângcao chất lượng học tập môn học này.
Môn học “Giáo dục công dân” tự tên gọi của nó đã nói lên vị trí quan trọngtrong nội dung giáo dục toàn diện của nhà tryờng phổ thông, góp phần tích cực vàoviệc hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh giúp HS trở thành người có íchcho gia đình và xã hội Môn học Giáo dục công dân cần có vị trí xứng đáng trong hệthống các môn học nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng “Học để làm người”.Tấtnhiên, để môn GDCD thực sự làm tròn được chức năng, nhiệm vụ, phát huy mộtcách tốt nhất và đầy đủ vai trò “đặc biệt quan trọng” của mình thì cần phải tác động
từ nhiều phía trước hết là đổi mới phương pháp dạy học
1.2.2.2 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng PPĐV trong dạy học GDCD ở trường THPT
Thực tiễn giảng dạy cho thấy, để một giờ học có sử dụng phương pháp đóngvai đạt hiệu quả cao GV phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Đối với GV, cần bảo đảm các yêu cầu dưới đây:
Một là, khi GV đưa ra tình huống đóng vai cho HS cần phải thật rõ ràng, mạch
lạc các y, các câu để HS dễ hiểu, tránh dùng những từ ngữ trừu tượng, khó hiểu Đồngthời, GV không nên cho sẵn HS kịch bản mà chỉ đưa ra tình huống, trên cơ sở đó HS sẽ
tự xây dựng kịch bản để thể hiện khả năng sáng tạo, chủ động của mình
Hai là, phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai (nếu là
đóng vai trực tiếp trong tiết học) Trong khi các nhóm chuẩn bị, GV nên đến từngnhóm, quan sát, lắng nghe, kịp thời phát hiện những khó khăn, lúng túng của HS đểcó sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời
Ba là, GV cần định hướng cho HS xây dựng kịch bản phải có kịch tính (các
xung đột, các mâu thuẫn giữa các nhân vật) để gây hứng thú, gây sự chú y và mangtính thuyết phục cao về tư tưởng, hành vi
Bốn là, sau khi diễn, cần thực hiện đàm thoại để rút ra những kiến thức, những
kết luận cần nhớ Việc bình luận sau cảnh diễn phải tạo bầu không khí thân thiện, cởi
Trang 36mở, cầu thị và xây dựng Ở đây, GV phải chú y sao cho lời bình luận của nhữngngười quan sát không quá gắt gao.
Năm là, để dạy tốt bằng phương pháp đóng vai, đòi hỏi người GV phải am
hiểu về phương pháp đóng vai cũng như các yêu cầu và hình thức đóng vai Trong
dạy học đóng vai, GV phải đóng vai trò vừa là “khán giả”, vừa là “trọng tài” côngminh đánh giá và đưa ra những nhận xét xác đáng Phương pháp đóng vai có ưu thếtrong dạy học môn GDCD, nhưng muốn vận dụng phương pháp này GV phải có sựđầu tư công sức, phải có lương tâm với nghề nghiệp
Đối với HS, cần bảo đảm các yêu cầu dưới đây:
Một là, mọi HS đều được tham gia vào quá trình thảo luận, xây dựng kịch
bản, được đóng vai hoặc phục vụ cho công việc đóng vai của các bạn trong nhóm.
GV nên khích lệ mọi HS, đặc biệt là HS có tính nhút nhát tham gia vào các vai diễn
Hai là, người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để
không lạc đề và để kết hợp, tương tác với các bạn diễn khác trong lớp
Đối với nhà trường, cần bảo đảm các yêu cầu dưới đây:
Cần bảo đảm về điều kiện vật chất, phương tiện hỗ trợ dạy học Những yếu
tố bên ngoài như: phòng học, âm thanh, ánh sáng, máy tính, máy chiếu cũng cótác động không nhỏ tới thành công của các vai diễn Chẳng hạn, nếu phòng học quáchật sẽ không có sân khấu để thực hiện diễn xuất Vì vậy, nhà trường cũng cần phảichú y tới những yếu tố này để phục vụ tốt cho việc đóng vai của HS
1.2.3 Cấu trúc và đặc điểm chương trình môn GDCD lớp 12
Chương trình GDCD ở THPT như đã đề cập gồm 5 phần Song, để phù hợpvới phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ phân tích cấu trúc và đặc điểm của chương trìnhmôn GDCD ở lớp 12
Chương trình GDCD lớp 12 là phần “Công dân với pháp luật” Nội dung củanó cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò, nội dung của pháp luậttrong một số lĩnh vực của đời sống xã hội Các tri thức của phần này sẽ giúp HS chủđộng, tự giác điều chỉnh hành vi của mình và đánh giá được hành vi của người kháctheo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa
Cấu trúc chương trình GDCD lớp 12 gồm 10 bài, thời lượng được phân phốinhư sau:
Trang 37Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết)
Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1 tiết)
Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xãhội (3 tiết)
Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết)
Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết)
Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (2 tiết)
Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (4 tiết)
Bài 10: Pháp luật với hoà bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại (thuộcphần giảm tải, học sinh tự đọc thêm ở nhà)
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa chương trình còn dành một
số thời gian cho hoạt động thực hành, ngoại khóa các vấn đề ở địa phương và tíchhợp phòng chống tham nhũng
Phân tích theo chủ đề, phần “Công dân với Pháp luật” gồm hai chủ đề lớn sau:
Chủ đề thứ nhất: Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển
của
công dân, đất nước và nhân loại: được cụ thể hóa trong các bài 1, 2, 8, 9, 10.
Chủ đề thứ hai: Quyền và nghĩa vụ công dân trong một số lĩnh vực của đời
sống xã hội - được cụ thể hóa trong các bài 3, 4, 5, 6, 7.
Phần “Công dân với pháp luật” có mục tiêu cụ thể là:
Hiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện
và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân
Trang 38Với cấu trúc và đặc điểm trên, việc vận dụng PPĐV vào dạy môn GDCD lớp
12 là phù hợp và chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao hơn so với dạy học bằng phươngpháp truyền thống
Kết luận chương 1
Đóng vai là một phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy cao độ tính tựgiác, độc lập, sáng tạo của người học và tạo ra môi trường học tập tích cực Trongđó, người học được tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực hơn Hứng thúhọc tập của người học được kích thích sẽ hình thành ở các em kỹ năng tự nghiêncứu và tự phát hiện tri thức mới Ở nước ta, dạy học theo phương pháp đóng vai đãmanh nha từ rất sớm, song mới ở mức thử nghiệm tại một số trường ở một vài tiếtgiảng mẫu mà chưa trở thành một phương pháp phổ biến
Để sử dụng phương pháp đóng vai có hiệu quả đòi hỏi GV phải có nhữnghiểu biết đầy đủ về phương pháp đóng vai, nắm vững quy trình và các yêu cầu khisử dụng phương pháp này Đồng thời, nhà trường cũng phải tạo điều kiện về cơ sởvật chất để đáp ứng được yêu cầu của hoạt động dạy và học
Mặc dù phương pháp đóng vai được đánh giá là phương pháp dạy học tíchcực, nhưng nó không phải là phương pháp vạn năng mà chỉ có thể là phương phápchủ đạo, và không phải bài nào cũng sử dụng được phương pháp đóng vai Việc lạmdụng phương pháp đóng vai không đúng lúc, tràn lan, không phù hợp với nội dung
sẽ làm giảm sự thành công trong quá trình dạy học Vì vậy, đối với môn GDCD, lựachọn và vận dụng phương pháp đóng vai phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học làcông việc quan trọng của người GV Là điều kiện cần thiết để góp phần đổi mớiphương pháp dạy học và nâng cao chất lượng học tập môn GDCD trong nhà trườngphổ thông
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THỒNG HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
2.1 Khái quát chung về các trường Trung học phổ thông huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung về các trường trung học phổ thông huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh
Huyện Quế Võ với diện tích hơn 170 km2 là một huyện lớn nằm ở phía Đông củatỉnh Bắc Ninh Quế Võ tiếp giáp với huyện Tiên Du, Thành phố Bắc Ninh của tỉnh BắcNinh và huyện Việt Yên, huyện Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang., phần còn lại được bao bọcbởi hai con sông là sông Đuống và sông Cầu Khác với các vùng còn lại của tỉnh Bắc Ninh,Quế Võ là vùng đồng bằng rộng lớn, hàng năm được bồi đắp bởi một lượng phù sa màumỡ Người dân Quế Võ có truyền thống yêu nước, cần cù Vùng đất này còn được mệnhdanh là miền quê khoa bảng, hiếu học Những truyền thống ấy được thế hệ trẻ ngày naykhơi dậy, nhân lên, tiếp tục phát huy để làm rạng danh đất nước
Được sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, trong những nămqua, nhân dân Quế Võ tăng gia lao động, sản xuất và đã đạt được nhiều thành tựuđáng kể về mặt kinh tế - xã hội An ninh chính trị nội bộ trong Huyện được ổn định,hòa nhập chung với xu thế phát triển chung của nhân dân tỉnh Bắc Ninh và nhân dân
cả đất nước
Trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nhiều năm trở lại đây, huyện Quế Võ luôn là mộttrong những huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh có nhiều thành tích trong giáo dục Hệ thống cáctrường, các cấp, bậc học được mở rộng về quy mô và diện tích Chỉ tính riêng cấp THPTngoài 2 trường dân lập là trường THPT Phố Mới và trường THPT Trần Hưng Đạo, Quế Võcòn có 3 trường quốc lập, đó là: Trường THPT Quế Võ số 1, trường THPT Quế Võ số 2,trường THPT Quế Võ số 3 Các ngôi trường này trong nhiều năm liền được coi là nhữngngôi trường có chất lượng dạy và học tốt trong Tỉnh Đây cũng chính là những
Trang 40ngôi trường mà tác giả đề tài đã đến để thực nghiệm sư phạm trong quá trình triển
khai nghiên cứu đề tài này
Trường THPT Quế Võ số 1 được thành lập năm 1966, giữa những năm tháng
ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước với tên gọi ban đầu là trường Cấp
3 Quế Võ Sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong khó khăn, gian khổ và trưởng
thành qua năm tháng, trường THPT Quế Võ số 1 luôn tự hào khi nhìn lại chặng
đường đã đi qua
Với số lượng HS ngày càng đông, để đáp ứng yêu cầu học tập và đi lại của
học sinh, đến năm 1977, trường THPT Quế Võ số 2 được thành lập Sau khi đất
nước bắt tay vào đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, nhu cầu học tập của nhân dân
không ngừng được nâng lên Xuất phát từ điều kiện thực tế, năm 1999, trường
THPT Quế Võ số 3 ra đời trên nền tảng của nền kinh tế sau thời kỳ đổi mới
Những ngày mới thành lập, các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ gặp rất
nhiều khó khăn, thiếu thốn mọi bề Song, với lòng say mê được cống hiến cho sự nghiệp
giáo dục và với truyền thống hiếu học, các thế hệ thầy trò đã vượt qua những khó khăn,
thách thức, xây dựng nên những ngôi trường khang trang, sạch đẹp và chất lượng giáo dục
thì luôn đứng trong tốp các trường có thành tích nổi bật của tỉnh Bắc Ninh
Hiện nay, các trường đều có cơ sở vật chất khang trang, với đầy đủ các dãy
nhà học đáp ứng nguyện vọng học tập của con em trong huyện Các phòng học đa
năng, phòng học máy tính, phòng thí nghiệm, phòng thư viện, phòng truyền thống,
nhà hiệu bộ, sân thể dục đã được các trường chú y đầu tư nâng cấp, đáp ứng nhu
cầu đổi mới phương pháp dạy và học theo tiêu chuẩn quốc gia
Bảng 2.1 Cơ sở vật chất của một số trường THPT huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh năm học 2016-2017
STT
123
Nguồn: Kết quả điều tra, khảo sát