Xuất thân từ cây trồng hoang dại,qua quá trình chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo mà cây ngô nay đã trở nên đadạng hơn, có thêm nhiều dòng, nhiều giống mới, có khả năng thích ứng rộng
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2NGHỆ AN - 5.2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài:“Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một
số tổ hợp ngô lai mới vụ Đông Xuân 2011 - 2012 tại xã Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An” được thực hiện từ ngày 20/10/2011 - 30/02/2012 Đề tài sử dụng nhiều
nguồn thông tin khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, số liệu đãđược tổng hợp và xử lý
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là hoàntoàn trung thực và chưa từng được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài đã được cảm
ơn và mọi thông tin khóa luận đã được nghi rõ nguồn gốc
Vinh, ngày … tháng … năm2012
Sinh viên
Hồ Khắc Duy
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình ông Trương Xuân Minh vàUBND xã Nam Anh, Nam Đàn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận tốtnghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè trong tập thể 49K2 Nông học đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
-Cuối cùng tôi bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Hồ Khắc Duy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Ưu thế lai và ứng dụng trong chọn tạo tổ hợp 4
1.1.2 Khảo nghiệm và đánh giá giống về các đặc tính nông sinh học 5
1.1.3 Các kết quả khảo nghiệm, nghiên cứu ngô của Việt Nam 6
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô Thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam 12
1.3 Nguồn gốc và phân loại cây ngô 15
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Nội dung nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 17
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
2.3.2 Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc 18
2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu 19
2.4 Diễn biến thời tiết khí hậu Nghệ An vụ Đông Xuân 2011-2012 23
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai 25
3.1.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển 25
3.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai 30
3.1.3 Động thái ra lá của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 33
3.2 Một số chỉ tiêu hình thái của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm 34
3.2.1 Chỉ tiêu về thân lá 34
3.2.2 Các chỉ tiêu về hình thái bắp 36
3.3 Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm 38
3.3.1 Tình hình sâu bệnh hại 38
3.3.2 Khả năng chống đổ 41
3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai 43
3.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 43
3.4.2 Năng suất và chất lượng các tổ hợp lai 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2012 23
Trang 8Bảng 3.1 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát
triển của các tổ hợp 26 Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp 31 Bảng 3.3 Động thái ra lá của các tổ hợp qua các định kỳ theo dõi 33 Bảng 3.4 Một số đặc trưng hình thái của các tổ hợp tham gia thí
nghiệm 35 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về bắp của các tổ hợp lai tham gia thí
nghiệm 37 Bảng 3.6 Tình hình sâu bệnh hại của các tổ hợp lai tham gia thí
nghiệm 39 Bảng 3.7 Khả năng chống đổ của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm
41 Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai ngô thí
nghiệm 43 Bảng 3.9 Năng suất của các tổ hợp lai thí nghiệm 46
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Tương quan giá ngô trong nước và thế giới trung bình theo
tháng 2008 - 2010 15
Hình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp 32
Hình 3.2 Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp 34
Hình 3.3 Năng suất bắp tươi của các tổ hợp 47
Hình 3.4 Năng suất lý thuyết - năng suất thực thu của các tổ hợp lai 48
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới cây ngô đã được biết đến từ rất lâu và được trồng rộng rãi ởcác nước, các miền và các vùng đất khác nhau Xuất thân từ cây trồng hoang dại,qua quá trình chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo mà cây ngô nay đã trở nên đadạng hơn, có thêm nhiều dòng, nhiều giống mới, có khả năng thích ứng rộng vớinhiều vùng sinh thái khác nhau, cho năng suất cao, chống chịu được với điềukiện bất lợi của ngoại cảnh
Ngô (Zea mays L) hay còn gọi là bắp có nguồn gốc từ Trung Mỹ xuất hiện
cách đây khoảng hơn 60.000 năm Thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và nhântạo ngày nay cây ngô đã trở thành một trong ba cây lương thực quan trọng trongnền nông nghiệp thế giới Hiện nay nhu cầu về ngô đang tăng nhanh ở qui môtoàn cầu, do ngô không chỉ được dùng làm thức ăn chăn nuôi và lương thực chongười mà hiện nay lượng ngô để chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) đangngày một tăng nhanh Nếu năm 1990, lượng ngô xuất nhập khẩu trên thế giới làtrên 66 triệu tấn, đến năm 2000 đã tăng lên 90 triệu tấn và đạt trên 100 triệutấn vào năm 2008 (Faostat, 2009) [15] Với đặc tính thích nghi rộng cho nênngày nay cây ngô đã có mặt hầu như ở tất cả các nước trên thế giới Hàng nămdiện tích, năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên đặc biệt ở Nam Mỹ
và Châu Phi, ngô đã trở thành cây trồng đảm bảo an ninh lương thực, góp phầnchuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng từ trồng trọt sang chăn nuôi trênphạm vi toàn thế giới.[13]
Việt Nam, với dân số trên 80 triệu người và diện tích đất dành cho sảnxuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, bình quân 1,381 m2 trên đầu người vào
triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, các khu đô thị Trong khi đó nhu cầungô làm lương thực và thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp chếbiến ngày càng tăng, thách thức đặt ra là phải tăng năng suất để đáp ứng nhu cầunày Nhà nước ta cũng đã có chiến lược phát triển ngô trên phạm vi cả nước Đối
Trang 11với vùng có phát triển thâm canh thì sản xuất ngô lai có tiềm năng và năng suấtcao Đối với vùng khó khăn thì phát triển ngô thụ phấn tự do vừa đạt năng suấtcao vừa đem lại hiệu quả kinh tế Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có nhữngnhảy vọt nhất là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng
mở rộng tổ hợp ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuậtcanh tác theo đòi hỏi của tổ hợp mới (Năm 2007, diện tích ngô lai chiếm khoảng95% trong số hơn 1 triệu ha) Trong suốt 20 năm qua năng suất ngô nước ta tăngnhanh liên tục với tốc độ cao, năm 1990 năng suất ngô nước ta chỉ bằng 42% sovới trung bình thế giới (15,5/37 tạ/ha); năm 2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha); năm
2007 đã đạt 81,0 % (39,6/49 tạ/ha); đến năm 2010 sản lượng đã đạt 4431,84 triệutấn và năng suất đạt 40,8tạ/ha [15]
Tuy nhiên, sản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra: năng suấtvẫn thấp so với trung bình thế giới, giá thành sản xuất còn cao, sản lượng chưađáp ứng đủ nhu cầu trong nước đang tăng nhanh, những năm gần đây phải nhập
từ 500 - 700 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi [6] Một vấn đề quantrọng được đặt ra là đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngô để đemlại những sản phẩm có năng suất chất lượng cao hơn đồng thời đáp ứng tính bềnvững lâu dài
Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu hiện tại và mục tiêu phát triển thì côngtác chọn tạo tổ hợp ngô mới có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh cóvai trò hết sức quan trọng Trong đó khảo nghiệm tổ hợp qua nhiều mùa vụ, vùngsinh thái là cơ sở để đánh giá và lựa chọn tổ hợp có tiềm năng năng suất cao phùhợp với điều kiện sinh thái vùng, địa phương Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên
chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng
suất của một số tổ hợi ngô lai mới vụ Đông Xuân 2011 - 2012 tại xã Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An”.
Trang 122 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất củacác tổ hợp trong khảo nghiệm Chọn ra những tổ hợp ngô lai năng suất và chấtlượng cao, giới thiệu các tổ hợp đã được xác định có triển vọng tốt phục vụ công tácchọn tổ hợp ngô cho vùng sinh thái cụ thể
2.2 Yêu cầu
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai
Đánh giá tình hình sâu hại trên các tổ hợp, khả năng chống chịu sấu hạicủa các tổ hợp
Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Theo dõi, đánh giá một số đặc tính nông sinh học, năng suất cụ thể, khảnăng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai mới, thông qua đó nhà chọn tổhợp có định hướng xác định được đặc tính của từng tổ hợp và đưa ra sản xuất.Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho các côngtrình nghiên cứu về cây ngô
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua đánh giá một số đặc tính sinh trưởng, phát triển, khả năng thíchnghi với điều kiện cụ thể của vùng, năng suất cụ thể của một số tổ hợp ngô lai cóthể xác định được tổ hợp có đặc tính tốt, năng suất cao, chất lượng tốt có thể đưavào sản xuất thử tại địa phương
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Ưu thế lai và ứng dụng trong chọn tạo tổ hợp
Ưu thế lai là hiện tượng di truyền, trong đó con lai biểu hiện sức sống, cácđặc tính hình thái, sinh lý, khả năng thích nghi, khả năng chống chịu và năng suấtcao hơn hẳn bố mẹ của nó
Năm 1917 giả thuyết về tính trội do Jones đề xướng Giả thuyết này chorằng ưu thế lai là quả củ sự tương hỗ giữa nhiều gene trội có lợi cho sự sinh trưởng.Các tính trạng có lợi cho sự sinh trưởng của cơ thể do nhieeug gene trội kiểm soát,còn các gene lặn tương ứng thì có tác dụng ngược lại Mặc dù thuyết tính trội cótính phổ cập rộng rãi nhưng vẫn còn hạn chế trong khi giải thích một số trườnghợp Thực nghiệm ở ngô cho thấy sự tương ứng giữa các sức sống của các dòng
tự phối với số lượng các gene trội và khả năng kết hợp giữa các dòng tự phối lạikhông phù hợp với thuyết tính trội.[10]
Nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực chọn tạo giống ngô lai quy ước làGeorge Herrison Shull Năm 1904, Shull lần đầu tiên tiến hành tự phối cưỡng bức ởngô để thu được các dòng thuần và đã tạo ra những tổ hợp lai từ những dòng thuầnnày Năm 1914, chính ông đã đưa vào tài liệu khoa học thuật ngữ “Heterosis” để chỉ
ưu thế lai
Ngày nay “ưu thế lai” là một cụm từ rất thông dụng với mọi người trong lĩnhvực nông nghiệp Nó đã được nghiên cứu rất sâu về mặt lý thuyết và thực nghiệm nhằmgiải thích các hiện tượng và tạo ra tổ hợp lai ưu tú ứng dụng trong sản xuất Tuy nhiêncho đến nay thì chưa có một công trình nào giải thích được trọn vẹn các biểu hiện của
ưu thế lai, song thuyết tính trội và thuyết siêu trội có lẽ nhận được sự ủng hộ của nhiềunhà khoa học Ưu thế lai được biểu hiện ở hầu hết các tính trạng và được các nhà ditruyền chọn tổ hợp chia thành 4 dạng biểu hiện:
- Ưu thế lai về sinh sản
- Ưu thế lai về sinh dưỡng
Trang 14- Ưu thế lai về tính thích ứng
- Ưu thế lai về tính tích lũy
Đối với cây ngô, ưu thế lai về năng suất có vai trò quan trọng nhất, thể hiện qua
sự tăng các yếu tố cấu thành năng suất như: chiều dài bắp, số hàng hạt, số hạt trên hàng,
tỷ lệ hạt trên bắp…Ưu thế lai ở ngô với các tổ hợp lai đơn có thể đạt từ 193 - 263% sovới trung bình của bố mẹ ).[10]
Để so sánh năng suất của con lai, ưu thế lai có thể biểu thị bằng ba cách:
ưu thế lai trung bình bố mẹ (so với trung bình của bố mẹ), ưu thế lai bố mẹ caohay ưu thế lai thực (so với bố mẹ tốt nhất) và ưu thế lai chuẩn (so với tổ hợp tiêuchuẩn)
1.1.2 Khảo nghiệm và đánh giá giống về các đặc tính nông sinh học
Trong công tác chọn giống, sau khi tạo được giống mới chúng ta không thể đemngay vào sản xuất được mà phải qua công tác khảo nghiệm và so sánh giống rất lâu dài
và phức tạp để đánh giá được đúng chất lượng của giống
Khảo nghiệm giông tức là gieo trồng tổ hợp đó ở nhiều vụ, nhiều vùng sinh tháikhác nhau, ở các điều kiện tự nhiên khác nhau Để từ đó chúng ta đánh giá được khảnăng sinh trưởng phát triển, khả năng thích nghi, tính ổn định, độ đồng đều, tính chốngchịu với các điều kiện bất lợi, các đặc tính nông sinh học, các biểu hiện về năng suất,phẩm chất của giống Việc khảo nghiệm tổ hợp được Nhà nước (Bộ NN&PTNT) banhành theo quy định - Tiêu chuẩn ngành (TCN)
So sánh giống để đánh giá được sự khác nhau giữa các giống, để tìm ra giốngnào tốt giống nào không tốt Nhằm chọn lọc những giống đáp ứng nhu cầu và loại bỏnhững tổ hợp không thích hợp
Khảo nghiệm và so sánh giống là không thể thiếu trong công tác chọn giống bởi
đó là cơ sở để đánh giá cuối cùng và quan trọng nhất về chất lượng giống, quyết địnhgiống có được đưa vào sản xuất hay không
Giữa con lai và dòng bố mẹ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Do vậy để đánhgiá chính xác các đặc điểm của tổ hợp lai trước tiên ta phải đánh giá dòng bố mẹ về một
số đặc tính cần quan tâm như:
Trang 15+ Dòng làm bố: Bông cờ có nhiều nhánh, nhiều phấn, phấn tập trung, phát tántốt, chống chịu được với những điều kiện bất thuận, chống đổ tốt.
+ Dòng làm mẹ: Năng suất phải cao, bắp to, nhiều hạt, sâu cay, kết hạt tốt, râu ratập trung, lá bi bao kín, ít bị bệnh thối bắp và các bệnh về lá
Do nước ta nằm trong đới khí hậu gió mùa ẩm nên các dòng bố mẹ được chọncần thích nghi với chống chịu hạn, sâu bệnh, chống đổ tốt
1.1.3 Các kết quả khảo nghiệm, nghiên cứu ngô của Việt Nam
Trong những năm qua, ngành trồng ngô của nước ta đã đạt được nhữngthành tựu hết sức to lớn Sở dĩ chúng ta đạt được những thành quả này là doĐảng, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thấy được vai tròcủa cây ngô trong nền kinh tế, kịp thời đưa ra những chính sách, chương trình vàbiện pháp phù hợp nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học và mở rộng sảnxuất Chính vì vậy mà các nhà khoa học đã nắm bắt xu thế, nhạy bén đưa ranhững tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là đưa tổ hợp mới vào sản xuất Từngthế hệ tổ hợp đã được thay thế nhau đưa vào sản xuất: Tổ hợp thụ phấn tự do tốtthay cho các tổ hợp địa phương năng suất thấp, tổ hợp lai quy ước thay cho các
tổ hợp lai không quy ước, lai đơn thay dần cho lai kép, lai ba…
Những kết quả nghiên cứu chọn tạo tổ hợp ngô mới phục vụ sản xuấtđược thể hiện qua các đề tài:
1 Giai đoạn 1986 - 1990, đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô cónăng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu các điều kiện bất thuận của môi trườngphục vụ sản xuất các vùng sinh thái của Việt Nam” đã tập trung chủ yếu vàochọn tạo và phát triển các giống ngô thụ phấn tự do Các tổ hợp ngô tiêu biểunhư: VM1, MSB49, TSB2… đã thay thế nhanh chóng các giống ngô địa phương
và góp phần đưa năng suất bình quân ngô lên 15 tạ/ha ).[15]
2 Giai đoạn 1991 - 1995, đề tài mang tên: “Nghiên cứu lai tạo, chọn lọc
bộ giống ngô mới có thời gian sinh trưởng khác nhau, thích hợp với cơ cấu mùa
vụ, các vùng sinh thái trong nước, chống chịu những điều kiện bất thuận, có năngsuất cao, phẩm chất tốt Phương thức sản xuất hạt tổ hợp thụ phấn tự do, hạt tổ
Trang 16hợp ngô lai có chất lượng tốt phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội” Với mụcđích tiếp tục cải thiện, nâng cao các giống ngô thụ phấn tự do, hoàn thiện quytrình sản xuất hạt giống ngô thụ phấn tự do, bước đầu nghiên cứu sản xuất thửcác giống ngô lai không quy ước và quy ước Kết quả đạt được: nâng cao năngsuất bình quân ngô từ 15 tạ/ha lên 20 tạ/ha.[8]
3 Giai đoạn 1996 - 2000, đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống cây màu,rau năng suất cao, chất lượng tốt” đã đưa ra sản xuất nhiều giống ngô lai, đadạng về thể loại (lai đơn, lai kép, lai ba) về thời gian sinh trưởng, góp phần nângcao tỷ lệ tổ hợp ngô lai trong sản xuất và đạt năng suất bình quân từ 20 tạ/ha lên27,5 tạ/ha
4 Giai đoạn 2001 - 2005, đề tài: “Nghiên cứu tổ hợp ngô lai thích hợpcho các vùng sinh thái” đã thiết lập được mạng lưới ở các vùng trồng ngô chính.Nếu trước đây công tác chọn tạo giống chủ yếu tập trung ở Viện nghiên cứuNgô, thì nay đã được mở rộng ra một số cơ quan khác ở các vùng sinh tháinhư Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi (cho vùng miềnnúi phía Bắc), Phòng nghiên cứu Bắp Viện khoa học kĩ thuật Nông Nghiệpmiền Nam (cho Đông Nam Bộ và Tây Nguyên), Viện lúa Đồng bằng sôngCửu Long (cho Miền Tây Nam Bộ)… Mục tiêu nghiên cứu cũng tập trung vàochất lượng và khả năng chống chịu (đặc biệt là tính chịu hạn, chống đổ vàbệnh hại ngô) của các giống lai đơn - chủng loại thể hiện ưu thế lai cao nhất
Những tổ hợp có triển vọng và các tổ hợp mới tạo ra sau này của các cơquan nghiên cứu tổ hợp cũng góp phần cùng các tổ giống ưu tú từ giai đoạn trước
và các giống mới của công ty nước ngoài nhập nội thúc đẩy sản xuất, nâng cao tỷ
lệ giống lai trên 80% diện tích và năng suất từ 27,5 tạ/ha giai đoạn trước lên 35,2tạ/ha năm 2005
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới
Một trong những thành tựu lớn nhất của các nhà chọn tổ hợp cây trồng thế
kỷ XX là việc ứng dụng ưu thế lai vào sản xuất hạt tổ hợp ngô lai (Trần Việt Chi,
Trang 171993)[1] Hiện nay trên thế giới có rất nhiều cơ qua tổ chức nghiên cứu về câyngô, trong đó cơ quan đóng vai trò quan trọng nhất trong công tác chọn giốngngô đó là trung tâm cải lương giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT CentroInternacional de Mejoramiento de Maiz Y Trigo) được thành lập năm 1966 tạiMêhico Từ khi thành lập tới nay ,CIMMYT đã tạo ra một khối lượng lớn cácdòng thuần Đây là nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác nguồn chọn tạo giốngngô để cung cấp cho các cơ quan nghiên ở các quốc gia trên khắp thế giới.Nghiên cứu và áp dụng ưu thế lai cho cây ngô được tiến hành sớm nhất và hiệuquả nhất là ở Mỹ Các nhà di truyền cải tiến giống đã sớm thành công trong việcchọn lọc và lai tạo giống ngô Theo E.Rinke (1979), việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹbắt đầu từ năm 1930, đến năm 1957 chủ yếu sử dụng giống lai ba và lai kép sau đógiống lai đơn cải tiến và lai đơn được tạo ra và sử dụng chiếm 80 - 85% tổng số giốnglai, trong đó hơn 90% lai đơn Ở Châu âu việc nghiên cứu tạo giống ngô lai bắt đầumuộn hơn mỹ 20 năm và đạt được thành công rực rỡ Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai rấtlớn và nó đã góp phần tạo nên năng suất cao ở nhiều nước như Mỹ, Achentina,Braxin, Mecico, Pháp, Italia….( theo FAO 2008) Trung Quốc là nước có diện tíchngô đứng thứ 2 thế giới và là quốc gia sản xuất ngô lai số 1 Châu Á, với diện tíchnăm 2007 là 28,6 triệu ha trong đó hơn 90% diện tích trồng bằng giống ngô lai.Năng suất ngô bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5 tấn/ha, năm 1950 lên5,18 tấn/ha Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là một trong những nước đầu tưđáng kể cho chương trình sản xuất ngô khá sớm, song gần đây đã chững lại.[Nguồn FAO]
Cùng với việc ứng dụng thành công hiện tượng ưu thế lai vào chọn tạogiống theo phương pháp truyền thống thì việc ứng dụng công nghệ sinh họctrong chọn tạo giống cây trồng cũng được triển khai và đạt được những kết quảquan trọng như: sử dụng chỉ thị phân tử phân tích đa dạng di truyền phân nhóm
ưu thế lai, tạo giống chịu hạn, chuyển gen chống chịu vào các dòng thuần có khảnăng kết hợp cao Đó là cơ sở tạo ra những giống tốt góp phần tăng nhanhnăng suất ngô trên thế giới Việc ứng dụng công nghệ gen được phát triển mạnh
Trang 18từ đầu những năm 90 và hiện nay vẫn đang tăng mạnh Năm 2004 có 81 triệu hacây trồng biến đổi gen, trong đó ngô kháng sâu đục thân và kháng thuốc trừ cỏ có19,3 triệu ha (chiếm 24%) Diện tích trồng ngô chuyển gen lớn nhất ở nước Mỹ,năm 2005 diện tích được trồng bằng giống được tạo ra bằng công nghệ sinh họcchiếm 52%, năng suất ngô nước Mỹ đạt hơn 10 tấn/ha trên diện tích 30 triệu ha.Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới đã đạt 35,5 triệu ha,riêng ở Mỹ đã lên đến 29 triệu ha, chiếm 77% trong tổng số hơn 37,9 triệu hangô của nước này [10]
Công tác nghiên cứu lai tạo giống ngô hiện nay đang có bước chuyển biếnmới, trong những năm gần đây việc nghiên
cứu tạo ra những dòng đơn bội kép (Double Halploid - DH), dòng thuần vềmặt di truyền (Chomozygous lines) bằng nuôi cấy invitro đã giúp cho công việctạo ra các dòng thuần một cách nhanh chóng, tiết kiệm được hơn nửa thời gian sovới việc tạo dòng bằng phương pháp thông thường (Ngô Hữu Tình và cs,1999)[12]
Nhờ vào việc ứng dụng thành tựu các công trình nghiên cứu chọn tạogiống ngô và cải thiện các kĩ thuật canh tác như: tăng mật độ, làm đất tốithiểu, bón phân hợp lý… Chính vì vậy ngành sản xuất ngô thế giới tăng liêntục từ đầu thế kỷ XX đến nay nhất là trong gần 20 năm trở lại đây, ngô là câytrồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủyếu Vào năm 1990, năng suất ngô trung bình của thế giới 36,8 tạ/ha, năm 2004
đã đạt 49,9 tạ/ha Năm 2007, diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 157 triệu
ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 766,2 triệu tấn Và Theo dựbáo đầu tiên của Bộ nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng ngô thế giới năm 2010/11
sẽ đạt 853,03 triệu tấn, tăng 26,46 triệu tấn so với sản lượng 808,57 triệu tấn củanăm 2009/2010
Trang 19Bảng 1.1 Tình hình Sản xuất ngô Thế giới giai đoạn 1990 - 2010
Nguồn :FAO STAT, 2010
Đặc biệt, từ 10 năm nay cùng với những thành tựu mới trong chọn tạogiốnglai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việcứng dụng công nghệ cao trong canh tác ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thếgiới vượt lên trên lúa mì và lúa nước Với 52% diện tích trồng bằng giốngđượctạo ra bằng công nghệ sinh học, năng suất ngô nước Mỹ năm 2005 đạt hơn 10tấn/ha trên diện tích 30 triệu ha
Lượng ngô thương mại trên thế giới từ 1999 đến nay chiếm từ 10,6% đến12,9% tổng sản lượng ngô Xu thế nhập khẩu ngô vẫn tăng mạnh do nhu cầu thức
ăn chăn nuôi tăng Hàng năm, Mỹ là nước dẫn đầu xuất khẩu ngô, chiếm khoảng60%-73% tổng lượng ngô thương mại thế giới, và dự kiến chiếm 70% vào năm
2013 (USDA, 2008) [7] Kế đến là Achentina, xuất khẩu khoảng 10 triệu tấn/năm
và dự kiến sẽ được 14 triệu tấn ngô (2013), Braxin xuất được 5 triệu tấn/năm và
sẽ giữ vững ở mức này vì nhu cầu trong nước cần nhiều Trong khi đó nhiềunước trong khối EU, Đông Á, Đông Nam Á, và vùng Tây và Nam Phi vẫn lànhững nước nhập khẩu ngô chính Các loại hình thương mại ngô không có gìthay đổi lớn, trừ khi các quy định về cây trồng chuyển gen của Mỹ có hiệu lực.Thương mại ngô ở vùng Châu á sẽ tăng mạnh, chủ yếu phụ thuộc vào ngô TrungQuốc Một số nước Châu Phi khó xuất nhập khẩu ngô vì cước vận chuyển quácao (CIMMYT, 2008)[11]
Trang 20Bảng 1.2 Thương mại ngô thế giới từ năm 1999 đến năm 2008
Niên vụ
Tổng sản lượng (Tr.tấn)
Thương mại thế giới Thương mại của Mỹ
Số lượng (Tr.tấn)
% so với tổng sản lượng
Số lượng (Tr.tấn)
% so với thương mại thế giới
Từ cuối năm 2006 đến nay, xu hướng giá ngô thế giới tăng mạnh: tại Mỹ là
164 đô la/tấn (1/2007); tại Achentina là 177 đô la Mỹ/tấn Đến tháng 4/2008 thì giángô tại Mỹ đã tăng lên 236 đô la Mỹ/tấn So với cùng kỳ năm trước, giá ngô đãtăng từ 89% - 94% ( Báo kinh tế Việt Nam, 4/2008) [4], tuy nhiên xu hướng nàychưa thể khẳng định vì xu hướng sử dụng ngô chế biến ethanol vẫn đang đượcthảo luận
Dự kiến cho nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực và thức ăn gia súc chotới năm 2020, năm mà lần đầu tiên dự kiến nhu cầu về ngô sẽ cao hơn nhu cầu vềlúa mì và gạo Thách thức đặt ra là làm thế nào để sản xuất thêm được 266 triệutấn ngô đáp ứng nhu cầu tiêu thụ khoảng 851 triệu tấn trên toàn cầu vào năm
2020 [6] Trong số 266 triệu tấn ngô cần sản xuất thêm này thì các nước đangphát triển cần tới 80% hay tương đương 214 triệu tấn Do vậy, đối với các nướcđang phát triển vấn đề đặt ra là phải tối đa hoá sản lượng sản xuất trong nước đểđáp ứng phần lớn nhu cầu gia tăng thêm của họ khi mà nhập khẩu dự kiến chỉtiếp tục đáp ứng được 10% nhu cầu
Hiện nay, trên thế giới ngành công nghiệp chế biến nhiên liệu Ethanol
Trang 21đang phát triển rất mạnh Hai nước sản xuất Ethanol nhiều nhất là Mỹ và Braxinvới sự trợ cấp của chính phủ Trong đó Mỹ sản xuất Ethanol chủ yếu từ ngô, năm
2005 trong tổng số 9,66 tỉ gallon Ethanol (1 gallon = 3,78 lít) sản xuất trên thếgiới, Mỹ sản xuất 44,5% từ ngô, năm 2006 - 2007 sử dụng 50,4 triệu tấn Tínhđến cuối năm 2009, Mỹ đã sản xuất 12,5 tỉ gallon mỗi năm Và dự báo đến năm
2012 sẽ dùng khoảng 190,2 triệu tấn cho việc chế biến ethanol (FAOSTAT,2008)[15].Với đà sản xuất nguyên liệu Ethanol tại Mỹ ngày một tăng đang làmảnh hưởng đến thị trường ngô thế giới vì Mỹ chiếm 40% sản lượng ngô của thếgiới, và chiếm 50% lượng ngô xuất khẩu trên toàn cầu Như vậy nhu cầu tiêu thụngô trên thế giới đang tăng với tốc độ khá cao, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏđến lượng ngô xuất khẩu và nhu cầu lương thực của thế giới
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam
Việt Nam từ giữa những năm 1980 thông qua sự hợp tác với Trung tâm cảilương Lúa Mỳ Quốc tế (CIMMYT) nhiều giống ngô cải tiến đã được trồng ở nước
ta như VM1, HSB1, TH2A …đã đưa năng suất trung bình của nước ta lên 1,6 tạ/havào đầu nhưng năm 1990 Mặc dầu đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưngsản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vẫn đề đặt ra, năng suất vẫn thấp so với trungbình thế giới ( khoảng 81%) và rất thấp so với năng suất thí nghiệm Giá thành sảnxuất còn cao, sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước đang tăng lên rấtnhanh Theo số liệu của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ước tính năm
2010, nước ta phải nhập khoảng 1,6 triệu tấn ngô, tăng 350 nghìn tấn so với năm
2009 để làm thức ăn chăn nuôi làm cho giá thành thức ăn chăn nuôi tăng lên cao.Song đây cũng là thông tin vui vì đời sống nhân dân ta ngày được cải thiện Các sảnphẩm chế biến từ ngô còn đơn điệu chủ yếu là làm thức ăn chăn nuôi, công nghệ sauthu hoạch chưa được chú ý đúng mức… Nhiều vấn đề đặt ra cho nghành sản xuấtngô thế giới nói chung và nước ta nói riêng, khí hậu toàn cầu đang biến đổi phứctạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt ngày càng nặng nề hơn, nhiều bệnh hại mới xuất hiện
Với công tác nghiên cứu và tạo tổ hợp, bộ giốngthực sự chịu hạn và các điềukiện bất thuận khác như đất xấu, chua phèn, kháng sâu bệnh có thời gian sinh trưởng
Trang 22ngắn đồng thời cho năng suất cao ổn định, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chongười sản xuất vẫn chưa nhiều Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự cónhững bước đột phá khi chương trình phát triển giống lai thành công Sau nhữngthành công trong việc chọn tạo các giống lai không quy ước như LS - 3, LS - 5, LS -
6, LS - 7…Các giốngnày có năng suất 3 - 7 tấn/ha đã được mở rộng nhanh chóngtrên phạm vi toàn quốc Tiếp đến là những thành công trong công tác nghiên cứugiống lai quy ước, trong một thời gian ngắn các nhà nghiên cứu ngô Việt Nam đãtạo ra hàng loạt các giống tốt cho năng suất cao từ 7 - 10 tấn/ha như: LVN10,LVN4, LVN17, LVN25, LVN99…Các giốngnày không thua kém các giốngcủacông ty giống nước ngoài về cả năng suất và chất lượng (Ngô Hữu Tình, 1999)[12].Các tác giả Ngô hữu tình, Lưu Phúc Sắt, Tạ Duy Mạnh và cộng sự qua thời giannghiên cứu, chọn lọc tạo ra giống LVN99 từ các dòng bố mẹ rút ra từ các giống lai
ưu tú nhập nội có nguồn gốc nhiệt đới Cùng với phương pháp chọn tạo giốngtruyền thống ngày càng hiệu quả hơn thì việc ứng dụng công nghệ sinh học để tạo racác giống có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận sinh học và phi sinh học
đã đạt được nhưng kết quả quan trọng, trong đó đáng chú ý nhất là cây ngô biến đổigen kháng thuốc trừ cỏ, kháng sâu đục thân, kháng vi rút Không chỉ Bắc Mỹ màcòn nhiều nước ở châu Âu, châu Á, Mỹ latinh và gần ta là Philippin cũng đã trồngngô chuyển gen Việt Nam cũng đã khởi động chương trình này, tháng 3/2008 nước
ta ra quyết định cho phép trồng thử nghiệm cây trồng chuyển gen tại nước ta Một
số giốngngô biến đổi gen là: NK66BT11, NK66Stack, TC1507 Các nhà khoahọc ở Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam cho biết, các giống ngô này có sứckháng sâu bệnh rất cao Ngô biến đổi gen còn chống chịu được thuốc trừ cỏ Khiphun thuốc trừ cỏ với liều cao cây vẫn phát triển bình thường (các loài ngô giống
cũ cây chết sau bảy ngày phun thuốc trừ cỏ) Qua kết quả khảo nghiệm này, từnăm 2011 các giống ngô biến đổi gen sẽ được đưa vào trồng đại trà
Bên cạnh công tác nghiên cứu, chọn tạo giống ngô cho năng suất cao phẩmchất tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh hại và điều kiện bất thuận thì công tác khảonghiệm cũng rất cần thiết nhằm xác định các giống ngô thích hợp với điều kiện sinhthái, kinh tế- xã hội cho từng vùng, trên cơ sở đó xây dựng cơ cấu giống cây trồng
Trang 23và luân canh tối ưu góp phần quan trọng vào sản xuất ngô hiệu quả và bền vững.
Theo thống kê năm 1991 diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1% trên hơn
400 nghìn ha trồng ngô, đến năm 2007 giống lai đã chiếm khoảng 95% trong số hơn 1triệu ha Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thếgiới trong suốt hơn 20 năm qua Năm 1961, năng suất ngô nước ta bằng 58% trungbình thế giới (11,2/19,4 tạ/ha) Nhưng 20 năm sau đó, trong khi năng suất ngô thế giớităng liên tục thì năng suất của ta lại giảm, và vào năm 1979 chỉ còn bằng 29% so vớitrung bình thế giới (9,9/33,9 tạ/ha) [14]
Từ năm 1980 đến nay, năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ caohơn trung bình thế giới Năm 1980 bằng 34% so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha);năm 1990 bằng 42% (15,5/37 tạ/ha); năm 2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha); năm 2005bằng 73% (36/49 tạ/ha) và năm 2009 đã đạt 40,8 tạ/ ha
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1961 - 2010
Trang 24Hình 1.1 Tương quan giá ngô trong nước và thế giới trung bình theo tháng
2008 - 2010
Nguồn: Agromonitor, Ghi chú: giá trong nước lấy tại tỉnh Đồng Nai
Vì vậy để sản xuất ngô Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suấttrung bình của thế giới, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu, chọn tạo ra các giống ngôlai năng suất cao, kháng sâu bệnh và phù hợp với điều kiện vùng, địa phương
1.3 Nguồn gốc và phân loại cây ngô
Những nghiên cứu gần đây đã có những phát hiện về nguồn gốc cây ngônhư Rong - lin wang, Adrian Stec, Jody Hey, Lewis Lukens & John Doebly, năm
1999 cho rằng ngô được thuần hóa từ loài cỏ mexican hoang dại teosinte (Zea
mays ssp Parviglumis hoặc ssp mexicana) Những bằng chứng khảo cổ học chứng
minh rằng thời gian thuần hóa ngô vào khoảng 5000 đến 10.000 năm trước đây Sựphân bố các vùng ngô hiện nay là bằng chứng khẳng định Mexico là trung tâmphát sinh cây ngô Dựa trên 2800 mẫu ngô thu thập của Valilop, các nhà khoa học
đã phát hiện các nòi ngô phân bố chủ yếu ở Mexico Trong 50 nòi ở Mexico chỉ có
7 nòi tương tự ở Guatemala, 6 nòi ở Colobia, 5 nòi ở Peru và 2 nòi ở Brazil Với
Trang 25điều kiện địa lý và khí hậu tương tự nhau nhưng loài cỏ dại teosinte nguồn gốc củangô chỉ được tìm thấy ở Mexico mà không tìm thấy ở Peru [9].
Ngô là cây lương thực có tên khoa học là Zea mays ssp Mays, thuộc chi
maydeae, họ hoà thảo Gramineae Từ loài Zea mays ssp Mays, dựa vào cấu trúc
nội nhũ của hạt phân thành các loài phụ và được sử dụng nhiều hình thức với một
số nhóm chính quan trọng là:
- Ngô bột - Zea mays L subsp mays Amylacea Group có dạng hạt to, dẹt,
màu trắng đục, vàng nhạt, gieo trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới cao Trung mỹ
- Ngô nổ - Zea mays L subsp mays Everta Group có dạng hạt nhỏ, tròn,
có màu hạt trắng, vàng tím… có năng sâuts thấp nhưng chất lượng dinh dưỡngcao
- Ngô răng ngựa - Zea mays L subsp mays Indentata Group có dạng hạt
khá dài, dẹt, đỉnh hạt lõm, nhăn tạo thành hình răng ngựa Có màu vàng hạt vàmàu mày rất đa dạng Ngô răng ngựa có tiềm năng suất cao, hạt có tỷ lệ nội nhũbột cao, chủ yếu làm thức ăn chăn nuôi
- Ngô đá - Zea mays L subsp mays Indurata Group có dạng hạt khá tròn,
màu hạt đa dạng từ trắng đến đen hoặc nhưng vạch màu khác nhau Ngô đá có tỷ
lệ nội nhũ sừng cao, có chất lượng dinh dưỡng tốt
- Ngô đường- Zea mays L subsp mays Saccharata Group có dạng hạt dẹt
nhăn, đỉnh hạt lõm, có màu hạt đa dạng từ trắng đén tím, màu mày trắng và tím đỏ
- Ngô nếp - Zea mays L ceratina Kuleshov có dạng hạt tròn và nhẵn, màu
hạt vàng trắng đục hoặc tím, màu mày chủ yếu là màu trắng Ngô nếp có tính dẻo
và thơm, tiềm năng năng suất thấp
- Ngô vỏ - Zea mays L var tunicata Larranxaga ex A St Hil có hạt được
bọc bởi mày phát triển như lá bi Ngô vỏ không có ý nghĩa về mặt kinh tế, chỉ có
ý nghĩa về mặt tiến hoá và di truyền [10]
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Trang 26Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai.
Đánh giá các đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai
Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các tổ hợp ngô lai
Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai
2.2 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các tổ hợp ngô lai do công ty TNHH Pioneer Hi
- Bred : gồm 10 tổ hợp ngô lai mới được công ty TNHH Pioneer Hi - Bred ViệtNam chọn tạo ra: P4296, P4097, P4094, 30T60, P4199, P3482, P3645, P3929,30Y87 và 30N34
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An.
- Thời gian nghiên cứu: vụ Đông Xuân 2011-2012
Trang 27P4097 30N34 P4094 30Y87 P4199 P3929 30N34 P4094 P3482 P4199
30T60 P4199 P3645 30N34 P4094 P3482 P3645 30T60 30Y87 P4296
Dải bảo vệ
Diện tích mỗi ô thí nghiệm 5 m2
Diện tích thí nghiệm ( không tính rãnh luống và dãy bảo vệ) 450m2
- Phân bón cho một ha
5m1m
5m
30cm
Trang 28 Lượng phân bón:
10-12 tấn phân chuồng + 160 kg N + 110 kg P2O5 + 70 kg K2O
Cách bón:
Bón lót: Bón toàn bộ phân chuồng + Lân + 10% Đạm
Bón thúc lần một khi cây ngô 3 - 4 lá: 30% Đạm + 1/2 Kali
Bón thúc lần 2 khi cây ngô 7 - 9 lá: 30% Đạm + 1/2 Kali
Bón thúc lần 3 khi cây ngô 15 lá (xoắn nõn): 30% Đạm
- Chăm sóc:
Khi cây ngô 3 - 4 lá: Kết hợp vun xới, bón phân, vun nhẹ và tưới nướckhi cần thiết
Khi cây ngô đạt 7 - 9 lá: Xới xáo, lầm cỏ kết hợp với bón phân, vun cao
và tưới nước khi cần thiết
- Tưới nước và thoát nước: Khi cây ngô xoắn nõn đến sau trổ cờ 15 - 20ngày, nếu đất khô trắng kéo dài thì ngô gặp hạn cần tưới nước Phải có rãnh thoátnước trong điều kiện ngập úng
- Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh khi đến ngưỡng phòng trừ
2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu
2.3.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển.
Chỉ tiêu:
- Ngày gieo:
- Ngày mọc: Được xác định khi có 50% số cây mọc
- Ngày 3 lá: Được xác định khi có 50% số cây 3 lá
- Ngày 7 lá: Được xác định khi có 50% số cây 7 lá
- Ngày xoắn ngọn: Được xác định khi có 50% số cây xoắn ngọn
- Ngày trổ cờ: Được xác định khi có 50% số cây xoắn ngọn
- Ngày tung phấn: Được xác định khi có 50% số cây tung phấn- hoa nởđược 1/3 trục chính
- Ngày phun râu: Được xác định khi có 50% số cây phun râu dài 2-3 cm
- Chín sinh lý: khi có trên 50% số cây có lá bi khô chân hạt có chấm đen
Trang 29Sự tăng trưởng chiều cao của các tổ hợp ngô lai qua các giai đoạn ( theodõi sau khi mọc 20 ngày và sau đó 10 ngày theo dõi 1 lần)
2.3.3.2 Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp qua các giai đoạn
- Chiều cao cây (cm) : Đo từ gốc sát mặt đất đến điểm bắt đầu phân nhánhcủa bông cờ khi ngô chín sữa để lấy chiều cao cuối cùng Đo từ gốc đên mút lácao nhất để lấy chiều cao cây ở từng thời kỳ, theo dõi 10 ngày một lần mỗi ô theodõi 10 cây
- Chiều cao đóng bắp (cm): Tính từ gốc sát mặt đất đến vị trí đóng bắptrên cùng vào lúc ngô chín sữa
- Số lá trên cây: Dùng sơn đánh dấu lá thứ 5 ( kể cả lá mầm) và lá thứ 10
để đếm số lá chính xác Mỗi ô theo dõi 10 cây, theo dõi 10 ngày một lần đến khiđạt số lá tối đa
- Dạng cây : Theo dõi khi khi bắp đã phát triển đầy đủ nhưng cây cònxanh, cho điểm từ 1 đến 10 khi theo dõi nghi chép rõ ràng ở địa điểmg thông kê
+ Điểm 1: Cây đồng đều, cao vừa phải dáng cây khoẻ, thoáng lá, góc láhẹp, không sâu bệnh
Điểm 2-5 : Dạng cây tương đối đồng đều, cây khỏe, cây nhiễm sâu bệnh nhẹ.Điểm 6-10: cây xấu dần không đẹp và điểm 10 đánh giá xấu nhất trongdiện tích thí nghiệm
- Dạng bắp: Cho điểm 1 -10 khi thu hoạch
+ Điểm 1-3 (tốt nhất) : Bắp hình trụ, hạt đều, sít hạt, múp đầu, không sâu bệnh+ Điểm 4-7 (khá) : hạt sit nhau, bắp đều không đẹp bằng điểm 1
+ Bắp không đẹp như những điểm trên và điểm 10 bắp xấu nhất
- Đánh giá lá bi: Cho 1-10 điểm trước khi thu hoạch Những điểm đượcxếp với nhau mang những điểm tương đồng
+ Điểm 1 ( tốt ) : Lá bi phủ kín đầu bắp 3 điểm này tương đối đồng nhất.+ Điểm 4-6 (khá) : Lá bi phủ vừa kín đầu bắp
+ Điểm 7-9 (hở đầu) : Lá bi không chặt
Trang 30+ Điểm 10 (hở hạt) : Lá bi không phủ kín hết bắp, hở đầu hạt điểm nàykhông chấp nhận được
- Màu sắc hạt: Trắng, vàng nhạt, vàng, vàng đậm, đỏ nâu đỏ, tím
- Dạng hạt : Đá, nửa đá, bán răng ngựa, răng ngựa ).[11]
2.3.3.3 Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh và tính chống chịu của các tổ hợp
- Sâu xám: tính số cây bị sâu xám cắn trên số cây có trong ô.
- Sâu đục thân: Tính số cây bị sâu đục thân trên số cây có trong ô
Điểm 1: Không bị sâu ( < 5% số cây bị sâu)
Điểm 2: Nhẹ ( có 5-15 % số cây bị nhiễm sâu)
Điểm 3-7 : vừa ( có 15-25 % số cây bị nhiễm sâu)
Điểm 10 : Rất nặng (có 35 - 50% số cây bị nhiễm sâu
- Sâu đục bắp: Tính số bắp bị sâu đục trên số bắp có trên ô
- Bệnh khô vằn: Số cây bị bệnh trên tổng số cây có trong ô sau đó đánhgiá bằng cách cho điểm từ 1-10 Mức độ nhiễm bệnh tăng dần cho các điểm từkhông có vết bệnh đến vết bệnh lan toàn cây
- Đổ thân: Tính số cây bị gãy thân ở dưới bắp khi thu hoạch và cho điểm
Điểm 1-3: Tốt: <5 % cây gãy
Điểm 4-6: Khá: 5 - 15% cây gãy
Điểm 7-9: T.bình: 15 - 30% cây g
Điểm 10: Kém: 30 - 50% cây gãy [10]
Trang 312.3.3.4 Xác định diện tích lá đóng bắp của các tổ hợp ở thời kỳ chín
- Xác định diện tích lá của cây (Yoshid S IRRI, 1976)
S= D x R x K (m2)
Trong đó: S: Diện tích lá
D: Chiều dài lá
R: Chiều rộng lá (m)
K: Là một hệ số luôn < 1 (với lá ngô có K = 0,75)
2.3.3.5 Đánh giá năng suất các yếu tố cấu thành năng suất
- Số cây có bắp hữu hiệu trên mỗi ô thí nghiệm
- Số bắp hữu hiệu trên cây ( đếm toàn bộ số cây có trên ô)
- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đầu mút bắp, đo bắp các cây theo dõi
- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp, đo bắp các cây theo dõi
- Số hàng trên bắp: Đếm số hàng trên bắp của các cây theo dõi, một hànghạt được tính khi có 50% số hạt so với hàng dài nhất
- Số hạt/hàng: Đếm mỗi bắp một hàng của các cây theo dõi
- Khối lượng bắp tươi (kg): Mỗi tổ hợp thu 2 hàng giữa dài 5m, chọn ngẫunhiên 12 bắp, lột vỏ bỏ vào 1 túi riêng để cân để tính khối lượng trung bình của 1 bắp
- Khối lượng 1000 hạt (g): Lấy 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt rồi cân riêng từngmẫu Nếu chênh lệch nhau không quá 5% là chấp nhận nếu không được thì đếmthêm mẫu thứ 3
- Năng suất bắp tươi (NSBT): Năng suất bắp tươi (tạ/ha) được tính theocông thức:
(Số BHH/ô) x Khối lượng bắp tươi
Trang 32(Ghi chú: HH/B: số hàng hạt/bắp; H/H: hạt/hàng; BHH/C: bắp hữu
hiệu/cây; P1000: khối lượng 1 nghìn hạt)
- Năng suất thực thu (NSTT): Dựa trên năng suất của ô (tạ/ha)
Năng suất thu được của một ô
2.4 Diễn biến thời tiết khí hậu Nghệ An vụ Đông Xuân 2011-2012
Ngô là cây trồng có khả năng thích nghi cao với nhiều loại địa hình, sinhthái khác nhau Tuy nhiên, điều kiện khí hậu vẫn có ảnh hưởng đáng kể tới quátrình sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây ngô Đặc biệt là các yếu tố nhưnhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa… Nhiệt độ thích hợp từ lúc trồng cho tớilúc ra hoạch ngô khoảng 23 - 250C Ngoài nhiệt độ cây cũng cần có lượng mưa,ánh sáng thích hợp.Vì vậy, khi chọn tạo một tổ hợp ngô mới cần phải thông quaquá trình trồng khảo nghiệm so sánh ở các vùng sinh thái, các vụ khác nhau
Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết khí hậu Nghệ An vụ Đông Xuân 2011-2012
Thán
g
Nhiệt độ (0C) Ẩm độ (%)
Lượngmưa(mm)
Tổng
số giờnắng(h)
Tổng sốngày cómưa(ngày)
Số ngàyliên tụckhôngmưa(ngày)
Trang 33Nhìn chung, khí hậu đầu vụ có phần thuận lợi cho việc gieo trồng, sự nảymần của hạt, sinh trưởng của cây con, tuy nhiệt độ trung bình không cao nhưng
nó vẫn cao hơn so với tháng khác trong vụ Lượng mưa và độ ẩm có ảnh hưởnglớn đến việc gieo trồng Đầu vụ độ ẩm và lượng mưa, số ngày mưa ít hơn so vớicác tháng khác nên khi hạt chưa nảy mần giảm tỉ lệ thối hạt Về sau nhiệt độ lạigiảm kết hơp với lượng mưa, số ngày mưa tăng sẽ làm cho cây trồng phát triễnchậm lại