1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non​

150 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 464,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng mức độ và kết quả sử dụng các phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non...582.3.4.. Kết hợp các

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ ANH THƯ

GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ

TRƯỜNG MẦM NON (TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ ANH THƯ

GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ

TRƯỜNG MẦM NON (TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG)

Chuyên ngành: Giáo dục học

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MINH HUẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã đƣợc chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đƣa vào luận văn theo đúng quy định

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chƣađƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Lý Thị Anh Thư

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Trần Thị Minh Huế đã tận

tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Khoa Sau đại học; Ban chủ nhiệmkhoa Tâm lí - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡtôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ nhân viên Trung tâm Phụchồi chức năng Hương Sen - thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang, Ban Giámhiệu, giáo viên, học sinh các trường mầm non Tân Trào, trường mầm non Sao Mai,trường mầm non Phan Thiết, Trường mầm non Ỷ La thành phố Tuyên Quang - tỉnhTuyên Quang đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế để thực hiện luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2015

Tác giả

Lý Thị Anh Thư

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 2

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ TRƯỜNG MẦM NON 4

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.1.1 Trên thế giới 4

6 1.2 Khái niệm công cụ 9

1.2.1 Tự kỷ và hội chứng tự kỷ 9

1.2.2 Phát hiện sớm trẻ tự kỷ 11

1.2.3 Can thiệp sớm trẻ tự kỷ 12

1.2.4 Giáo dục hòa nhập 14

1.2.5 Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non 14

1.2.6 Biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non 15

Trang 6

1.3 Một số đặc điểm cơ bản về trẻ mầm non mắc hội chứng tự kỷ 151.3.1 Những biểu hiện của hội chứng tự kỷ và trạng thái liên quan tới

hội chứng tự kỷ ở tuổi mầm non 151.3.2 Phân loại hội chứng tự kỷ và các hội chứng khác trong phổ tự kỷ ở

tuổi mầm non 171.4 Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô

hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 201.4.1 Vai trò, chức năng của trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường

mầm non trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 201.4.2 Mục tiêu giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô

hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 221.4.3 Nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô

hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 221.4.4 Phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non

theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường

mầm non 261.4.5 Quy trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo môhình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 311.4.6 Giáo viên mầm non trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi

mầm non 31

1.4.7 Đánh giá kết quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non 321.4.8 Điều kiện giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo môhình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 33

1.5 Kết luận chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỈ

THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ

KHUYẾT TẬT VÀ TRƯỜNG MẦM NON (TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN

QUANG - TỈNH TUYÊN QUANG) 362.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 362.1.1 Khái quát về Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật thành phố Tuyên

Quang - Trung tâm phục hồi chức năng Hương Sen 362.1.2 Khái quát về công tác giáo dục trẻ mầm non nói chung tại

thành phố Tuyên Quang 37

Trang 7

2.1.3 Mục tiêu khảo sát 38

2.1.4 Đối tượng khảo sát 39

2.1.5 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 392.2 Thực trạng nhận thức về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình

kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non tại thành

phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang 402.2.1 Nhận thức về các khái niệm liên quan đến giáo dục hòa nhập cho trẻ tự

kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường

mầm non 402.2.2 Nhận thức về vị trí, vai trò của Trường mầm non và Trung tâm

giáo dục trẻ khuyết tật trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 442.2.3 Nhận thức về nội dung giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình

kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 462.2.4 Nhận thức về phương pháp giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hìnhkết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 482.3 Thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa

trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non ở thành phố Tuyên

Quang, tỉnh Tuyên Quang 512.3.1 Thực trạng kết hợp giữa trường mầm non và trung tâm giáo dục

trẻ khuyết tật trong lập kế hoạch giáo dục trẻ tự kỷ 512.3.2 Thực trạng nội dung kết hợp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo môhình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 552.3.3 Thực trạng mức độ và kết quả sử dụng các phương pháp giáo dục

hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ

khuyết tật và trường mầm non 582.3.4 Thực trạng thực hiện quy trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường

mầm non 632.3.5 Kết quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp

giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 662.3.6 Thực trạng trình độ chuyên môn và nhu cầu khi tham gia giáo dục

hòa nhập trẻ tự kỷ của giáo viên 67

Trang 8

2.4 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 69

2.4.1 Thuận lợi 69

2.4.2 Hạn chế 69

2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế 70

2.5 Kết luận chương 2 70

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ TRƯỜNG MẦM NON 72

3.1 Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 72

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của giáo dục mầm non 72

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 72

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm và mức độ tự kỷ ở trẻ lứa tuổi mầm non 73

3.1.4 Nguyên tắc tương tác giữa giáo viên mầm non và trẻ tự kỷ 73

3.2 Một số biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 73

3.2.1 Xây dựng nội dung, chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 73

3.2.2 Xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 74

3.2.3 Tổ chức trao đổi, chia sẻ kiến thức giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 76

3.2.4 Kết hợp các phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục và phương pháp giáo dục đặc biệt vào giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 77

3.2.5 Xây dựng quy trình giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ tại trường mầm non theo mô hình kết hợp 79

3.2.6 Tăng cường kiểm tra - đánh giá giáo dục hòa nhập và đánh giá trẻ tự kỷ trong giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 81

Trang 9

3.3 Khảo nghiệm 82

3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 82

3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 83

3.3.3 Đối tượng tiến hành khảo nghiệm 83

3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 83

3.3.5 Kết quả khảo nghiệm 83

3.4 Kết luận chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADHDCBQLCTXHGDHNGVKHGDNVSLTBTXĐKCBG

Chứng tăng động giảm chú ýCán bộ quản lý

Công tác xã hộiGiáo dục hòa nhậpGiáo viên

Khoa học giáo dụcNhân viên

Số lượngTrung bìnhThường xuyênĐôi khi

Chưa bao giờ

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê khách thể khảo sát tại Trung tâm Phục hồi chức năng

Hương Sen và 04 trường mầm non trên địa bàn thành phố

giáo dục trẻ khuyết tật trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 44

Bảng 2.5 Nội dung giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung

tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 46

Bảng 2.6 Nhận thức về phương pháp giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình

kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 48

Bảng 2.7 Đánh giá việc kết hợp giữa trường mầm non và trung tâm giáo dục trẻ

khuyết tật trong lập kế hoạch giáo dục trẻ tự kỷ 51

Bảng 2.8 Đánh giá khả năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch giáo dục cá

nhân cho trẻ tự kỷ 54Bảng 2.9 Thực trạng nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình

kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 55

Bảng 2.10 Thực trạng phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô

hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 58Bảng 2.11 Thực trạng thực hiện quy trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và

trường mầm non 63

Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ phù hợp của các biện pháp giáo dục hòa nhập

trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết

tật và trường mầm non 84Bảng 3.2 Đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp giáo dục hòa nhập

trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết

tật và trường mầm non 86

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết

hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 66

Biểu đồ 2.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên về kiến thức, kỹ năng

giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung

tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non 68

Sơ đồ 3.1 Quy trình giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ 80

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển với những thành quả khoa học to lớn, đời sốngcon người ngày càng được nâng cao, nhiều loại hình chăm sóc sức khỏe mới phù hợpvới nhu cầu, lợi ích của con người xuất hiện song con người cũng đang phải đối mặtvới nhiều thách thức mới đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Trong đó, tự kỷ làmột dạng hội chứng lan tỏa ngày càng phát triển và ảnh hưởng đến con người trong

xã hội hiện đại mà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể cũng như hạn chế vềphương pháp điều trị hữu hiệu Đồng thời hội chứng này có ảnh hưởng nghiêm trọngđến chất lượng cuộc sống cá nhân và cộng đồng

Trẻ tự kỷ cũng như các trẻ em khác phải được hưởng những quyền trẻ em,trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe thế chất, tinh thần và được giáo dục.Việc can thiệp để giúp trẻ hòa nhập với xã hội là một việc quan trọng, có ý nghĩanhân đạo, là điều kiện hết sức quan trọng giúp trẻ tự kỷ sớm được can thiệp và có cơhội hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ vẫncòn chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn nhiều trường không nhận trẻ tự kỷ, haynhận nhưng trẻ tự kỷ chưa nhận được sự chăm sóc và giáo dục phù hợp, có hiệu quả

Tuyên Quang là một tỉnh vùng núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn cả về tàilực, vật lực lẫn nhân lực phục vụ cho giáo dục, đặc biệt là mô hình giáo dục hòa nhập.Nhưng địa phương đã có sự quan tâm, đầu tư cho giáo dục trẻ khuyết tật và cónhững thành công nhất định

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật mới chỉ đẩy mạnh việc chăm sóc, can thiệp chonhững trẻ khuyết tật về thể chất bằng các phương pháp y học nên còn nhiều hạn chếtrong can thiệp tâm lý giáo dục Chính vì vậy, để khắc phục những hạn chế trong giáodục trẻ tự kỷ cần có sự kết hợp giữa các trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật với cáctrường mầm non trên địa bàn giúp trẻ phát triển đồng đều và hòa nhập với cộng

đồng Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục

hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật

và trường mầm non” tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang.

Trang 14

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục hòanhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật vàtrường mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tuổi

mầm non tại thành phố Tuyên Quang

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và biện pháp giáo dục hòa nhập cho

trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầmnon tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đánh giá đúng thực trạng và đề xuất được các biện pháp giáo dục hòanhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật vàtrường mầm non phù hợp với điều kiện, chức năng của trung tâm giáo dục trẻ khuyếttật, trường mầm non để vận dụng trong tổ chức giáo dục hòa nhập sẽ nâng cao đượcchất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở thành phố Tuyên Quang hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hìnhkết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

5.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kếthợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non tại thành phố TuyênQuang - tỉnh Tuyên Quang

5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập chotrẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầmnon

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ

tự kỷ tuổi mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻkhuyết tật và trường mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 08 năm 2015

Trang 15

Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm Phục hồi chức năng Hương Sen; Trường Mầmnon Phan Thiết; Trường Mầm non Sao Mai; Trường Mầm non Tân Trào và TrườngMầm non Ỷ La, thành phố Tuyên Quang

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích vàđánh giá những chuyên đề, bài viết, công trình của các tác giả trong và ngoài nước,được đăng trên các sách báo, tạp chí, mạng internet… về tình trạng tự kỷ ở trẻ em, vềgiáo dục và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non để xây dựng cơ sở lýluận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; Phương pháp quan sát;Phương pháp trò chuyện; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp nghiên cứu trườnghợp; Phương pháp trắc nghiệm tâm lý; Phương pháp thực nghiệm; Phương pháptổng kết kinh nghiệm để nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự

kỷ lứa tuổi mầm non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật vàtrường mầm non tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học để tính các số liệu nghiên cứuthực trạng; xác định thông số định lượng và định tính về kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kếthợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

Chương 2: Thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợpgiữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non tại thành phố TuyênQuang - tỉnh Tuyên Quang

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự

kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm nontại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ

TRƯỜNG MẦM NON1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Ngay từ đầu thế kỷ 19 đã có rất nhiều báo cáo về trường hợp đơn lẻ của nhữngtrẻ rất bé mắc các bệnh rối loạn tâm trí nặng có liên quan đến một biến dạng rõ củaquá trình phát triển và Mausdley (1876) đã là nhà tâm bệnh học đầu tiên chú ý đếnnghiên cứu về những trạng thái này

Tuy nhiên mãi rất lâu về sau này thì các rối loạn này mới được khoa học thừanhận Ban đầu, chúng được xếp vào một dạng tâm thần phân liệt Đến năm 1911, nhàtâm thần học Bleuler đã là người đầu tiên nói đến các rối loạn này dưới khái niệm

“tự kỷ” Theo ông đó là một trong những triệu chứng tiên phát cơ bản của tâm thầnphân liệt người lớn và tính tự kỷ là thể hiện một sự tập trung toàn bộ đời sống tâm lýcủa một con người vào thế giới bên trong của mình cùng với sự mất đi tiếp xúc, sựcắt rời với thế giới bên ngoài

Năm 1943, bác sĩ Leo Kanner (người Mỹ gốc Áo) đã công bố nghiên cứu củamình về trẻ tự kỷ, nghiên cứu này đã làm cho mọi người biết đến sự hiện diện của dạngtật này trong xã hội Sau phát hiện của bác sĩ Kanner, sự quan tâm của giới khoa học vềhội chứng tự kỷ ngày càng gia tăng Đã có nhiều nghiên cứu giải thích về căn nguyên của

tự kỷ và mô tả chi tiết những hành vi thực sự của những trẻ này Sau đó, nhiều phươngpháp trị liệu và giáo dục đã ra đời góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của những trẻ

tự kỷ Các nghiên cứu như: cách tiếp cận D.I.R (Developmental, Individual-Difference,Relationship-based) của tiến sĩ Greenspan và tiến sĩ Wieder, phương pháp ABA, phươngpháp Teach, Những phương pháp này chủ yếu được áp

Trang 17

dụng đối với môi trường chuyên biệt hoặc chăm sóc, giáo dục tại gia đình Chúng rấtkhó áp dụng để dạy học tại các lớp hòa nhập.

Trong công trình nghiên cứu của mình Bruno Bettlheim cho rằng trẻ bị tự kỷ là

do người mẹ bỏ mặc, vì người mẹ có học cao nên thiên về ứng xử lý trí hơn là tìnhcảm, sống lạnh lùng, không yêu con Do cách sống thờ ơ đó nên những đứa con phảnứng lại bằng cách không muốn gần mẹ, không muốn ôm, hôn mẹ, không muốn nhìnvào mắt mẹ và không nói, đồng thời trẻ cũng ứng xử như vậy với người khác

Nghiên cứu của Lorna Wing cũng chỉ ra rằng: trong sử dụng lời nói của trẻ tự kỷ,trẻ hoặc câm lặng suốt đời hoặc bắt chước tiếng kêu của loài vật, tiếng lạ hoặc lặp câu,lặp từ; ngữ điệu và việc làm chủ lời nói thì kì dị, đơn điệu, máy móc, đổi giọng khôngđúng chỗ… Trẻ dường như không nghe, không hiểu, không trả lời người khác Trẻ chỉnghe, hiểu trong tình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ

M. Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sự không bình thường xuất phát từ mốiquan hệ mẹ con Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình với người

mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giai đoạn chia cách cá nhân hóa(nảy sinh tâm lý cá nhân) Có một số rối loạn trong quá trình này, một điều gì đókhông ổn trong giai đoạn tách mẹ và cá nhân hóa Cơ chế tự kỷ gắn với sự mất khíacạnh hoạt hóa, mất sự phân biệt với cơ thể người mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống,mất ham muốn về xã hội Chức năng của trẻ tự kỷ mang ý nghĩa thái độ phòng vệ cơbản của đứa trẻ, không thể xây dựng được cực định hướng đối với người mẹ Đứatrẻ dính chặt vào người lớn và dùng họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó Đây làcách đứa trẻ gạt ra quyền năng của người mẹ trong giai đoạn đầu tiên.[36]

Tác giả Robert Rosine Le Eost cho rằng trẻ tự kỷ dạy cho chúng ta một điều gì đó

mà ta cần nghe; thế giới của nó là thế giới tự phá hoại mình, nó chối bỏ thế giới xungquanh và tất cả mọi người làm xuất hiện hiện thực đối với nó như là một đồ vật Trướcgương nó cảm thấy một cái gì đó rất khủng khiếp; trẻ tự kỷ sống trong môi trường ngônngữ nhưng không có lời riêng của nó, lời nói chỉ là sự kết nối máy móc,

Trang 18

sự lặp lại mà nó không thể hiểu; trẻ tự kỷ tách biệt với người khác, không có nhu cầugiao tiếp với người khác và luôn cảm thấy mình như bị nuốt chửng trong ham muốncủa mọi người.

Một số tác giả đã dày công nghiên cứu về vấn đề giáo dục hòa nhập:

M Soder đã nghiên cứu thực hiện hòa nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.Ông cho rằng: Cần phải tập trung nghiên cứu để giúp trẻ tự tìm ra hoàn cảnh củamình thay thế cho việc đo đạc hiệu quả của công việc hòa nhập

Cũng cùng quan điểm này, Irene Lospez đã nghiên cứu thành công “hòa nhập

từ viễn cảnh học sinh”, ông xác định trong mục tiêu hòa nhập đấy là cộng đồng tinhthần đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, tham gia và giao tiếp

Đề tài “Ưu và nhược điểm của giáo dục hòa nhập trẻ em rối loạn phổ tự kỷ” củaLindsay J Vander WIELE đã phân tích và chỉ rõ: Trẻ rối loạn phổ tự kỷ phải có cơ hộiđược giáo dục cùng với trẻ bình thường ở mức độ tối đa, phù hợp và cần thiết [41]

Nghiên cứu về vấn đề đào tạo đội ngũ giáo viên giáo viên

(Teacher for New Era Project - TNE) ) giáo viên

giáo viên

giáo viên giáo viên ,…

Nhìn chung, mặc dù được nghiên cứu khá muộn, song vấn đề trẻ tự kỷ và giáodục cho trẻ tự kỷ với hình thức hòa nhập đã được một số tác giả trên thế giới quantâm nghiên cứu

, hội chứng tự kỷtrẻ tự kỷ Trẻ tự kỷ

Trang 19

Công trình “Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng tạiBệnh viện Nhi đồng 1” do bác sỹ Phạm Ngọc Thanh, Đơn vị Tâm lí, bệnh viện NhiĐồng 1 thực hiện đã cho thấy một phần thực trạng của trẻ tự kỷ và bước đầu hướngdẫn can thiệp trị liệu trẻ tự kỷ cho phụ huynh [19]

Nghiên cứu “Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ” tạiKhoa tâm thần Bệnh viện Nhi trung ương do bác sỹ Quách Thúy Minh và các cộng

sự thực hiện đã chỉ ra có 55,5% trẻ tăng giao tiếp bằng mắt, 64,1% giảm tăng động và77,8% giảm xung động nếu được tiến hành điều trị tâm vận động và có sự kết hợpcủa gia đình.[17]

Tại hội thảo: “Vấn đề gắn bó mẹ - con và trị liệu tâm lý cho cặp mẹ - con ở Trungtâm N - T Nguyễn Khắc Viện”, tác giả Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Trung tâm N - TNguyễn Khắc Viện đã trình bày kết quả nghiên cứu của mình về trẻ tự kỷ và khẳng địnhtrẻ có khó khăn về gắn bó mẹ con là một lý do phổ biến khiến các bậc phụ huynh đưacon đến thăm khám và trị liệu tại Trung tâm N - T Nguyễn Khắc Viện Tác giả đã trìnhbày về các đặc trưng Văn hóa của phương Đông và phương Tây, về thực trạng nuôi dạycon và đặc trưng gắn bó mẹ - con ở Việt Nam và Pháp cùng các đặc điểm mang tính phổquát và đặc thù, từ đó phân tích sâu sắc những ảnh hưởng của các yếu tố đó lên quá trìnhxây dựng đời sống tâm lý cho trẻ thơ Hội thảo đã nghe trình bày một ca lâm sàng, đó làtrường hợp của một bé trai rất gắn mẹ đến mức không thể hoà nhập vào môi trường họcđường Bé còn mắc chứng không làm chủ được đại tiểu tiện mà các xét nghiệm y tế đềukhông tìm ra nguyên nhân thực thể Người mẹ cũng bộc lộ một số khó khăn như hayphát động sự gắn bó liền kề da thịt với con, hay dùng loại gắn bó này để thưởng phạt…Sau khi được trị liệu theo phương pháp của Esther Bick, cặp mẹ con đã vượt qua đượcnhững khó khăn của mình và tìm lại được sự gắn bó an toàn, mở ra hướng đi mới cho trịliệu cho trẻ có nét tự kỷ

Tác giả Nguyễn Minh Đức với công trình: “Những khoảnh khắc lóe sáng trongtương tác mẹ - con của trẻ có nét tự kỷ” (2009) Trong công trình này tác giả đã phântích những sai lầm cơ bản trong phương pháp chăm sóc và giáo dục con em, dẫn đến

Trang 20

sự gia tăng số lượng trẻ có nguy cơ Đồng thời, tác giả cũng chia sẻ những kinhnghiệm cụ thể và bổ ích về cách quan sát, phát hiện những dấu hiệu chớm bất thườngcủa trẻ và phương pháp can thiệp sớm nhằm phòng ngừa những hậu quả trầm trọngcủa các rối nhiễu tâm lý trong xã hội hiện đại [11]

Luận văn thạc sỹ “Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ” của tác giảNguyễn Thị Thanh Liên đã chỉ ra phần lớn cha mẹ của trẻ tự kỷ có thái độ tiêu cựcđối với trẻ Thái độ này xuất phát từ mặc cảm về khuyết tật của con mình Thái độnày được thể hiện rõ trên ba phương diện: nhận thức, tình cảm và hành vi Vềphương diện nhận thức: đa số cha mẹ có hiểu biết về bản chất của chứng tự kỷ làkhông đầy đủ, một số người còn hiểu sai.Về phương diện tình cảm: cha mẹ một mặtthương con, muốn dành tình cảm cho con, mặt khác lại thấy lo lắng, thiệt thòi, tuyệtvọng về những gì mà họ phải gánh chịu Về phương diện hành vi: nhìn hình thức bênngoài người ta dễ lầm tưởng cha mẹ có hành vi tích cực song về bản chất đó là sựbuông xuôi tiêu cực, thiếu khoa học trong việc giúp đỡ con chống lại chứng tự kỷ

Với mục đích nhằm giúp trẻ tự kỷ tiến bộ, tác giả Nguyễn Thị Diệu Anh vàcộng sự tại Đơn vị Tâm lý, bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện nghiên cứu “Ứng dụngviệc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ” Trong nghiên cứu này, tác giả đã chothấy tính hiệu quả của phương pháp TEACH trong trị liệu trẻ tự kỷ.[1]

Trong công trình nghiên cứu: “Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triểngiáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật” của tác giả Lê Văn Tạc đã chỉ ra:

+ Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyếttật phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả công tácgiáo dục trẻ khuyết tật

+ Không khuyến khích phát triển hình thức giáo dục chuyên biệt, tách biệt.+ Tăng cường và phát triển, xây dựng hệ thống giáo dục hòa nhập

+ Xây dựng mới các trung tâm hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật ở những nơi chưa

có hoặc nâng cấp, chuyển đổi trường chuyên biệt thành các trung tâm hỗ trợ cho giáodục hòa nhập.[18]

Trang 21

Tác giả Đào Thị Thu Thủy, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam với đề tài

“Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ 5 - 6 tuổi” đã mô tả thực trạng hành vingôn ngữ của trẻ tự kỷ tuổi mẫu giáo nhằm giúp giáo viên hỗ trợ, chuyên gia giáo dụctrẻ tự kỷ xác định được mức độ thực hiện hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục trẻ tự kỷ, giúp trẻ tham gia học hòa nhập.[26]

Đề tài “Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự

kỷ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011-2020” do tác giả Nguyễn Thị HoàngYến làm chủ nhiệm đã đã triển khai và hoàn thành 4 nội dung: Nghiên cứu những vấn

đề chung về tự kỷ; Vấn đề can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ; Vấn đề giáo dục hòa nhập trẻ

tự kỷ; Các chính sách bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỷ và gia đình [33]

Ngày 25/07/2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Câu lạc bộ Sống cùng tự kỷ,Trung tâm Giáo dục sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Hỗ trợ phát triểngiáo dục hòa nhập phối hợp tổ chức “Ngày hội kết nối” Ngày hội kết nối nhằm giúpphụ huynh cập nhật thông tin về chính sách giáo dục dành cho trẻ tự kỷ, nâng caonhận thức về giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập sau tiến trình can thiệp sớm

Cuốn sách “Mô hình giáo dục hòa nhập cấp xã cho trẻ em khuyết tật - thực tiễn vàtriển vọng” do Trung tâm Tật học - Viện Khoa học giáo dục tổ chức biên soạn được Nhàxuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002 Cuốn sách giới thiệu với những ngườiquan tâm đến trẻ khuyết tật một số bài học kinh nghiệm về cách tổ chức lực lượng cộngđồng tham gia hỗ trợ và giáo dục trẻ em khuyết tật theo hướng hòa nhập

Nhìn chung các nghiên cứu trong nước đã quan tâm đến vấn đề trẻ tự kỷ và trịliệu y học, giáo dục hòa nhập song chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn

đề xây dựng mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầmnon trong giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ

1.2 Khái niệm công cụ

1.2.1 Tự kỷ và hội chứng tự kỷ

1.2.1.1 Tự kỷ

Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiều quan niệm về

tự kỷ

Trang 22

Thuật ngữ “autism - tự kỷ” do E Bleuler (1911) đưa ra để chỉ sự mất tiếp xúcvới thực tế dẫn tới mất khả năng giao tiếp hay rất khó giao tiếp với người khác.

Theo Freud: “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại cái tôi, có nghĩa là

đã trở thành sự tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng

và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủthể điều kiện phải có thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ”

Theo Kanner 1943: “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ lúc mớibắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, đó là sự rốiloạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lậpcác mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động một cách bìnhthường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống.” [37]

Theo từ điển bách khoa Columbia (1996): “Tự kỷ là một khuyết tật phát triển cónguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của não

bộ Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, kỹnăng tương tác xã hội và suy luận Trẻ nam nhiều gấp 4 lần nữ giới mắc tự kỷ

[33]. Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến 30 tháng tuổi sau đó gặp phải một sốrối nhiễu trong phổ tự kỷ [37]

Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ, các chuyên gia cho rằng nênxếp tự kỷ vào nhóm rối loạn lan tỏa và đã thống nhất đưa ra định nghĩa về tự kỷ cuốicùng như sau: “Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnhhưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhất đến kỹ năng giao tiếp

và quan hệ xã hội” [32]

Năm 2008, Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm: “Tự kỷ là một loại khuyết tật pháttriển tồn tại suốt đời, thường được thể hiện ra ngoài trong ba năm đầu đời Tự kỷ là domột rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếuảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ở nhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủngtộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong

Trang 23

tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói, và có cáchành vi, sở thích và hoạt động lặp đi lặp lại và hạn hẹp” [32].

Các khái niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở các nội dung cốt lõi củakhái niệm tự kỷ: “Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển, được đặc trưng bởi bakhiếm khuyết chính về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích mang tínhhạn hẹp lặp đi lặp lại”

- Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác

- Thể hiện cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính cách

tỉ mỉ và kì dị

- Không hề nói hoặc cách nói khác thường rõ rệt

- Rất ham thích xoay vặn các đồ vật và thao tác khéo léo

- Có khả năng ở mức cao về nhìn nhận không gian hoặc giỏi như vẹt

- Trái ngược với tình trạng khó khăn trong việc học tập các lĩnh vực khác

- Hình thức bề ngoài có vẻ hấp dẫn, nhanh nhẹn, thông minh

Hội chứng tự kỷ thường gặp ở trẻ nam cao gấp 4 lần ở trẻ nữ

1.2.2 Phát hiện sớm trẻ tự kỷ

Phát hiện sớm là quá trình sử dụng các kỹ thuật, biện pháp sàng lọc giúp nhậnbiết dấu hiệu của tự kỷ, phổ tự kỷ trên trẻ dưới 3 tuổi Sớm nhất có thể là 6 - 18tháng Những trường hợp được khẳng định là tự kỷ ở độ tuổi dưới 18 tháng là nhữngtrường hợp tự kỷ điển hình Những trường hợp bị phát hiện muộn thường do trẻ bị tự

Trang 24

kỷ nhẹ, do thiếu hiểu biết về các mốc phát triển bình thường về ngôn ngữ và hành vicủa trẻ đặc biệt do các dấu hiệu để xác định tự kỷ chưa rõ ràng.

Để phát hiện sớm trẻ tự kỷ có thể căn cứ vào các dấu hiệu sàng lọc trẻ tự kỷ.Dấu hiệu sàng lọc là những dấu hiệu chỉ ra rằng trẻ có nguy cơ cao bị tự kỷ Nhữngdấu hiệu này được Baron - Cohen, Allen và Gilber sử dụng từ năm 1992 để sàng lọctrong 12000 trẻ em ở độ tuổi 18 tháng tuổi Terylynn Tyrel - Tiến sĩ khoa Giáo dụcĐặc biệt, Đại học John Hopkin, năm 2006 đã biên soạn ra 9 dấu hiệu dưới đây từ rấtnhiều nghiên cứu khác Đây là bộ câu hỏi sàng lọc tự kỷ ở trẻ dưới 18 tháng, được sửdụng rộng rãi trên thế giới:

Các dấu hiệu sàng lọc phát hiện tự kỷ:

Biết khoe; Mắt nhìn linh hoạt, phù hợp; Biết thể hiện nét mặt ấm áp, vuisướng; Quay lại khi được gọi tên; Chia sẻ mối quan tâm/ thích thú; Phối hợp các kỹnăng giao tiếp không lời; Thể hiện các hành vi bất thường; Các cử động hoặc tư thếlặp lại của cơ thể?

Viện Hàn lâm Thần kinh học của Mĩ đã đưa ra các dấu hiệu báo động của tự

kỷ là những trẻ:

(1) Không bi bô, không biết dùng cử chỉ vào khoảng 12 tháng

(2) Không biết nói từ đơn lúc 16 tháng

(3) Không biết đáp lại khi được gọi tên

(4) Không tự nói được câu có hai từ lúc 24 tháng

(5) Mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc xã hội vào bất kì độ tuổi nào [13]

1.2.3 Can thiệp sớm trẻ tự kỷ

Can thiệp sớm là sự hướng dẫn sớm (mang tính giáo dục) cho trẻ và gia đìnhtrẻ Can thiệp sớm trong 5 năm đầu có thể làm tăng chất lượng cuộc sống cho trẻ vàgia đình trẻ Đây chính là sự chuẩn bị quan trọng cho việc học và tiếp tục học lên lớpmẫu giáo sau này của trẻ, đồng thời can thiệp sớm cũng chuẩn bị tiền đề để trẻ có thểhọc hội nhập tại các trường phổ thông Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu vàcác dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích

Trang 25

và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham giavào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này.

Can thiệp sớm còn là việc trợ giúp dành cho tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc

đã bị khuyết tật Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước khisinh cho đến lúc trẻ đến tuổi đi học Nó bao gồm toàn bộ việc phát hiện và chẩn đoánsớm cho đến lúc hướng dẫn Can thiệp sớm có liên quan đến cả đứa trẻ lẫn cha mẹ,gia đình và một mạng lưới rộng lớn

Can thiệp sớm nhằm phát triển tối đa tiềm năng học ở trẻ, phát triển khỏemạnh trong cuộc sống hàng ngày của trẻ; giúp trẻ sống độc lập và có một cuộc sốngcàng bình thường càng tốt, để trẻ có thể trở thành một thành viên của cộng đồng

Mục đích can thiệp không chỉ dừng ở bản thân trẻ mà cả cuộc sống của trẻtrong hoàn cảnh gia đình

Can thiệp sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với trẻ vì trong 5 năm đầuđời là thời điểm phát triển tối ưu của não bộ Trong giai đoạn này trẻ dễ dàng tiếp cậnthông tin, hình thành các kỹ năng và phát triển ngôn ngữ Chúng ta có thể dễ dànguốn nắn trẻ theo chiều hướng tích cực Việc can thiệp cho trẻ có thể bắt đầu bất cứlúc nào chúng ta phát hiện ra những điểm không bình thường ở đứa trẻ

Can thiệp sớm bao gồm nhiều dịch vụ tổng hợp với mục đích là để phát triển hếttiềm năng học hỏi ở đứa trẻ, để đứa trẻ sống càng bình thường càng tốt Do vậy, canthiệp sớm là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, những giai đoạn này tạothành một qui trình khép kín giúp cho các chuyên gia can thiệp sớm có thể hỗ trợ đượcmột cách kịp thời nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho trẻ và gia đình Các giai đoạn củaqui trình can thiệp sớm có thể được biểu diễn như một vòng xoay liên tục

Thắc mắc/ vấn đề

Trang 26

Can thiệp Lập kế hoạch

1.2.4 Giáo dục hòa nhập

Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ tự kỷ được học chungvới trẻ em bình thường hàng ngày, học ngay tại nơi trẻ sinh sống, trẻ được tham giavào các hoạt động như mọi trẻ bình thường, không có sự phân biệt Với phương thứcgiáo dục như vậy trẻ sẽ có cơ hội tiếp xúc với cộng đồng ở mức độ cao nhất, đồngthời trẻ sẽ có cơ hội bình đẳng và phát triển như mọi trẻ khác Giáo dục hòa nhập tiếntới từng đứa trẻ được giáo dục với điều kiện phù hợp nhất, để có thể thỏa mãn ở mứccao nhất các nhu cầu cá nhân của trẻ

Trong giáo dục hòa nhập người ta quan tâm đến việc tìm những điều mà trẻ tự

kỷ có thể làm được, những việc phù hợp với nhu cầu, năng lực của trẻ; các lực lượng

xã hội: gia đình, cộng đồng, xã hội cần nhận thức và tạo ra sự hợp tác và hòa nhậpvới trẻ trong tất cả các hoạt động và ở mọi môi trường Giáo dục hòa nhập phải tạonhững điều kiện bình thường nhất cho trẻ tự kỷ (trẻ phải được học ngay ở nhữngtrường gần nơi mình sống, trẻ phải được gần gũi với gia đình, phải được sưởi ấmbằng tình yêu thương của cha mẹ, anh chị và được cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ).Những khó khăn của trẻ tự kỷ phải được coi là mối quan chung, được chia sẻ với cácthành viên trong gia đình và những người xung quanh, môi trường nơi trẻ sinh sống

Trong hoạt động học tập, trẻ tự kỷ phải được học cùng một chương trình nhưmọi trẻ khác Trong trường học, trong các hoạt động, các em phải là trung tâm củaquá trình học tập, giáo dục Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng mọi côngviệc của nhà trường, cộng đồng…

1.2.5 Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non

Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non là quá trình tổ chức cho trẻ

tự kỷ các cơ hội tiếp xúc, giao tiếp với môi trường tự nhiên, xã hội (cộng đồng dân

cư, trường học, bạn bè, mọi người), tham gia các hoạt động cùng với trẻ em bìnhthường, cung cấp những kiến thức văn hóa đơn giản và cơ bản nhất, hình thành

Trang 27

những kỹ năng sống phù hợp với sự phát triển lứa tuổi mầm non và đặc điểm cá nhâncủa trẻ, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng.

Môi trường giúp trẻ hòa nhập là thông qua nhà trường, gia đình, các tổ chức

xã hội (y tế, phụ nữ, cộng đồng, thôn xóm), bạn bè, người thân Môi trường trườngmầm non là môi trường phù hợp nhất thực hiện giáo dục hòa nhập và đồng thời vớithời kỳ can thiệp sớm

1.2.6 Biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non

Theo từ điển Tiếng việt năm 1992 của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam: Biệnpháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể

Biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non là cách thức tiếnhành cụ thể để thực hiện hiệu quả công tác giáo dục hòa nhập giúp trẻ tự kỷ có khảnăng hòa nhập cộng đồng

1.3 Một số đặc điểm cơ bản về trẻ mầm non mắc hội chứng tự kỷ

1.3.1 Những biểu hiện của hội chứng tự kỷ và trạng thái liên quan tới hội chứng

tự kỷ ở tuổi mầm non

Qua nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng các biểu hiện của trẻ tự kỷ có thể cósớm, có thể có muộn nhưng thông thường rõ nét nhất ở khoảng 3 - 5 tuổi Các biểuhiện mang tính chất đa dạng, không nằm trong một khuôn mẫu nhất định Một trẻ tự

kỷ này không hoàn toàn giống trẻ tự kỷ khác cả về biểu hiện, mức độ và thể trạng

Mặc dù các biểu hiện rõ nét nhất ở giai đoạn 3 - 5 tuổi nhưng ngay từ khi sinh

ra các chuyên gia đã ghi nhận một số biểu hiện bất thường có thể có ở trẻ Các biểuhiện có khác nhau trong từng giai đoạn phát triển Cha mẹ nên sớm nhận ra các triệuchứng bất thường ở trẻ để trẻ được khám và can thiệp kịp thời

a Các biểu hiện bất thường khi trẻ 0 - 6 tháng tuổi

Thiếu cử chỉ trao đổi vui mừng với mẹ; Không tỏ ra thái độ thích thú khi đượcngười khác quan tâm chăm sóc

Có dấu hiệu né tránh, ngoảnh mặt đi nơi khác khi mẹ ở tư thế đối diện với trẻ

Có ánh mắt nhìn bất thường, vô cảm

Im lặng cả ngày, ít cử động hoặc luôn luôn hoạt động bứt dứt không yên

Trang 28

Tư thế bất thường không thích hợp khi được mẹ bế: cứng đờ hoặc người mềm nhũn thể hiện trương lực cơ bất thường.

Rối loạn giấc ngủ: quấy khóc nhiều, ngủ ít, ngủ không yên

giấc Rối loạn ăn uống: hay nôn chớ, khó ăn b Các biểu hiện

khi trẻ 6 - 12 tháng tuổi

Trẻ không quan tâm chú ý đến người khác, chơi một mình

Không phát âm hoặc ít phát âm

Cử động lạ thường: đung đưa người, chơi với các ngón tay hoặc bàn tay ở trước mắt

Khi đặt trẻ đứng trẻ thường kiễng gót chân

Giơ tay định cầm một vật nhưng lại dừng tay trong khoảng không

Tăng hoạt động hoặc quá ù lì

Cách sử dụng hay chơi với các đồ vật bất thường

c Các biểu hiện khi trẻ 12 - 30 tháng tuổi

Không biết dùng ngón trỏ để chỉ vào một đồ vật thể hiện sự quan tâm hoặc muốn xin thứ đó khi 1 tuổi

Không nói được từ đơn khi 16 tháng

Không nói được từ đôi khi 2 tuổi

Đã nói được nhưng sau đó mất dần ngôn ngữ

Nói không phù hợp với hoàn cảnh

Nói một mình, nói lảm nhảm

Không chấp nhận giao tiếp, không kết bạn

Không tập trung chú ý

Không đáp lại khi gọi tên

Không biết chơi giả vờ

Các hành vi bất thường: rập khuôn, tự hủy, khóc la ăn vạ, đánh đập người khác Không giao tiếp bằng mắt: không nhìn vào mắt người đối thoại

Cử động cơ thể không bình thường Ví dụ: lắc lư toàn thân, lắc ngón tay, hay đưa tay trước mắt để nhìn, đi nhón gót

Trang 29

Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ.

Không chịu thay đổi thói quen

Quá nhạy cảm với một số cảm giác: âm thanh, mùi vị

Rối loạn ăn uống, tiêu hóa

d Các biểu hiện khi trẻ 30 - 72 tháng tuổi

Trẻ bị chậm nói, nếu có ngôn ngữ phát triển, có thể có chứng nhại lời (lặp lạitheo kiểu học vẹt những gì người khác nói)

Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm

Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài

Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử

Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật

Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai

Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn như cách nói nhấn giọng hay đơn điệu)

Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày

Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải thiện

Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế

Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhưng có thể dần dần cải thiện

Tự làm tổn thương mình

Tự kích động

Ngoài những biểu hiện này, khi khám bệnh, trẻ tự kỷ có những bất thường cậnlâm sàng: Gần 60% trẻ có nồng độ canxi trong máu giảm hoặc điện não đồ có sóngbất thường Các nhà nghiên cứu cho rằng có tới 70% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển trítuệ Sự phát triển nhận thức của trẻ hết sức bất thường, so sánh nhận thức xét trênmặt bằng chung thấp hơn trẻ cùng tuổi Đồng thời sự tiến triển nhận thức cũng khôngphát triển theo logic thông thường, vì ngoài chậm phát triển, trẻ còn có biểu hiện rốiloạn phát triển Do đó việc giáo dục cho trẻ tự kỷ là điều khó khăn và phức tạp.[30]

1.3.2 Phân loại hội chứng tự kỷ và các hội chứng khác trong phổ tự kỷ ở tuổi mầm non

Trang 30

a Phân loại hội chứng tự kỷ

- Căn cứ vào các khiếm khuyết trong giao tiếp xã hội, có thể chia thành bốn loại chính:

Nhóm xa lánh mọi người: coi người khác như không tồn tại, không thể hiện một dạng cảm xúc nào, không có vẻ gì đồng cảm

Nhóm thụ động: không trao đổi qua mắt nhìn nhưng khi có sự nhắc nhở cũng

có thể đáp ứng với ánh mắt của người khác

Nhóm chủ động nhưng kỳ quặc: trẻ tích cực tiếp cận với người thân mà

không chú ý đến các bạn cùng trang lứa Không chú ý gì đến cảm xúc và nhu cầu củangười đang nghe mình nói Trẻ thường nhìn chằm chằm, có khi ôm chặt, ghì chặt lấyngười khác

Nhóm hình thức, khoa trương: trẻ thường bám vào các quy tắc một cách cứngnhắc, không hiểu ý nghĩ và cảm xúc của người khác

- Theo phân loại quốc tế DSM - IV và ICD 10, tự kỷ được phân thành hai loại: Tự kỷđiển hình: tự kỷ bẩm sinh, phát hiện ngay sau khi sinh hoặc rất sớm sau sinh,

chậm phát triển và có các triệu chứng xuất hiện ngay sau khi sinh đến trước 3 tuổi

Tự kỷ không điển hình: sự phát triển bất thường hoặc suy giảm, các triệuchứng của tự kỷ chỉ biểu hiện lần đầu tiên sau 3 tuổi

- Theo mức độ

Tự kỷ mức độ nhẹ: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt tương đối bình thường, giaotiếp với người ngoài hơi hạn chế, học được các hoạt động đơn giản, kỹ năng chơi vànói được tương đối bình thường

Tự kỷ mức độ trung bình: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt, giao tiếp với ngườingoài hạn chế và nói được nhưng hạn chế

Tự kỷ mức độ nặng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với ngườingoài và không nói được

Mặc dù có sự phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung nổi bật lên sự khiếmkhuyết trong quan hệ xã hội nói chung, đặc biệt trong giao tiếp của trẻ tự kỷ

b Các hội chứng khác trong phổ tự kỷ

Trang 31

- Hội chứng Asperger: Người bệnh tỏ ra vụng về, sợ leo trèo, khi bước đi vungvẩy hai tay và chúi đầu về phía trước, tư duy thực tế, tính cách kì quặc, trí nhớ tốt, nhớlâu, có thể ám ảnh theo chủ đề Song họ vẫn có khả năng lao động và sống độc lập.

- Hội chứng Rett: Hội chứng này thường xuất hiện ở các bé gái và tuổi khởiphát thường từ 7 - 24 tháng Với các biểu hiện lâm sàng đặc trưng như mất các hoạtđộng khéo léo, mất một phần hoặc không phát triển ngôn ngữ, thường có các độngtác đặc biệt là uốn vẹo người, rối nhiễu chức năng vận động dễ dẫn đến co cứng Hộichứng này còn kèm theo sự chậm phát triển trí tuệ

- Hội chứng Landau - Klefner: được đặc trưng bởi những biểu hiện thu mình,rập khuôn, hạn chế ngôn ngữ Trẻ mắc hội chứng này đã có thời kỳ phát triển bìnhthường khi còn trước tuổi đi học, nhưng sau 6, 7 tuổi khả năng ngôn ngữ giảm dần

về vốn từ, cách diễn đạt và được xem là trẻ tự kỷ “thoái lùi”

- Hội chứng William: được đặc trưng bởi một số biểu hiện như chậm pháttriển ngôn ngữ, nhạy cảm âm thanh, giảm chú ý và các vấn đề xã hội Hơi trái ngượcvới người mắc tự kỷ, có những người có hội chứng William thích giao du và có vấn

đề về tim mạch

- Hội chứng gãy nhiễm sắc thể X: là một dạng chậm phát triển trí tuệ, trong đónhiễm sắc thể X có nhánh bị ngắn Bệnh nhân có biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ,tăng động, thiếu giao tiếp mắt, hay vỗ tay Khi trưởng thành có thể có những nét đặctrưng nổi bật như mặt dài, tay dài

- Chứng tăng động giảm chú ý (ADHD): Là một rối loạn có tính chất tâm lýthường gặp ở trẻ em, khởi phát sớm và kéo dài với các biểu hiện như: Hoạt động quámức, khó kiểm soát hành vi, kém khả năng tập trung chú ý, gây nhiều khó khăn trongsinh hoạt, học tập và trong các mối quan hệ xã hội Trẻ em không tập trung và hiếuđộng thường được chẩn đoán phát hiện ở lứa tuổi từ 4 - 6 tuổi và bé trai bị nhiều hơn

bé gái gấp 4 - 10 lần Tuy nhiên, sau này tỷ lệ rối loạn này ở bé gái cũng tăng rõ rệt

ADHD thường xuất hiện sớm trong quá trình phát triển của trẻ (thông thường làtrong 5 năm đầu tiên của cuộc đời) Mức độ thay đổi tùy thuộc vào từng cá nhân, nhưng

có khuynh hướng giảm dần (ít nhất là trên vấn đề vận động) vào tuổi thiếu niên

Trang 32

- Chứng động kinh: Động kinh là một điều kiện y tế sinh ra co giật ảnh hưởngđến một loạt các chức năng tinh thần và thể chất Động kinh và co giật liên quan đếnnhiều rối loạn, bao gồm các rối loạn phổ tự kỷ, và nghiên cứu cho thấy có một tỷ lệnào đó khoảng 20% - 35% những người mắc chứng tự kỷ cũng bị cơn động kinh.

1.4 Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

1.4.1 Vai trò, chức năng của trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

Trường mầm non và trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật đều là các cơ sở giáodục thực hiện chức năng giáo dục, hỗ trợ phát triển con người thông qua chươngtrình tác động chuyên biệt

Cùng thực hiện các chức năng giáo dục, song trường mầm non và trung tâmgiáo dục trẻ khuyết tật lại có những đặc trưng riêng

Trường có trách nhiệm tiếp nhận, sắp xếp trẻ tự kỷ vào lớp học phù hợp Trẻđược xếp học ở lớp mầm non phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi

Lớp học có tỉ lệ trẻ hợp lý, không quá đông, mỗi lớp chỉ nên xếp từ 1-2 trẻ tự

kỷ học hòa nhập Khi lớp nhận 1-2 trẻ tự kỷ, sĩ số lớp cần được giảm 3-5 trẻ để giáoviên có điều kiện giảng dạy và chăm sóc trẻ

Nhà trường có trách nhiệm tổ chức nhóm chuyên môn hỗ trợ giáo viên dạy lớphòa nhập trong công tác tìm hiểu, xây dựng và thực hiện kế họach giáo dục cá nhâncho trẻ tự kỷ

Hiệu trưởng và ban giám hiệu trường mầm non là người đóng vai trò lãnh đạotích cực mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hòa nhập

Nhà trường có sổ danh bạ theo dõi học sinh chung của trường theo các lớp vàhọc sinh khuyết tật theo đúng yêu cầu (số thứ tự, tên trẻ, ngày tháng năm sinh, dân tộc,tôn giáo, tên cha mẹ nghề nghiệp, địa chỉ khi cần báo tin, giáo viên phụ trách lớp…)

Giáo viên phải lập kế họach giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật riêng Kếhọach và giáo dục cá nhân cần có sự điều chỉnh mục tiêu giáo dục dài hạn, ngắn hạn

Kế họach giáo dục và các biện pháp thực hiện phải cụ thể để giúp trẻ đạt được mục

Trang 33

tiêu đã đề ra và có sự trao đổi thảo luận với cha mẹ trẻ và nhóm cán bộ giáo viênchuyên môn của trường.

Giáo viên có sự điều chỉnh phương pháp dạy và đánh giá phù hợp với trẻ tự kỷ Nhà trường cần bố trí đồ dùng trang thiết bị phù hợp hỗ trợ trong giáo dục trẻ tự

kỷ và đề xuất tăng cường sự hỗ trợ của gia đình và xã hội về điều kiện cơ sở vật chất, đồdùng học tập cho trẻ tự kỷ Nhà trường có sự cộng tác chặt chẽ với gia đình, cộng đồng

và các ban ngành đòan thể địa phương để huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ cho GDHN

Trường mầm non giúp trẻ tự kỷ hòa nhập thông qua nuôi dưỡng, chăm sóc vàgiáo dục Quan tâm đến yếu tố tâm lý, tinh thần của trẻ tự kỷ

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật có mục tiêu thực hiện chương trình giáo dục cánhân, phù hợp với các dạng khuyết tật khác nhau Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật giúp

đỡ trẻ tự kỷ bằng các biện pháp chăm sóc và can thiệp y học là chủ yếu Coi tự kỷ là mộtvấn đề cá nhân cần được chữa trị, coi trẻ tự kỷ thật sự có vấn đề bất thường hay khiếmkhuyết Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tập trung vào phát triển giáo dục đối với trẻ tự

kỷ trong xu hướng đã sắp đặt Cán bộ giáo viên của trung tâm giáo dục trẻ khuyết tậtthường có ít kỳ vọng vào trẻ, trẻ được nhận sự giáo dục dưới khả năng của mình

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật có trách nhiệm: Mở rộng quy mô, mô hìnhtrị liệu cho trẻ tự kỷ trên địa bàn; Bổ sung cán bộ thực hiện trị liệu; Tổ chức đào tạo,tập huấn cho đội ngũ cán bộ, nhân viên và cộng tác viên thực hiện hoạt động trị liệu

và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ, hướng tới mô hình trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ

cả ngày để đáp ứng nhu cầu của phụ huynh và gia đình Tăng cường sự phối hợp giữaTrung tâm với nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện trị liệu cho trẻ.Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án về an sinh xã hội, chăm sóc, phục hồichức năng cho trẻ tự kỷ, đẩy mạnh hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, tráchnhiệm của gia đình, cộng đồng trong việc phòng ngừa, chăm sóc và trợ giúp, phục hồichức năng cho trẻ tự kỷ, giúp trẻ sớm hòa nhập cộng đồng

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tổ chức các hoạt động can thiệp sớm, giáodục đặc biệt nhằm hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình của trẻ, giúp trẻ vượt qua khó khăn,phát triển năng lực học tập và các kỹ năng tự lập cơ bản để hoà nhập cộng đồng

Trang 34

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non có trách nhiệm cùng nhau thực hiện các nội dung:

- Lập kế hoạch giáo dục

- Xác định mục tiêu giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Xác định các phương pháp giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Xác định phương tiện tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập theo mô hìnhkết hợp

- Xác định thời gian và quy trình tác động

- Triển khai phương án kết hợp giữa giáo viên trường mầm non và cán bộ của trung tâm

- Xã hội hóa về giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

1.4.2 Mục tiêu giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

Giúp trẻ gặp khó khăn trong học tập khắc phục những điểm yếu như:

+ Cách thức giao tiếp, ứng xử;

+ Các kỹ năng sống cơ bản;

+ Tăng khả năng vận động của trẻ;

+ Phát huy tối đa các tố chất thế mạnh của trẻ về khả năng tư duy thiên về kỹ thuật, toán, tin học

+ Có thể tiếp thu được phần kiến thức cơ bản trong chương trình

Giúp trẻ dễ dàng hòa nhập cuộc sống, hòa nhập cộng đồng (nhất là đối vớinhững trường hợp mắc bệnh tự kỷ thể nhẹ hội chứng Asperger)

1.4.3 Nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

a, Hình thành kỹ năng ngôn ngữ - giao tiếp

Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản nhất trong đời sống conngười, đối với trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng khả năng diễn đạt, bày tỏcác nhu cầu và ước muốn, yêu cầu giúp đỡ, trao đổi trong đối thoại sẽ mang lại nhiều

Trang 35

cơ hội giúp cho trẻ phần nào chủ động trong môi trường xung quanh và phương pháphọc tập qua giao tiếp được nhiều hơn.

Để có thể giúp trẻ tự kỷ giao tiếp thì cần phải kiên trì trong việc dạy trẻ họccách nghe, nhìn mặt đối mặt và đặc biệt là phải làm cho trẻ thích thú và hưởng ứng

sự thích thú của trẻ Trẻ tự kỷ khả năng bắt chước kém nên nguyên tắc dạy nói trongviệc dạy trẻ là phải dựa trên nhu cầu của trẻ khi trẻ muốn một điều gì vì khi đó là trẻ

có nhu cầu nói cao nhất Giúp trẻ hiểu ngôn ngữ bằng cách ghi nhận những tìnhhuống nào trẻ có phản ứng được khi nghe nói, giúp trẻ sử dụng từ ngữ nhiều hơn (vídụ: Khi trẻ nói “bay”, bạn nói “Đúng! Máy bay màu trắng.”)… Để hình thành kỹnăng ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ tự kỷ đạt hiệu quả có thể sử dụng thêm công cụ hỗtrợ kèm lời nói: Sử dụng hệ thống giao tiếp bằng hình ảnh kèm chữ viết PECS, học

từ, câu, thời khóa biểu, câu chuyện xã hội, tăng cường sử dụng hệ thống giao tiếpbằng hình ảnh

b, Hình thành kỹ năng cải thiện quan hệ

Để cải thiện được mối quan hệ giữa trẻ tự kỷ với những người xung quanh thìtrước tiên cần giúp những người xung quanh hiểu được trẻ tự kỷ khác với trẻ bìnhthường như thế nào Trẻ có thể không thích được ôm hoặc sờ vào theo một kiểu nào

đó Giọng nói hoặc âm thanh từ các đồ chơi hoặc trò chơi có thể khiến chúng đau đớnhoặc sợ hãi Các trò chơi quá phức tạp hoặc phụ thuộc quá nhiều vào giao tiếp bằnglời có thể không thích hợp với trẻ tự kỷ…

Trẻ tự kỷ khả năng tập trung chú ý kém nên muốn cải thiện được mối quan hệgiữa trẻ với các trẻ bình thường khác thì trước khi rủ trẻ tham gia chơi phải dànhđược sự chú ý của trẻ Đơn giản hóa nhiệm vụ và có các hướng dẫn phù hợp với sứchiểu của trẻ tự kỷ, mỗi bước nên có giải thích và làm mẫu nếu có thể Khi trẻ tự kỷhợp tác hoặc làm tốt một kỹ năng, nên khen trẻ Cho trẻ một hình thức khen thưởng

sẽ tạo động lực lớn cho cả trẻ thường và trẻ tự kỷ

c, Hình thành kỹ năng mở rộng các quan hệ của trẻ với người khác và kỹ năng ứng xử phù hợp

Trang 36

Đề giúp trẻ mở rộng các quan hệ có thể cho trẻ tham gia vào trò chơi đóng vaitheo chủ đề, trên cơ sở đó trẻ sẽ mở rộng được quan hệ chơi (quan hệ giữa các vaichơi với nhau khi trẻ nhập vai trong tiến trình chơi), trẻ sẽ học được cách ứng xử,giao tiếp, thấu cảm được tình người của con người đối với con người, con người đốivới thiên nhiên, con ngưởi với thế giới đồ vật…góp phần hình thành hành vi xã hộicủa bản thân trẻ Đồng thời tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề cũng giúp trẻ

mở rộng được quan hệ thực (đó là quan hệ giữa trẻ với trẻ) Qua việc hợp tác vớinhau, trẻ học được cách cùng nhau chia sẻ, thỏa thuận, cùng nhau lập kế hoạch thựchiện, cùng nhau thực hiện

Để giúp trẻ tự kỷ hòa nhập tốt, theo các chuyên gia, giáo viên cần hiểu về hành

vi trẻ tự kỷ, gần gũi với phụ huynh, tổ chức lớp học tốt, cho trẻ tự kỷ có chỗ ngồi hợp

lý (tránh gần cửa, nơi ít trẻ khác qua lại), nói chuyện dịu dàng với trẻ, dạy trẻ bìnhthường hòa đồng với trẻ tự kỷ, phối hợp với các chuyên gia tâm lý, ngôn ngữ, âmngữ, xã hội, thần kinh… để xây dựng chương trình giáo dục, mục tiêu văn hóa, xãhội, hành vi…

d, Tập thói quen học tập thông qua chơi

Vui chơi là hoạt động không thể thiếu được của trẻ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt làtrẻ mẫu giáo Hoạt động vui chơi không những hình thành cho trẻ óc tưởng tượng,sáng tạo, phát triển ngôn ngữ và tăng cường nhận thức, mà còn giúp cho trẻ thể hiệnnăng lực, kỹ năng, tình cảm, nguyện vọng và mối quan hệ xung quanh Vui chơi vừa

là phương tiện củng cố tri thức,rèn luyện kỹ năng, vừa là hình thức phương pháp tổchức dạy học, nó có tác dụng kích thích cho trẻ phát triển được các năng lực hoạtđộng trí tuệ như tính độc lập, chủ động, tư duy linh hoạt, sáng tạo đồng thời sẽ manglại được hứng thú cho trẻ Việc tổ chức cho trẻ chơi với đồ vật, chơi với bạn và côgiáo sẽ giúp hình thành và phát triển ở trẻ tự kỷ kỹ năng thiết lập và duy trì các mốiquan hệ giao tiếp; nhận thức về thế giới xung quanh, thói quen và nhu cầu trong hoạtđộng với người khác (nhu cầu có tính xã hội)

e, Hình thành kỹ năng hoạt động thể lực

Trang 37

Phát triển vận động thô và vận động tinh, khả năng phối hợp mắt mắt, mắt tay… giúp trẻ có những kỹ năng linh hoạt hơn Vận động thô là hình thức trị liệu dễ dàng

-và đơn giản, với mục đích tăng cường khả năng hoạt hóa các hành vi, nâng cao thể lực,củng cố các hành vi tích cực, giảm thiểu các hành vi tiêu cực, nâng cao khả năng tậptrung chú ý, là giai đoạn cần thiết để trước khi thực hiện chương trình giáo dục đặc biệt

Các hoạt động thể dục tạo ra cho trẻ sự bắt chước, cùng hoạt động với bạn bètrong sự tương tác qua lại, hình thành nhận thức xã hội, tăng cường thể lực, hỗ trợ tốtcho giáo dục đặc biệt Việc tìm ra môn thể thao mà trẻ thích có thể là cánh cửa mở rathế giới cho trẻ Trong nhiều trường hợp, những môn thể thao mà người chơi đến gầnnhau như đá banh có thể làm cho các e tự kỷ không thoải mái nhưng những môn nhưgolf, câu cá có thể được ưa thích

f, Hình thành kỹ năng vệ sinh thân thể, vệ sinh quần áo, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường

Tập cho trẻ thói quen giữ vệ sinh thân thể như đầu tóc, quần áo sạch sẽ gọngàng, biết rửa tay trước khi ăn, sau khi chơi đất cát và sau khi đi vệ sinh, và dạy chotrẻ kỹ năng chải đầu, đánh răng, không vứt rác bừa bãi, biết bỏ rác vào thùng rác,không nhổ bậy… Đồng thời tập cho trẻ thói quen tự phục vụ như tự cởi, mặc quần

áo, tự đi giày, dép và biết đi đúng chân, biết xin phép và tự đi vệ sinh khi có nhu cầu

g, Hình thành kỹ năng sinh hoạt hàng ngày

Việc sinh hoạt hàng ngày của trẻ được sắp xếp theo một trình tự hợp lý nhấtđịnh nhằm điều hòa các hoạt động và nghỉ ngơi, đảm bảo trạng thái cân bằng, sảngkhoái của trẻ Cần phải chú ý đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ để từ đó rèn cho trẻthói quen tự phục vụ, thói quen nề nếp trong sinh hoạt hàng ngày Trẻ tự kỷ thường

có khó khăn trong việc hiểu được một địa điểm nhất định được sử dụng để làm gì vàloại hành vi nào cần phải có ở địa điểm đó Vì vậy trong lớp học đặc biệt phải chú ýđến việc thu xếp bố trí để trẻ tự kỷ có thể tuân theo những nguyên tắc nhất định

h, Hình thành kỹ năng chăm sóc bản thân

Trang 38

Kỹ năng chăm sóc bản thân là khái niệm tổng hợp, là khả năng có thể chăm locho cuộc sống của mình về sức khỏe, tinh thần cũng như vật chất Hiểu biết về bảnthân và biết quản lý bản thân, không để những cảm xúc tiêu cực của mình ảnh hưởngtới người khác, tới công việc chung Trẻ mầm non có khả năng học hỏi và lớn lên rấtnhanh Trẻ không thể chờ đợi để được bận rộn, thành công, và trở nên độc lập Trẻ đãbắt đầu tập tự chăm sóc bản thân từ lúc 2 tuổi.

1.4.4 Phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non

Để giúp trẻ tự kỷ hòa nhập, phương pháp giáo dục cho trẻ phải là sự kết hợp củaphương pháp giáo dục đồng loạt (đối với trẻ bình thường) và phương pháp giáo dục đặcbiệt (chuyên biệt cho trẻ tự kỷ) Có thể sử dụng một số phương pháp điển hình sau:

a, Phương pháp tâm vận động

Phương pháp này áp dụng khi trẻ có biểu hiện mất dần kiểm soát, trở nên giận

dữ, la hét Ở trường hợp này, đầu tiên ôm trẻ vào lòng, xoa dịu sự khó chịu của trẻ,giúp trẻ giảm căng thẳng và ổn định trở lại rồi từ từ hướng trẻ sang hoạt

động khác có liên quan đến vận động cơ thể ạ

í

í

b, Phương pháp cắt khúc thời gian

Khi thấy trẻ có biểu hiện nhìn chòng chọc một cách vô hồn, ánh mắt né tránhbiểu hiện trẻ quá tải về thông tin giác quan Nếu để trẻ như vậy thêm một chút nữa trẻcũng không chịu, não của trẻ không thể tập trung hay làm việc tiếp tục được Ởtrường hợp này, áp dụng phương pháp cắt khúc thời gian sao cho phù hợp với tínhcách và khả năng của trẻ Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là chia cắt thờigian và chia cắt từng hoạt động chính bằng cách chuyển hoạt động học sang hoạtđộng chơi, vận động tay chân, để thay đổi không khí và làm giảm căng thẳng ở trẻ

Phương pháp này cũng có thể áp dụng trong những trường hợp trẻ nói nhảmmột mình hoặc cố gây sự chú ý cho người khác; lúc trẻ giận dữ tự động ra khỏi chỗ,

Trang 39

hoặc đi lòng vòng Lúc này trẻ cần quan tâm, giúp trẻ thoát ra tình trạng lúc đó bằng cáchđến với trẻ vỗ về để cho trẻ biết mình vẫn ở cạnh trẻ khi cần Sau đó, mới áp dụngphương pháp cắt khúc thời gian sao cho trẻ có thể tiếp cận thực tế một cách tối đa.

từ và ý nghĩa, hiểu ngôn ngữ; dạy kỹ năng giao tiếp; đối phó với các hành vi; đặt raluật lệ; nhất quán trước sau y vậy; động viên, khích lệ; ghi chép thường xuyên nhữngtiến bộ của trẻ; làm ngơ trước những hành động muốn chú ý của trẻ; sử dụng các loạibăng hình phù hợp….tùy theo tình huống và mục tiêu bài dạy mà mình linh hoạt sửdụng các kỹ thuật dạy học trên Điển hình một số kỹ thuật linh hoạt:

Trong trường hợp trẻ có hành vi tự gây tổn hại như đập đầu, cắn vào taymình biểu hiện trẻ đang bị đau về mặt cảm xúc hoặc thể chất, mình áp dụng một sốbiện pháp sau:

+ Ngưng các hoạt động và tách trẻ ra xa những trẻ khác, rồi nhẹ nhàng ôm trẻ vào lòng, nói chuyện với trẻ để tìm hiểu trẻ đang bị đau ở đâu

+ Có thể cản trở hành vi đập đầu của trẻ bằng cách dùng tay của mình đặt lên bàn

để trẻ đập đầu vào tay mình nhằm tránh gây thương tích cho trẻ (hoặc kéo cái bàn

ra xa phía trẻ để trẻ không thể tiếp tục đập); đồng thời chờ trẻ dừng hành vi đó, rồi xoa dịu trẻ bằng cách ôm trẻ vào lòng và hỏi lí do

Trang 40

Trong một trường hợp khác, khi cả lớp đang ồn thì trẻ đột ngột hét lên và lathật to Lúc đó, nên hiểu trẻ đang cần sự yên tĩnh.

e, Phương pháp ABA (phân tích hành vi ứng dụng)

Đây là một trong số những phương pháp hữu hiệu nhất để dạy những trẻ tự kỷ.Những kỹ năng đặc biệt được dạy bằng cách chia chúng ra thành những bước nhỏ, dạymột bước trong một thời điểm và củng cố bước trước đó Nhiều năm qua, ABA được sửdụng để dạy các cá nhân với những khả năng khác nhau, và có thể được sử dụng trongtất cả lĩnh vực kỹ năng: Tự chăm sóc, lời nói và ngôn ngữ, kỹ năng cư xử xã hội

f, Phương pháp TEACCH - Treatment and Education of Autistic and related Communication handicapped children (Trị liệu và Giáo dục cho trẻ tự kỷ và trẻ có khó khăn về giao tiếp).

TEACCH là một cách tiếp cận theo suốt cuộc đời nhằm giúp những người bị

tự kỷ mà mục tiêu của nó là trang bị cho trẻ một cuộc sống hữu ích trong cộng đồng.Cách tiếp cận này bắt đầu cung cấp các thông tin thị giác, cấu trúc và sự dự đoán vìngười ta nhận ra là kênh học tập thuận lợi nhất là thông qua thị giác

g, PECS - Pictures Exchange Communication System (Hệ thống giao tiếp bằng cách trao đổi tranh).

PECS là một công cụ tốt giúp trẻ giao tiếp không lời (không cần nói từ) PECScho phép trẻ lựa chọn và giao tiếp nhu cầu Khi trẻ có thể giao tiếp và thể hiện nhưcầu của chúng, thông thường các hành vi có thể giảm nhẹ và trẻ trở nên vui vẻ hơn

PECS có thể được dùng trong nhiều cách khác nhau để giao tiếp Điển hìnhPECS là các bức tranh về đồ vật (thức ăn, đồ chơi, ) Khi trẻ muốn một trong nhữngthứ đó, trẻ đưa tranh cho đối tượng giao tiếp như bố mẹ, nhà trị liệu, người trôngnom hoặc đứa trẻ khác Đối tượng giao tiếp sau đó sẽ đưa cho trẻ đồ chơi hoặc thức

ăn để củng cố giao tiếp

Cuối cùng, các bức tranh có thể được thay thế bằng các từ và câu ngắn

Việc giới thiệu PECS có thể là một quá trình kéo dài và phức tạp, trải quanhiều tháng để hoàn thiện Đối với cuộc sống hàng ngày với một trẻ không có ngônngữ nói và cũng không sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, PECS có thể hoàn toàn là một sựtrợ giúp cho sự thiếu “phương tiện” giao tiếp

Ngày đăng: 09/06/2021, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Diệu Anh và cộng sự (2008), Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ, Hội thảo về Rối Loạn Tự Kỷ, bệnh viện Nhi Đồng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Anh và cộng sự
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quy định về giáo dục hoà nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật, Số: 23/ 2006/QĐ-BGDDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về giáo dục hoà nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục mầm non, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Catherine Maurice, Trích dịch các bài tập trong cuốn sự can thiệp về hành vi cho trẻ em Tự kỷ, Khoa Giáo dục đặc biệt Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: sự can thiệp về hành vi chotrẻ em Tự kỷ
5. Vũ Thị Chín (1987), Chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý từ 0 - 3 tuổi, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: số phát triển sinh lý, tâm lý từ 0 - 3 tuổi
Tác giả: Vũ Thị Chín
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1987
6. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật người khuyết tật, 51/2010/QH12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
7. Daniel Tammet (2010), Sinh vào ngày xanh, Tự truyện của một người Tự kỷ, một trí tuệ phi thường, Biên dịch Phạm Ngọc Diệp, Nguyễn Dung, Nxb trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh vào ngày xanh, Tự truyện của một người Tự kỷ, một trí tuệ phi thường
Tác giả: Daniel Tammet
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2010
8. Trịnh Đức Duy (2000), Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật
Tác giả: Trịnh Đức Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2000
9. Ngô Xuân Điệp (2009), Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Xuân Điệp
Năm: 2009
11. Nguyễn Minh Đức (2009) Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ - con của trẻ có nét tự kỷ, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ - con của trẻ có nét tự kỷ
12. Vũ Bích Hạnh (2004), Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, Nxb Y học
Tác giả: Vũ Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học"
Năm: 2004
13. Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Trẻ tự kỷ - Phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ tự kỷ - Phát hiện sớm và can thiệp sớm
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
14. Lê Khanh (2003), Trẻ Tự kỷ - Những thiên thần bất hạnh, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ Tự kỷ - Những thiên thần bất hạnh
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2003
15. Nguyễn Thị Thanh Liên (2009), Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ, Luận văn thạc sĩ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Liên
Năm: 2009
16. Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc (2006), Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam, Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam, Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2006
17. Quách Thúy Minh và cộng sự (2008), "Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại Khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ƣơng", Chẩn đoán và can thiệp sớm hội chứng tự kỷ ở trẻ em, Tài liệu hội thảo, tr. 27 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hànhvi của trẻ tự kỷ tại Khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ƣơng
Tác giả: Quách Thúy Minh và cộng sự
Năm: 2008
18. Lê Văn Tạc (2008), Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Tác giả: Lê Văn Tạc
Năm: 2008
19. Phạm Ngọc Thanh (2008), "Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng tại Bệnh viện Nhi đồng 1", Bệnh tự kỷ ở trẻ em, Tài liệu hội thảo, tr. 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộngđồng tại Bệnh viện Nhi đồng 1
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh
Năm: 2008
20. Nguyễn Thị Thanh (2014), Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lứa tuổi 3-4 tuổi, Luận án tiến sỹ khoa học giáo dục, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lứa tuổi 3-4 tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Năm: 2014
21. Nguyễn Văn Thành (2006), Trẻ em Tự kỷ phương thức giáo dục, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em Tự kỷ phương thức giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Thành
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w