1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an

104 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Tác giả Lê Hữu Tiệp
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Quang Phổ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 779 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN TRÊN ĐẤT CÁT NỘI ĐỒNG TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHLUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH T

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN TRÊN ĐẤT CÁT NỘI ĐỒNG TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

MÃ SỐ: 60.62.01

Người thực hiện: Lê Hữu Tiệp

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quang Phổ

Trang 2

VINH - 2012

Trang 3

Để hoàn thành bản luận văn này, trong suốt quá trình học tập và thực hiện

đề tài tôi đã nhận rất nhiều được sự chỉ bảo, giúp đỡ, động viên của thầy cô, bạn

bè và người thân Qua bản luận văn tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- PGS.TS Nguyễn Quang Phổ là Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi mộtcách tận tình và chu đáo trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh bảnluận văn

- Các Thầy Cô trong khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Vinh đãđóng góp những ý kiến hết sức qúy báu cho tôi để hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học trường Đại học Vinh,gia đình, người thân, bản bè đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 FAO Tổ chức nông lương thế giới (Food and Agriculture Organization)

3 ICRISAT (International Crops Reseash Institute for the Semi-Arid Tropics)

4 LA Diện tích lá (Leaf area)

5 LAI Chỉ số diện tích lá (Leaf area index)

6 NAR Hiệu suất quang hợp thuần (Net assimilation rate)

Trang 5

3.8 Độ ẩm đất cây héo và cường độ thoát hơi nước ở các giống lạc 51

3.11 Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống lạc 58

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG iii

MỤC LỤC iv

1.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và ở Việt Nam 10 1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới 10

Trang 7

1.4.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 16

1.5.1 Hạn và các hình thức hạn ảnh hưởng đến cây trồng 23

1.5.3 Cơ sở sinh lý, sinh hóa và di truyền của tính chịu hạn ở thực vật 26

3.1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng thân cành của các giống lạc 36

3.3 Diện tích lá, chỉ số diện tích lá và khối lượng diện tích lá của các giống 42

Trang 8

3.4 Sự tích lũy chất khô của các giống 46

3.6 Độ ẩm đất cây héo, Cường độ thoát hơi nước ở các giống lạc 50

3.9 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 56

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Lạc là một mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao chonhiều nước trên thế giới, diện tích trồng lạc trong những năm qua khôngngừng gia tăng và mở rộng Riêng đối với nước ta cây lạc đang là thế mạnhtrong sản xuất, đặc biệt đối với một số vùng như duyên hải Bắc Trung Bộ, câylạc được xem là “thương hiệu” của vùng Và khi, sự biến đồi khí hậu toàncầu được dự báo ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng thì lạc là một trong số những cây trồng tiềmnăng được khuyến cáo sử dụng

Lạc (Arachis hypogaea L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày Sảnphẩm chính của cây lạc là hạt – có giá trị kinh tế cao với hàm lượng dầu biếnđộng từ 40-57%, protein từ 20-37,5%, gluxit khoảng 15,5% Ngoài ra hạt lạccòn chứa đầy đủ khoáng chất, các axít amin không thay thế được và các loạivitamin B1, B2, B6, PP, E… Do vậy, hạt lạc là loại thực phẩm quan trọng,được dùng nhiều trong công nghiệp thực phẩm có giá trị kinh tế cao Mặtkhác, cây lạc còn có tác dụng cải tạo đất, tăng thêm độ phì nhiêu của đất vàdùng làm cây luân canh, xen canh với cây trồng khác, nhất là các loại câytrồng cần sử dụng nhiều đạm Vì bộ rễ của lạc có chứa vi khuẩn Rhizobium

có khả năng cố định đạm tự do trong không khí trở thành đạm dễ tiêu

Cây lạc thuộc nhóm cây đậu đỗ có khả năng chịu hạn kém So vớinhiều cây trồng khác cây lạc có nhu cầu đặc biệt về nước bởi rễ lạc không cólông hút, quả lạc hình thành dưới đất Kết quả thống kê cho thấy, ở nước tasản xuất lạc chiếm khoảng 40% tổng diện tích đất gieo trồng các loại câycông nghiệp ngắn ngày, trong đó có 2/3 diện tích trồng lạc còn phụ thuộc vàonước trời và chỉ có 1/3 diện tích trồng lạc đã chủ động được nguồn nước tưới.Đối với nhiều địa phương cây lạc là cây trồng chính, tuy nhiên việc đầu tư

Trang 10

phát triển ngành sản xuất lạc được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năngvốn có của nó.

Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, đây được xem là

“thủ phủ” của cây lạc Trong những năm gần đây, để nâng cao năng suất lạc,người dân đã sử dụng nhiều giống mới cho năng suất cao cũng như ứng dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất Tuy nhiên, việc năngsuất, chất lượng lạc giảm do điều kiện hạn kéo dài và nhiệt độ cao vượt quángưỡng chịu đựng làm cho quá trình sinh lý trong cây bị rối loạn lại chưađược ai quan tâm đến Nhằm góp phần cải thiện năng suất, chất lượng Lạctrong những vụ trồng gặp điều kiện hạn hán bất thường hay điều chỉnh vụtrồng sao cho thích hợp cũng như tìm ra giống lạc có khả năng chịu hạn phù

hợp với điều kiện của vùng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng

chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ Xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm Nông học, Trường Đại Học Vinh, Nghệ An” 1.2 Mục tiêu của đề tài

- Góp phần vào sự đánh giá bằng các cơ sở khoa học để chọn ra nhữnggiống lạc có khả năng chịu hạn tốt nhất đảm bảo cho sự sinh trưởng, pháttriển an toàn hơn của cây trồng trong điều kiện khô hạn bất thuờng xảy ra, đặcbiệt là vào giai đoạn thời tiết cuối vụ xuân đầu vụ hè

- Đảm bảo an toàn kế hoạch sản xuất lạc hàng năm trong điều kiện khôhạn bất thường và kéo dài diễn ra

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 11

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để bố trí thời vụ của giống thích hợptránh tác hại của điều kiện khô hạn bất thường xẩy ra hàng năm.

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá khả năng chịu hạn của cây lạc ở các giai đoạn khác nhautrong suốt quá trình sinh trưởng, giúp địa phương tuyển chọn được các giốnglạc có khả năng chịu hạn tốt, ổn định, năng suất cao trong điều kiện sinh tháikhô hạn hàng năm

- Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân năm 2012

- Đặc điểm đất trồng: đất cát nội đồng ven biển

- Quy trình kỹ thuật: áp dụng quy trình kỹ thuật trồng lạc chung (của

Bộ Nông nghiệp)

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây lạc

Cây lạc (Arachis Hypogaea L.) được trồng rộng rãi từ vĩ độ 40 Bắc đến

vĩ độ 40 Nam Cây lạc có nguồn gốc ở Châu Mỹ sau khi Skiê (E.G Squier)tìm thấy những quả lạc đựợc chôn trong các ngôi mộ cổ tại thủ đô của Pêruvào năm 1897 Các nhà khảo cổ học đã xác định được niên đại của các ngôi

mộ cổ này ở niên đại từ 1500 - 1200 năm trước công nguyên [37]

Krapovickas (1968) cho rằng lạc được đưa từ bờ biển phía Tây Peru tớiMexico sau đó ngang qua Thái Bình Dương theo các thuyền Tây Ban Nha tớiPhilipin và các vùng thuộc Châu Á Thái Bình Duơng

Theo Gregory(1979 - 1980) thì tất cả các loài hoang dại thuộc chiArachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và phân bố ở vùng Đông Bắc Braxin đến TâyNam Achentina và từ biển Nam Uruquay đến Tây Bắc Mato Grosso [38]

Theo Engen thì lạc được trồng các đây khoảng 3800 năm, thuộc thời kỳtiền đồ gốm ở Las Haidas, theo các nhà sử học, người Inca - thổ dân Nam Mỹ

đã trồng lạc như một loại cây thực phẩm dọc vùng ven biển của Peru với tên(ynchis), còn Garcilaso de la vega (1969), là người Tây Ban Nha thì gọinhững cây lạc được trồng ở Peru là “mani”

Những bằng chứng đều chứng minh cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ,sau đó được trồng phổ biến ở Châu Âu, tới vùng biển Châu Phi, Châu Á, tớiquần đảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng Đông Nam Hoa Kỳ theonhiều con đường khác nhau

Tại Việt Nam cây lạc chưa được xác định xuất xứ bắt đầu, cây lạc ởViệt Nam có thể từ được du nhập từ Trung Quốc khoảng thế kỷ XVII, XVIII(theo tài liệu dẫn của Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn,1979) [18]

Trang 13

Hiện nay lạc được trồng nhiều ở các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ,Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Braxin, Achentina, Thái Lan, Việt Namtrong đó Ấn Độ là nước có diện tích lạc lớn nhất sau đó đến Trung Quốc.

1.2 Vai trò và vị trí của cây lạc

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của lạc

Trong cây lạc thì hạt lạc là sản phẩm được sử dụng chủ yếu, hạt lạc cóchứa nhiều chất dinh dưỡng có gía trị cao như Protein (26 -34%), Lipit chiếm(40 - 60%) Con người đã sử dụng lạc làm thực phẩm từ rất lâu đời với nhiềucách chế biến khác nhau, ngoài việc sử dụng cho cuộc sống hàng ngày, thì lạccòn được sử dụng trong công nhiệp thực phẩm để tạo ra những sản phẩm cógiá trị như dầu ăn, bơ, sữa lạc, bánh kẹo…phục vụ cho nhu cầu của conngười Hạt lạc có khả năng cung cấp năng lượng lớn do hàm lượng các chấtbéo cao Trong 100gam hạt lạc, cung cấp 590 calo trong khi trị số này ở đậutương là 411, gạo tẻ 353, trứng 189…ngoài ra trong hạt lạc còn chứa 6 - 22%Gluxit, 2- 4,5% Xenlulo, 8 -10% nước Trong chăn nuôi khô dầu lạc đóng vaitrò quan trọng do có tới 25 - 30% Protein (Nguyễn Thế Côn và CS,1996 ) [3]

Ngoài sản phẩm chính là hạt lạc thì thân lá lạc là nguồn thức ăn giàuđạm được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi đại gia súc Vỏ lạc chiếm 25 - 30%khối lượng quả, và chứa nhiều chất dinh dưỡng do đó có thể nghiền vỏ lạc hoặckết hợp với các nông sản khô khác để chế biến thức ăn chăn nuôi rất tốt [4]

1.2.2 Giá trị cây lạc trong hệ thống nông nghiệp

Ngoài giá trị to lớn trong công nghiệp, chăn nuôi cây lạc còn có ýnghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất

Cây lạc là cây có khả năng cố định đạm do rễ lạc có thể hình thành nốtsần nhờ sự cộng sinh với vi sinh vật cố định đạm là Rhizobium vigna Trongđiều kiện thuận lợi có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn 200 - 260kgN/ha/vụ (Williams,1979) [66] Chính vì khả năng cố định đạm này mà tính

Trang 14

chất vật lý thành phần hóa tính của đất sau khi trồng lạc được cải thiện rõ rệt,đất tơi xốp thoáng khí, lượng đạm trong đất tăng…lạc là đối tuợng cây trồngđược sử dụng nhiều trong các công thức luân canh Tuy nhiên, các nghiên cứucủa Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ đều cho thấy nếu trồng lạc liên tục 4 - 5 năm,năng suất lạc có thể giảm 12 - 60% Ở nước ta canh tác lạc liên tục nhiềunăm, sẽ dẫn đến năng suất lạc giảm sút tới 20 - 38% (Đặng Ưng Định, ĐăngPhú) [17] Do vậy, đối với vùng sản xuất lạc việc chọn một chế độ luân canhphù hợp là rất cần thiết.

1.3 Yêu cầu sinh thái của cây lạc

Sự phân bố lạc trên thế giới được quyết định bởi các yếu tố khí hậu.Trong đó nhiệt độ và chế độ nước có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinhtrưởng, phát triển và năng suất của cây lạc

1.3.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có liên quan đến thời gian sinhtrưởng của cây lạc Cây lạc ưa nhiệt độ là cây có nguồn gốc nhiệt đới Tuynhiên tùy theo nguồn gốc của từng giống mà yêu cầu của chúng với điều kiệnnhiệt độ cũng khác nhau Tổng tích ôn hữu hiệu đối với các giống lạc loạihình Valencia là 3200 - 35000C, với các loại giống loại hình Spanish có thờigian sinh trưởng gắn hơn trị số này đạt 2800 - 32000C

Nhiệt độ là một trong hai yếu tố chính ảnh hưởng đến thời gian và tỷ lệmọc mầm của hạt lạc (nhiệt độ, ẩm độ)

Thời kỳ mọc mầm cần tổng tích ôn từ 250 - 3200C nhiệt độ trung bìnhthích hợp ở thời kỳ này là 25 - 300C, tốc độ mọc mầm nhanh nhất ở nhiệt độ

32 - 340C Nếu nhiệt độ cao hơn thì sức sống của hạt giảm và hạt mất sức nảymầm ở nhiệt độ 540C Nhiệt độ tối thấp là 12 – 130C, nhiệt độ thấp sẽ kéo dàithời gian mọc mầm, tỷ lệ mọc mầm kém [3]

Trang 15

Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng tổng tích ôn yêu cầu 700 - 10000C.Nhiệt độ tối thích cho thời kỳ này là 250C, nếu nhiệt độ quá cao 30 - 350C thìthời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng bị rút ngắn dẫn đến làm giảm số hoa và chấtkhô tĩch lũy trên cây, do đó làm giảm số qủa và trọng lượng hạt [3].

Quá trình ra hoa của lạc đòi hỏi nhiệt độ tương đối cao Nhiệt độ ảnhhuởng đến cường độ ra hoa và nó cũng là yếu tố quyết định độ dài của thờigian hình thành và nở những hoa đầu tiên Sinh trưởng sinh thực của lạc mạnhnhất trong khoảng nhiệt độ 24 - 270C Nếu nhiệt độ cao hơn 330C trong thờigian dài làm ảnh hướng đến sức sống của hạt phấn (theo tài liệu trích dẫn,Nguyễn Thị Ngọc Lan) [28]

Thời kỳ ra hoa kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt độ cao nhất, thời kỳ nàychiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng của lạc, nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổngtích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt độ tối thấp sinh vật học cho sự hìnhthành các cơ quan sinh thực của lạc là 15 - 200C [3]

Nhiệt độ thấp ảnh hưởng xấu đối với quá trình ra hoa Biên độ nhiệt độngày đêm lớn cũng ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng và thời gian xuất hiện hoađầu tiên Hệ số hoa có ích cao nhất 21% khi nhiệt độ ban ngày là 290C banđêm là 230C (theo tài liệu dẫn của Lê Song Dự, 1979) [17] Tốc độ hình thànhquả tăng từ 19 - 230C, nhiệt độ tối thích cho quả phát triển nằm trong khoảng

từ 30 - 340C (theo tài liệu trích dẫn của Nguyễn Thị Ngọc Lan) [28] nhiệt độquá cao làm hạt lạc bị teo và bé đi

Thời kỳ chín đòi hỏi nhiệt độ giảm hơn so với thời kỳ trước đó Nhiệt độthích hợp cho thời kỳ này vào khoảng 25 - 280C, sự chênh lệch nhiệt độ ngàyđêm khoảng 8 - 100C có lợi cho quá trình vận chuyển vật chất vào hạt [16]

Trang 16

1.3.2 Ánh sáng

Lạc là cây trồng C3, ánh sáng có ảnh hưởng tới quang hợp và hô hấp.Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng, phát triển của cây lạc thông qua haichỉ tiêu là cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong ngày

Phản ứng quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợpcây lạc có phản ứng trung tính với quang chu kỳ [2]; Nhưng khi được trồngtrong điều kiện ngày ngắn, cây lạc ra hoa chậm hơn và nở ít hoa hơn so vớikhi trồng trong điều kiện ngày dài (Wynne và Emery,1974) [28]

Cường độ ánh sáng yếu trong giai đoạn sinh trưởng làm tăng nhanhchiều cao cây nhưng giảm số lượng lá và hoa (Theo tài liệu trích dẫn, LêMinh Tân) [32] Sự ra hoa của lạc rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm,nếu cường độ ánh sáng giảm trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa Nếunhiệt độ thấp ở thời kỳ đâm tia, hình thành quả thí số quả giảm đi một cách có

ý nghĩa, đồng thời khối lượng quả cũng giảm theo [32]

Forestier (1957) cho rằng việc ra hoa không phụ thuộc vào quang chu

kỳ, nhưng sự phân hóa mầm hoa và tổng số hoa hình thành qủa phụ thuộc rấtnhiều vào ánh sáng [28]

Số giờ nắng trong ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng, phát dụccủa cây lạc, quá trình nở hoa khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng Dovậy ở các tỉnh phía Bắc, trong điều kiện vụ xuân nên bố trí thời vụ để lạc rahoa vào tháng tư, nếu lạc ra hoa sớm hơn, số giờ nắng thấp làm giảm số hoanở/ngày kéo dài thời gian ra hoa và tỷ lệ hoa hữu hiệu thấp [25] Điều nàycũng thể hiện rằng lạc được trồng trong thời vụ thích hợp, sẽ có mối tươngquan thuận với tỷ lệ hoa hữu hiệu, thông qua đó làm tăng số quả/cây và năngsuất của lạc

Trang 17

1.3.3 Yêu cầu về nước

Nước là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng,phát triển và tạo năng suất lạc Lạc là cây trồng chịu hạn song lạc chỉ chịuđược ở một số giai đoạn nhất định Lạc không chịu được đông giá và úngnuớc Nếu thiếu nước ở một số thời kỳ cần thiết như thời kỳ ra hoa rộ, đâmtia, hình thành quả và hạt đều ảnh hưởng xấu đến năng suất lạc [3]

Tổng nhu cầu về nước của lạc trong suốt thời kỳ sinh trưởng vàokhoảng 450 - 700mm Nhu cầu này tùy thuộc vào giống và thời kỳ sinhtrưởng khác nhau [40]

Theo John (1949) [32] thì lượng mưa lý tưởng để trồng lạc đạt năngsuất cao nằm trong khoảng 80 - 120mm trước khi gieo để dễ dàng làm đất,khoảng 100 - 120mm khi gieo, đây là lượng mưa cần thiết để cho lạc mọcmầm tốt và bảo đảm mật độ Khoảng 200mm từ khi lạc bắt đầu ra hoa đến khitia lạc đâm xuống đất, khoảng 200 mm từ khi quả bắt đầu lớn đến khi quảchín

Thời kỳ cây lạc cần ít nước nhất và đây cũng là thời kỳ cây lạc chịu hạntốt nhất là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Tuy nhiên nếu hạn kéo dài cũngảnh hưởng xấu đến năng suất của lạc Khi hạn xảy ra thì chiều cao cây giảm

rõ rệt, lá nhỏ và dày, cứng hơn so với điều kiện bình thường

1.3.4 Yêu cầu đất và phân bón cho lạc

Lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất, với đặc điểm sinh lý củalạc thì đất thích hợp cho trồng lạc là đất luôn phải tơi xốp nhằm giúp bộ rễphát triển, tăng cường sự hoạt động của vi sinh vật cố định đam, thuận lợi choquá trình hình thành quả và thu hoạch Vì vậy mà đất trồng lạc phải là đất thịtnhẹ, tỷ lệ đất cát thô nhiều hơn đất sét [30]

Trang 18

Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) lạc yêu cầu pH hơi chua, gần trung tính(pH từ 5,5 - 7,0) là thích hợp Tuy nhiên khả năng chịu với pH đất của lạc làrất cao, lạc có thể chịu pH đất từ 4,5 - 8,9 [11]

Ngoài ra lạc còn yêu cầu một hàm lượng dinh dưỡng đạm, lân, kali,canxi và các nguyên tố vi lượng đầy đủ và cân đối Với đạm yêu cầu bón cholạc không cao, thường bón sớm khi lạc có 2 - 3 lá thật, bón với lượng tùy theođất đai khác nhau thường bón từ 20 - 40 kg N/ha [44]; Việc bón lân cho lạcrất được coi trọng và bón với lượng lớn, chủ yếu được bón lót (ủ với phânchuồng, phân hữu cơ để tăng hiệu quả của phân lân) và trên thực tế lạc đượcbón từ 60 - 120 kg P2O5/ha dưới dạng Supe lân, phân lân nung chảy… [24].Trong khi đó kali có vai trò làm tăng khả năng chống chịu của cây, tăng khảnăng đậu hoa đậu quả nên thường được bón thúc cùng thời gian với đạm vớilượng 30 - 60 kg K2O/ha dưới dạng Cloruakali hoặc Sulfatkali [19] Một điềucần chú ý là khác với các cây họ đậu và cây trồng khác yếu tố canxi bón cholạc ngoài ý nghĩa làm trung hòa độ pH của đất trong điều kiện đất chua thì vaitrò canxi còn như một một loại phân bón cho lạc làm tăng độ chắc, độ mẩyquả, vai trò xây dựng cấu trúc vỏ quả, do đó thường 50% lượng canxi (vôibột) bón vào thời kỳ đâm tia của lạc Ngoài ra 2 yếu tố vi lượng quan trọnglàm tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả của lạc là Bo và Molipden amon, nên 2 loạiphân này thường được bón vào thời kỳ lạc ra hoa rộ, phun từ 1 - 2 lần cho cây(phun qua lá) và có thể kết hợp với các loại thuốc trừ sâu bệnh phun cho lạcvào thời kỳ này, làm tăng năng suất lạc từ 15 - 20% [14],[15]

1.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới

Mặc dù lạc đã có từ rất lâu đời nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ được xácđịnh trên 100 năm trở lại đây Trên thế giới, hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu

Trang 19

thụ lạc ngày càng tăng và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sảnxuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng Diện tích, năng suất, sản lượng lạctrên thế giới có xu hướng tăng, diện tích trung bình 9 năm gần đây 2000 - 2008

là 22,91 triệu ha, tăng so với những năm 70 của thế kỷ trước là 25%, so vớinhững năm 90 là 8,8% Năm 2008, diện tích trồng lạc của thế giới đạt 21,26triệu ha, năng suất bình quân đạt 16,2 tạ/ha và sản lượng đạt 34,44 triệu tấn Sovới năm 2000, năm 2008 năng suất lạc thế giới tăng 11,17%, nên mặc dù diệntích giảm 11,79% diện tích, nhưng sản lượng chỉ giảm 1,32% [Bảng 2.1]

Theo thống kê của FAO châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới(chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới - năm 2005).Trong đó, diện tích khu vực Đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7triệu ha, khu vực Đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1% [1]

Bảng 1.1 Diện tích, NS, sản lượng lạc trên thế giới giai đoạn 2000 - 2008 Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(triệu ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(triệu tấn)

Trang 20

Ấn Độ là nước có diện tích sản xuất lạc lớn nhất trên thế giới Do lạcchủ yếu được trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất lạcrất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tíchtrồng lạc của Ấn Độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tích trồng lạc trên thếgiới, năng suất đạt 9,5 tạ/ha và sản lượng đạt 7,3 triệu tấn [1].

Theo thống kê của USDA từ năm 2005-2008 diện tích lạc trung bìnhhàng năm của Ấn độ là 6,4 triệu ha (chiếm 30,1% diện tích lạc thế giới), năngsuất trung bình là 9,8 tạ/ha, sản lượng đạt 6,3 triệu tấn [số tài liệu cùngUSDA- Agricultural statistic (2000-2008)]

Trung Quốc là nước đứng thứ hai về diện tích trồng lạc Những nămgần đây trung bình diện tích trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 4,3 triệu

ha, chiếm 20% tổng diện tích lạc toàn thế giới Năng suất lạc trung bình là32,0 tạ/ha, cao gần gấp đôi năng suất lạc trung bình của toàn thế giới Sảnlượng là 13,76 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới.[ USDA- Agricultural statistic (2000-2008] Tỉnh Sơn Đông là tỉnh có diệntích trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23% diện tích, 33,3% tổng sảnlượng lạc của cả nước, năng suất lạc trung bình ở Sơn Đông cao hơn năngsuất trung bình của cả nước là 34% Có được những thành tựu này là doTrung Quốc đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua [10]

Có được những thành tựu này là do Trung Quốc đặc biệt quan tâm đếncông tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiềunăm qua [10]

Mỹ là nước có diện tích, năng suất lạc khá ổn định, sản lượng đứng thứ

ba sau Trung Quốc và Ấn độ Những năm 90 của thế kỷ 20, diện tích lạc hàngnăm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng suất là 27,9 tạ/ha [2]

Trang 21

Giai đoạn từ 2000 - 2004, diện tích trồng lạc trung bình là 0,578 triệuha/năm Năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những nămtrước là 13,6% [1].

Ngoài các nước trên, cây lạc còn được trồng ở nhiều nước khác trên thếgiới như Achentina, Indonesia, Hàn Quốc, Senegan, Braxin, Isaren [ 2]

Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ, Việt Nam là những nước xuấtkhẩu lạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật,Singapore, Pháp, là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới

Từ năm 1991 đến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiềunhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,5% tổngsản lượng lạc xuất khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng nămxuất khẩu 67,3 nghìn tấn, chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới.Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuấtkhẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới [1]

Hà Lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991-2000,trung bình hàng năm nhập khẩu 39,8 nghìn tấn, chiếm 13,9% tổng lượng lạcnhập khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhậpkhẩu 34,3 nghìn tấn [2]

Từ năm 2001 - 2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thếgiới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng 460 nghìntấn mỗi năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu 130 nghìn tấn lạcmỗi năm [2]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới

1.4.2.1 Những kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống

Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao phẩmchất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng vớiđiều kiện ngoại cảnh, đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản

Trang 22

lượng lạc trên thế giới Do đó việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đangngày càng được chú trọng trên thế giới

Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT ) là

cơ sở lớn nhất nghiên cứu về lạc Tính đến năm 1993 Viện đã thu thập được13.915 mẫu lạc từ 99 nước trên thế giới, trong đó Châu Phi 4.078; Châu Á4.609; Châu Âu 53; Châu Mỹ 3.905; Châu Úc và Châu Đại Dương 59; còn1.245 mẵu giống chưa rõ nguồn gốc ( Mengesha M,H, 1993 ) [63]

Trong số 13.915 lượt mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hìnhthái - nông học, sinh lý - sinh hóa và khả năng chống chịu sâu bệnh, ICRISAT

đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọntạo giống như: Nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượngdầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đócác giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 71 [23]

Các nhà khoa học Mỹ đã không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giốnglạc và đã chọn tạo được nhiều giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, cókhả năng kháng sâu bệnh như: Giống lai F2VA93B chín sớm, hạt to, năngsuất cao, Giống Florigant được trồng rộng rãi ở nhiều vùng, VGP9 là giống cókhả năng kháng bệnh thối thân trắng, bệnh thối quả (Cofelt và cộng sự 1994).Giống NC12C là giống hạt to, có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt, và héoxanh vi khuẩn, năng suất cao 30 - 50 tạ/ha

Australia đã thu thập được 12.160 mẫu giống từ nhiều nước trên thếgiới như Trung Quốc, Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, Bắc Mỹ, Châu ĐạiDương (theo trích dẫn của, Nguyễn Thị Hiên) [26]

Thái Lan cũng đã chọn và đưa vào sản xuất những giống lạc với nhữngđặc tính chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh gỉ sắt, đốm lá, kích thước hạt lớn,năng suất cao như: Khon Kean 60 - 3, Khon Kean 60 - 2, Khon Kean 60 - 1,

và Tainan 9 (Sanun Joglog và CS, 1996) [65]

Trang 23

Ở Inđonêxia, công tác chọn tạo giống cũng được tập trung vào các mụctiêu như: Năng suất cao, chín sớm, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm

lá, gỉ sắt và phẩm chất tốt Các giống có triển vọng và khuyến cáo đưa vàosản xuất như Mahesa, Badak, BiaWar và Koinodo [37]

Philipin đã đưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8 và BPIPn8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá (Perdido,1996) [64]

Hiện nay ở Trung Quốc việc cải tiến giống đã đóng góp một phần rấtlớn cho việc tăng sản lượng lạc Hơn 200 giống có năng suất cao đã được pháttriển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ 20.Kết quả ghi nhận là các giống lạc được trồng ở tất cả các vùng đạt tới 5,46triệu ha Trong số đó có những giống có năng suất cao là Haihua1, Hua 37,Luhua 9, 11, 14 và 8130, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha(Ngô Thế Dân, P.T.Vượng, biên dịch, 1999) [43]

Các giống lạc có chất lượng hạt tốt bao gồm: Baisha 1016, Hua 11, Hua

17, Luhua 10 và 8130 đã sản xuất chủ yếu để xuất khẩu Một số giống khángcao với bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh gỉ sắt như giống: Luhua 3, Zhonghua

2, Zhonghua 4, Yueyou 256 đã được sử dụng rộng rãi ở các vùng có nguy cơnhiễm bệnh cao, nhờ đó mà năng suất lạc luôn được giữ ổn định Trongnhững năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới trong

đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01 - 2101,Yuznza 9614, 99 - 1507, R1549 có năng suất trung bình 46 - 70 tạ/ha(ICRISAT, 2005) [62]

Ấn Độ đã lai tạo và chọn được các giống lạc thương mại mang tính đặctrưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn Độ trồng các giống khác nhau, tạiBang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri - 2, giống Kadiri.- 3 chiều cao cây

23 - 28cm, thời gian sinh trưởng 115 đến 120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệnhân 76% Bang Gujarat trồng giống GAUG - 1, dạng cây đứng, thời gian

Trang 24

sinh trưởng 95 đến 100 ngày Thích ứng trong điều kiện canh tác nước trồng.Bang Haryana, trồng giống MH, dạng thân đứng, lá màu xanh tối, thời giansinh trưởng 105 đến 110 ngày Bang Uttar Pradesh, trồng giống T-28 dạngthân bò, lá xanh đen, hạt chứa 48% dầu năng suất cao (Groundnut) [61]

1.4.2.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng

Tại Ấn Độ, (Kumar và Ventakachary, 1971) [26], cho rằng trồng lạctrong điều kiện nhờ nước trời thì khoảng cách 30,0 cm x 7,5 cm là tốt nhất

Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểuhình Virginia được gieo trồng trong vụ xuân như: Luhua 4, Hua 17 trên đất có

độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000 - 270.000 cây/ha, còn đối với đấtgiàu dinh dưỡng mật độ là 200.000 - 240.000 cây/ha Các giống lạc thuộc loạihình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là360.000 - 420.000 cây/ha Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật

độ là 300.000 - 380.000 cây/ha [43]

A’Brook (1964) [60] cho rằng mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm

tỷ lệ bệnh hại lá, và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so vớitrồng ở mật độ trung bình

Miền Nam Trung Quốc với giống đứng cây trồng trong vụ xuân trên,đất đồi hoặc trong vụ lạc thu ở đất lúa mật độ trồng thích hợp là 270.000 -300.000 cây/ha (Duan Shufen, 1998) [43]

Ở Mỹ lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68cm)

x (10 - 15 cm), (Sturkie và Buchanan, 1973) Trong điều kiện có tưới thìkhoảng cách trồng là (22,5 x 10 cm) tương đương mật độ 44 cây/m2 đạt năngsuất cao nhất (Jagannathan, 1974) [ 26]

1.4.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng pháttriển ngày càng tăng Do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều, năng suất

Trang 25

lạc thấp Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích lạc tăng bìnhquân 7%/năm, sản lượng tăng 9%/năm Từ năm 1990 - 1995, sản xuất lạctăng về diện tích và sản lượng song năng suất còn thấp, chỉ đạt khoảng 1tấn/ha [1].

Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc tăng rõ rệt, năngsuất đạt gần 1,5 tấn/ha [1]

Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) sự biến động về diện tích, năng suất

và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn [1]:

- Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thếgiảm từ 97,1 ngàn ha (1976), xuống còn 91,8 ngàn ha (1979), giảm bình quân2,0%/năm Năng suất và sản lượng giai đoạn này cũng giảm, năm 1976 năngsuất đạt 10,3 tạ/ha, đến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0% Nguyên nhânchính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá sa sút, yêu cầu giải quyết đủlương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tính

tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển [10]

- Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh, từ91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha (1987) Tốc độ tăng trưởng hàngnăm từ 5,6% năm đến 24,8% năm [1]

Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng2,3 lần Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suấtkhông tăng, chỉ dao động từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc lúc này còn mang tínhquảng canh truyền thống [1]

- Từ năm 1988 - 1993: Trong ba năm đầu diện tích trồng lạc giảm từ237,8 ngàn ha (1987) xuống còn 201,4 ngàn ha (1990) giảm với tốc độ 2,0%năm và sau đó phục hồi trở lại Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trường tiêuthụ truyền thống, thị trường mới chưa kịp tiếp cận, giá lạc thế giới giảm trong

2 năm 1988 - 1989 [1]

Trang 26

- Từ năm 1994 - 1998: Giai đoạn này diện tích trồng lạc năm 1998 tăng8% so với 1994 và sản lượng tăng (25%) Tốc độ tăng trưởng chủ yếu là do sựtăng trưởng về năng suất Do chúng ta đã tiếp cận được với thị trường quốc tế

và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên [1]

Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tại Việt Nam từ năm 1997-2008

(1000ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(1000 tấn)

sự chênh lệch nhau khá lớn

Trang 27

Sản xuất lạc ở Việt Nam chia theo 2 miền với 8 vùng trồng lạc chính,(Tổng cục Thống kê Việt nam, 2006).

Miền Bắc: Diện tích 163 nghìn ha, năng suất trung bình 17 tạ/ha, gồmcác vùng: đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ Vùngđồng bằng sông Hồng có diện tích 35 nghìn ha, năng suất cao nhất 21,7 tạ/hacao hơn năng suất trung bình của cả nước 20,6%

Miền Nam: Diện tích 107 nghìn ha, năng suất trung bình 19,5 tạ/ha,gồm các vùng: Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông

Mê Kông Vùng đồng bằng sông Mê Kông có diện tích 14 nghìn ha, năng suấtcao nhất 29,1 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của cả nước 61,7%

1.4.4 Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam

1.4.4.1 Những kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống

Công tác chọn tạo giống ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mụctiêu: Năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinhtrưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống cóchất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu

Ở Việt Nam công tác thu thập và bảo tồn những nguồn gen quý phục

vụ cho công tác chọn tạo giống lạc được quan tâm nhiều Từ những năm

1980, trung tâm giống cây trồng Việt Xô - Viện khoa học kỹ thuật nôngnghiệp Việt Nam (VKHKT NNVN) đã tiến hành thu thập có hệ thống vànhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập vànhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.171giống nhập từ 40 nước trển thế giới (Nguyễn Thị Chinh và CS,2003) [10]

Từ những năm 1974, Bộ môn Cây Công nghiệp, Cây thuốc - TrườngĐại học Nông nghiệp Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằngphương pháp lai hữu tính và phương pháp đột biến phóng xạ

Trang 28

Các giống được chọn tạo bằng phương pháp đột biến: Từ giốngBachsa, sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra các giống: B5000 cóhạt to vỏ lụa màu hồng, năng suất cao ổn định (Lê Song Dự , Nguyễn ThếCôn và CS, 1996) [3].

Các giống được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Senlai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu Trắng vàTrạm Xuyên có năng suất cao sinh trưởng mạnh tương đối chịu rét, vỏ lạcmàu hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu (Lê Song Dự và CS,1996) [3] GiốngL12 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV87157, có năng suất trungbình là 30,0 tạ/ha, chịu hạn khá, nhiễm trung bình một số bệnh như đốm nâu,đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100 hạt 50 - 60 gam ( Nguyễn Văn Thắng va CS,2002) [36]

Giai đoạn 1996 - 2004 Chương trình giống Quốc Gia đã chọn tạo được

16 giống lạc, trong đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14, giống

có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, năng xuất khá MD7, giống chấtlượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh phíaBắc Các Giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn giống Lỳ địa phương phùhợp cho các tỉnh phía Nam (Trần Đình Long, CS, 2005) [26]

Một số giống điển hình đang trồng phổ biến trên cả nước:

Giống MD7: Là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồngxen đều có năng suất, khối lượng hạt lớn, tỷ lệ nhân cao, có khả năng thíchứng rộng, năng suất trung bình đạt 35, tạ/ha, kháng bệnh héo xanh rất cao[38], hiện được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta [6]

Giống L14: Là giống được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quầnthể từ dòng QĐ5 trong tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm 1996, là giống

có tỷ lệ nhân cao 73 - 75%, năng suất 30 đến 40 tạ/ha, là giống có khả năngchịu hạn, kháng bệnh hại lá khá [5]

Trang 29

Giống L18: Là giống thích hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ

50 đến 55 tạ/ha, nhiễm trung bình với các bệnh hại lá Thời gian sinh truởng

vụ xuân 120 đến 130 ngày, vụ thu đông 95 đến 105 ngày Là giống có đặcđiểm chiều cao cây từ 35 - 45cm, thân đứng tán gọn, vỏ lụa màu hồng, khốilượng 100 quả 168 - 178 gam, 100 hạt 60 - 65 gam, tỷ lệ nhân 69 - 71%.Năng suất 55 - 70 tạ/ha [8]

Giống L18 có thân đứng, lá xanh đậm có tiềm năng năng suất rất cao(>50 tạ/ha), quả và nhân lớn rất thích hợp với các vùng đất thịt nhẹ, độ ẩmcao và thâm canh tại các tỉnh Thái Bình, Nam Định

Giống lạc L19 là sản phẩm của tổ hợp lại giữa L18 và L16, là giống lạc

có nhiều triển vọng như năng suất cao 45 - 50 tạ/ha, khối lượng 100 hạt đạt 60

- 65 gam, màu sắc vỏ lụa đẹp, tỷ lệ nhân cao, kháng bệnh lá khá, giống có khảnăng mở rộng cho vùng nước trời [42]

Giống L12 là sản phẩm của tổ hợp lai giữa Trạm Xuyên x ICGV87157 V79 Thời gian sinh trưởng vụ xuân 110 - 120 ngày, vụ thu đông 95 - 110ngày Đặc điểm chính: Cây cao 40 - 60 cm, dạng cây nửa đứng, lá xanh nhạt,gân quả mờ, eo quả trung bình, tỷ lệ nhân 72 - 75%, hạt đều, khối lượng 100hạt đạt 50 - 53 gam, màu vỏ hạt hồng sáng Năng suất trung bình đạt 30 - 35 tạ/

-ha Khả năng chống chịu: kháng bệnh lá đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, chịu hạnkhá, có khả năng trồng trên vùng đất cát ven biển trong điều kiện khô hạn [10]

Giống L23 là giống được nhập nội có tiềm năng năng suất cao 40-45 tạ/ha

Hiện nay nhiều giống cũng đang được khảo nghiệm như L26 là sảnphẩm của tổ hợp lai L08 x TQ6, giống TB 25 giống của Công ty cổ phầngiống cây trồng Thái Bình có tỷ lệ quả 3 - 4 nhân đạt 70%

Mặc dù còn một số hạn chế nhất định, song công tác chọn tạo giống lạc

ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận

Trang 30

Nhiều giống lạc mới có năng suất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh

đã được giới thiệu đưa vào sản xuất và được nông dân chấp nhận Bên cạnh đóhàng loạt các giống địa phương với số lượng đáng kể và các vật liệu di truyền

từ các nước khác nhau đã được thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen câytrồng của viện KHKTNNVN trước đây và ngày nay là Viện Khoa Học NôngNghiệp Việt Nam ( VAAS ) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọntạo giống lạc hiện tại và tương lai Rõ ràng rằng giống mới đã và đang đónggóp vai trò rất lớn mang tính đột phá về tăng năng suất và sản lượng lạc vượttrội cho một vùng sản xuất lạc cụ thể ở trên thế giới và Việt Nam

1.4.2.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ

Theo Ưng Định và Đăng Phú (1987) [12], tổng hợp các nghiên cứu chobiết, tăng mật độ từ 22 cây/m2 (30cm x 15cm x 1 cây) lên 33 cây/m2 (30cm x10cm x 1 cây), năng suất lạc tăng từ 15,0 lên 22,0 tạ/ha Mật độ trồng 44 cây/

m2 (30cm x 15cm x 2 cây), năng suất tăng lên 29,0 tạ/ha Trên đất bạc màuBắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40cm x 20cm x 2 hạt) năng suấtđạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/m2 (30cm x 15cm x 2 hạt) năng suấttăng lên 15,0 tạ/ha

Nguyễn Quỳnh Anh (1994) [1] xác định mật độ trồng thích hợp nhấtcho giống lạc Sen lai (75/23) trên đất cát biển Nghệ An là 35 cây/m2 theokhoảng cách (30cm x 10cm x 1 hạt) Những nghiên cứu ở vùng Đông Nam

Bộ, kết quả cho thấy đạt năng suất lạc đạt cao nhất 28,1 tạ/ha, ở khoảng cáchgieo 20 cm x 20 cm x 2 hạt/hốc đối với giống lạc VD1 (Ngô Thị Lam Giang

và CS 1999) [22]

Theo Nguyễn Thị Chinh và CS (1999) [10], mật độ gieo thích hợptrong điều kiện có che phủ nilon là 25 cm x 18 cm x 2 cây/hốc và không chephủ nilon là 25 cm x 10 cm x 1 cây/hốc

Trang 31

Nguyễn Thị Ngọc Lan, (2008) khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuậtgóp phần nâng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện Chương Mỹ, Hà Tây đốivới giống lạc L14 đã kết luận rằng, gieo ngày 28 tháng 2 năm 2008 trồng vớimật độ 40 cây/m2 cây sinh trưởng, phất triển tốt hơn so với các giống kháctrong cùng điều kiện, năng suất thực thu đạt được 27,9 tạ/ha [28].

Theo Vũ Đình Chính (2008) với mật độ gieo 40 cây/m2 đã cho năngsuất của giống L14 đạt cao nhất 28,05 tạ/ha, trong khi mật độ 20 cây/m2 chỉđạt 23,89 tạ/ha, với mật độ gieo 30 cây/m2 năng suất đạt 26,00 tạ/ha, 50 cây/

m2 26,25 tạ/ha, 60cây/m2 năng suất đạt 25,3 tạ/ha [12]

Các kết quả nghiên cứu về thời vụ và mật độ trồng lạc ở trong và ngoàinước đã chỉ ra rằng, với một giống trồng cụ thể tại một vùng sinh thái nhấtđịnh chỉ đạt tới một năng suất tối ưu ở một mật độ phù hợp

1.5 Tính chịu hạn ở thực vật

1.5.1 Hạn và các hình thức hạn ảnh hưởng đến cây trồng

Hạn là tác động của môi trường gây nên sự mất nước của thực vật [48]

Có 3 hình thức hạn ảnh hưởng đến cây trồng là hạn đất, hạn không khí và hạn

tổ hợp [48]

Hạn đất xảy ra khi lượng nước trong đất thiếu nhiều không đủ cho rễhút để cung cấp cho cây Vì thế, cây có thể bị héo và chết Tuy nhiên, cũng cónhững trường hợp đủ nước mà cây vẫn héo, nguyên nhân là do hạn sinh lýgây nên Hạn không khí thường xảy ra khi không khí môi trường có nhiệt độcao và độ ẩm thấp, ví dụ như gió nóng Israel, gió Lào ở miền Trung nướcta làm cho cây thoát hơi nước quá mạnh, vượt xa mức bình thường và dẫntới hiện tượng mất nước, do rễ hút vào không bù đủ lượng nước mất đi, làmcác bộ phận non của cây thiếu nước Hạn tổ hợp là sự phối hợp thiếu nướctrong đất và trong không khí

Trang 32

1.5.2 Tác hại của hạn lên thực vật

1.5.2.1 Tác hại của hạn lên thực vật

Thiếu nước sẽ gây nên các hậu quả rất lớn đối với hoạt động sống củacây Trước tiên ảnh hưởng đến sự cân bằng nước của cây, từ đó ảnh hưởngđến các chức năng sinh lý khác như quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng

và cuối cùng là ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của thực vật dẫnđến giảm năng suất

Khi gặp hạn trạng thái của chất nguyên sinh của tế bào thay đổi mạnh,ảnh hưởng đến tính chất hoá lý của chất nguyên sinh như tính thấm, mức độthuỷ hoá của keo, thay đổi pH, độ nhớt, dẫn đến sự thay đổi vị trí các thànhphần cấu tạo nên chất nguyên sinh, cuối cùng ảnh hưởng đến quá trình traođổi chất bình thường của cơ thể [53] Trong thời gian cây bị hạn, hàm lượngnước tự do trong lá giảm xuống nhưng hàm lượng nước liên kết lại tăng lên.Chất nguyên sinh của tế bào có tính đàn hồi lớn thì cây có khả năng chịu hạncao [45]

Hạn còn ảnh hưởng đến hô hấp Trong thời gian khô hạn, ở những câytrung s inh thường tăng cường hô hấp Nhờ gia tăng hô hấp mà cây giữ được

độ ngậm nước của keo nguyên sinh chất [53] Sự tăng cường quá trình thuỷphân khi gặp điều kiện khô hạn là nguyên nhân tăng cường hô hấp trong cây.Khi mất nước ban đầu hô hấp tăng, nhưng sau đó giảm đột ngột, nếu tìnhtrạng thiếu nước kéo dài [45]

Thiếu nước ảnh hưởng đến quang hợp Hạn hán đã ảnh hưởng xấu đếnquá trình hình thành diệp lục, phá hoại lạp thể nên hiệu suất quang hợp giảmxuống nhanh chóng Theo Buxigon, cây trúc đào khi bị hạn thì cường độquang hợp giảm 40% [45]

Hạn ảnh hưởng đến hoạt động hút khoáng của hệ rễ, dẫn đến tình trạngthiếu những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình trao đổi và tổng

Trang 33

hợp các chất hữu cơ khác nhau trong cơ thể thực vật [53] Hạn ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình sinh trưởng các tế bào, đặc biệt là trong pha giãn của tế bào,

từ đó mà ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của toàn cây [45]

1.5.2.2 Ảnh hưởng của hạn đến cây lạc

Trong mỗi thời kỳ sinh trưởng, cây lạc chỉ có khả năng chịu hạn ở mộtmức độ nhất định Biểu hiện bề ngoài nhận thấy rõ rệt nhất khi cây lạc bị hạn

ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng là ở bộ lá Khi độ ẩm đất giảm, lá lạc nhỏ vàdày, màu lá từ xanh đậm chuyển dần sang xanh nhạt do diệp lục bị phá hủy[55] Trong điều kiện bị hạn tức thời, lá vẫn giữ nguyên kích thước nhưngsức trương tế bào giảm, khí khổng khép lại, lá bị rũ xuống [54]

Thời kỳ trước ra hoa là thời kỳ cây lạc chịu được hạn lớn nhất, vì tronggiai đoạn này nhu cầu về nước của cây lạc không lớn lắm, độ ẩm thích hợp từ60% - 65% Bị hạn trong thời kỳ trước ra hoa ảnh hưởng đến tốc độ sinhtrưởng của cây lạc, làm cho quá trình sinh trưởng phát triển bị chậm lại [58]

Ở giai đoạn ra hoa, thiếu nước sẽ làm giảm số hoa, tỷ lệ hoa có ích, cácđợt rộ không được hình thành, kéo dài thời gian ra hoa - chín của lạc, gây ảnhhưởng đáng kể tới năng suất Tuy nhiên, nếu được tưới kịp thời lượng hoa nởhàng ngày có thể phục hồi nhanh chóng [54]

Trong giai đoạn hình thành quả, do diện tích lá đạt cao nhất, tốc độchất khô tích lũy cũng cao cho nên cần lượng nước lớn nhất Nếu thiếu nướctrong giai đoạn này sẽ làm giảm số quả chắc, giảm trọng lượng hạt, dẫn đếngiảm năng suất [58]

1.5.3 Cơ sở sinh lý, sinh hóa và di truyền của tính chịu hạn ở thực vật 1.5.3.1 Cơ sở sinh lý của tính chịu hạn

Nước có ý nghĩa quyết định đến đời sống của thực vật Thiếu nước cây

sẽ chết non hoặc giảm sức sống, giảm năng suất Do sự thiếu nước của môitrường, nhiệt độ thấp hay nhiệt độ cao có thể gây ra hiện tượng mất nước

Trang 34

của cây Để đáp ứng sự thiếu hụt nước trong điều kiện cực đoan, cây bắt buộcphải có những cơ chế thích ứng đặc biệt giúp cây duy trì sự tồn tại khi bị hạn.

Ở thực vật, khi đề cập cơ chế chịu hạn người ta thường chú ý đến vaitrò của bộ rễ và khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế bào

Về vai trò của bộ rễ: Những cây chịu hạn có bộ rễ khoẻ, dài, mập, cósức xuyên sâu giúp cây hút được nước ở tầng đất sâu Bộ rễ lan rộng, có nhiều

rễ phụ và có nhiều mô thông khí, cùng với hệ mạch dẫn phát triển giúp choviệc thu nhận và cung cấp nước tới các bộ phận khác của cây trong điều kiệnkhó khăn về nước

Về khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu: Khi tế bào bị mất nước dầndần, các chất hòa tan sẽ được tích lũy trong tế bào chất (như: đường, axit hữu

cơ, axit amin, các ion chủ yếu là ion K+ ), các chất này có tác dụng điềuchỉnh áp suất thẩm thấu Áp suất thẩm thấu tăng giúp cho tế bào rễ thu nhậnđược những phân tử nước ít ỏi còn trong đất Bằng cơ chế như vậy, thực vật

có thể chịu được sự mất nước trong thời gian ngắn [48]

Ngoài ra, thực vật còn có khả năng chống chịu hạn bằng những biếnđổi về hình thái như lá cuộn lại thành ống, lá có nhiều lông, cu tin dày đểgiảm thoát hơi nước [53]

1.5.3.2 Cơ sở sinh hóa và di truyền của tính chịu hạn

Khi phân tích thành phần hóa sinh của các cây chịu hạn, các nghiên cứuđều cho rằng, khi cây gặp hạn có hiện tượng tăng lên về hoạt độ enzyme, hàmlượng ABA, hàm lượng proline, nồng độ ion K+, các loại đường, axit hữucơ, giảm CO2, protein và axit nuc leic [46], [47],[50], [59]

Nghiên cứu sự đa dạng và hoạt động của enzyme trong điều kiện gâyhạn đã được nhiều tác giả quan tâm Trần Thị Phương Liên (1999) nghiên cứuđặc tính hóa sinh của một số giống đậu tương có khả năng chịu nóng, hạn đãnhận xét rằng áp suất thẩm thấu cao ảnh hưởng rõ rệt tới thành phần và hoạt

Trang 35

độ protease, kìm hãm sự phân giải protein dự trữ [48] Một số nghiên cứu trêncác đối tượng như lạc, lúa, đậu xanh, đậu tương cho thấy, có mối tươngquan thuận giữa hàm lượng đường tan và hoạt độ enzyme α - amylase, giữahàm lượng protein và hoạt độ protease [49], [51], [57] Đường tan là mộttrong những chất tham gia điều chỉnh áp suất thẩm thấu trong tế bào Sự tănghoạt độ α - amylase sẽ làm tăng tăng hàm lượng đường tan do đó làm tăng ápsuất thẩm thấu và tăng khả năng chịu hạn của cây trồng [52], [59].

Những thay đổi hóa sinh khác do hạn gây ra cũng đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu, trong đó có sự biến đổi hàm lượng axit aminproline Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số giống lúa cạn địa phương ởvùng núi phía Bắc, tác giả Chu Hoàng Mậu và Cs (2005) đã nhận xét, khảnăng chịu hạn của cây lúa cạn phụ thuộc tuyến tính vào hàm lượng proline[56] Xử lý hạn bằng dung dịch sorbitol 5% đối với một số dòng lúa tái sinh

từ mô sẹo chịu mất nước, tác giả Đinh Thị Phòng (2001) cho thấy, hàm lượngproline của các dòng chọn lọc khi bị xử lý sorbitol tăng lên và vượt xa so vớiđối chứng (không bị xử lý) [59]

Tính chống chịu là tính trạng đa gen, được biểu hiện khác nhau trongcác giai đoạn phát triển của cây Trên thực tế vẫn chưa tìm được gen thực sựquyết định tính chịu hạn mà mới chỉ tìm thấy các gen liên quan đến tính chịuhạn Vì vậy nghiên cứu cơ chế phân tử của tính chịu hạn chủ yếu đi vàohướng chính đó là nghiên cứu biểu hiện và chức năng của các chất và các gentương ứng liên quan đến khả năng bảo vệ của tế bào khỏi tác động của stress.Một trong những nhóm gen liên quan đến các điều kiện mất nước là các gen

mã hóa nhóm protein có tên gọi là LEA (Late embryogenesis abundantprotein) LEA không những đóng vai trò điều chỉnh quá trình mất nước sinh

lý khi hạt chín, mà còn hạn chế sự mất nước bắt buộc do các điều kiện ngoạicảnh bất lợi như hạn, nóng lạnh Mức độ phiên mã của LEA được điều

Trang 36

khiển bởi ABA và độ mất nước của tế bào Ngoài ra, những nhóm chất nhưprotein sốc nhiệt (HSP - heat shock protein), MGPT (molecular chaperone),ubiquitin cũng được đặc biệt quan tâm nghiên cứu [48].

Như vậy, cơ chế chịu hạn của thực vật rất phức tạp, nó không chỉ liênquan đến đặc điểm hình thái giải phẫu của thực vật, mà còn liên quan đếnnhững thay đổi về thành phần hoá sinh trong tế bào, sự điểu chỉnh hoạt độngcủa gen

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khả năng chịu hạn của các giống lạc gồm: L14, L20, L23, L26 và SenNghệ an Giống được thu thập từ các trung tâm giống trong tỉnh và ViệnKhoa học kỹ thuật Bắc Trung Bộ

Trang 37

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển của các giống lạc:L14, L20, L23, L26 và Sen Nghệ an

- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng chịu hạn của các giống lạc: L14, L20,L23, L26 và Sen Nghệ an

- Các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng của các giống lạc: L14, L20,L23, L26 và Sen Nghệ an

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp bố trí ruộng thí nghiệm

* Thí nghiệm đồng ruộng: Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn

ngẫu nhiên 5 công thức x 3 lần nhắc lại

* Thí nghiệm trong chậu: 5 công thức x 3 lần nhắc lại x 6 cây/chậu

2.3.2 Quy mô thí nghiệm đồng ruộng

Trang 38

Bảo vệ

2.4 Các biện pháp kỹ thuật

Đất trồng lạc được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, trước khi lên luống vãitoàn bộ vôi bột thật đều trên mặt đất Sau đó bón toàn bộ phân chuồng, phânhỗn hợp NPK 3: 9: 6 với lượng 35-50 kg/sào

Gieo hạt theo hàng với mật độ và khoảng cách như sau: hàng cách hàng

25 cm, cây cách cây 10 cm, mật độ 36 cây/m2

Xới xáo làm cỏ kết hợp bón phân

Tưới nước tùy theo điều kiện cụ thể thời tiết

Thường xuyên theo dõi để phòng trừ sâu bệnh hại kịp thời

Khi 80 % số quả trên cây chín (bên trong vỏ quả có màu nâu đen) thìthu hoạch, phơi sấy và bảo quản sau thu hoạch

2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.5.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng

 Thời gian sinh trưởng (ngày)

- Từ khi gieo hạt đến lúc hạt mọc mầm: 10 % số cây trên ô có lá mầnlồi lên khỏi mặt đất

- Từ khi gieo đến khi bắt đầu ra hoa: 10 % số hoa/cây/ngày > 4 hoa

- Từ khi gieo đến kết thúc ra hoa: số hoa bình quân/cây/ngày < 1 hoaliên tiếp trong 3 ngày

- Từ khi gieo đến khi thu hoạch

 Chiều cao thân chính qua các thời kỳ

Dùng thước đo từ điểm phân cành cấp 1 đầu tiên đến đỉnh sinh trưởngcủa cây tại các thời kỳ theo dõi Mỗi lần nhắc lại đo ngẫu nhiên 10 cây rồitính giá trị trung bình

Số cành cấp 1 và 2 ( cành/cây); chiều dài cành cấp 1 và 2 (cm/cành)

Trang 39

Đếm số cành và đo chiều dài cành cấp 1, đếm số cành và đo chiều dàicành cấp 2 trên cây tại thời kỳ thu hoạch Mỗi lần nhắc lại đếm và đo ngẫunhiên 10 cây rồi tính giá trị trung bình.

 Số lá trên thân chính (lá/cây)

Đếm số lá tại các thời kỳ theo dõi Mỗi lần nhắc lại đếm và đo ngẫunhiên 10 cây rồi tính giá trị trung bình

2.5.2 Các chỉ tiêu sinh lý

 Diện tích lá (dm2lá/cây) và chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất):

Lạc là cây trồng có độ dày mỏng lá và gân lá phân bố tương đối đồngđều nên sử dụng phương pháp khoan lá và cân nhanh trực tiếp để xác định

Xác định diện tích lá (LA): Tại các thời kỳ theo dõi, mỗi lần nắc lại nhổliện tục 10 cây ở 2 vị trí gần 2 góc chéo, cắt toàn bộ lá đem cân được p1gam.Dùng khoan lá có bán kính xác định r, khoan 20 lá bánh tẻ rồi đem cân đượcp2gam Diện tích trung bình 1 cây là: LA = (p1*20*3,14*r2 )/p2 (dm2lá/cây)

Xác định chỉ số diện tích lá (LAI): (m2 lá/ m2 đất) Dùng phuơng phápcân nhanh để xác định diện tích lá trung bình một cây (m2 lá)

Theo công thức LAI = số cây/m2 x diện tích lá /cây (m2 lá/m2 đất)

 Khối lượng diện tích lá (g/dm2)

Ngắt các lá đại diện cho các tầng lá trên thân chính và cành cấp 1.Khoan lá bằng ống khoan tự tạo bằng inox mài sắc, đường kính khoảng

1,5 - 2cm (dùng 2 cỡ thích hợp với kích thước lá)

 Sự tích lũy chất khô (g/cây)

Đến thời kỳ quả vào chắc trở đi, tách chất khô của cây thành các bộphận khác nhau và tính tỷ lệ chất khô của: Lá, thân rễ, củ và hạt Nhằm biếtđược khả năng chịu hạn ảnh hưởng đến sự vận chuyển và tích lũy các chất từ

lá, thân rễ, củ và hạt

 Đặc tính ra hoa

Trang 40

Theo dõi đặc tính ra hoa khi lạc bắt đầu ra hoa, chọn 10 cây trên ô rahoa cùng ngày để theo dõi số hoa/cây từng ngày cho đến khi kết thúc ra hoa(số hoa bình quân/cây/ngày < 1 hoa liên tiếp trong 3 ngày ) Từ đó xác định tỷ

lệ hoa hữu hiệu (%), tỷ lệ hoa hữu hiệu càng nói lên khả năng chịu hạn vì giaiđoạn cuối gần thu hoạch khoảng 1 tháng là thời điểm khô, nóng do gió lào

Bảng 2.1. Diễn biến của các yếu tố khí hậu thời tiết trong các tháng thí nghiệm

Tháng Nhiệt độ không khí ( o C) Độ ẩm

không

Tổng số giờ nắng

Tổng lượng

Ngày đăng: 29/03/2020, 23:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích, NS, sản lượng lạc trên thế giới giai đoạn 2000 - 2008        Chỉ tiêu - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 1.1. Diện tích, NS, sản lượng lạc trên thế giới giai đoạn 2000 - 2008 Chỉ tiêu (Trang 18)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm Bảo vệ - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm Bảo vệ (Trang 36)
Bảng 3.2. Số cành và chiều dài cành của các giống - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.2. Số cành và chiều dài cành của các giống (Trang 46)
Bảng 3.4. Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các giống - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.4. Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các giống (Trang 49)
Bảng 3.7. Khả năng ra hoa của các giống - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.7. Khả năng ra hoa của các giống (Trang 55)
Bảng 3.8. Độ ẩm đất cây héo và cường độ thoát hơi nước ở các giống lạc - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.8. Độ ẩm đất cây héo và cường độ thoát hơi nước ở các giống lạc (Trang 57)
Bảng 3.10. Một số đặc điểm hình thái của các giống lạc - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.10. Một số đặc điểm hình thái của các giống lạc (Trang 63)
Bảng 3.11. Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống lạc - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.11. Các chỉ tiêu cấu thành năng suất của các giống lạc (Trang 64)
Bảng 3.12. Năng suất của các giống lạc - Đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân trên đất cát nội đồng tại trại thực nghiệm nông học, trường đại học vinh, nghệ an
Bảng 3.12. Năng suất của các giống lạc (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w