1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh​

85 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 392,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC CHU BÍCH THỦY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LUẬN VĂN THẠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHU BÍCH THỦY

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11 NHẰM PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHU BÍCH THỦY

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỚP 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG

LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô,những người đã tận tình giảng dạy, đóng góp ý kiến cho tác giả trong quátrình học tập và thực hiện luận văn

Xin được bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộhướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban, người đã tận tình định hướng,hướng dẫn, giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn - Trường Trung học phổthông Phúc Thọ, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ, ủng

hộ, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô, đồng nghiệp và các bạn.

Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2020

Tác giả

Chu Bích Thủy

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ii

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nhận thức về vai trò ứng dụng CNTT trong dạy học……… 23Bảng 1.2 Các tiết dạy GV thường sử dụng CNTT……… 23Bảng 1.3 Mức độ sử dụng phần mềm ứng dụng của GV……… 24Bảng 1.4 Phạm vi ứng dụng của GV trong dạy học……… 25Bảng 1.5 Đánh giá của HS về thuận lợi khi GV sử dụng CNTT…… 25Bảng 1.6 Đánh giá của HS về khó khăn khi GV sử dụng CNTT…… 26Bảng 3.1 Đánh giá về sự phù hợp của việc ứng dụng CNTT……… 60Bảng 3.2 Đánh giá của GV về chất lượng sử dụng CNTT……… 61Bảng 3.3 Mức độ hiểu bài tại lớp do HS tự đánh giá……… 61Bảng 3.4 Mức độ hứng thú của HS……… 61Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra thường xuyên các lớp thực nghiệm……… 62Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra thường xuyên các lớp đối chứng………… 63Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra định kì các lớp thực nghiệm……… 64Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra định kì các lớp đối chứng……… 64

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra thường xuyên……… 63Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả kiểm tra định kì……… 64

iv

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bảng tĩnh và bảng động trên màn hình trình chiếu………… 39Hình 2.2 Trang bố cục của bài giảng “Chữ người tử tù”……… 40Hình 2.3 Slide cho hoạt động tạo tâm thế……… 45Hình 2.4 Học sinh lớp thực nghiệm thuyết trình về tác giả………… 46Hình 2.5 Đáp án sơ đồ cốt truyện Chí Phèo bằng ảnh……… 48Hình 2.6 Đáp án trò chơi ô chữ……… 49

v

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ii

DANH MỤC CÁC BẢNG……… iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… iv

DANH MỤC CÁC HÌNH……… v

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 9

5 Phương pháp nghiên cứu……… 9

6 Cấu trúc của đề tài……… 10

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…… 11

1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học phổ thông……… 11

1.1.1 Đặc điểm nhận thức……… 11

1.1.2 Đặc điểm hứng thú trong học tập……… 12

1.2 Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn……… 14

1.2.1 Năng lực sáng tạo……… 14

1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 16

1.3 Công nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn ……… 17

1.3.1 Công nghệ thông tin……… 17

1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn……… 18

1.4 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 20

vi

Trang 9

1.4.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 20

1.4.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học……… 21

1.5 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11……… 21

Tiểu kết chương 1……… 26

Chương 2 BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN Ở LỚP 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH……… 28

2.1 Phân tích đặc trưng và cách dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11… 28

2.1.1 Đặc trưng truyện ở lớp 11……… 28

2.1.2 Cách dạy đọc hiểu truyện ở lớp 11……… 31

2.2 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 ……… 34

2.3 Đề xuất biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin ở từng khâu đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh… 37 2.3.1 Trong khâu tổ chức chuẩn bị dạy học.……… 37

2.3.2 Trong khâu tổ chức hoạt động dạy học……….……… 44

2.3.3 Trong khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh…… 50

2.4 Những lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ………… 53

Tiểu kết chương 2……… 55

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 57

3.1 Mục đích thực nghiệm……… 57

3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm……… 57

3.3 Phương pháp thực nghiệm……… 58

3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm……… 59

Trang 10

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm……… 59

Tiểu kết chương 3……… 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 67

1 Kết luận……… 67

2 Khuyến nghị….……… 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 69

viii

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, nền giáodục Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang thực hiện bướcchuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận nănglực của người học Trong đó, môn Ngữ văn được coi là môn học mangtính công cụ, có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm, bồi đắp những cảm xúc nhân văn, lòng yêu nước và pháttriển nhân cách cho học sinh, góp phần định hướng phát triển năng lực chohọc sinh Để thực hiện đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lựccủa người học cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó ứng dụngcông nghệ thông tin là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu.1.2 Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng của khoahọc kĩ thuật, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã thu đượcnhững kết quả tích cực và đã trở thành vấn đề cốt lõi góp phần đổi mớiphương pháp dạy học Đây là tiền đề quan trọng để chúng ta phát triển ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học theo định hướng phát triển năng lựccủa người học Với bộ môn Ngữ văn, do đặc thù của môn học khoa học xãhội nên việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay còn ít vàchậm hơn so với các môn học khác, chưa khai thác hết tiềm năng mà côngnghệ thông tin mang lại và chưa tìm ra cách thức trình bày bài giảng tối ưunên chưa mang lại hiệu quả cao Sự sáng tạo trong việc đổi mới phương phápdạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh chưa nhiều; dạy học cònthiên về truyền thụ kiến thức, chưa thực sự chú trọng dạy cách học, cách vậndụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Đồngthời, hoạt động kiểm tra, đánh giá chủ yếu là tái hiện kiến thc, kiểm tra trí

Trang 12

nhớ, chưa đánh giá đúng khả năng tổng hợp kiến thức và năng lực vậndụng giải quyết vấn đề của học sinh.

1.3 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn có nhiềutiềm năng, là xu thế tất yếu của hoạt động dạy học trong thời đại cáchmạng công nghiệp lần thứ tư; đặc biệt, ứng dụng công nghệ thông tin dạyhọc phần đọc hiểu truyện ở lớp 11 có những ưu thế nổi bật trong việc pháttriển năng lực sáng tạo cho học sinh

Xuất phát từ những lí do đã nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Ứng dụng

công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh” với mong muốn tiếp tục thực hiện đổi

mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học truyện

ngắn hiện đại nói riêng, dạy học đọc hiểu văn bản văn học nói chung; tậptrung phát triển năng lực, nhất là năng lực sáng tạo cho học sinh; đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của xã hội trong thời đại mới

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2 1 Trên thế giới

Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, vào đầu những năm 70của Thế kỉ XX xuất hiện những giao thức kết nối máy tính đầu tiên - tiền

thân của internet như Arpanet, Merit Network… và đến những năm 80 giao thức kết nối mạng internet World Wide Web ra đời, cho phép liên kết các tài

liệu siêu văn bản vào một hệ thống thông tin, có thể truy cập từ bất kì vị trínào trên mạng Từ giữa những năm 1990, internet phát triển rất nhanh kéotheo sự phát triển của truyền thông đa phương tiện và có tác động mang tínhcách mạng đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học giáodục Ngay từ cuối thập niên 80, nhiều nhà khoa học giáo dục Mỹ như StevenCohen, Irwin Unger Timothy, J Newby, H Judith, Sandholtz đã đề cậpđến việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng phát huy

2

Trang 13

tính tích cực của người học, trong đó các tác giả trên đã đề cập công nghệthông tin có tầm quan trọng như những công cụ hỗ trợ các hoạt động dạyhọc, có tác động bổ trợ tích cực đến nhiều giác quan của học sinh; đồng thời,

đề xuất các ý tưởng sư phạm trong hoạt động dạy học có sự hỗ trợ củaphương tiện kĩ thuật theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực của ngườihọc; xác định các yêu cầu, thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng côngnghệ thông tin vào dạy học Cuối Thế kỉ XX đầu Thế kỉ XXI, các tác giảDavis Gardner và Deidre Mc Cann đã đề cập một số yêu cầu, ý tưởng trongviệc khai thác thông tin đa phương tiện từ các CD-Rom, internet nhằm giúphọc sinh có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin một cách đa dạng, tích cực giữagiáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh

Thực tiễn giáo dục những năm qua đã chứng minh vai trò, tầm quantrọng và hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chothấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là xu thế tất yếu củagiáo dục Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin là mộtchủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành chương trình của Thế kỉ XXI và

dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào những nămtới với tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của công nghệ thông tin

Vấn đề phát triển năng lực cho người học trong dạy học

Ở các nước có nền khoa học giáo dục phát triển, vấn đề phát triểnnăng lực trong dạy học đã được nghiên cứu từ khá sớm Từ những năm 70 củaThế kỉ XX vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho học sinh trong nhàtrường được đặc biệt quan tâm, được thể hiện trong các bài viết của các tác giả I

Ia Lecne, M I Macmutov, M N Xkatkin, V Okon, V G Razumovski Xô) Cũng trong khoảng thời gian đó tại Mỹ, giáo dục dựa trên năng lực(Competency based education - CBE) dành được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu Với hình thức này, giáo dục coi trọng việc đo lường chính xác kiếnthức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc

Trang 14

(Liên-mỗi chương trình học Nếu giáo dục kiểu truyền thống được coi là giáo dụctheo nội dung kiến thức (content based education) tập trung vào việc trang bịkiến thức; đánh giá thông qua các bài thi viết và nói thì giáo dục theo nănglực có xu hướng tập trung vào phát triển các năng lực cần thiết để học sinh cóthể thành công trong trong công việc cũng như cuộc sống Giáo sư tâm lí họcHoward Gardner của đại học Harvard (Mỹ) đã đề cập đến khái niệm năng lựcthông qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người gồm: lô-gictoán học, ngôn ngữ, âm nhạc, thể hình, không gian, giao cảm và nội cảm.Ông khẳng định rằng: Mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được biểu lộhoặc thể hiện dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao Để giải quyết mộtvấn đề trong cuộc sống thì con người không thể chỉ sử dụng duy nhất mộtmặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải vận dụng kết hợp nhiều mặt biểuhiện của trí tuệ liên quan đến nhau; sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân.Ông cũng kết luận: Năng lực có thể đánh giá hoặc đo đạc được và phải đượcthể hiện thông qua hoạt động có kết quả.

Ban đầu, một số nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục dựa trên năng lực

là dành cho giáo dục dạy nghề và giảng dạy công nghệ thông tin, nhưngthực tế cho thấy giáo dục theo năng lực phù hợp với nhiều lĩnh vực Trongthời gian gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật và tri thức,giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là không đủ bởi kiếnthức của nhân loại luôn phát triển, hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thànhlạc hậu Do đó, những hệ thống giáo dục tiên tiến đã hướng tới việc giáodục để người học có đủ khả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức

để giải quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong thực tế Nền giáodục của các nước tiên tiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo nănglực thay vì giảng dạy tập trung vào nội dung Như vậy, giảng dạy theonăng lực là hướng tiếp cận coi trọng đầu ra của quá trình dạy học trong đónhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực nhất định sau khihoàn thành một chương trình giáo dục

4

Trang 15

2.2 Ở Việt Nam

Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới và Nhà nước thực hiệnchính sách "mở cửa", nước ta nhanh chóng phát triển và hội nhập với thếgiới về nhiều mặt Nhận thức đúng đắn vai trò to lớn của công nghệ thôngtin, Đảng ta đã có chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tintrong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng chỉ thị số 58-CT/TWngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương, trong đó đối với ngànhgiáo dục và đào tạo, chỉ thị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thôngtin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngànhhọc…”; Nghị quyết số 36-NQ/BCT của Bộ Chính trị ngày 1/7/2017 về

"Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững và hội nhập quốc tế" tiếp tục khẳng định vai trò to lớncủa việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt của đời sống xã hội

Vấn đề phát triển năng lực cho người học trong dạy học

Để khắc phục những mặt tồn tại trong giáo dục kiểu truyền thụ kiếnthức một chiều nặng về tính hàn lâm, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIngày 4/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết số29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã địnhhướng cho nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực, phát huy tínhchủ động, sáng tạo của người học Nghị quyết chỉ rõ "Tiếp tục đổi mớimạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học;khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trungdạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tựcập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học "[3]

Như vậy, kế thừa kinh nghiệm của các nước tiên tiến, vấn đề ứng

Trang 16

công nghệ thông tin trong dạy học, dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực cho người học ở Việt Nam đã được các cấp và ngành giáo dụcđặc biệt quan tâm, thể hiện trong Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, các chỉthị của ngành giáo dục và đã tổ chức thực hiện theo lộ trình phù hợp, từngbước thu được những kết quả nhất định Bên cạnh đó, đã có nhiều côngtrình khoa học liên quan đến vấn đề này như:

- Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông “Một số vấn đề chung

về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông” của TS

Nguyễn Văn Cường và GS, TSKH Bernd Meier Trong dự án, các tác giả đãphân tích những cơ sở khoa học của phương pháp dạy học tích cực, luận giảimột số phương pháp và kĩ thuật giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh Trong đó có các phương pháp: "dạy học nhóm"(cộng tác), "giải quyết vấn đề", "nghiên cứu trường hợp" (dạy học theo tìnhhuống), "dạy học theo dự án", "Web Quest" (khám phá trên mạng); các nhóm

kĩ thuật như: "động não", "XYZ", "bể cá", "ổ bi" (thuộc nhóm kĩ thuật thảo luận nhóm ở các mức độ khác nhau), "tranh luận, ủng hộ, phản đối", "thông

tin phản hồi", "tia chớp", "3 lần 3" và "lược đồ tư duy" [11] Một số phươngpháp và kĩ thuật có thể áp dụng được vào phần đọc hiểu truyện ở lớp 11 kếthợp với việc khai thác các phương tiện công nghệ thông tin để thiết kế bàigiảng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Đề tài khoa học “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” của PGS, TS Đào Thái Lai - Viện Chiến lược và

Chương trình Giáo dục Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu,

đề tài đã đề xuất những nội dung ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngtrong dạy học Trong đó, một số nội dung chủ yếu được luận giải khá sâu như: Sửdụng phần mềm dạy học; cấu trúc của bài giảng điện tử;

sử dụng internet, E-learning; mô hình ứng dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông ở trường phổ thông; những tình huống sư phạm ứng dụng

công 6

Trang 17

nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học; các yêu cầu về công nghệthông tin và truyền thông đối với người GV [20] Đây là những nội dung

có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu trong luận văn

- Luận văn thạc sĩ “Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng dạy học một số tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ở trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang”của tác giả Nguyễn Thị Thu

Hương - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích vai trò củacông nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học, những đặc trưng thể loạitác phẩm văn chương, đặc điểm tâm lí của lứa tuổi HS vùng miền nghiên cứu, tácgiả đã đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tácphẩm văn chương lớp 11 Trong đó, tập trung vào sử dụng các phương tiện côngnghệ thông tin để biên soạn bài giảng điện tử dưới dạng các slide trình chiếu, kếthợp với các phương tiện nghe nhìn khác nhằm nâng cao tính trực quan, sinh độngcủa bài giảng [18]

- Luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu (Chương trình Ngữ văn 11)” của tác giả Nghiêm Thu Trang - Trường Đại học Giáo dục Thông qua việc

làm rõ những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập, các điều kiện để tạo hứngthú học tập, biểu hiện và vai trò của hứng thú học tập, tác giả đã đề xuất một sốbiện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối với một tác phẩm cụ thể trongchương trình lớp 11 Trong đó, tác giả đã luận giải kĩ các biện pháp như: vận dụngcác phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo vàứng dụng công nghệ thông tin…; đồng thời xác định ứng dụng công nghệ thôngtin là một trong những giải pháp cơ bản, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong tạohứng thú cho học sinh [30]

- Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục “Dạy học tác phẩm tự sự ở trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” của TS Lê Thị Ngọc Anh -

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Phân tích cơ sở khoa học của vấn

Trang 18

đề nghiên cứu, tác giả đã xác định yêu cầu và đề xuất một số biện phápdạy học tác phẩm tự sự ở trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệthông tin như: Đọc diễn cảm với sự hỗ trợ của video và hình ảnh trựcquan; thuyết trình với sự hỗ trợ của kho tài nguyên điện tử; vấn đáp tíchcực với sự hỗ trợ của kho tài nguyên điện tử và những yếu tố trực quan; tựlàm việc với kho tài nguyên điện tử và phương pháp đọc tài liệu khoa học,hiệu quả từ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin [1].

Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố chođến thời điểm hiện tại đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận văn ở nhữngmức độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu một

cách có hệ thống về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh” Tuy nhiên,

kết quả nghiên cứu của các công trình trên là những tư liệu tham khảo có giátrị đối với đề tài nhằm kế thừa, phát triển và vận dụng kết quả đó trong quátrình giải quyết một số nội dung cụ thể của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất biện pháp ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạocho học sinh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn, tạo hứng thú học tập cho học sinh; từ đó, nâng caohơn nữa chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những cơ sở khoa học liên quan đến ứng dụng côngnghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn, vấn đề dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11

và vấn đề phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Khảo sát thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11gắn với phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Luận giải, đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin 8

Trang 19

trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất trong luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp

11 gắn với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung kiến thức: Phần đọc hiểu truyện ngắn hiện đại lớp 11 (Văn học Việt Nam từ đầu Thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945);

- Về hình thức tổ chức dạy học: Tập trung vào giờ học chính khóa;

- Về phạm vi điều tra, khảo sát: Một số trường trung học phổ thông

ở miền Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luậnliên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích cơ sở khoa học, các quan điểm về

ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu

để tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu

truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát bằng phiếu kết hợp phỏngvấn trực tiếp đối với giáo viên và học sinh về thực trạng ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học Ngữ văn, về mức độ hứng thú của học sinh đối với bàidạy đọc hiểu truyện ở lớp 11 có sử dụng công nghệ thông tin

- Phương pháp so sánh tổng hợp: So sánh những nội dung liên quan đến

đề tài trong các tài liệu; so sánh giờ giảng của các giáo viên khác nhau về cùng

Trang 20

một văn bản truyện để rút kinh nghiệm, thiết kế giáo án thực nghiệm.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm trên phạm

vi nhỏ để kiểm chứng những nội dung cơ bản đề xuất trong luận văn

6 Cấu trúc của đề tài

Luận văn gồm: Phần mở đầu, ba chương, kết luận, tài liệu thamkhảo và phụ lục, trong đó:

Chương 1 tập trung làm rõ đặc điểm tâm lí của học sinh trung họcphổ thông; những khái niệm có liên quan và khảo sát thực trạng ứng dụngcông nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn ở một số trường trung học phổthông ở miền Bắc

Chương 2 nghiên cứu đặc trưng, phương pháp dạy và khả năng ứngdụng công nghệ thông tin, đề xuất những biện pháp ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lựcsáng tạo cho học sinh

Chương 3 tiến hành dạy thực nghiệm và dựa vào kết quả thựcnghiệm để đánh giá cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng của đề tài

10

Trang 21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học phổ thông

1.1.1 Đặc điểm nhận thức

Học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) là HS ở độ tuổi từ 15đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên (15-25 tuổi) HS đãđạt đến mức trưởng thành về cơ thể, sự phát triển thể chất tương đối hàihòa, cân đối Sự hoàn thiện về mặt cơ thể có ảnh hưởng rõ nét đến sự pháttriển tâm lí và nhận thức của lứa tuổi này

Hoạt động của HS THPT đã vượt ra ngoài phạm vi nhà trường, ảnhhưởng từ bên ngoài xã hội vào nhóm này rất mạnh HS thường sử dụngcác phương tiện nghe nhìn để xem phim, kịch, tin tức, nghe nhạc; HS đã

có sự tranh luận, thể hiện suy nghĩ cá nhân về các trào lưu, xu hướng vànhững vấn đề được xã hội, đặc biệt là giới trẻ quan tâm Thái độ đối vớiviệc học tập cũng có sự thay đổi, thái độ tự ý thức về việc học tập chotương lai được nâng cao; HS thể hiện thái độ lựa chọn đối với từng mônhọc, hứng thú và khuynh hướng học tập trở nên xác định và thể hiện rõràng hơn Với đặc điểm này, giáo viên (GV) có thể sử dụng các phươngtiện công nghệ thông tin (CNTT) để trình bày lồng ghép những vấn đềđược xã hội quan tâm có liên quan đến bài học nhằm tạo hứng thú, làm cơ

sở để phát huy năng lực sáng tạo cho HS trong quá trình dạy học

HS ở độ tuổi THPT cũng là giai đoạn có vị trí quan trọng trong việcphát triển trí tuệ Cảm giác, tri giác ở lứa tuổi này đã đạt ở mức độ của ngườilớn, khiến năng lực cảm thụ được nâng cao Trí nhớ phát triển tốt, HS đã biết

sử dụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ chứ không phải chỉ là một cách máymóc thụ động học thuộc nữa Sự chú ý, sự tập trung cũng phát triển hơn; hoạtđộng tư duy phát triển mạnh Ở thời kì này, HS đã có khả năng tư duy lí luận,trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo; hoạt động nhận thức đã phát

Trang 22

triển ở mức độ tương đối cao, đã có khả năng nhận thức vấn đề một cáchđúng đắn, sâu sắc; khả năng tư duy cũng đã phát triển và sẽ được hoàn thiệndần trong quá trình học tập và rèn luyện [22] Bên cạnh đó, ở lứa tuổi nàyhầu hết HS đã biết sử dụng máy tính, khai thác các công cụ tìm kiếm và xử líthông tin trên internet; sử dụng thành thạo điện thoại thông minh, mạng xãhội, tham gia vào các nhóm và diễn đàn trên internet với mức độ khác nhau.Đây là đặc điểm quan trọng tạo cơ hội cho GV khai thác, sử dụng kết hợpcác phương tiện dạy học, nhất là phương tiện CNTT nhằm cung cấp nhiều tưliệu trực quan, tác động vào nhận thức của HS theo nhiều kênh khác nhaunhằm phát triển tư duy cho HS Khả năng sử dụng phương tiện công nghệ,mạng internet… để tìm kiếm, khai thác và xử lí thông tin của HS vừa là điềukiện thuận lợi, vừa là tiềm năng lớn để phát triển năng lực sáng tạo cho HS.

Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của HS là cơ sở quan trọng để GVlựa chọn phương pháp dạy phù hợp, tập trung phát triển tư duy trừu tượng;rèn luyện kĩ năng phân tích để phát triển tư duy độc lập, khắc phục tìnhtrạng có kết luận vội vàng; dạy bám sát với thực tiễn hơn là trên lí thuyết.Bên cạnh đó, GV có căn cứ để lựa chọn những hình thức và biện pháp ứngdụng CNTT phù hợp với lứa tuổi và khả năng sử dụng các phương tiệnCNTT của HS, có cách thức tổ chức các hoạt động học tập phù hợp vớitâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của HS, tạo hứng thú học tập, qua đóphát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS

1.1.2 Đặc điểm hứng thú trong học tập

Theo từ điển tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất hứng thú là “Biểu hiện nhu cầu của chủ thể, làm cho chủ thể tìm cách để thỏa mãn, tạo ra khoái cảm; thích thú và huy động sinh lực nhằm cố gắng thực hiện” và nghĩa thứ hai hứng thú là “sự ham thích” [32].

Như vậy, hứng thú là sự vui vẻ, hào hứng, thích thú của con người đốivới một hoạt động nào đó Hứng thú trong học tập là thái độ đặc biệt của chủ

12

Trang 23

thể đối với hoạt động học tập; là sự thoải mái, chủ động, thích thú, tíchcực, say mê trong học tập của người học.

Khi có hứng thú học tập nói chung, có hứng thú học tập môn Ngữ vănnói riêng, HS sẽ chăm chú, tập trung vào mọi hoạt động học tập ở trên lớp;tích cực tham gia hoạt động nhóm, đại diện cho nhóm phát biểu ý kiến trướctập thể; hăng hái trả lời các câu hỏi của GV đưa ra, bổ sung ý kiến cho câutrả lời của bạn; hay đưa ra những ý kiến tranh biện, đòi hỏi giải thích cặn kẽnhững vấn đề chưa hiểu rõ ràng; chủ động vận dụng kiến thức đã học, kĩnăng đã biết để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học;kiên trì hoàn thành bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn[26] Như vậy, khi HS hứng thú với bài học, với môn học thì sẽ tạo đượckhông khí học tập sôi nổi, mê say, hào hứng…, người học tiếp nhận tri thứcmột cách chủ động và tự giác, không bị ép buộc và tất nhiên kết quả học tập sẽđạt được mức cao hơn Hơn thế nữa, hứng thú cũng chính là con đường cơ bản

để dẫn đến sáng tạo và tài năng

Học sinh THPT phần lớn đã nhận thức được tầm quan trọng của họctập; tuy vậy, giữa nhận thức và hành động cũng còn nhiều mâu thuẫn.Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó cơ bản là chưa có động cơ học tậpđúng đắn, chưa có hứng thú thực sự với môn học Thưc tế cho thấy HS chỉ

có kết quả học tập cao khi thực sự có hứng thú với môn học Vấn đề đặt racho hoạt động giáo dục hiện nay là tổ chức dạy và học như thế nào để hìnhthành và nâng cao hứng thú học tập cho HS Việc GV tạo được những bàigiảng sinh động, hấp dẫn, kích thích sự hứng thú, khiến HS say mê hơntrong học tập chính là một trong số những câu trả lời Đồng thời, qua đó

GV sẽ giúp HS phát triển được năng lực học tập của mình và rút ngắn hơnkhoảng cách đến với chân trời của tri thức

Trong thời đại “bùng nổ” CNTT hiện nay, hầu hết giới trẻ nói chung

và HS trung học phổ thông nói riêng đều sử dụng các phương tiện CNTT với

Trang 24

những mục đích khác nhau và có xu hướng sử dụng chúng vào mọi côngviệc có thể Hứng thú của HS trong sử dụng các phương tiện CNTT cũngnhư khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện CNTT vừa là đặc điểmvừa là điều kiện thuận lợi không nhỏ cho GV nếu GV biết khéo léo khaithác lợi thế này vào mục đích học tập, phục vụ giải quyết các nội dung củabài học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

1.2 Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

1.2.1 Năng lực sáng tạo

Năng lực là khái niệm được nói đến rất nhiều trong lĩnh vực nghiêncứu giáo dục trong thời gian gần đây Tùy thuộc vào vấn đề nghiên cứu,năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, mỗi cách hiểu đều cónhững thuật ngữ tương ứng

Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực có nghĩa gốc chung là “khả năng,

điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nàođó” và “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thànhmột loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [32]

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của Bộ Giáo dục vàđào tạo giải thích: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, pháttriển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện; cho phép conngười huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhânkhác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạtđộng nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [6]

Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới có giá trị của con người nhằm giải

quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của con người

Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, các năng lực chungcần được hình thành và phát triển cho HS trung học phổ thông bao gồm:năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải 14

Trang 25

quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực đặc thù - năng lực được hìnhthành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dụcnhất định như: năng lực ngôn ngữ (chủ yếu trong môn Ngữ văn và Ngoạingữ); năng lực tính toán (chủ yếu là ở môn Toán); năng lực công nghệ(chủ yếu ở môn Công nghệ); năng lực tin học (chủ đạo là ở môn Tin học);năng lực thẩm mĩ (chủ yếu trong các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Ngữ văn);năng lực thể chất (chủ yếu trong môn Giáo dục thể chất) Tất cả nhữngnăng lực chung và năng lực đặc thù đó là những năng lực cốt lõi - năng lực

cơ bản, thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần phải có để sống, học tập,làm việc có hiệu quả Ngoài ra, chương trình giáo dục phổ thông còn đềcập đến vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt - năng khiếu về trítuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống cho HS

Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và

tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, vận dụng thành công những hiểubiết đã có vào hoàn cảnh mới Năng lực sáng tạo được cấu thành từ các yếutố: tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, ý chí sáng tạo, phương tiện điều kiệnsáng tạo, môi trường sáng tạo; trong đó tư duy sáng tạo là yếu tố cơ bản nhất,quyết định hiệu quả hoạt động sáng tạo Năng lực sáng tạo của HS trong đọchiểu truyện ở lớp 11 được thể hiện thông qua các mặt sau:

- Phát hiện ra những vấn đề mới đối với bản thân trong cảm thụ tác phẩm văn học;

- Khả năng thu thập, chọn lọc và xử lý những thông tin phù hợp liênquan đến tác giả, tác phẩm;

- Khả năng thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về tác giả, tácphẩm, tình huống truyện, nhân vật trong truyện một cách có biện luận, khôngtheo khuôn mẫu có sẵn;

- Khả năng vận dụng kỹ năng sống và trải nghiệm thực tế, sử dụng cáccông cụ, phương tiện, để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao phù hợp

Trang 26

với tình huống và bối cảnh;

- Khả năng hợp tác, tranh biện khi trao đổi, thảo luận về những vấn

đề đặt ra trong tác phẩm

1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

Năng lực Văn học là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn họccủa người học Khả năng tiếp nhận thể hiện qua việc HS biết vận dụngkiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạonghĩa và đánh giá văn bản văn học Còn khả năng tạo lập văn bản văn bảnvăn học là khả năng thể hiện cảm xúc và ý tưởng bằng những ngôn từmang tính thẩm mĩ cao, có thể sáng tác văn học [13]

Năng lực văn học là một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khảnăng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ thôngqua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản [9]

Từ trước đến nay, việc tiếp nhận văn học của HS thường theo lối thụđộng GV thường đọc, cảm nhận, hiểu hộ HS; HS có khi không cần phảiđọc văn bản tác phẩm mà chỉ cần nghe, ghi chép và học thuộc lời thầy cô.Nhưng năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn là rất cần thiết bởi vănchương là nghệ thuật ngôn từ, văn chương vốn dĩ trừu tượng nhưng cũnglại mang tính hình tượng, cụ thể, cảm tính Nó rất cần đến cái riêng, cáitôi, cái cá tính sáng tạo của mỗi chủ thể

Phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học Ngữ văn là tổng thể cácbiện pháp, hoạt động của GV và HS trong quá trình chuẩn bị và thực hànhdạy học dưới sự tổ chức của GV, nhằm phát huy cao nhất khả năng của HStrong trong tiếp nhận, tạo lập văn bản; nâng cao kĩ năng vận dụng kiến thức

và hứng thú trong học tập Ngữ văn Sáng tạo trong dạy học Ngữ văn cũngkhông đòi hỏi GV và HS phải có những sản phẩm hoàn toàn mới, thực sựđộc đáo; những phát minh cao siêu hay những đóng góp lớn lao mà trước hết

đó là việc dạy học Ngữ văn hướng đến sự suy nghĩ độc lập, mang tính cá thể,

16

Trang 27

có cái tôi riêng của HS và có thể vận dụng những kiến thức và kĩ năng đóvào những tình huống khác nhau trong môn học cũng như trong cuộcsống HS biết nêu ý kiến cá nhân, trình bày vấn đề theo ý hiểu của mình;biết luận giải và phát triển tư duy độc lập, không theo một lối mòn, khôngdựa dẫm vào những suy nghĩ, cảm nhận của người thầy và những người đi

trước Ví dụ, khi dạy đọc hiểu văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam ở nội

dung phân tích cảnh chờ tàu của chị em Liên và những người dân nơi phốhuyện Trong mục ý nghĩa cảnh chờ tàu, GV không chỉ dừng lại ở việc cho

HS thảo luận nhóm để phát hiện ra những ý nghĩa khác nhau theo cáchhiểu truyền thống (nó khuấy động sự phẳng lặng tẻ nhạt của cuộc sống nơiđây, là thế giới của những kỉ niệm tươi đẹp, là biểu tượng của tương laitươi sáng…), GV có thể tổ chức cho HS tranh biện trong một khoảng thờigian nhất định để HS có thể có cái nhìn khác, thậm chí ngược lại, rằng sựchờ đợi ấy là vô nghĩa, vì cuối cùng sự chờ đợi mỗi đêm cũng không giảiquyết vấn đề gì, đoàn tàu chỉ đến và đi trong chốc lát, sau đó cuộc sống ởđây lại như cũ, không có gì đổi thay Tất nhiên, cuối cùng GV sẽ địnhhướng cho các em đến cách hiểu hợp lí nhưng với hoạt động này nó đãgiúp các em có sự tích cực, chủ động trong tư duy, không lệ thuộc vào ýkiến của người khác mà biết nêu lên ý kiến, quan điểm, suy nghĩ của mình;thông qua đó, năng lực sáng tạo của HS được phát huy

1.3 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

1.3.1 Công nghệ thông tin

Thuật ngữ Công nghệ thông tin xuất hiện từ khoảng những năm 70

của Thế kỉ XX Trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều khái niệm,nhiều cách hiểu đề cập đến thuật ngữ này Ở nước ta, khái niệm CNTT lầnđầu được trình bày trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ năm 1993 vềphát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90 Hiện nay, khái niệm

Trang 28

CNTT được sử dụng phổ biến nhất là: "Công nghệ thông tin là tập hợp các công cụ kĩ thuật hiện đại gồm chủ yếu là máy vi tính và phần mềm máy vi tính được sử dụng để xử lí, lưu giữ, trình bày, chuyển đổi, bảo vệ, gửi và nhận thông tin số một cách an toàn" Qua khái niệm, có thể thấy nội hàm của khái niệm CNTT như sau:

- Về bản chất, công nghệ có thể được hiểu là các công cụ và phươngtiện kĩ thuật

- Về phương tiện chủ yếu: máy vi tính, phần mềm máy vi tính

- Về đối tượng xử lí: là thông tin ở dạng tín hiệu số

1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

Theo quan điểm Mác - Lê nin về mối quan hệ giữa các yếu tố củaquá trình nhận thức, nhận thức cảm tính có được nhờ sự hoạt động của cácgiác quan nhận biết của con người, như thính giác, thị giác, xúc giác, vịgiác, khứu giác Nhận thức cảm tính là xuất phát điểm của quá trình nhậnthức và đóng vai trò cung cấp tài liệu cho nhận thức lí tính Trong dạy học,

để tổ chức quá trình nhận thức được thuận lợi, người dạy cần sử dụng đadạng các phương tiện trực quan để tác động vào nhiều giác quan củangười học nhằm cung cấp cho người học nhiều “tư liệu” cảm tính Quyluật của quá trình nhận thức vừa là cơ sở lí luận vừa là nội dung mang tínhđịnh hướng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ngữ văn

Ngày nay, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT vừa làphương tiện, công cụ dạy học tiên tiến, vừa là ngành học với những đặcthù riêng, vừa là môi trường dạy học mới với nhiều hình thức dạy học đadạng Việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở mỗi ngành học, cấp học vàmỗi môn học rất khác nhau Hiện nay CNTT thường được sử dụng trongdạy học với ba hướng sau:

Hướng thứ nhất, CNTT được sử dụng như một phương tiện giảng dạycủa người dạy Trong đó, GV sử dụng CNTT phục vụ cho việc thiết kế và

18

Trang 29

thể hiện bài giảng, ta thường gọi nó với thuật ngữ “bài giảng điện tử” vớiphần mềm được sử dụng phổ biến là Microsoft Powerpoint, Violet vàPresenter.

Hướng thứ hai, sử dụng CNTT như phương tiện dạy học của cả ngườidạy và người học Trong đó, người dạy sử dụng CNTT để thiết kế bài giảngcòn người học sử dụng CNTT để thực hiện các yêu cầu của người dạy

Hướng thứ ba, về hình thức CNTT có xu hướng gắn với quá trìnhhọc nhiều hơn quá trình dạy, là môi trường học tập mới, môi trường họctập ảo chứa đựng thông tin và tình huống nhận thức mới Người học làtrung tâm, là chủ thể hoạt động trong môi trường đó, thay vì hoạt độngtrong môi trường tương tác trực tiếp với người dạy

Mỗi hướng ứng dụng CNTT trong dạy học kể trên có đặc điểm; điềukiện sử dụng khác nhau cũng như có ưu điểm, hạn chế riêng và phù hợp vớitừng ngành học, cấp học, môn học cụ thể Trong điều kiện bình thường,hướng 1 và hướng 2 phù hợp hơn với quá trình dạy học ở bậc học phổ thông;hướng 3 có thể áp dụng với các bậc học cao hơn và sử dụng bổ trợ cho bậchọc phổ thông trong một số trường hợp nhất định Trong các hướng ứngdụng CNTT nêu trên, hướng thứ hai có nhiều ưu điểm và phù hợp với bậchọc THPT hơn cả Đối với môn Ngữ văn, việc ứng dụng CNTT trong dạyhọc theo hướng thứ hai vừa kế thừa được ưu điểm của phương pháp dạy họctruyền thống - có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học mộtcách linh hoạt, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo củangười học Theo hướng này, GV thường sử dụng phần mềm MicrosoftPowerpoint - phần mềm rất dễ sử dụng và hoàn toàn miễn phí để thiết kế bàigiảng và một số công cụ bổ trợ Nội dung kiến thức được trực quan hóa bằng

cả "kênh hình" và "kênh tiếng" (hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ tư duy, phim, âmthanh…) nhằm kết hợp tác động tới quá trình nhận thức của HS lên nhiềugiác quan; HS sử dụng CNTT để tìm kiếm, xử lí thông tin liên quan đến bài

Trang 30

học nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của GV theo tư duysáng tạo của mình [18].

Trong thực tế, việc ứng dụng CNTT trong dạy học bộ môn Ngữ vănkhông nằm ngoài xu thế chung của thời đại Tuy nhiên, ở môn học này,việc ứng dụng CNTT trong dạy học thường chậm và ít hơn so với các mônhọc khác Nguyên nhân do đặc thù môn học không chỉ đơn thuần dạy vềkiến thức, kĩ năng cần thiết như ở những môn học khác, không chỉ truyềnđạt tri thức khoa học mà hơn thế nữa nó còn rèn luyện cho người học nănglực tiếp nhận và cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và sử dụng ngôn ngữ…Hay nói cách khác, dạy văn học cần đảm bảo cả hai yếu tố là tư duy vàcảm xúc Để đạt được điều đó, giờ dạy học cần được tiến hành kết hợp vớicác hoạt động, các phương pháp và phương tiện dạy học khác nhau mộtcách linh hoạt Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn là hết sứccần thiết, song nó cũng đòi hỏi cao hơn, cầu kì hơn so với các môn họckhác Nếu GV không có sự chọn lọc khéo léo, phù hợp với nội dung bàihọc, tính chất môn học thì hiệu quả dạy học sẽ không đạt được như mongmuốn Hiệu quả giờ dạy học phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng lựa chọn nộidung, hình thức ứng dụng CNTT của mỗi GV

1.4 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

1.4.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học

Đọc hiểu văn bản là bộ phận rất quan trọng và được xác định là mộtkhâu đột phá trong mục tiêu đổi mới mạnh mẽ chương trình Ngữ văn THPT

Trong chương trình Ngữ văn mới có hai loại văn bản được dạy học đọc hiểu, đó là văn bản văn học và văn bản thông tin

Văn bản văn học là những văn bản nghệ thuật ngôn từ, ở đó ngôn ngữđược sử dụng một cách nghệ thuật, giàu tính thẩm mĩ, tính hình tượng, tínhbiểu cảm, tính đa nghĩa, tính sáng tạo, thể hiện phong cách nghệ thuật của

20

Trang 31

người viết… Đặc biệt, đây là những văn bản được sáng tác theo phươngthức hư cấu, vận dụng cơ chế liên tưởng và tưởng tượng sáng tạo để tạo ranhững hình tượng nghệ thuật, hình tượng thẩm mĩ, có khả năng lay thứctâm hồn, tình cảm của người đọc và đem đến cho độc giả những nhận thức

về đặc trưng, bản chất của nghệ thuật văn chương [13] Với đặc điểm thểloại văn bản văn học, quá trình dạy học đọc hiểu văn bản được thực hiệntheo các hoạt động sau: Hoạt động tạo tâm thế đọc cho HS; hoạt động tìmhiểu những tri thức công cụ cần thiết cho việc đọc hiểu văn bản; hoạt độngđọc hiểu văn bản và hoạt động củng cố, vận dụng thực tiễn

1.4.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

Ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học là hoạt động

sử dụng các phương tiện CNTT như máy tính, máy chiếu, thiết bị nghe nhìn,thiết bị lưu trữ và các phần mềm dạy học để bổ trợ cho quá trình chuẩn bị vàthực hành giảng dạy của GV cũng như hoạt động học của HS, giúp HS thuậntiện hơn trong việc tiếp thu kiến thức; phát triển năng lực, nhất là năng lựcsáng tạo; góp phần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản văn học

Trên cơ sở phân tích đặc điểm dạy học đọc hiểu văn bản theo hướngphát triển năng lực cho người học, việc ứng dụng CNTT trong dạy họctheo xu hướng thứ hai đã trình bày ở trên cần tập trung vào một số vấn đềchủ yếu, như: biên soạn bài giảng điện tử; thiết kế tư liệu bổ trợ cho cáchoạt động dạy học; sử dụng các phương tiện để triển khai dạy học; địnhhướng cho HS tìm kiếm, xử lí thông tin, thực hiện nhiệm vụ học tập theoyêu cầu của GV

1.5 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11

Để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng ứngdụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với phát triển nănglực sáng tạo cho HS bằng cách phát phiếu khảo sát kết hợp với phỏng vấntrực tiếp Đối tượng khảo sát gồm: 40 GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn

Trang 32

và 300 HS lớp 11 ở một số trường THPT ở các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và thành phố Hà Nội.

- Về phía giáo viên:

+ Nhận thức về vai trò của việc việc ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện;

+ Điều kiện để ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện;

+ Mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học đọc hiểu truyện (tần suất, thói quen sử dụng CNTT);

Thông qua kết quả khảo sát có thể đánh giá thực trạng ứng dụngcông nghệ thông tin trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với pháttriển năng lực sáng tạo cho HS như sau:

- Về nhận thức và mức độ ứng dụng CNTT cho thấy: Đa số GV và HSxác định việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở mức “cần thiết” Tuy nhiên sốlượng GV đánh giá chính xác vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTTtrong dạy học ở mức "rất cần thiết" chưa cao (bảng 1.1) Điều này ảnh hưởngtới thái độ và việc xác định trách nhiệm của GV trong việc tự bồi dưỡng nângcao khả năng ứng dụng CNTT, dẫn đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạyhọc đọc hiểu truyện ở lớp 11 còn ít, chủ yếu tập trung vào các tiết học

22

Trang 33

hội giảng, thao giảng, dự giờ… mà chưa trở thành nhu cầu thường xuyên,

yêu cầu tất yếu trong dạy học (bảng 1.2)

Bảng 1.1 Nhận thức của GV và HS về vai trò ứng dụng CNTT trong dạy học

Các tiết dạy mà nội dung bài cần sử dụng 5 12,5

- Về khả năng, mục đích sử dụng internet và các phần mềm ứng dụng

cho thấy: Hầu hết GV có xu hướng sử dụng những phần mềm dạy học quen

thuộc như Powerpoint, Violet; khả năng sử dụng các phương tiện CNTT

và các phần mềm ứng dụng khác để xây dựng tư liệu, biên tập, xử lí thông

tin, nhất là khả năng nghiên cứu cập nhật những phần mềm mới còn hạn

chế, dẫn đến bài giảng thiếu sinh động (bảng 1.3)

Qua phỏng vấn trực tiếp một số HS cho thấy: Nhiều bài giảng còn

mang tính hình thức, gọi là có ứng dụng CNTT, thực chất chỉ là việc trình

chiếu y nguyên nội dung bài giảng trong giáo án lên màn hình thay cho việc

viết bảng Về bản chất, ở đây chỉ mang tính chuyển đổi từ “đọc - chép” sang

Trang 34

“nhìn - chép”, chưa phải ứng dụng CNTT để góp phần đổi mới phương

PM thi trắc nghiệm trực tuyến 0 0,0 0 0,0 3 7,5 37 92,5

mềm ứng dụng còn hạn chế nên việc ứng dụng CNTT phần lớn mới dừng lại

ở khâu biên soạn bài giảng điện tử ở mức đơn thuần, chưa khai thác đượctiềm năng của CNTT trong thiết kế các tư liệu trực quan sinh động khác phục

vụ quá trình dạy học để tích hợp trong bài giảng điện tử; ít ứng dụng

trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS và hướng dẫn HS tự học(bảng 1.4) Qua đó cho thấy: Hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học cònmang tính một chiều; HS ít được trực tiếp tham gia khai thác các phương tiệnCNTT để tạo ra các sản phẩm phục vụ học tập Sự hỗ trợ này của CNTT làchưa đạt tới hiệu quả hình thành và phát triển năng lực người học, chưa chútrọng phát huy vai trò trung tâm, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Trang 35

24

Trang 36

Bảng 1.4 Phạm vi ứng dụng của GV trong dạy học

Mức độ

xuyên thoảng bao giờ

Biên soạn bài giảng điện tử 12 30,0 28 70,0 0 0,0 0 0,0

Kiểm tra, đánh giá kết quả 0 0,0 0 0,0 3 7,5 37 92,5

- Về hiệu quả dạy học cho thấy: Phần lớn HS đánh giá việc ứngdụng CNTT mang lại hiệu quả, và đã tạo được hứng thú học tập trong phạm vinhất định, điều đó được thể hiện qua việc HS thu nhận được nhiều thông tinhơn, dễ tiếp thu bài hơn, qua đó có thái độ hứng thú với những bài học ứngdụng CNTT (bảng 1.5)

Bảng 1.5 Đánh giá của HS về thuận lợi khi GV sử dụng CNTT

Thu nhận được nhiều

98 32,7 115 38,3 83 27,7 4 1,3thông tin, tri thức hơn

Tuy nhiên, thông qua kết quả khảo sát và qua tìm hiểu thêm bằng

phương pháp phỏng vấn trực tiếp HS đã phản ánh thực tế là hiệu quả dạy học

Trang 37

25

Trang 38

và mức độ hứng thú của HS chưa thực sự thuyết phục, chưa tương xứngvới tiềm năng của CNTT Vẫn còn một số lượng không nhỏ HS cho rằngbài giảng của một số GV chưa phù hợp, chưa thực sự hấp dẫn, còn trìnhchiếu quá nhiều chữ, tạo áp lực lớn trong việc ghi chép của HS (bảng 1.6).

Có những GV khi sử dụng bài giảng điện tử do khả năng có hạn nênthường độc diễn với chiếc máy tính của mình mà không có sự tương tácvới HS, không tổ chức các hoạt động để HS tự chiếm lĩnh tri thức, HS vẫn

là người thụ động trong quá trình tiếp nhận, về bản chất cũng không có sựkhác biệt đáng kể so với cách dạy truyền thống

Bảng 1.6 Đánh giá của HS về khó khăn khi GV sử dụng CNTT

Trước thực trạng trên, cần có những giải pháp thiết thực nhằm pháthuy hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học đọc hiểutruyện ở lớp 11 nói riêng, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực sáng tạo cho

HS, phù hợp với Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo

Tiểu kết chương 1

Vấn đề phát triển năng lực trong dạy học đã được các nước trên thế

26

Trang 39

giới nghiên cứu từ khá sớm Tuy nhiên, đến những thập niên cuối của Thế kỉ

XX nhờ sự phát triển hùng mạnh của internet và các phương tiện CNTT thìviệc kết hợp CNTT trong dạy học phát triển năng lực mới bắt đầu được nghiêncứu và áp dụng Hiện nay, mô hình kết hợp ứng dụng CNTT trong dạy học pháttriển năng lực được rất nhiều nước có nền giáo dục phát triển áp dụng và thu đượcnhững thành tựu to lớn Ở Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm của các nướctiên tiến, việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học phát triểnnăng lực nói riêng đã từng bước phát triển và tạo được phong trào tương đối sôinổi Hiện nay, có một số công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề có liênquan đến đề tài luận văn Mỗi công trình đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trongdạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn ở mức độ khác nhau nhưng chưa cócông trình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ thống về ứng dụng CNTTtrong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS

Đặc điểm tâm lí, nhận thức, năng lực sáng tạo của HS, cơ sở vật chất,phương tiện và khả năng ứng dụng các phương tiện CNTT của GV và HS lànhững yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu Phân tích thựctrạng ứng dụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện, rút ra những bài họckinh nghiệm cả về thành công cũng như những mặt còn hạn chế là cơ sởquan trọng để tác giả đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả ứngdụng CNTT trong dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11 gắn với phát triểnnăng lực sáng tạo cho HS trong chương 2

27

Trang 40

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN Ở LỚP 11

NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC

SINH 2.1 Đặc trưng và cách dạy học đọc hiểu truyện ở lớp 11

2.1.1 Đặc trưng truyện ở lớp 11

Bốn kiểu văn bản văn học lớn được dạy trong chương trình phổthông hiện hành đó là: thơ, truyện, kí và kịch (kịch bản văn học) Trongmỗi kiểu văn bản ấy lại được chia ra thành các tiểu loại khác nhau Cácvăn bản được sắp xếp theo trục thể loại và có tính đến trục lịch sử, đượcthể hiện ở các chủ đề học tập trong chương trình từng khối lớp ở bậcTHPT Ví dụ, các chủ đề truyện trung đại Việt Nam, thơ trung đại ViệtNam được bố trí trong chương trình Ngữ văn lớp 10; truyện hiện đại ViệtNam, thơ hiện đại Việt Nam - chương trình Ngữ văn 11; kí hiện đại ViệtNam, kịch hiện đại Việt Nam - chương trình Ngữ văn 12 [13] Như vậy,các truyện hiện đại Việt Nam, cụ thể là các truyện ngắn hiện đại Việt Namđược lựa chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn 11

Truyện là tên gọi để chỉ loại hình tự sự của văn học, bao gồm những

thể loại: truyện kể dân gian (thần thoại, truyền thuyết, sử thi…), truyệnphiêu lưu, truyền kì, truyện kể hiện đại (truyện ngắn, truyện vừa, truyệndài) Truyện có hai thành phần chủ yếu là nhân vật và cốt truyện; truyệnthể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả thông qua việc tái hiện một cáchkhách quan các hiện tượng của đời sống xã hội với sự diễn đạt bằng ngôn

từ Văn bản truyện là văn bản tự sự được sáng tác theo lối hư cấu Mỗi vănbản truyện là một sáng tạo nghệ thuật ngôn từ độc đáo của người nghệ sĩ.Tuy nhiên, xét chung về thể loại, văn bản truyện thường có những dấuhiệu đặc trưng nổi bật như: có cốt truyện, có nhân vật, có người kể chuyện,

có lời trần thuật; với truyện ngắn còn có tình huống truyện [13]

28

Ngày đăng: 09/06/2021, 06:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w