ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---NGUYỄN KHÁNH LINH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN KHẨU VỊ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-NGUYỄN KHÁNH LINH
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN KHẨU VỊ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNGCHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-NGUYỄN KHÁNH LINH
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN KHẨU VỊ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Nghiên cứu tác động của hội đồng quản trịđến khẩu vị rủi ro của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là kết quảnghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trìnhnghiên cứu nào của người khác
Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theođúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo,thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mụctài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm
2020Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Quý Thầy, Cô giáotrường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiếnthức cho tôi trong thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Trần Thị Thanh Tú đã tậntình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn để tôi hoànthành bản luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đãtạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Linh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHẨU VỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .
1.1 Ngân hàng thương mai và rủi ro trong hệ thố ng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.2 Đặc trưng của ngân hàng thương mại
1.2 Tổ ng quan về khẩu vị rủi ro của ngân hàng thương mại
1.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về HĐQT và khẩu vị rủi ro tài chính của NH 1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về HĐQT và khẩu vị rủi ro tài chính của NH 19 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .
2.1 Phương pháp tiếp cận và các biến nghiên cứu
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.4 Đối tượng và phạm vi khảo sát
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HĐQT VỚI KHẨU VỊ RỦI RO CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM .
3.1 Bối cảnh hệ thống TC-NH Việt Nam
3.2 Những tham số chính đánh giá khẩu vị rủi ro của NHTM
3.3 Mô hình và các biến hồi quy
3.4 Kết quả phân tích, khảo sát cho biến NPL… ………50
3.5 Kết quả phân tích, khảo sát cho biến DR
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .
4.1 Kết luận
4.2 Một số khuyến nghị để nâng cao năng lực quản trị rủi ro c ủa các ngân hàng 63 4.2.1 Khuyến nghị với Ngân hàng Nhà nước
4.2.2 Khuyến nghị đối với các ngân hàng thương mại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển và hội nhập của hệ thống ngân hàng, các ngân hàngthương mại cổ phần đang ngày càng lớn mạnh và có vai trò hết sức quan trọngtrong hệ thống tài chính của Việt Nam Bên cạnh hoạt động kinh doanh để manglại lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh tài chính, các ngân hàng thương mại
cổ phần với đặc trưng riêng phải đương đầu với những rủi ro trong quá trình hoạtđộng Và những thành – bại, lợi nhuận hay rủi ro của các ngân hàng thương mại
cổ phần phụ thuộc trước hết vào các quyết sách của bộ máy lãnh đạo cao nhất –Hội đồng quản trị Vì thế, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnhhưởng của hội đồng quản trị lên các hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Tuynhiên, khẩu vị rủi ro – được hiểu là sự tích hợp và mức độ của những thành tốtác động và quyết định đến nợ xấu của các ngân hàng là khái niệm khá mới mẻ
và chưa có nhiều nghiên cứu sâu về lĩnh vực này
Trên cơ sở dữ liệu của một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giaiđoạn 2007-2018, Luận văn đã khảo sát, phân tích những yếu tố chủ yếu tác độngđến hiệu quả hoạt động của hội đồng quản trị và khẩu vị rủi ro của các ngân hàngthương mại cổ phần, trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp vớiNgân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm góp phần nângcao năng lực của các thành viên hội đồng quản trị và giảm thiểu rủi ro, phát triểnbền vững cho các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Do năng lực và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn Luận văn không tránhkhỏi khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được từ các thầy cô và các đồng nghiệpcác ý kiến đóng góp để hoàn thiện và bổ sung trong những nghiên cứu tiếp theo
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KHẨU VỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương mai và các đặc trưng
1.1.1 Ngân hàng thương mại và khái niệm rủi ro trong hệ thống ngân hàng
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính được hoạt động theo nguyêntắc cổ phần hóa và vì mục đích lợi nhuận Quá trình hình thành và gây dựng
hệ thống ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần,đảm nhiệm việc kinh doanh tiền tệ Hơn nữa, NHTM cung cấp rất nhiều cácsản phẩm, dịch vụ về tài chính đa dạng như tín dụng, tiết kiệm, cho vay, bảolãnh và các dịch vụ thanh toán, tài chính khác Để xác định các đặc trưng củaNHTM, có thể dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trườngtài chính, hoặc kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động
Ngân hàng Trung ương Thuỵ điển – Bank of Sweden thành lập vào năm 1669được coi là Ngân hàng Trung ương đầu tiên trên thế giới, tiếp đến là Ngân hàngTrung ương Anh – Bank of England, 1694, Ngân hàng Trung ương Mỹ – USFederal Reserve, 1912, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cáchviết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh haycho vay thương mại Khái niệm Ngân hàng thương mại của Luật Ngân hàng (ĐanMạch, 1930) căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động: “Những Ngân hàngthiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghềthương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện
các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm,…” Ở Việt Nam, NHTM là ngân hàng được
thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
Trang 10của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận (Thông tư
20/VBHN-NHNN ngày 12 tháng 12 năm 2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Nhưvậy, NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính mà hoạtđộng chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch
vụ thanh toán trong nền kinh tế Hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàngthương mại được biểu hiện qua chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch lãi suất,chuyển đổi kỳ hạn nguồn vốn – tài sản, chuyển đổi rủi ro nguồn vốn – tài sản,
và tích tụ và tập trung tư bản
Việt Nam có thị trường tài chính dựa trên ngân hàng, vốn bị chi phối bởi cácngân hàng NHTM Việt Nam đang dần trở thành một trong những nhân tố quantrọng nhất trong hệ thống tài chính Tuy nhiên, một số điểm yếu của các NHTM như
nợ xấu cao, thanh khoản không ổn định, sở hữu chéo, quản trị ngân hàng kém đãlàm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng Hệ thống ngân hàng ViệtNam đang trải qua những thay đổi đáng kể kể từ khi Việt Nam trở thành thành viêncủa Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007 Trong hai mươi năm qua, hệthống tài chính Việt Nam và đặc biệt là hệ thống ngân hàng đã chuyển từ một hệthống độc quyền sang một hệ thống đa dạng cho phép tất cả những người tham giacạnh tranh công bằng và hiệu quả Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã dần pháttriển với số lượng tổ chức ngân hàng, quy mô của ngành ngân hàng, lượng tín dụng
và dịch vụ ngân hàng tăng lên Mặc dù đã phát triển trong những năm gần đây,ngành ngân hàng Việt Nam không tránh khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầubắt đầu từ năm 2008 Điều này đặt ra thách thức đối với ngành ngân hàng tại ViệtNam về hiệu quả hoạt động Một trong những vấn đề chính của ngành ngân hàngViệt Nam, đặc biệt là các NHTM là làm thế nào để nâng cao hiệu quả
Trang 11hoạt động và tìm hiểu về tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi
ro của ngân hàng
Ở hầu hết các quốc gia, NHTM là một trong những tổ chức tài chính quantrọng nhất Nó có thể thu hút dòng tài chính, cung cấp tín dụng và các dịch vụ tàichính khác nhau rất linh hoạt Những hoạt động này có tác động quan trọng đến
sự phát triển kinh tế quốc gia Do đó, các NHTM nên được đánh giá và phân tíchbằng các kỹ thuật hiện đại và chính xác để xếp hạng trong hệ thống ngân hàng
và cải thiện hiệu suất của họ Việt Nam vẫn đang trên con đường hội nhậpquốc tế, điều này mang lại cả cơ hội và thách thức cho nền kinh tế, đặc biệt là
hệ thống ngân hàng Hội nhập kinh tế mang lại một môi trường cạnh tranhlành mạnh và bình đẳng cho các NHTM Hơn nữa, nó mang lại cơ hội trao đổi
và hợp tác quốc tế trong hoạch định chính sách tài chính và tiền tệ, quản lýngoại hối, kiểm tra và giám sát rủi ro Do đó, vị thế và uy tín của NHTM ViệtNam trong dịch vụ ngân hàng giao dịch toàn cầu sẽ được nâng cao Bên cạnhnhững cơ hội này, hệ thống ngân hàng còn phải đối mặt với sự cạnh tranh từcác ngân hàng quốc tế về giá cả, dịch vụ, phân phối
Trong khi đó, NHTM Việt Nam rất khó có thể khẳng định vị thế của mìnhtrên thị trường quốc tế vì khả năng cạnh tranh còn thua kém Không có bất kỳ ngânhàng nào có thể đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu của khách hàng Nếu một ngânhàng có lợi thế về mặt này, nó có thể sẽ gặp khó khăn và trở ngại ở các mặt khác
Do đó, trong thị trường mở với sự tham gia của nhiều ngân hàng trong nước và quốc
tế hơn, các NHTM Việt Nam phải phát huy thế mạnh và cải thiện điểm yếu củamình để duy trì và tăng thị phần cũng như lợi nhuận Nó tạo ra một yêu cầu đánh giá
kĩ lưỡng lại sự thành công và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương
Trang 12mại Việt Nam bằng các kỹ thuật chính xác và hiện đại nhất để đáp ứng nhiềuyêu cầu khác nhau.
Như vậy, bên cạnh việc xem xét lợi nhuận của các ngân hàng, chúng tacũng cần đánh giá mức độ rủi ro mà các ngân hàng gặp phải Đo lường lợi nhuậnngân hàng là quan trọng không chỉ đối với chính ngân hàng, mà còn đối với các
cơ quan giám sát để đảm bảo sự ổn định tài chính Rủi ro tín dụng mà các ngânhàng của Việt Nam phải đương đầu lại tạo ra phần lợi nhuận lớn nhất cho cácngân hàng Vì vậy, quản lý hiệu quả danh mục cho vay là được coi là một trongnhững yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM
Nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro củacác ngân hàng thương mại đang thu hút rất nhiều sự chú ý của không chỉ các họcgiả mà cả các cổ đông, nhà quản lý và cơ quan quản lý Có nhiều cách tiếp cậnkhác nhau để đánh giá tầm ảnh hưởng của hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi rocủa các ngân hàng thương mại, ví dụ, sử dụng các phương pháp phân tích địnhlượng hoặc chọn kết quả đánh giá cho từng khía cạnh như lợi nhuận, mức độ rủi
ro, khả năng quản lý, khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, hiện giờ chưa có nhiềunghiên cứu về tác động của Hội đồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của các ngânhàng thương mại ở Việt Nam Tối đa hóa lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro là mụctiêu quan trọng cần phấn đấu đạt được của tất cả các ngân hàng thương mại.Đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng thương mại không chỉ là các ngân hànglập kế hoạch làm thế nào để tạo ra lợi nhuận ít hay nhiều so với các ngân hàngkhác? Một ngân hàng tạo thu được lợi nhuận cao hơn các ngân hàng khác sẽkhông có nghĩa là tốt nếu ngân hàng đó chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn thay vìcải thiện chất lượng tài sản hoặc quản lý điều hành chi phí
Trang 13Rủi ro tín dụng là một nội hàm quan trọng của rủi ro tài chính Luồngvốn tín dụng của các ngân hàng luôn đóng một vai trò quan trọng trong sựtăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là đối với các nướcđang phát triển Việc kiểm soát hiệu quả luồng vốn tín dụng, giảm rủi ro tíndụng sẽ tăng cường sử dụng hiệu quả vốn và làm tăng luồng vốn, từ đó thúcđẩy sự phát triển kinh tế Do đó, rủi ro tín dụng là một trong những mối quantâm và lợi ích hàng đầu của các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách.
Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay không đáp ứng nghĩa vụ theohợp đồng để trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận Cùng với rủi ro lãi suất, đó làrủi ro chính trong hoạt động cho vay của ngân hàng Một NHTM nắm giữ tài sảnhữu ích, rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng không trả nợ kịp thời - điều đó có nghĩa
là khách hàng không thể trả gốc và lãi theo hợp đồng đã ký Rủi ro tín dụng cónghĩa là bất kỳ thay đổi có thể xảy ra theo chiều hướng xấu nào của thu nhập ròng
và giá trị thị trường của vốn phát sinh khi khách hàng không có khả năng tài chính
để thanh toán được hoặc thanh toán trễ Rủi ro tín dụng được xác định là người vaykhông trả lãi hoặc trả nợ gốc đúng với thời gian quy định trong hợp đồng tín dụng.Đây là bản chất vốn có của hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.Rủi ro tín dụng là sự trả nợ muộn màng hoặc trong trường hợp xấu hơn, không cóđiều kiện tài chính đầy đủ để thanh toán Điều này gây ra vấn đề cho dòng tiền, ảnhhưởng đến thanh khoản của các ngân hàng Rủi ro tín dụng là một khoản lỗ có khảnăng xảy ra khi ngân hàng thương mại cung cấp khoản vay tín dụng cho khách hànghoặc khả năng dự định dòng thu nhập từ các khoản vay của các ngân hàng khôngthể áp dụng và thực hiện đầy đủ cả số lượng và thời gian cần thiết Rủi ro tín dụngcòn được xác định là tổn thất tài chính của các ngân hàng do một nhóm khách hàngkhông trả được nợ cho các ngân hàng
Trang 14Trong thông tư số 02/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam ban hành, rủi ro tín dụng là tổn thất có thể gây ra cho các tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi khách hàng không hoặc không thểthực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ tài chính theo cam kết Từ địnhnghĩa trên, rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa rộng rãi là rủi ro tổn thất tàichính (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi người vay không thực hiện nghĩa vụ thanhtoán theo các cam kết hoặc họ không thể trả lại.
Rủi ro có thể được định nghĩa theo nhiều cách, ví dụ như việc giảm giá trịdoanh nghiệp do thay đổi một số yếu tố cơ bản của môi trường kinh doanh hoặc sựkhông chắc chắn về giá trị doanh nghiệp hoặc hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, xácsuất xảy ra và không xảy ra Rủi ro tài chính là loại rủi ro liên quan đến phần tàichính có nghĩa là tổn thất có thể xảy ra do các biến số tài chính Nó có thể là từ thịtrường tài chính, như rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối hoặc rủi ro tín dụng, hoặc từhoạt động kinh doanh nội bộ, chẳng hạn như rủi ro thanh khoản và rủi ro vốn Các tổchức tài chính có thể đối mặt với một số loại rủi ro: rủi ro có thể được loại bỏ khicác hoạt động kinh doanh được tổ chức hợp lý, rủi ro có thể được chuyển giao cho
tổ chức khác bằng một số công cụ tài chính và rủi ro mà có thể được xử lý bởi chínhngân hàng Đối với những khoản rủi ro không thể loại bỏ hoặc chuyển nhượng được
và cần được chấp nhận ở cấp ngân hàng, ngân hàng nên quản lý rủi ro một cách hiệuquả để có thể đạt được hiệu quả hoạt động tài chính
Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của các ngân hàng.Theo ủy ban giám sát ngân hàng Basel, những phương thức quản trị công ty hiệuquả là điều cần thiết để đạt được và duy trì niềm tin của công chúng với hệ thốngngân hàng - điều rất quan trọng và cần thiết đối với hoạt động hiệu quả của toàn bộngành ngân hàng và nền kinh tế nói chung Vì hệ thống ngân hàng đóng góp
Trang 15một vai trò cụ thể đáng kể trong nền kinh tế, quản trị công ty là rất quan trọng
và vì vậy việc quản lý rủi ro là rất cần thiết trong các tổ chức tài chính Đã cónhiều nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu và hội đồng quản trị đối vớirủi ro ngân hàng, mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và rủi ro tài chính,nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hội đồng quản trị đếnkhẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại
1.1.2 Đặc trưng của ngân hàng thương mại
Một là, về cấu trúc tài chính và tài sản: NHTM là doanh nghiệp có quy
mô lớn, hệ số nợ cao và cấu trúc tài sản đặc biệt.
Hai là, phong phú và năng động về các dịch vụ tài chính Ở Việt Nam, vốn
chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại là hàng nghìn tỷ đồng còn đối với cácNgân hàng thương mại trên thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ.Mạng lưới các chi nhánh NHTM thường rất rộng lớn và phân tán rộng rãi khắpmọi nơi Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngânhàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài ngân hàng Đâycũng là nhân tố quan trọng tác động đến khẩu vị rủi ro của các ngân hàng này
Do đó, để đảm bảo có lợi nhuận cao, các ngân hàng thương mại thường phải tíchcực liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới
Ba là, cấu trúc tài sản của ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với
các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính Do
vậy, các ngân hàng thường mại thường được cổ phần hóa
Bốn là, hoạt động của ngân hàng thương mại do áp lực của nguồn vốn
huy động, nên luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt
chẽ của hệ thống luật pháp
Trang 16Năm là, khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại rất nhạy cảm Khẩu vị
rủi ro được đánh giá thông qua các nợ xấu, năng lực xử lý nợ xấu của ngân hàng Và
để quản lý rủi ro và giảm thiểu nợ xấu, tổ chức tài chính cần hiểu rõ tại sao kháchhàng thất bại trong việc trả nợ Các doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi rotrong hoạt động cũng cao Thêm vào đó, nguồn vốn nợ chủ yếu của ngân hàngthương mại lại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút ra trước thời hạn với khối lượngkhông dễ để xác định Sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng không được hưởng quy chếbảo hộ độc quyền và mang tính phức tạp, trực tiếp Hơn nữa, ngân hàng thương mạitham gia vào nhiều cam kết trong khi chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạtđộng ngoại bảng phong phú và đa dạng Điểm này là một đặc trưng khác biệt vớicác loại hình doanh nghiệp tài chính khác Vì những lý do này, hoạt động của ngânhàng thương mại chứa đựng nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác Rủi rotrong hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh
và dễ lây lan Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm các loạirủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối,rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,…
Sáu là, ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của
hệ thống phát luật Việt Nam Các quy định pháp lý đối với Ngân hàng thương
mại được phổ rộng trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiệnkinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo ngân hàng, dự trữ bắt buộc, bảohiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,…
Bảy là, tính liên kết và ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Hệ
thống NHTM có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn Hơn bất cứ ngành kinh doanhnào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lan toả rất nhanh
Trang 17Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần mộtNHTM, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khókhăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống Thực tiễn
đã cho thấy, thanh khoản được ví như hơi thở của sự sống của hoạt độngNHTM Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của NHTM đều có thể dẫn đếnhậu quả cuối cùng là ngân hàng mất khả năng thanh toán rồi phá sản
Những biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội thường có tácđộng gần như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính, điển hình là thịtrường chứng khoán, theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của
hệ thống ngân hàng Đối với công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắtđược cơ chế hoạt động, ảnh hưởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tàichính là một trong những vấn đề cốt yếu, quyết định thành bại
1.2 Tổng quan về khẩu vị rủi ro của ngân hàng thương mại
1.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về hội đồng quản trị và khẩu vị rủi ro của ngân hàng
Vào những thời kì gần đây, nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp đã đượcquan tâm đến nhiều, đặc biệt là với các nghị quyết lớn trong ban giám đốc Rấtnhiều tài liệu đã được thực hiện về quản trị doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro trongngành ngân hàng Gần đây nhất, (Faleye & Krishnan, 2017), (Battaglia & Gallo,2016), (Chen & Ebrahim, 2018), (Anginer et al., 2018), (Calomiris & Carlson,2016) và (Kutubi et al., 2017 ) đã nghiên cứu sâu rộng về thành phần hội đồng quảntrị và chấp nhận rủi ro (Korkeamaki, Liljeblom & Pasternack 2017), (Husty
& Sousa-Filho, 2018), (Diaz & Huang, 2017), (Baldenius, Melumad & Meng,2013), (Frye & Phạm, 2017), (Diallo 2017) và (Sakawa & Watanabel, 2017) đã
Trang 18nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, cơ cấu hội đồng quản trị, hiệu suất vàquyền lực CEO.
Các lý thuyết về quản trị doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ nhiều thập kỷtrước Lý thuyết đầu tiên là lý thuyết đại diện (agency theory) Lý thuyết đại diệnđưa ra lý do cho một ban quản trị có chức năng quan trọng là quản lý giám sát thaymặt cho các cổ đông (Lisenhardt, 1989; Fama và Jensen, 1983) và các nhà cung cấp,khách hàng và các ban khác (Mateos de Cabo, Gimeno & Nieto, 2011) Mặc dù hộiđồng quản trị là cơ chế kiểm soát nội bộ thiết yếu nhất để ủng hộ và bảo vệ lợi íchcủa cổ đông, nhưng nó chỉ có thể đáp ứng vai trò giám sát này khi cung cấp lờikhuyên có uy tín, chất lượng và không thiên vị (Mateos de Cabo, Gimeno & Nieto2011) Một giả định thường có trong lý thuyết đại diện là các giám đốc bên ngoàiđộc lập hơn với giám đốc điều hành (CEO) và sẽ giám sát tốt hơn so với các đối tácnội bộ của họ (Mateos de Cabo, Gimeno & Nieto 2011)
Calomiris và Carlson (2016) nói rằng các vấn đề đại diện xảy ra liên quanđến việc chuyển dịch tài nguyên hoàn toàn (ví dụ: thu nhập không cần thiết hoặcquyền truy cập vào tín dụng) và chuyển giao liên quan đến thực tiễn quản lý rủi ro(ví dụ: nỗ lực quản lý rủi ro không hiệu quả hoặc chuyển từ chủ nợ sang cổ đôngqua rủi ro chuyển dịch) Hơn nữa, các tác giả chỉ ra rằng một số thay đổi rủi ro cólợi cho các nhà quản lí nhưng có hại cho các bên liên quan của ngân hàng, trong khicác hình thức chuyển đổi rủi ro khác có lợi cho các cổ đông nhưng có hại cho cácchủ nợ Các ngân hàng tạo ra các cấu trúc hợp đồng và quản trị mà giải quyết thỏađáng các vấn đề đại diện để họ có thể lôi kéo tài trợ từ các cổ đông thiểu số vàngười gửi tiền (Calomiris và Carlson, 2016) Cái cơ bản nhất trong các vấn đề đạidiện làm sáng tỏ xung quanh việc chuyển tài nguyên cho những người trong ngânhàng mà duy trì sự kiểm soát hoạt động cho ngân hàng Các nhà quản lý ngân
Trang 19hàng có quyền kiểm soát thỏa đáng có thể tự trả cho mình mức lương cắt cổ hoặccho phép họ tiếp cận tín dụng theo các điều khoản được trợ cấp (Calomiris vàCarlson, 2016) Ngoài ra, quyền kiểm soát cũng có thể dẫn đến các vấn đề đạidiện liên quan đến quản lý rủi ro, giả định sự khác biệt trong lựa chọn danh mụcđầu tư, như mô hình của Jensen và Meckling (1976), Myers (1977) và Merton(1977), hoặc sự khác biệt trong nỗ lực quản lý rủi ro, theo mô hình củaHolmstrom và Tirole (1997) (Calomiris và Carlson, 2016) Quan trọng hơn, cácnhà quản lý có cổ phần lớn trong hoạt động của các ngân hàng của họ có thểmuốn chịu rủi ro ít hơn hoặc nỗ lực nhiều hơn trong việc kiểm soát rủi ro để duytrì sự tự chủ tài chính hoặc vốn nhân lực cụ thể của họ [xem cuộc thảo luận trongDemsetz, Saidenberg, và Strahan (1997) và Laeven và Levine (2009)].
Lý thuyết đáng kể khác là lý thuyết vai trò giới tính Giả thuyết này nóirằng các phản ứng chăm sóc đồng cảm (‘empathic caring’ reactions) để giúp
đỡ sẽ mạnh mẽ hơn ở phụ nữ so với nam giới (Boulouta, 2012) Các hội đồng
đa dạng giới tính hơn với nhiều giám đốc nữ trình bày quan điểm giới nữ sẽ cónhiều khả năng thể hiện phản ứng dựa trên sự đồng cảm đối với các vấn đềtrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) (Boulouta, 2012)
(Miller & Triana, 2009) giới thiệu lý thuyết tín hiệu (signaling theory) và
lý thuyết hành vi (behavioral theory) Lý thuyết tín hiệu nói rằng cơ cấu tổ chức
và hoạt động của ban giám đốc có thể đóng vai trò như một tín hiệu cho các nhàđầu tư về sự mạnh mẽ của các cơ chế quản trị tại chỗ và chất lượng của công ty.Các tác giả của lý thuyết hành vi của công ty tuyên bố rằng tính mở rộng của quátrình tìm kiếm và ra quyết định có thể tác động đến sự đổi mới trong các tổ chức
Theo (Kang, Cheng & Gray, 2007), sự đa dạng của hội đồng quản trị là sự
đa dạng trong thành phần của Hội đồng quản trị Có hai loại đa dạng: đa dạng có
Trang 20thể quan sát được, đó là những đặc điểm dễ nhận thấy của các giám đốc nhưchủng tộc / dân tộc, quốc tịch, giới tính và tuổi tác và sự đa dạng ít thấy như giáodục, chức năng và nghề nghiệp, kinh nghiệm trong ngành và thành viên tổ chức(Kang et al , 2007) Cấu trúc ban điều hành có hai chiều: quy mô của ban điềuhành và thành phần của ban điều hành (Adusei 2011) (Boulouta, 2012), (Mateos
de Cabo, Gimeno & Nieto, 2011), và (Joecks, Pull & Vetter, 2012) đã thực hiệnnghiên cứu đáng kể về đa dạng giới tính, ban giám đốc và hiệu suất công ty.Đáng chú ý hơn, (Miller & Triana, 2009) và (Kang et al., 2007) khám phá sự đadạng trong quản trị doanh nghiệp và thành phần hội đồng quản trị kĩ càng và tỉ
mỉ (Adusei, 2011) điều tra cấu trúc hội đồng quản trị và hoạt động ngân hàng ởGhana (Lu & Boateng, 2017) kiểm tra thành phần hội đồng quản trị, giám sát vàrủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng Anh Tất cả họ đều đồng ý rằng việc đadạng hóa hội đồng quản trị sẽ làm giảm rủi ro tín dụng trong các ngân hàng
Faleye và Krishnan năm 2017 đã nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trịdoanh nghiệp đối với việc cho vay rủi ro Faleye và Krishnan 2017 đã nghiên cứuảnh hưởng của quản trị ngân hàng đối với khẩu vị rủi ro trong cho vay thương mại
Họ phát hiện ra rằng các ngân hàng có hội đồng mạnh hơn sẽ ít có khả năngcho vay đối với những người vay rủi ro hơn Ngoài ra, các ngân hàng tối đa hóa giátrị dường như phân phối tín dụng cho những người vay rủi ro chính xác hơn khi cáccông ty đó có thể bị hạn chế tín dụng, cho thấy các quy định quản trị ngân hàng cóthể có kết quả vô tình tiềm tàng (Faleye & Krishnan, 2017) Sự bận rộn của cácgiám đốc bên trong ngân hàng có ảnh hưởng đáng chú ý đến hoạt động ngân hàng
và khẩu vị rủi ro trong khi các giám đốc độc lập thì sự bận rộn không có ảnh hưởngsâu sắc đến hiệu suất và khẩu vị rủi ro (Kutubi, Ahmed & Khan, 2017) Họ tính toánmức độ bận rộn tối ưu trong đó giả thuyết danh tiếng áp đảo
Trang 21giả thuyết over-boarding ở mức thấp hơn mức độ bận rộn tối ưu và ngược lại(Kutubi, Ahmed & Khan, 2017) Do đó, họ có thể cung cấp các bằng chứnghỗn hợp trong kho tàng nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự bận rộn và khẩu vịrủi ro tại Ngân hàng Ấn Độ.
Battaglia & Gallo (2016) đã xem xét tầm ảnh hưởng của thành phần hội đồngquản trị và quyền sở hữu đối với các biện pháp truyền thống về rủi ro ngân hàng và
ủy quyền của ngân hàng và rủi ro hệ thống Cả hai ngân hàng đều có những điểmyếu về quản trị doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro hệ thống đã được nhận ra trong sốnhững nguyên nhân tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 (Battaglia &Gallo, 2016) Dựa trên mẫu của 40 ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 2006 - 2010,các tác giả nhận thấy rằng các đặc điểm của hội đồng quản trị ảnh hưởng đến rủi ro
hệ thống của ngân hàng, ngoại trừ sự độc lập của hội đồng quản trị và mối quan hệnày phụ thuộc vào chính sách vốn, cấu trúc sở hữu hệ thống ngân hàng và nhữnghạn chế của hoạt động ngân hàng (Chen & Ebrahim, 2018) đã tiến hành nghiên cứu
về mối đe dọa của doanh thu ảnh hưởng đến hành
vichấp nhận rủi ro của CEO ngân hàng Sử dụng mẫu của 212 ngân hàng Hoa Kỳ
từ năm 1995 đến 2010, trái ngược với các nghiên cứu trước đây tập trung vào cáccông ty phi ngân hàng, họ đã tìm thấy mối quan hệ không đơn điệu giữa mối đe dọadoanh thu CEO và hành vi chấp nhận rủi ro của CEO trong ngành ngân hàng Giámđốc điều hành ngân hàng nâng cao mức độ chấp nhận rủi ro khi mối đe dọa vềdoanh thu ở mức trung bình nhưng giảm rủi ro khi mối đe dọa doanh thu sắp diễn ra(Chen & Ebrahim, 2018) Anginer et al (2018) công nhận kết quả của họ
bằng cách so sánh các ngân hàng với các công ty phi tài chính và quan sát nhữngthay đổi về rủi ro ngân hàng xung quanh sự thay đổi quy định ngoại sinh trongquản trị Kết luận của họ nhấn mạnh tầm quan trọng của mạng lưới an toàn tài
Trang 22chính và các đảm bảo quá lớn để thất bại trong việc nhận thức cải cách quảntrị doanh nghiệp tại các ngân hàng (Anginer et al., 2018).
(Calomiris & Carlson, 2016) xem xét kỹ lưỡng quản trị ngân hàng vàlựa chọn rủi ro từ những năm 1890, giai đoạn không có biến dạng từ bảo hiểmtiền gửi hoặc trợ giúp chính phủ khác cho các ngân hàng Họ kết nối sự khácbiệt trong quyền sở hữu quản lý với các chính sách quản trị rủi ro, quản lý rủi
ro khác nhau Quan trọng hơn, quản trị doanh nghiệp chính thức và quyền sởhữu người quản lý cao có mối tương quan ngược chiều với nhau Họ thấy rằngcác ngân hàng có quyền sở hữu quản lý cao (quản trị chính thức thấp) sẽ tậptrung vào rủi ro mặc định thấp hơn Quyền sở hữu quản lý cao, không phảiquản trị chính thức liên quan đến sự phụ thuộc lớn hơn vào tiền mặt thay vìvốn chủ sở hữu để kiểm soát rủi ro (Calomiris & Carlson, 2016)
Hơn nữa, một số lượng đáng kể các nghiên cứu gần đây phát hiện rarằng độ nhạy của bồi thường đối với hoạt động của doanh nghiệp rất quantrọng đối với rủi ro và khi lương của giám đốc điều hành nhạy cảm hơn với rủi
ro - trong trường hợp khi phụ thuộc nhiều hơn vào cổ tức - các khoản đầu tưcủa ngân hàng dường như nguy hiểm hơn (Bai và Elyasiani, 2013; Cheng,Hong và Scheinkman, 2013) (Calomiris & Carlson, 2016)
Frye và Pham 2017 đã thực hiện nghiên cứu của họ về giới tính của CEO
và cấu trúc hội đồng quản trị Số lượng nữ giám đốc điều hành đã tăng lên đáng
kể trong những năm gần đây Họ xác minh rằng các CEO nữ có liên kết với cácban nhỏ hơn, độc lập hơn, đa dạng giới hơn, có tỷ lệ giám đốc bên trong so vớicác giám đốc bên ngoài thấp hơn, mạng lưới giám đốc rộng hơn và trẻ hơn
Họ cũng tập hợp các đặc điểm hội đồng riêng lẻ này để nắm bắt tiềm nănggiám sát chung của hội đồng quản trị (Frye & Pham, 2017) Phát hiện của họ là
Trang 23không thể phủ nhận với quan niệm rằng hội đồng quản trị của các CEO nữđược cấu trúc để theo dõi các hoạt động của công ty nhiều hơn Kết quả của họcho thấy sự khác biệt trong cấu trúc hội đồng quản trị giữa các công ty doCEO nam lãnh đạo so với công ty do CEO nữ lãnh đạo ít nhất có thể được làm
rõ một phần bởi các phương sai hành vi dựa trên giới tính
Adusei, (2011) kiểm tra mối quan hệ giữa cấu trúc hội đồng quản trị và hiệusuất ngân hàng với dữ liệu bảng từ ngành ngân hàng ở Ghana Kiểm soát lứa tuổi,quy mô, quỹ, cơ cấu sở hữu và tình trạng niêm yết, nghiên cứu cho thấy quy mô củamột ban giám đốc ngân hàng càng nhỏ, ngân hàng sẽ càng sinh lợi Ngoài ra, sự giatăng tính độc lập của hội đồng quản trị ngân hàng sẽ dẫn đến giảm hiệu quả củangân hàng Lu & Boateng (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần hội đồngquản trị và giám sát rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng Anh Bài viết phát hiện
ra rằng tính kiêm nghiệm hai chức vụ của CEO, trả lương và tính độc lập của hộiđồng quản trị có tác động tích cực và đáng kể đến rủi ro tín dụng của các ngân hàngAnh Tuy nhiên, quy mô của hội đồng quản trị và số phụ nữ trong hội đồng quản trị
có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến rủi ro tín dụng (Lu & Boateng, 2017) Nghiêncứu chỉ ra tính hiệu quả của sự sắp xếp giám sát trong nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt
là ảnh hưởng của quyền lực CEO và sự độc lập của hội đồng quản trị đối với tíndụng và do đó đóng góp đáng kể vào lý thuyết đại diện
(Miller & Triana, 2009) điều tra các hòa giải viên minh chứng cho sự đa dạngcủa hội đồng liên quan đến hoạt động của công ty Theo lý thuyết tín hiệu và hành vicủa công ty, họ khuyến nghị rằng mối quan hệ này sử dụng hai trung gian: danhtiếng và đổi mới của công ty (Miller & Triana, 2009) Trong một mẫu của các công
ty Fortune 500, họ tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa sự đa dạng chủng tộc và
cả danh tiếng và sự đổi mới của công ty Đáng chú ý hơn, họ tìm thấy
Trang 24một mối quan hệ tích cực giữa sự đa dạng về giới tính của hội đồng quản trị
và sự đổi mới (Miller & Triana, 2009)
Kang et al (2007) nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và thành phầnhội đồng quản trị: sự đa dạng và độc lập của các hội đồng quản trị Úc Bài viếtnày báo cáo về sự đa dạng và độc lập của thành viên hội đồng quản trị của 100công ty hàng đầu của Úc năm 2003 (Kang et al., 2007) Mateos de Cabo,Gimeno & Nieto (2011) điều tra sự đa dạng giới tính của hội đồng quản trị củacác ngân hàng Liên minh châu Âu
Đầu tiên, tỷ lệ phụ nữ trong hội đồng quản trị cao hơn đối với các ngânhàng có rủi ro thấp hơn Thứ hai, các ngân hàng có quy mô hội đồng quản trịlớn hơn có tỷ lệ phụ nữ cao hơn trong hội đồng quản trị của họ, đây có thểđược coi là một tín hiệu của một loại xu hướng thiên về tính đồng nhất trongcác hội đồng quản trị nhỏ (Mateos de Cabo et al., 2011)
Từ tổng quan tài liệu, cho thấy đã có khá nhiều nghiên cứu ở nướcngoài về tác động và ảnh hưởng của HĐQT lên hoạt động của các ngân hàng.Hầu hết các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về vấn đề này đều tìm thấy kếtquả chung rằng thành phần hội đồng quản trị có những tầm ảnh hưởng quantrọng nhất định tới những rủi ro của ngân hàng, tuy nhiên với các hệ số vàmức độ khác nhau, tùy thuộc vào nền kinh tế và sự phát triển xã hội
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về hội đồng quản trị và khẩu vị rủi ro của ngân hàng
Việt Nam vinh dự và tự hào là ngôi sao đang nổi lên trong thương mạitoàn cầu, đứng đầu về phát triển kinh tế trong khu vực Đông Nam Á Các yếu tốgóp phần vào thành công này bao gồm đa dạng hóa thương mại của Việt Namvới nhiều quốc gia, cải thiện và đổi mới cơ sở hạ tầng và sự ổn định về chính trị
Trang 25Những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn trong khoảng 7%một năm, bằng khoảng hai lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu ViệtNam trẻ, đang phát triển, và đang trỗi dậy để đạt mục tiêu vươn lên top hàng đầutrong khu vực châu Á Khi Chiến tranh Việt Nam hai mươi năm kết thúc vàonăm 1975, nền kinh tế Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới, và
bị thiệt hại trầm trọng về cơ sở vật chất, hạ tầng và nhiều người anh dũng hy sinhbảo vệ Tổ quốc Vào giữa những năm 1980, GDP bình quân đầu người đã bị kẹttrong khoảng từ 200 đến 300 đôla Mỹ Ba mươi năm trước, Việt Nam còn là mộttrong những nước nghèo nhất thế giới, vậy mà ngày nay, Việt Nam đã phát triển
để trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình Từ năm 1986, chính phủ đã ápdụng cải cách Đổi mới, một loạt các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế vàchính trị, và thúc đẩy đất nước trở thành một nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và đến nay, sau 45 năm thống nhất đất nước, GDP của Việt Nam
đã tăng gấp 10 lần, đạt khoảng 2600 đô la Sự tiến bộ vượt bậc về kinh tế củaViệt Nam là rất đáng hoan nghênh và khen ngợi
Theo các nhà phân tích từ Ngân hàng Thế giới và học viện nghiên cứuBrookings, sự trỗi dậy vượt bậc về kinh tế của Việt Nam có thể được giải thíchbằng nhiều yếu tố Việt Nam đã chấp nhận tự do hóa thương mại hiệu quả.Hơn nữa, Việt Nam đã thành công trong việc cải cách trong nước thông quaviệc bãi bỏ một số quy định và giảm chi phí kinh doanh Cuối cùng, Việt Nam
đã đầu tư rất nhiều vào nguồn nhân lực và cơ sở vật chất Trong thành côngnày có sự đóng góp rất lớn của hệ thống ngân hàng
Trong lĩnh vực kinh tế tài chính của Việt Nam thì các NHTM đã thu hút đượcnhiều sự chú ý và quan tâm nhất Các NHTM Việt Nam có tầm quan trọng lớn trongviệc xây dựng nền kinh tế phát triển vững mạnh của Việt Nam Chính vì
Trang 26vậy, có rất nhiều người đã nghiên cứu về NHTM Việt Nam và một số nghiên cứu
về tác động của bộ máy lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
Theo hướng nghiên cứu này, TS Nguyễn Văn Phương đưa ra khái niệm
“quản trị ngân hàng thương mại bao gồm các phương thức hoạt động kinh doanh vàbuôn bán của tổ chức tài chính riêng lẻ được quản lý bởi Hội đồng quản trị và cáccán bộ quản lý cấp cao” (Tạp chí Ngân hàng, số 12-06/2018) Hơn nữa, “Đối vớingân hàng thương mại cổ phần (ngân hàng TMCP), Đại hội đồng cổ đông (bao gồmtất cả các cổ đông có quyền biểu quyết-những người sở hữu ngân hàng) là cơ quan
có thẩm quyền cao nhất và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của ngân hàng”(Tạp chí Ngân hàng, số 12-06/2018) Đáng chú ý hơn, “Hội đồng quản trị (HĐQT)
là cơ quan quản lý ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định,thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng không thuộc thẩm quyền của Đạihội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)” (Tạp chí Ngân hàng, số 12-06/2018)
Theo tạp chí Ngân hàng (Số 15-08/2018), “tốc độ tăng trưởng tín dụng năm
2017 vẫn giữ ở mức cao và có xu hướng, tiềm năng duy trì trong các năm tới” Hơnnữa, kết quả nghiên cứu cho thầy rằng: “trong tổng số 15 NHTMCP niêm yết(NHNY), trên 93% đáp ứng tốt các tiêu chí về công bố chính sách quản trị công ty,điều lệ hoạt động của HĐQT, trong đó vai trò và trách nhiệm của HĐQT được nêu
rõ, tầm nhìn và sứ mệnh hoạt động của ngân hàng cũng được nêu rất rõ ràng” (Tạpchí Ngân hàng, số 15-08/2018) HĐQT trở thành cơ chế chính trong việc hướngdẫn, định hướng và kiểm soát hoạt động của ban giám đốc cũng như cho nhữngquyết sách mang tính chiến lược (De Andres & Vallelado, 2008) (Tạp chí Ngânhàng, số 15-08/2018) Thêm vào đó, Barnhart và cộng sự (1994) và Park & Shin(2003) nghĩ rằng HĐQT được coi như một trong những cơ chế quản lý nội bộ nhằmđảm bảo lợi ích của cổ đông và theo dõi hoạt động của nhà quản lý theo
Trang 27đúng định hướng và mang lại kết quả tốt nhất (Tạp chí Ngân hàng, số 08/2018) HĐQT của ngân hàng phải tuân theo các quy chế về nhiệm vụ, tính rõràng và cơ cấu đạt tiêu chuẩn (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018) Ngoài ra, đadạng trong cơ cấu có thể giúp HĐQT tích cực thảo luận, đảm bảo tốt hơn tínhdân chủ và sự khách quan, thêm vào những quan điểm nhằm đẩy mạnh hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp (Hoffman & Maier, 1961) (Tạp chí Ngân hàng, số15-08/2018) Đáng chú ý hơn là tính độc lập trong HĐQT cũng được coi trọng đểtránh những mâu thuẫn lợi ích, làm hại cho quyền lợi cổ đông (Tạp chí Ngânhàng, số 15-08/2018) Các tiểu ban được phân bổ rạch ròi chức năng, nhiệm vụ,công khai cơ chế và thông tin, ví dụ: Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban thù lao/ lươngthưởng, Tiểu ban kiểm toán (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018) Quan trọnghơn nữa là việc ngăn cách riêng rẽ giữa các chức năng chỉ đạo, chiến lược vớichức năng điều hành, quản lí, đặc biệt trong ngành tài chính ngân hàng nhằm hạnchế tối đa các rủi ro có thể xảy ra của giao dịch các bên liên quan và lợi íchnhóm, mâu thuẫn giữa cổ đông và người quản lí (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018) Năng lực của HĐQT không chỉ bộc lộ ở kết quả hoạt động của ngânhàng, mà là tổng hợp kết quả của từng thành viên, do đó, việc đánh giá riêng rẽtừng thành viên HĐQT cũng như áp dụng các tiêu chí đánh giá cụ thể sẽ giúpnâng cao hiệu quả hoạt động của HĐQT (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018).
15-Nổi bật là các khuyến nghị được đề ra từ kết quả nghiên cứu của nhómnghiên cứu nhằm tăng hiệu quả của HĐQT các NHTM Việt Nam công bố trên Tạpchí Ngân hàng, số 15-08/2018 Thứ nhất, tăng số lượng thành viên HĐQT độc lập,khích lệ tiểu ban kiểm toán, tiểu ban lương thưởng phải là thành viên độc lập (Tạpchí Ngân hàng, số 15-08/2018) Thứ hai, phải áp dụng các tiêu chí đánh giá hiệunghiệm hoạt động của HĐQT, theo từng thành viên và uỷ ban (Tạp chí
Trang 28Ngân hàng, số 15-08/2018) Thứ ba, cần phải ban hành, tuyên bố và áp dụng
Bộ qui tắc đạo đức và ứng xử, đề xuất từ lãnh đạo cấp cao đến nhân viên phảitiến hành (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018) Cuối cùng, cần biết điểm mấuchốt cần thiết nhằm nâng cao hoạt động công bố thông tin và minh bạch củacác ngân hàng là chú trọng hơn nữa đến thông tin tại các trang thông tin điện
tử của ngân hàng và các thông tin đưa ra trong báo cáo thường niên, báo cáotài chính của ngân hàng, trong đó: “Đối với trang thông tin điện tử của ngânhàng cần thực hiện tốt hơn nữa đối với việc công bố thông tin về người phụtrách quan hệ với cổ đông; Cần công bố công khai trên báo cáo thường niêncác thông tin quan trọng như tỷ lệ cổ phần sở hữu trực tiếp và gián tiếp củacác cổ đông lớn, thành viên HĐQT, và thành viên Ban Điều hành; chi tiếttham dự họp và công bố mức thù lao của các thành viên HĐQT Điều nàyhoàn toàn phù hợp với trách nhiệm giải trình mà trong các nguyên tắc quản trịcông ty mà OECD khuyến nghị” (Tạp chí Ngân hàng, số 15-08/2018)
Những khuyến nghị trên đã góp phần để Nhà nước và các ngân hàng kịpthời đưa ra những chính sách và quyết sách phù hợp nhằm tăng cường hiệuquả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro tài chính của các ngân hàng
Từ những tổng quan trên, theo hiểu biết của tác giả, ở trong nước chưa cónhiều nghiên cứu về tác động của bộ máy lãnh đạo đến khẩu vị rủi ro của cácNHTM Việt Nam Khẩu vị rủi ro vẫn là một khái niệm rất mới mẻ trong kinh tế tàichính trong nước và chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm Để bù lấp khoảngtrống nghiên cứu này, luận văn này sẽ tìm hiểu về tác động của hội đồng quản trịđến khẩu vị rủi ro của các NHTM Việt Nam Trong khi Việt Nam đang là một trongnhững quốc gia phát triển rất nhanh về kinh tế và cùng với hệ thống tài chính ngânhàng rất hiện đại và đổi mới Luận văn đề ra mục tiêu và nội dung khảo sát,
Trang 29đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này, trên cơ sở đó đưa ra một
số khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của bộ máy lãnh đạo – hộiđồng quản trị - tới khẩu vị rủi ro của các NHTM
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập và xử
lý, phân tích số liệu thực nghiệm điều tra 30 ngân hàng thương mại cổ phầntrong giai đoạn 2007-2018 ở Việt Nam Các chỉ số từ kết quả phân tích đã chỉ
ra rằng các thế mạnh của hội đồng quản trị, vốn nước ngoài, công bố thông tin
và vai trò của các bên liên quan có tác động đáng kể đến quản lý rủi ro tàichính trong các hệ thống ngân hàng Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấpcác chỉ số chính cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng cơ chế quản trịdoanh nghiệp cho quản lý rủi ro tài chính trong hệ thống NHTM Việt Nam
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp tiếp cận và các biến nghiên cứu
Luận văn sử dụng cách tiếp cận của ERM (Enterprise Risk Management) được biết đến với tên gọi hệ thống quản trị rủi ro ERM là một hệ thống quản
-lý rủi ro doanh nghiệp, là khả năng của doanh nghiệp trong việc quản -lý tìnhtrạng bấp bênh trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp giảm thiếu nguy cơ và rủi
ro một cách hiệu quả hơn, đồng thời tối đa hóa cơ hội cho doanh nghiệp
Standard & Poor (2008) coi ERM như một công cụ để giảm đáng kể vàphòng ngừa rủi ro Thông qua ERM, các doanh nghiệp có thể đương đầu vớirủi ro, tận dụng cơ hội khác để tạo ra giá trị (Coso, 2004) Theo Hoyt và cộng
sự, ERM tăng cường sự cẩn trọng với rủi ro, điều này khuyến khích doanhnghiệp hoạt động hiệu quả hơn và cẩn thận hơn khi đưa ra các quyết định.Pagach và Warr (2011) cho rằng ERM giúp giảm thiểu khả năng xảy ra dòngtiền âm Một loạt các nhà kinh tế học (Baxter và cộng sự, 2012; Hoyt vàLiebenberg, 2011; Kaplan và Mikes, 2012; McShane và cộng sự, 2011) cùngđồng ý quan điểm rằng ERM là một hệ thống có thể giúp các doanh nghiệpchống lại được với sự tác động của nhiều tổn thất đồng thời xảy ra
Theo COSO, ERM là “một quá trình, chịu ảnh hưởng của hội đồng quản trị, bangiám đốc và các nhân viên khác, được áp dụng trong việc xác định chiến lược vàbao trùm lên mọi hoạt động của doanh nghiệp, được thiết kế để nhận dạng các sựkiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp và ERM trong mức độ cho phép,nhằm cung cấp một sự bảo đảm hợp lý đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Trang 31Đo lường lợi nhuận ngân hàng là quan trọng không chỉ đối với chính ngânhàng, mà còn đối với các cơ quan giám sát để đảm bảo sự ổn định tài chính Bêncạnh lợi nhuận của các ngân hàng, chúng ta cũng cần đánh giá mức độ rủi ro mà cácngân hàng gặp phải Một trong những tham số quan trọng nhất của khẩu độ rủi ro làrủi ro tín dụng, mà tín dụng lại tạo ra phần lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng Vìvậy, quản lý hiệu quả danh mục cho vay là được coi là một trong những yếu tố quantrọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Mức độ rủi rotín dụng và chất lượng danh mục cho vay của các ngân hàng có thể được đo lườngbằng ba tỷ lệ sau: (i) Tỷ lệ nợ xấu 1 = Vay nợ / cho vay gộp,
(ii) Tỷ lệ nợ xấu 2 = Dự phòng tổn thất cho vay / Cho vay gộp, (iii) Tỷ lệ nợ xấu 3
= Dự phòng tổn thất cho vay / Doanh thu lãi ròng Chất lượng tài sản kém sẽ ảnhhưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng vì chi phí cao để thiết lập dự trữtài chính của ngân hàng tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng Vìvậy, mối quan hệ này được nhận thấy là trái chiều nhau
Tỷ lệ nợ xấu được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng Bên cạnh rủi ro tíndụng, rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro thường gặp đối với hoạt độngkinh doanh ngân hàng thương mại Trong những năm gần đây, thiếu thanh khoảnnhiều là một trong những lý do dẫn đến phá sản, do đó không nên bỏ qua rủi rothanh khoản Rủi ro thanh khoản là tổn thất mà các ngân hàng phải đối mặt vìkhông đáp ứng nhu cầu rút tiền với chi phí hợp lý Đối với các ngân hàng thươngmại Việt Nam, các sự kiện trong quá khứ cho thấy khả năng dễ bị rủi ro thanhkhoản cao, bằng chứng là khủng hoảng thanh khoản và lãi suất tiền gửi trong hệthống ngân hàng năm 2008 và 2011 Ta chú ý hai tỷ lệ thanh khoản sau đây: (i )
Tỷ lệ thanh khoản 1 = Tài sản lưu động trên Tiền gửi và tài trợ ngắn hạn, (ii) Tỷ
Trang 32lệ thanh khoản 2 = Tài sản lưu động trên tổng Tiền gửi và vay Dự kiến hai tỷ
lệ thanh khoản này ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng
Bên cạnh hai tỷ lệ thanh khoản ở trên, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản vàtiền gửi và tài trợ ngắn hạn trên tổng tài sản cũng được xem xét Tỷ lệ cho vaytrên tổng tài sản cho ta thấy được các nguồn thu nhập và đo lường tính thanhkhoản của các tài sản của ngân hàng Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản cao hơn cónghĩa là lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng do thu nhập lợi tức tăng Tuynhiên, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản quá cao cũng có nghĩa là thanh khoản củangân hàng giảm Tiền gửi và tài trợ ngắn hạn trên tổng tài sản là một chỉ số khác
đo lường thanh khoản, nhưng ở phía bên phải (nợ phải trả và vốn chủ sở hữu)của bảng cân đối kế toán Tiền gửi không tốn kém như các khoản tiền khác và làmột trong những quỹ ổn định cho các ngân hàng Do đó tỷ lệ tiền gửi cao cónghĩa là hiệu quả hoạt động của ngân hàng cao Các ngân hàng lớn có thể thu hútnhiều tiền gửi và các quỹ khác, dẫn đến biên lãi nhiều hơn, trong khi các ngânhàng nhỏ thường huy động nhiều tiền hơn bằng cách mua trên thị trường liênngân hàng và rõ ràng, và như vậy là tốn kém hơn các ngân hàng lớn Đối với cácnền kinh tế có thị trường tài chính chưa phát triển như Việt Nam, các ngân hàngthương mại chủ yếu huy động vốn từ tiền gửi để tài trợ cho hoạt động kinh doanh
và cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính cho các ngân hàng Hy vọngrằng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tiền gửi và tài trợ ngắn hạn trên tổng tàisản có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng
Như vậy, nợ xấu, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ cho vay trên tổngtài sản và tiền gửi và tài trợ ngắn hạn trên tổng tài sản là những biến quan trọng nhất
để xem xét, đánh giá mức độ khẩu vị rủi ro của các ngân hàng Trong khuôn
Trang 33khổ luận văn này sẽ tập trung vào 2 tham số quan trong nhất là NPL: Tỷ lệ nợ xấutrong ngân hàng và DR: Tỷ lệ nợ.
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa hội đồng quản trị và khẩu vịrủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp thu thập số liệu, thôngtin về tỉ lệ nợ xấu, tỉ lệ nợ, đòn bẩy tài chính, quy mô hội đồng quản trị, sựkiêm nhiệm hai chức vụ của CEO, tuổi của CEO, giới tính của CEO, và tổngtài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần từ Stoxplus, sau đó sử dụngphương pháp xử lý, phân tích và mô tả thống kê dựa trên những số liệu, thôngtin đã thu thập được Với việc sử dụng các phương pháp trên, tác động của hộiđồng quản trị đến khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mại sẽ được nghiêncứu và phân tích một cách đầy đủ nhất, từ đó đưa ra được những phương phápnâng cao hiệu quả chất lượng để quản lý rủi ro trong ngân hàng thương mại
2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sau quá trình thu thập thông tin và số liệu cần thiết, việc tiếp theo đó là xử lý
và phân loại các thông tin để phân tích cho phù hợp Với mục tiêu là “Nghiên cứumối quan hệ giữa hội đồng quản trị và khẩu vị rủi ro của các ngân hàng thương mạiViệt Nam”, Luận văn đã phân loại ra nội dung chính cần phải phân tích đó là
“ Thực trạng về quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” và
“Tác động của hội đồng quản trị đến việc quản lý rủi ro” Sau khi đã phân loạiđược các dữ liệu, bước tiếp theo trong quá trình phân tích đó là tìm ra cáccông cụ phân tích cho phù hợp với từng mảng dữ liệu đã phân loại
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, Luận văn đã lựa chọn sử dụng phươngpháp thống kê mô tả Luận văn mô tả cụ thể bằng các con số để trình bày các chỉ
Trang 34tiêu đã đưa ra làm cơ sở để đánh giá ảnh hưởng của hội đồng quản trị đếnkhẩu vị rủi ro và quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại.
Dựa vào kết quả phân tích đó để xác định mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố đến chỉ tiêu phân tích, sau đó xem xét tính chất ảnh hưởng của từngnhân tố, những nguyên nhân dẫn đến sự biến động của từng nhân tố và xu thếnhân tố trong tương lai sẽ vận động như thế nào
2.4 Đối tượng và phạm vi khảo sát
- Phạm vi thực hiện nghiên cứu là 30 ngân hàng thương mại cổ phầntrong nước (lấy từ trang The State Bank of Vietnam) trong giai đoạn 2007-
2018 ở Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa thành phần ban quản trị và khẩu
vị rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam (data from Stoxplus)
Trang 35CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VỚI KHẨU VỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 3.1 Bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam
Ở Việt Nam, các chính sách kinh tế vĩ mô đã được thắt chặt trong những nămgần đây: Giảm thâm hụt ngân sách và giới hạn nghiêm ngặt đối với bảo lãnh chínhphủ mới và tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2016-2018 đã góp phần giảm nợcông xuống 55,5% GDP vào cuối năm 2018, từ mức 60% cuối năm - 2016 Ngânhàng Nhà nước Việt Nam đã tiếp tục giảm tăng trưởng tín dụng, nhưng thanh khoảntiếp tục dồi dào trong năm 2018, được hỗ trợ bởi dòng vốn bên ngoài và thị trườngvốn đang tăng trưởng Ngân hàng Nhà nước đang hướng dẫn các ngân hàng áp dụngtiêu chuẩn Basel II vào năm 2020 và xây dựng kế hoạch tái cấp vốn cho các ngânhàng thương mại nhà nước có hệ thống Chính quyền đã can thiệp vào cả hai hướng
để giữ VN Đồng trong một phạm vi hẹp và dự trữ được tiếp tục tích lũy Cải cáchtiếp tục được thực hiện: hệ thống tiền tệ và tài chính đang dần được hiện đại hóa vàcác khối cổ phần trong các doanh nghiệp nhà nước lớn tiếp tục được chào bán Cuộcchiến chống tham nhũng lớn kể từ năm 2016 đã thu được nhiều thành tựu rất tíchcực, nhiều bản án nghiêm khắc đã được thực thi và không có vùng cấm đã ngàycàng củng cố được niềm tin của nhân dân và một luật chống tham nhũng mới đãđược phê duyệt, PIMA đã được hoàn thành và hệ thống AML/CFT đang được xemxét Nhưng danh sách cải cách thậm chí còn dài
hơn và nền kinh tế mạnh tạo cơ hội cho những cải cách đầy tham vọng để tạo điều kiện đẩy mạnh đầu tư bằng cách giảm các thủ tục hành chính và tốc độ cấp phép
Trang 36và xóa bỏ các rào cản thương mại Với những nỗ lực đó IMF vẫn tham gia vàomột chương trình phát triển năng lực rộng khắp ở Việt Nam.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, IMF đánh giá cao Việt Nam vì nhữngchính sách thận trọng của Nhà nước đã góp phần phục hồi kinh tế và tăng trưởngkinh tế ấn tượng trong bối cảnh căng thẳng thương mại gia tăng và những bất ổnbên ngoài IMF cũng hoan nghênh nỗ lực của Việt Nam đối với sự ổn định kinh
tế vĩ mô và cải cách kinh tế trên phạm vi rộng và áp dụng các chính sách ưu tiêntập trung vào việc tăng cường quản trị, tăng năng suất và đẩy mạnh tăng trưởng
do khu vực tư nhân dẫn đầu; hoan nghênh các sự cố gắng hợp nhất tài chính củaChính phủ, đặc biệt là cải thiện chính sách thuế và quản trị, bao gồm thuế môitrường tăng cao hơn, thắt chặt bảo lãnh chính phủ và giảm chi tiêu hiện tại, nhằmgiúp giảm bớt nợ công và được bảo đảm công khai IMF cũng khuyến cáo ViệtNam hợp nhất nên tập trung vào góp phần làm cho nợ công giảm dần và tạo cơhội cho phát triển cơ sở hạ tầng ưu tiên và chi tiêu xã hội, chuẩn bị cho việc ứngphó với sự già hóa dân số nhanh chóng trong tương lai, và đối phó với các tácđộng của biến đổi khí hậu và nền kinh tế số hóa Các biện pháp tăng cườngdoanh thu nên tập trung vào việc mở rộng các cơ sở, bao gồm thống nhất thuếsuất VAT, thuế bất động sản và giảm miễn thuế và cải thiện quản lý thuế IMFlưu ý những nỗ lực không ngừng để hợp lý hóa dự luật lương của khu vực công
và nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện quản lý tài chính và đầu tư công
Những báo cáo của IMF cho thấy Ngân hàng thế giới đánh giá cáo Việt Namtrong các chính sách tiền tệ và tín dụng hiện nay, đặc biệt là sự giảm tăng trưởng tíndụng đang giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô IMF khuyến cáo Chính phủ tiếptục hạn chế các biện pháp can thiệp để duy trì các điều kiện thị trường có trật tự vàduy trì các nỗ lực hướng tới sự linh hoạt của tỷ giá hối đoái trong khi
Trang 37dần dần xây dựng dự trữ IMF cũng kêu gọi cải cách để giảm các rào cản đầu
tư còn lại, bao gồm cải thiện khả năng tiếp cận đất đai và tín dụng, điều này sẽthúc đẩy đầu tư tư nhân và tăng năng suất và tăng trưởng IMF mong muốn hệthống tài chính của Việt Nam được hiện đại hóa theo trình tự của khung tiền tệvới sự hỗ trợ kỹ thuật từ Quỹ
Ngân hàng thế giới cũng nhận thấy các cải cách đang diễn ra trong lĩnh vựctài chính ở Việt Nam, bao gồm việc chuyển đổi mô hình kinh doanh ngân hàng sangcho vay hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân, kèm theo giới hạn tăng trưởng tíndụng thận trọng hơn và làm phát triển tốt thị trường trái phiếu và vốn cổ phần, giúpgiảm rủi ro ổn định tài chính, cải thiện chất lượng trung gian tài chính và thúc đẩytăng trưởng kinh tế Ngân hàng thế giới đề cao việc áp dụng các tiêu chuẩn Basel II
và khuyến khích tái cấp vốn nhanh chóng của các ngân hàng quốc doanh có hệthống và xây dựng một khuôn khổ vĩ mô hiện đại để thay thế các giới hạn tín dụngđịnh lượng và đối phó với các rủi ro ổn định tài chính tiềm ẩn
Khi nghiên cứu và đánh giá về Việt Nam, IMF và các nhà nghiên cứu nướcngoài nhấn mạnh việc thực hiện các cải cách để hiện đại hóa các tổ chức kinh tế
và cải thiện quản trị Họ nhấn mạnh rằng cần ưu tiên tăng cường hơn nữa luậtchống tham nhũng, cải cách và cải thiện sự giám sát với các doanh nghiệp nhànước, thực hiện các khuyến nghị Đánh giá Quản lý Đầu tư Công, và cải thiện hệthống thống kê và cung cấp dữ liệu và minh bạch Ngân hàng thế giới nhiệt liệthưởng ứng kế hoạch của Việt Nam nhằm tăng cường chế độ AML / CFT và giảiquyết mọi vấn đề liên quan sẽ được xác định bằng bình duyệt sắp tới của Lựclượng đặc nhiệm hành động tài chính Châu Á Thái Bình Dương
Trong những chiều hướng tích cực đó, để có cơ sở nghiên cứu hệ thốngNHTM của Việt Nam, luận văn đề ra mục tiêu tìm hiểu, khảo sát, phân tích bối
Trang 38cảnh, nhận diện những thuận lợi và thách thức, rủi ro của hệ thống tài chính
và ngân hàng của Việt Nam hiện nay
Triển vọng và rủi ro
Căng thẳng thương mại và biến động tài chính ảnh hưởng đến các nền kinh
tế mới nổi trong năm 2018 và cũng được cảm nhận ở Việt Nam, bao gồm cả điềuchỉnh thị trường chứng khoán Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam được đánh giávẫn mạnh cho đến nay và tăng trưởng đạt mức cao nhất sau 10 năm là 7,1%trong năm 2018 và 7,02% trong năm 2019 Sự mở rộng này được thúc đẩy bởi sựtăng trưởng lành mạnh về thu nhập và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang pháttriển trong thời kì đô thị hóa, thu hoạch mạnh mẽ và lĩnh vực sản xuất tăng rõ rệt.Lạm phát trung bình là khoảng 3,5% trong năm 2018, 2019 Các chuyên gia dựbáo động lực kinh tế tiếp tục trên đà tăng vào năm 2020, được hỗ trợ bởi chi phílao động cạnh tranh và các yếu tố cơ bản mạnh mẽ khác, bao gồm cơ cấu thươngmại đa dạng và gần đây đã ký kết các hiệp định thương mại tự do mà Việt Namđang thúc đẩy cải cách Tuy nhiên, dự kiến sẽ có một mức tăng trưởng ổn định vàbền vững trong một vài năm tới và trong giai đoạn trung hạn Lạm phát dự kiến
sẽ tăng nhẹ trong năm 2020 nhưng vẫn nằm trong chỉ tiêu đặt ra của Chính phủ
là khoảng 4% Tài chính công đang được củng cố, các quy tắc vốn ngân hàngđược đẩy mạnh và thị trường vốn ngày càng được phát triển
Theo đánh giá của các chuyên gia, rủi ro trong hệ thống tài chính của ViệtNam liên quan đến địa chính trị, sự không chắc chắn của chính sách thương mại
và thực hiện cải cách trong nước Rủi ro dài hạn liên quan đến sự già hóa dân số,biến đổi khí hậu và thách thức của nền kinh tế số hóa, và gần đây nhất, là ảnhhưởng tiêu cực của đại dịch bệnh Corona đang diễn ra trên toàn thế giới và tácđộng mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế của toàn cầu, trong đó có Việt Nam
Trang 39Về chính sách tài khóa: Củng cố tài khóa dần dần, kiểm soát chặt chẽ
trong bảo lãnh chính phủ và tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây
đã dẫn đến sự giảm bớt nợ chính phủ, dự kiến sẽ tiếp tục giảm theo các chínhsách hiện hành Trong khi theo dự báo của các chuyên gia, nhu cầu tài chínhcủa Việt Nam sắp tới là rất lớn cho cơ sở hạ tầng và chi tiêu xã hội và để đốiphó với già hóa dân số và biến đổi khí hậu Hỗ trợ kỹ thuật của IMF đang hỗtrợ cải cách tài khóa, bao gồm cả quản lý tài chính công và quản trị doanh thu
Tiền, tín dụng và ngân hàng: Việc thắt chặt tăng trưởng tín dụng tiếp
tục trong năm 2018, 2019 nhưng thanh khoản vẫn dồi dào, được hỗ trợ bởi
cán cân thanh toán mạnh mẽ và các chính sách tài khóa chặt chẽ Ngân hàngNhà nước Việt Nam đã khởi xướng kế hoạch hiện đại hóa khung tiền tệ với sự
hỗ trợ kỹ thuật của IMF, đang hướng dẫn các ngân hàng áp dụng các tiêuchuẩn Basel II vào năm 2020, đó là các cải cách đáng ghi nhận và thúc đẩy táicấp vốn của các ngân hàng quốc doanh
Căng thẳng thương mại: Hoa Kỳ và Trung Quốc là đối tác thương mại và
đầu tư quan trọng của Việt Nam Các mô hình định lượng cho thấy tác động tích cựcnhỏ đối với Việt Nam từ căng thẳng thương mại vì tăng thị phần của Hoa Kỳ Mộttác động tiềm năng lớn hơn và bền vững hơn có thể đến từ những thay đổi trong đầu
tư vào Việt Nam do trong những năm gần đây, các công ty quốc tế đã chuyển các cơ
sở sang Việt Nam do các chi phí của họ gia tăng ở Trung Quốc và mong muốn đadạng hóa các địa điểm sản xuất của các công ty nước ngoài
Các yếu tố tiêu cực tác động đến ngành ngân hàng tiếp tục có thể gây ra rủi
ro, mặc dù yếu tố này đã có nhiều cải thiện do việc tái cấp vốn ngân hàng đangdiễn ra Những vướng mắc liên quan đến chiến dịch chống tham nhũng và dịch
Trang 40bệnh trong 2020 có thể trì hoãn đầu tư Mặt khác, nhiều hiệp định thương mại tự docủa Việt Nam có thể mở ra những cơ hội tăng trưởng và phát triển nền sản xuất.
Các chuyên gia đánh giá sự tăng trưởng của Việt Nam những năm gần đâyđược thúc đẩy bởi sự tăng trưởng về thu nhập và tiêu dùng và bởi thương mại, dulịch và nguồn kiều hối mạnh mẽ Sản xuất tăng mạnh và dòng vốn đầu tư trực tiếpvào Việt Nam vẫn tăng nhanh Thặng dư thương mại mở rộng trong năm 2018,
2019, nhưng do ảnh hưởng dịch bệnh do virut Corona chủng mới, tăng trưởng vàxuất khẩu sẽ dự kiến sẽ ảnh hưởng và bị chậm lại trong năm 2020 Tốc độ tăngtrưởng tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam phù hợp với việc thực hiện các cải cáchđang diễn ra, bao gồm tư nhân hóa và giảm vai trò kinh tế của nhà nước và các hạnchế từ cơ sở hạ tầng và các lỗ hổng cấu trúc khác và hợp nhất tài khóa
Tăng trưởng kinh tế cao cùng với các chính sách định hướng xã hội đãgiúp Việt Nam đạt được tiến bộ rõ rệt trong giảm nghèo và thịnh vượng chung.Những cải cách kinh tế và chính trị kể từ khi Đổi mới - năm 1986 đến nay đãthúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng và biến Việt Nam từ mộttrong những quốc gia nghèo nhất thế giới sang một nước có thu nhập trung bình
và đã được Hoa Kỳ đưa ra khỏi danh sách các nước đang phát triển vào 2/2020
Cùng với hiệu quả kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, Việt Nam đã trải qua cácmức độ trung gian tài chính chính thức và ngày càng sâu rộng Tài sản hệ thốngngân hàng ngày nay đạt gần 2 lần GDP Năm 2001, mới có gần 200.000 tài khoảnngân hàng tư nhân trên toàn quốc, thẻ tín dụng / thẻ ghi nợ và máy ATM gần nhưkhông tồn tại Tính đến cuối năm 2018, đã có 86 triệu thẻ ATM / thẻ ghi nợ và thẻtín dụng đang hoạt động, 304.486 điểm bán hàng (POS) và 18.434 ATM Đến tháng
7 năm 2018, đã có 72,7 triệu tài khoản ngân hàng tư nhân, tức là 43,2 triệu người cótài khoản ngân hàng chiếm 60% dân số từ 15 tuổi trở lên Ngành ngân