1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập

76 5,7K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Du Lịch
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 840 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập

Trang 1

Lời nói đầu

1- Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, hoà vào quá trình hội nhập kinh tế của đất nớc, ngành

du lịch non trẻ của Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu rất đáng khích lệ Từ năm

1990 trở lại đây du lịch đã có bớc phát triển khá mạnh, đem lại lợi ích kinh tế đáng

kể Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 1990 doanh thu của Du lịch Việt Nam mới chỉ đạt con số là 2.180 tỷ đồng thì năm 2002 con số này đã là 23.500 tỷ đồng Du lịch đã mang lại cho nền kinh tế quốc dân năm 2001 là 1,4 tỷ USD bao gồm các khoản thu trực tiếp của Tổ chức Du lịch và các ngành có liên quan So với năm 1990

số du khách quốc tế tăng 9 lần, còn du khách nội địa tăng hơn 10 lần Với tốc độ phát triển trung bình hằng năm đạt ở mức hai con số, ngành du lịchViệt Nam dã và sẽ tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào sự tăng trởng kinh tế của đất nớc.

Với những tiềm năng phát triển vô cùng to lớn, thực tế ngành du lịch Việt Nam

đang có những bớc tiến mạnh mẽ và khá hiệu quả: thu nhập từ du lịch không ngừng tăng lên, Việt Nam đang ngày càng đợc biết đến rộng rãi và đang đợc xem là một

điểm đến an toàn và thân thiện Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, hoạt động kinh doanh du lịch của Việt Nam vẫn cha thực sự phát triển tơng xứng với tiềm năng sẵn có Vẫn còn đó những hạn chế và trở ngại: vấn đề thiếu vốn đầu t, công tác quy hoạch cha đạt tới sự đồng bộ và tính dài hạn, đội ngũ nhân lực du lịch còn thiếu và yếu, cha chú trọng đúng mức tới vấn đề phát triển du lịch bền vững Để du lịch Việt Nam thực sự phát triển và hội nhập, một đòi hỏi tất yếu đặt ra là phải tìm cách khắc phục một cách có hiệu quả mọi trở ngại nói trên, đồng thời phải khai thác bền vững những thế mạnh vốn có Mặt khác, vào tháng 3/2003 vừa qua, dịch bệnh đờng hô hấp cấp SARS bùng phát đã gây ra những ảnh hởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh doanh du lịch không chỉ của Việt Nam mà của cả thế giới Cho tới thời điểm này (11/2003) Việt Nam cũng nh nhiều nớc khác vẫn đang đang phải nỗ lực phục hồi lại hoạt động kinh doanh du lịch của nớc mình Qua đại dịch SARS chắc chắn đã đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam thêm những vấn đề mới, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận thấu đáo và toàn diện hơn để tiếp tục phát triển đạt hiệu quả theo hớng hội nhập.

Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hớng hội nhập” đã đợc tác giả lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp trên cơ sở

nhận thức đợc sự cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề.

2- Mục đích nghiên cứu của Khoá luận

Đánh giá thực trạng của ngành du lịch Việt Nam thời kỳ tiền SARS (1990 2002)

Trang 2

Đánh giá tình hình khắc phục những hậu quả do dịch bệnh SARS (tháng 3/2003) để lại cũng nh kết quả hoạt động kinh doanh du lịch đến tháng 12/2003.

- Đa ra những giải pháp và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam tiếp tục phát triển hiệu quả và bền vững theo xu thế hội nhập.

3- Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ chơng trình “Năm du lịch Việt Nam” do ngành du lịch phát động vào năm 1990 đợc xem nh là sự đánh dấu mở đầu cho thời kỳ phát triển mới của du lịch Việt Nam theo hớng đổi mới và hội nhập, khoá luận tập trung nghiên cứu hoạt

động kinh doanh du lịch Việt Nam nói chung giới hạn trong giai đoạn từ năm 1990 cho tới nay.

4- Phơng pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng tổng hợp các phơng pháp phân tích và tổng hợp, các phơng pháp của khoa học thống kê, nghiên cứu tài liệu, đồng thời có sự kế thừa một số kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra.

5- Bố cục của Khoá luận

Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của khoá luận gồm 3 chơng:

Chơng I : Tổng quan về hoạt động du lịch Chơng này trình bày những khái

niệm cơ bản về du lịch và nêu ra một số nét chính về hoạt động du lịch trong khu vực cũng nh trên thế giới.

Chơng II : Tiềm năng du lịch Việt Nam và thực trạng của ngành du lịch sau dịch bệnh SARS Đánh giá tiềm năng, thực trạng của du lịch Việt Nam trớc và

sau khi diễn ra dịch bệnh SARS, đồng thời nêu lên những vấn đề lớn cần khắc phục của ngành.

Chơng III : Các giải pháp và kiến nghị để du lịch Việt Nam tiếp tục phát triển theo xu hớng hội nhập Đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển của du lịch

Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở hệ thống những quan điểm, định hớng và mục tiêu phát triển du lịch của Đảng và chiến lợc phát triển của ngành đến năm 2010

Do hạn chế về kiến thức, thời gian cũng nh nguồn tài liệu nên khoá luận không thể tránh khỏi thiếu sót Mong nhận đợc sự góp ý của các thấy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận đợc hoàn thiện hơn.

Trang 3

Chơng I Tổng quan về hoạt động du lịch

I Khái niệm và vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội của

1.1.1 Tiếp cận du lịch dới góc độ nhu cầu của con ngời

Thứ nhất, du lịch là một hiện tợng: Trớc thế kỷ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du

lịch hầu nh vẫn đợc coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và ngời ta chỉ coi

đây nh là một hiện tợng cá biệt trong đời sống kinh tế xã hội Trong thời kỳ này, ng ời

ta coi du lịch nh một hiện tợng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức cuả con ngời Đó là hiện tợng con ngời rời khỏi nơi c trú thờng xuyên để

đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó họ phải tiêu tiền mà họ kiếm đợc Các giáo s Thuỵ

Sỹ là Hunziker và Krapf (Viện nghiên cứu Học viện kinh tế Zurich) đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tợng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lu trú của những ngời ngoài địa phơng - những ngời không có mục đích định c và không liên

Trang 4

quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào Quan niệm này đợc Hiệp hội quốc tế các chuyên gia khoa học về du lịch (International Association of Scientific Experts in Tourism - IASET) thừa nhận Với quan niệm này du lịch mới chỉ đợc giải thích ở hiện tợng đi du lịch, tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định ngời đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu về du lịch sau này.

Thứ hai, du lịch là một hoạt động: Theo Mill và Morrison (R.C Mill and A.M.

Morrison, The tourism system: an introductory text, Prentice-Hall International, New

Jersey, 1985), du lịch là một hoạt động xảy ra khi con ngời vợt qua biên giới một nớc (hay ranh giới một vùng, một khu vực) để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và l u trú tại đó ít nhất 24 giờ nhng không quá một năm Nh vậy, có thể xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trng mà con ngời mong muốn qua các chuyến đi Du

lịch có thể đợc hiểu “là hoạt động của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng trong một thời gian nhất

định.”

Từ các góc độ nói trên, bản chất của du lịch đợc chỉ rõ thông qua 5 đặc điểm chính nh sau:

- Du lịch nảy sinh từ sự di chuyển và lu trú của con ngời ở các nơi đến khác nhau.

- Có hai yếu tố trong hoạt động du lịch: hành trình tới nơi đến và l u lại, trong

đó bao gồm cả các hoạt động ở nơi đến.

- Chuyến đi và lu trú xảy ra bên ngoài nơi c trú và làm việc thờng xuyên, do đó

du lịch làm nảy sinh những hoạt động của ngời đi du lịch ở nơi đến khác biệt với những hoạt động của c dân sinh sống và làm việc ở đây.

- Sự di chuyển tới nơi đến mang tính tạm thời, thời gian ngắn và sau đó quay trở về trong khoảng vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng.

- Chuyến đi với nhiều mục đích song không vì mục đích định c hoặc tìm kiếm việc làm tại nơi viếng thăm.

Với các cách tiếp cận nói trên, bản chất của du lịch chủ yếu mới chỉ đợc giải thích dới góc độ là một hiện tợng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch.

Thứ ba, du lịch dới góc độ là khách du lịch: Một quan niệm khác xem xét khái

niệm và bản chất của du lịch dới góc độ ngời đi du lịch Theo cách tiếp cận này, nhà kinh tế học ngời Anh Ogilvie đã đa ra khái niệm khách du lịch là “tất cả những ngời thoả mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi ở thờng xuyên trong một khoảng thời gian dới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó.” Khái niệm này cha hoàn chỉnh vì nó cha làm rõ đợc mục đích của ngời đi du lịch và qua đó

để phân biệt đợc với những ngời cũng rời khỏi nơi c trú của mình nhng lại không phải

là khách du lịch.

Trang 5

Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Rome (1963) thống nhất quan niệm về khách du lịch ở hai phạm vi quốc tế và nội địa, sau này đợc Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organisation - WTO) chính thức thừa nhận.

(1) Khách du lịch quốc tế (international tourism): Là một ngời lu trú ít nhất

một đêm nhng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thờng trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để đợc trả lơng ở nơi đến.

(2) Khách du lịch nội địa (Domestic tourism): Là một ngời đang sống trong

một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi c trú ờng xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất 24 giờ nhng không quá một năm với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để lĩnh lơng ở nơi đến.

th-Quán triệt quan niệm của Tổ chức du lịch thế giới, trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam có quy định: “Khách du lịch quốc tế là ngời nớc ngoài, ngời Việt Nam ở n-

ớc ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài c trú tại Việt Nam ra nớc ngoài du lịch” và “khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và ngời n-

ớc ngoài c trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

1.1.2 Tiếp cận du lịch dới góc độ là một ngành kinh tế

Cùng với sự phát triển của xã hội, du lịch phát triển từ hiện tợng có tính đơn lẻ của một bộ phận nhỏ trong dân c thành hiện tợng có tính phổ biến và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống của mọi tầng lớp xã hội Lúc đầu, ng ời đi du lịch thờng

tự thoả mãn các nhu cầu trong chuyến đi của mình Về sau, các nhu cầu đi lại, ăn ở, giải trí của du khách đã trở thành một cơ hội kinh doanh và du lịch lúc này đợc quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu của du khách Một ngành kinh tế đợc hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của con ngời trong chuyến đi rời khỏi nơi c trú thờng xuyên - đó là ngành du lịch Theo các học giả Mỹ Mc Intosh và Goeldner, du lịch là một ngành tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu thành khác kể cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ các nhu cầu và mong muốn đặc biệt của khách du lịch Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần phải quan niệm rộng rãi ngành du lịch nh là ng-

ời đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp và thơng mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội

địa.

Nh vậy, khi tiếp cận du lịch với t cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch đợc hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách.

1.1.3 Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp

Trang 6

Các quan niệm trên tiếp cận du lịch dới góc độ một hiện tợng, một hoạt động với các yếu tố tách biệt Với cố gắng xem xét du lịch một cách toàn diện hơn, các tác giả Mc Intosh và Goeldner cho rằng cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể (thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể hiểu đợc bản chất và đa ra khái niệm về du lịch một cách đầy đủ Các chủ thể (thành phần) đó bao gồm :

(1) Khách du lịch: Đây là những ngời tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thoả

mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau Bản chất của du khách sẽ xác định các nơi

đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia thởng thức.

(2) Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch: Các nhà kinh

doanh coi du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trờng khách du lịch.

(3) Chính quyền sở tại: Những ngời lãnh đạo chính quyền địa phơng nhìn nhận

du lịch nh một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọngvề thu nhập từ các hoạt động kinh doanh cho dân địa phơng, ngoại tệ thu đợc từ khách quốc

tế và tiền thuế thu đợc cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

(4) Dân c địa phơng: Dân c địa phơng thờng coi du lịch là một nhân tố tạo ra

việc làm và giao lu văn hoá Một điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả của sự giao lu giữa số lợng lớn khách du lịch quốc tế và dân c địa phơng Hiệu quả này có thể vừa có lợi và vừa có hại.

Nh vậy, để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối

quan hệ của du lịch, theo cách tiếp cận này, du lịch đợc hiểu là tổng hợp các hiện ợng và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân c địa phơng trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch.

t-Với cách tiếp cận này, khách du lịch là nhân vật trung tâm làm nảy sinh các hoạt động và các mối quan hệ để trên cơ sở đó thoả mãn mục đích của các chủ thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó.

Tóm lại: Du lịch là quá trình hoạt động, di chuyển của con ngời rời khỏi nơi c

trú của mình để đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là để đợc thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác với nơi họ ở và có thể với một số mục đích khác, nhng không phải nhằm mục đích sinh lợi Xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch, nên du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận khác nhau Song hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, khái niệm du lịch luôn phải chuyển tải đợc 3 nội dung:

- Cách thức sử dụng thời gian rỗi bên ngoài nơi c trú thờng xuyên.

- Dạng chuyển c đặc biệt.

- Là một ngành kinh tế thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu tinh thần của con ngời.

Trang 7

1.2 Một số khái niệm liên quan

- Lữ hành (Travel): ở Việt Nam, khái niệm lữ hành là một lĩnh vực kinh

doanh trong ngành du lịch liên quan đến việc tổ chức các chuyến đi (tour) cho du khách.

- Ngành khách sạn (Hospitality Industry): Với thuật ngữ bằng tiếng Việt,

khái niệm này chỉ đợc hiểu là nh là lĩnh vực kinh doanh lu trú trong ngành khách sạn Tuy nhiên với thuật ngữ bằng tiếng Anh thì nó có ý nghĩa rộng hơn nhiều Nó đợc thừa nhận rộng rãi là bao gồm hoạt động của tất cả các loại hình cơ sở phục vụ lu trú

và ăn uống cho những ngời đi xa nhà.

- Khách du lịch (Tourist): là ngời rời khỏi nơi c trú thờng xuyên để đến một

nơi nào đó nhằm mục đích tham quan, nghỉ dỡng với khoảng thời gian lớn hơn 24 giờ.

2 Vai trò và sự cần thiết phải phát triển du lịch

Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã đợc ghi nhận nh là một sở thích, một hoạt

động nghỉ ngơi tích cực của con ngời Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đợc trong đời sống văn hoá, xã hội ở các nớc Về mặt kinh tế, du lịch

đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nớc, đặc biệt là các nớc công nghiệp phát triển Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng; đồng thời cũng nâng cao nhận thức của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất n -

ớc, cho nên, hoạt động của ngành du lịch có mối quan hệ tơng tác đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội , cụ thể:

- Việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành và có quan hệ đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách ở mọi nơi sẽ đổ

về làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá, dịch vụ tăng lên đáng kể (nhu cầu về sản

phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, giao thông, vận tải, bu điện ) Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đó của du khách mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh

tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân

- Hoạt động du lịch làm biến đổi cân bằng thu chi ngoại tệ của đất nớc Du khách vào mang theo ngoại tệ làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc mà họ

đến Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch tác động mạnh mẽ đến quan hệ hàng hoá - tiền tệ, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém tăng trởng hơn, kích thích tăng trởng kinh tế ở vùng sâu, vùng xa

- Du lịch thu hút sử dụng lao động xã hội Du lịch tạo ra nhiều việc làm cho

ng-ời lao động Bên cạnh đó, ngành du lịch còn tạo ra các nguồn thu làm lợi cho c dân

địa phơng nhờ việc phát triển các hoạt động kinh tế Các khoản thuế thu từ kinh doanh

Trang 8

du lịch do khách du lịch đóng góp giúp chính quyền địa phơng chi tiêu cho giáo dục,

y tế và các dịch vụ khác Tiền do khách chi tiêu ở các nhà hàng, khách sạn góp phần chi trả lơng cho công nhân và các công việc khác Ngoài ra, khách còn bỏ tiền mua các hàng hoá dịch vụ, đây chính là hình thức xuất khẩu tại chỗ đem lại lợi ích kinh tế rất tốt cho đất nớc.

- Du lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ đợc nhiều mặt hàng, không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm đợc lao động, hạ giá thành sản phẩm Ngời tiêu dùng mua hàng hoá với giá thấp, ngời sản xuất bán đợc giá cao so với chi phí, điều này có tác dụng kích thích sản xuất và tiêu dùng Cũng do xuất khẩu tại chỗ nên có thể xuất đợc những mặt hàng tơi sống khó bảo quản mà lại ít rủi ro nh: hoa, rau quả tơi, thực phẩm Nhiều mặt hàng phục vụ khách tiêu thụ tại chỗ nên không cần đóng gói, vận chuyển, bảo quản phức tạp, tốn kém.

- Du lịch còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của đất nớc ra thế giới bên ngoài Những ấn tợng về đất nớc,

phong cảnh thiên nhiên, phong tục tập quán, nghệ thuật ẩm thực, con ngời tại nơi

đến sẽ theo chân các du khách ra với thế giới, giới thiệu một cách tích cực về hình

ảnh của đất nớc, từ đó lại kích thích bộ phận khách du lịch quốc tế tiềm năng đến với

đất nớc Du lịch phát triển sẽ còn góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nớc trên trờng quốc tế, trợ giúp đắc lực cho quá trình hội nhập quốc tế Có thể nói, du lịch chính là phơng tiện quảng cáo hữu hiệu nhất về một đất nớc với phần còn lại của thế giới.

Qua phân tích trên có thể thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế ở các vùng, đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho quốc gia Nhiều nớc trên thế giới đã coi du lịch là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế yếu kém, què quặt của mình Chính từ những lợi ích nêu trên mà ngời Pháp đã gọi du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”.

II Sơ lợc về sự phát triển ngành du lịch trên thế giới

1 Lịch sử phát triển của ngành du lịch thế giới

Trong thời kỳ Ai Cập và Hy Lạp cổ đại, hiện tợng du lịch đã xuất hiện Đó là các chuyến đi với mục đích chủ yếu là tôn giáo, bên cạnh đó là các chuyến đi của các nhà chính trị và thơng gia Trong những ngày lễ hội, hàng ngàn các tín đồ thực hiện những chuyến hành hơng tới các thánh địa, chùa chiền, các nhà thờ Kito giáo để cầu nguyện, cúng bái Các cuộc hành hơng này có thể kéo dài hàng tháng.

Sau đó, khi loài ngời phát hiện ra nguồn nớc khoáng có khả năng chữa bệnh thì loại hình du lịch chữa bệnh xuất hiện Vì vậy, tại các khu vực có nguồn nớc khoáng

đã thu hút ngày càng đông du khách đến để nghỉ ngơi, chữa bệnh Thời kỳ này, hoạt

động du lịch còn mang tính chất tự phát, các chuyến du lịch còn hầu nh do các cá nhân tự đứng ra tổ chức và cha có sự xuất hiện các hoạt động kinh doanh du lịch.

Trang 9

Đến thời kỳ văn minh La Mã, do xã hội có sự phát triển, những ngời La Mã đã

tổ chức các chuyến đi tham quan các ngôi đền và Kim tự tháp Ai Cập, các ngôi đền ở khu vực ven biển Địa Trung Hải và Tiểu á Ngoài các cuộc hành trình mang tính tôn giáo đã xuất hiện loại hình du lịch công vụ, du lịch tham quan, chữa bệnh Đó là những hành trình của các thơng gia, các hầu tớc, bá tớc, nam tớc, các kị sỹ Thời kỳ này, con ngời đã bắt đầu có sự ham muốn các chuyến đi để thoả mãn nhu cầu về tìm hiểu thế giới xung quanh Số ngời đi du lịch trở nên đáng kể và du lịch bắt đầu trở thành một cơ hội kinh doanh.

Sang thời kỳ chế độ phong kiến, hoạt động du lịch hình thành rộng rãi hơn Các chuyến du lịch nhằm mục đích ngắm cảnh, chữa bệnh, lễ hội của tầng lớp vua chúa, quan lại phát triển mạnh Các khu vực có giá trị chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ nh các suối nớc khoáng, các bãi biển, các địa danh thiên nhiên đã thu hút đông đảo khách du lịch Bên cạnh đó là các hoạt động buôn bán của các thơng gia phát triển nhanh, việc buôn bán không chỉ diễn ra trong nớc mà còn mở rộng ra các nớc xung quanh Điều đó đã thúc đẩy du lịch công vụ phát triển Tuy nhiên, các hoạt động du lịch dó cũng chỉ tập trung vào giới thợng lu và thơng gia Các hoạt động phục vụ nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi đáp ứng nhu cầu cho các đối tợng thơng gia, các tín đồ, giới thợng lu cũng hình thành và phát triển rõ hơn Du lịch lúc này đã không còn là một cơ hội kinh doanh nữa mà nó đã bắt đầu định hình với t cách là một ngành kinh tế - ngành du lịch Tuy nhiên, hoạt động du lịch và kinh doanh cũng chỉ phát triển ở một

số nớc có nền kinh tế phát triển nh Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ và Đức.

Tiếp theo là thời kỳ cận đại (từ những năm 40 của thế kỷ XVII đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất) hiện tợng du lịch đã xuất hiện rộng rãi hơn Song du khách vẫn tập trung vào các đối tợng nh trớc là những nhà t bản giàu có, giới quý tộc trong xã hội Hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch trong thời kỳ này cũng chỉ tập trung ở một số nớc t bản có nền kinh tế phát triển.

Sang thời kỳ hiện đại, sự phát triển của công nghiệp và những phát minh về khoa học đã tạo tiền đề cho du lịch phát triển nhanh chóng Đó là sự xuất hiện xe lửa,

ô tô, đặc biệt sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai với sự phát minh ra máy bay thân rộng với các đờng bay quốc tế đợc thiết lập và hệ thống đờng xá thuận tiện đã cho phép du lịch trở thành nhu cầu quan trọng đối với con ngời.

Xem xét du lịch với t cách là một ngành kinh tế thì nó mới thực sự xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX Năm 1841, Thomas Cook ngời Anh tổ chức chuyến đi đông ngời

đầu tiên đi du lịch trong nớc và sau đó ra nớc ngoài đánh dấu sự ra đời của hoạt động kinh doanh lữ hành Sau đó, Thomas Cook thành lập công ty lữ hành, năm 1865 ông tiếp tục mở rộng các tuyến du lịch đến Mỹ và từ Mỹ sang châu Âu, tiếp theo là ở nớc Nga và các nớc Châu Âu khác, sau này lan rộng khắp các châu lục Đối với kinh doanh khách sạn, vào những năm 1880 các nớc nh Pháp, Thuỵ Sỹ, áo có hoạt động

Trang 10

kinh doanh khách sạn hiện đại rất phát triển Cùng với quá trình phát triển xã hội hay nói cách khác, các tiền đề và điều kiện để ngành du lịch phát triển đợc củng cố, tăng cờng, thời kỳ hiện đại mà đặc biệt là từ những năm 50 của thế kỷ trớc ngành du lịch

đã phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế hết sức quan trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Năm 1979, đại hội của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đã thông qua Hiến chơng du lịch và chọn ngày 27 tháng 9 hàng năm làm Ngày du lịch thế giới

Đến nay, du lịch đã trở thành nhu cầu có tính phổ biến trong quảng đại quần chúng trên thế giới và ngành du lịch đã đợc nhiều quốc gia coi là ngành công nghiệp

số một và điều không thể tranh cãi rằng nó là một ngành kinh doanh lớn nhất và năng

Bảng 1: “Du lịch: Tầm nhìn 2020 ”

Năm gốc 1995

Dự báo

Tỷ lệ tăng trởng trung bình năm (%)

Thị phần (%)

2010 2020 1995-2020 1995 2020 Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100

lợng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu năm 2010 dự báo sẽ đạt hơn 1 tỷ lợt khách và

đạt 1,561 tỷ lợt vào năm 2020 Tốc độ phát triển chung cho cả giai đoạn 1995-2020 là

Trang 11

4,1%/năm Một trong các nét chính của việc tăng trởng số lợng khách du lịch quốc tế

là có sự thay đổi tỷ lệ giữa khách du lịch nội vùng và khách du lịch từ châu lục khách

đến Năm 1995 tỷ lệ này là 82:18, dự báo năm 2020 tỷ lệ này sẽ là 76:24 Châu Âu vẫn sẽ là thị trờng gửi khách lớn nhất, chiếm 50% tổng số khách du lịch quốc tế toàn cầu Khách từ vùng Đông á - Thái Bình Dơng sẽ tăng nhanh làm cho vùng này trở thành thị trờng gửi khách lớn thứ hai trên thế giới Thị trờng khách có sự di chuyển, trớc đây Châu Âu là thị trờng đón khách chính có tốc độ tăng tởng cao, còn hiện nay

đang diễn ra sự chuyển khách từ Châu Âu sang Châu á Khách du lịch đến Châu á Thái Bình Dơng ngày một tăng, đặc biệt là đến thị trờng du lịch ASEAN Một số nớc

-nh Thái Lan, Singapore và Nam Phi có tố độ phát triển du lịch -nha-nh, tuy -nhiên các

n-ớc này vẫn cha lọt đợc vào danh sách 10 nn-ớc đứng đầu thế giới.

Tơng lai phát triển của du lịch thế giới bị ảnh hởng bởi các xu hớng phát triển kinh tế xã hội và các xu hớng phát triển nhu cầu du lịch Dới giác độ thị trờng, các xu hớng phát triển chính của ngành du lịch trong tơng lai sẽ là:

(1) Cung và cầu có quan hệ mật thiết

Nhu cầu thăm quan các danh lam thắng cảnh và những điểm du lịch nổi tiếng thế giới của du khách ngày càng tăng làm cho nhiều điểm du lịch trở nên quá tải, việc

có quá đông khách đến thăm gây ra nhiều ảnh hởng xấu đến tuổi thọ của các điểm du lịch Trớc tình hình này, các điểm du lịch sẽ phải quản lý sao cho vừa thoả mãn đợc nhu cầu của khách vừa bảo vệ đợc sản phẩm du lịch Ví dụ để bảo vệ môi trờng, một

số công viên quốc gia sẽ không cho phép ô tô đi vào; 1 số khu vực sẽ hạn chế giờ thăm quan, áp dụng chế độ đặt trớc đối với xe du lịch muốn vào trung tâm thành phố.

(2) Phát triển các sản phẩm du lịch năng động với thời gian thích hợp

Xu hớng khách du lịch có nhu cầu thởng thức nhiều sản phẩm dịch vụ trong một khoảng thời gian ngắn đã thúc đẩy việc tạo ra các sản phẩm và ch ơng trình du lịch gây nhiều hứng khởi trong cùng một thời gian các công viên chuyên đề kết hợp cảnh quan đẹp với các trung tâm vui chơi giải trí tổng hợp sẽ đợc xây dựng nhiều hơn.

Du khách tàu biển cũng sẽ trở nên phổ biến bởi hành khách có thể tham quan nhiều

điểm du lịch và hơng thụ đợc nhiều hơn.

Xuất hiện nhiều hình thức nghỉ ngơi mới, đồng thời khách du lịch muốn thử nghiệm một cái gì đó trong kỳ nghỉ ví dụ thể thao, các thú vui, du lịch đồng quê, hoà mình vào thiên nhiên, tăng cơng sức khoẻ, tìm hiểu văn hoá Các kỳ nghỉ truyền thống cùng gia đình ở bãi biển sẽ không còn giữ vị trí chủ đạo nữa, tơng lai một kỳ nghỉ sẽ kết hợp nhiều mục đích khác nhau.

Khách hàng đòi hỏi sản phẩm du lịch có chất lợng hơn không có nghĩa là sang trọng mà là có ý nghĩa, điểm du lịch phải xanh và sạch Khách hàng khác nhau có các yêu cầu khác nhau về sản phẩm du lịch Ví dụ, khách lớn tuổi muốn khung cảnh an toàn hơn còn khách du lịch độc thân muốn có quan hệ xã hội hơn

Trang 12

(3) ứng dụng công nghệ điện tử trong du lịch

Với các phơng tiện thông tin hiện đại khách hàng đợc thử nghiệm trớc chuyến

đi nghỉ của mình trớc khi ra quyết định Các chơng trình máy tính sẽ giúp cho việc lựa chọn chuyến đi thích hợp và dễ dàng hơn CD-ROM đợc sử dụng rộng rãi vì chứa

đựng nhiều lợng thông tin và tiết kiệm thời gian tra cứu hơn so với sách hớng dẫn Việc đặt chỗ qua mạng Internet sẽ tăng mạnh trong vòng 10-15 năm tới.

(4) Nhu cầu về du lịch tăng lên dới một hình thức khác

Tốc độ tăng số lợng kỳ nghỉ nhanh chóng hơn tốc độ tăng số ngời đi nghỉ, một ngời có thể có nhiều kỳ nghỉ trong một năm hơn Số kỳ nghỉ tăng sẽ đẩy cầu du lịch tăng và điều này sẽ làm cung du lịch phát triển, thị trờng du lịch đợc mở rộng, xây dựng nhiều điểm du lịch và chơng tình du lịch thích hợp cho từng loại kỳ nghỉ Ví dụ

đối với kỳ nghỉ chính có thể thiết kế các chơng trình du lịch dài ngày và ở nơi xa xôi, còn đối với các kỳ nghỉ phụ và nghỉ lễ thì lại có các chơng trình du lịch ngắn ngày và gần

Các xu hớng phát triển và sự thay đổi nêu trên về nhu cầu du lịch của khách sẽ dẫn đến sự phát triển nổi trội của một số loại hình du lịch trong tơng lai nh :

- Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái đợc hiểu nh là một kiểu du lịch có trách nhiệm trong việc bảo

vệ môi trờng thiên nhiên và sự duy trì cuộc sống tốt đẹp cho dân địa phơng Du lịch sinh thái rất phù hợp với một nhòm nhỏ khách du lịch có mục đích nghiên cứu nghiêm túc về tự nhiên và cũng phù hợp với những đoàn lớn muốn kết hợp chuyến đi nghỉ với thăm quan thởng thức những khu bảo tồn thiên nhiên Một phần tiền do khach du lịch mang lại đợc tái đầu t để bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên.

- Du lịch văn hoá

Du lịch văn hóa cũng có nhiều hình thức và mức độ khác nhau, một số ít ngời

có động cơ đi học, nghiên cứu văn học, lịch sử, khảo cổ, nghiên cứu chuyên ngành Còn đa số khách khác là muốn nâng cao hiểu biết, kết hợp chuyến đi nghỉ với việc tìm hiểu văn hóa địa phơng Cũng nh du lịch sinh thái một phần tiền do khach du lịch mang lại đợc tái đầu t để bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hoá Các vùng thu hút nhiều khách du lịch văn hoá là Châu Âu, Trung Đông và Châu á.

- Du lịch chuyên đề

Trong mấy năm gần đây du lịch chuyên đề là chất xúc tác tạo ra một số điểm

du lịch mới phục vụ nhu cầunghỉ ngơi giải trí Công viên theo chủ đề ngày càng hấp dẫn khách du lịch, thông qua thiên nhiên nó cung cấp một sản phẩm súc tích Ví dụ khu “vơng quốc thú rừng” ở công viên Disneyland bang Florida có thể thay thế các công viên động vật hoang dã trong khi chính các công viên động vật hoang dã ở Đông Phi khách không đợc đảm bảo chắc chắn rằng sẽ nhìn thấy chúng.

Trang 13

- Du lịch bằng tàu biển

Du lịch đòng biển đã phát triển với tốc độ cao và xu hớng sẽ tiếp tục phát triển

nh thế trong thập kỷ tới Năm 1997, có khoảng 7 triệu ngời đã đi du lịch bằng tàu biển, đến năm 2000 có 9 triệu ngời rất nhiều hàng du lịch đã đa các chơng tình du lịch bằng tàu biển vào sách giới thiệu của họ Mặc dù số lợng khách tàu biển tăng lên nhanh chóng nhng công suất của các tàu du lịch lại tăng nhanh hơn do đó sẽ dẫn đến việc cung vợt cầu trong những năm trớc mắt.

- Du lịch mạo hiểm

Thế giới ngày càng trở nên quen thuộc, chỉ còn lại một số ít điểm du lịch mới cho khách du lịch a khám phá Xuất hiện xu hớng thích leo lên các đỉnh núi cao, du lịch xuống đại dơng, du lịch đến các cực của trái đất, thậm chí du lịch đến các vì sao Năm 1999 trên 2,5 triệu khách du lịch đi thám hiểm đại dơng, du lịch dới đại dơng đ-

ợc coi là mặt trận mới cho các nhà thám hiểm - khách du lịch Du lịch đến các cực của trái đất trớc mắt sẽ chỉ phục vụ đợc cho một số rất ít khách.

III Tình hình kinh doanh du lịch trong khu vực ASEAN

1 Những nét chung về hoạt động du lịch trong khối ASEAN

1.1 Sự hấp dẫn du lịch của các nớc ASEAN

1.1.1 Về tự nhiên

Các nớc ASEAN nằm trong một vùng địa lý tự nhiên có khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm nên có thảm thực vật nhiệt đới phát triển với thành phần loài phong phú và một thế giới động vật đa dạng, độc đáo Các dân tộc ASEAN có cùng một nền văn minh lúa n -

ớc với các phong tục, tập quán, tín ngỡng và các truyền thuyết dân gian Chính vì vậy, các sản phẩm du lịch của các nớc ASEAN có nhiều nét tơng đồng Khi nói đến ASEAN, ngời ta hình dung ra ngay một vùng nhiệt đới với những bãi biển đẹp, những cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh rập rạm với cuộc sống thiên nhiên hoang dã phong phú và độc đáo; một vùng đất với những cung điện, đền đài cổ kính, trang nghiêm lộng lẫy, những lễ hội truyền thống tng bừng, rực rỡ mang đậm phong cách á Đông, những truyền thuyết dân gian đầy tình ngời, những ngời dân vui vẻ, cởi mở và hiếu khách, những món ăn đặc sản thú vị

Với vị trí địa lý bán đảo và quần đảo, các nớc ASEAN có đờng bờ biển dài với nhiều bãi cát đẹp có thể sử dụng vào mục đích tắm biển, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí Các bãi biển ở đây nằm trên các đảo và bán đảo nên gần các bãi biển hầu hết đều có núi và những khu rừng nhiệt đới với nhiều loài động thực vật làm phong phú thêm các loại hình du lịch, tăng tính hấp dẫn của các khu du lịch ở đây: du khách đến đây nghỉ ngơi tắm biển có thể kết hợp tham quan, tìm hiểu các khu rừng nhiệt đới, thám hiểm các vùng núi Nằm ở vùng khí hậu nóng ẩm nên biển ở đây thờng có các giải san hô phát triển mạnh Nớc biển ở các đảo san hô ấm và có độ trong suốt rất cao có thể phát triển loại hình du lịch lặn biển phục vụ cho mục đích tham quan, giải trí và nghiên

Trang 14

một vùng hay một nớc nh Sentosa là trung tâm du lịch lớn nhất của Singapore; đảo Bali (Indonesia) đợc mệnh danh là “Thiên đờng Châu á”; Langcagi là trung tâm du lịch lớn nhất của Malaysia; đảo Similan của Thái Lan đợc xếp là một trong 10 điểm

du lịch đẹp nhất thế giới; Vịnh Hạ Long của Việt Nam đợc UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới

Một thế mạnh nữa của du lịch ASEAN là du lịch núi Ngoài sự hấp dẫn chung bởi khí hậu mát mẻ trong lành, mỗi một điểm du lịch lại có những nét đặc trng để hấp dẫn du khách Đến Sa Pa là đến với thác Bạc, cầu Mây, động Thuỷ Cung, Cổng Trời Mae Hong Son thì lại đợc gọi bằng những cái tên rất đẹp nh: đất ba mùa sơng mù, đất của hoa Bua Tong và đất nớc của những thiếu nữ xinh đẹp Những khu nghỉ núi Putao, Machanbaw, Sumbrabum ở cực Bắc Myanmar có những đỉnh núi tuyết phủ và

ở vài nơi còn có thể trợt tuyết - môn thể thao chỉ có ở vùng ôn đới Hệ thống núi lửa tập trung ở Indonesia cũng là những địa chỉ hấp dẫn đối với các du khách, đặc biệt là

đối với các nhà khoa học và các du khách a chuộng du lịch mạo hiểm.

Khí hậu nhiệt đới cùng với cấu tạo địa lý nhiều dãy núi đá vôi là một trong những điều kiện thuận lợi để hình thành hang động đá vôi, đáng kể nhất là các hang

động ở Việt Nam và Malaysia nh quần thể hang động trên các đảo đá của Vịnh Hạ Long; Thắng cảnh Hơng Sơn với “ Nam thiên đệ nhất động” hàng năm thu hút rất nhiều du khách đến thăm quan, tế lễ; Hang động Phong Nha ở Việt Nam, với những

động đá và nhũ đá huyền ảo, là một trong những hang dài nhất thế giới, hiện nay vẫn cha khám phá hết Động Phong Nha là nơi thu hút sự chú ý của những du khách a sự mạo hiểm và các nhà nghiên cứu hang động trên khắp thế giới Hang Batu ở Malaysia, nơi thờ Sura Maniam - ngời sáng lập ra đạo Hindu, là một quần thể hang động gắn liền với truyền thống tôn giáo, hàng năm đến ngày lễ hội, hàng trăm nghìn tín đồ về

đây cúng lễ Malaysia còn có hang rộng nhất thế giới là hang H ơu; hang Niah đợc cả thế giới biết đến với những dấu vết cổ nhất của con ngời ở khu Đông Nam á sống cách đây hơn 40.000 năm.

Rừng cũng là một trong những tài nguyên du lịch tự nhiên đáng kể của ASEAN Các nớc ASEAN có diện tích rừng bao phủ khá lớn (khoảng 70% diện tích)

và hiện còn gìn giữ đợc khá nguyên vẹn một số khu rừng nguyên sinh (đa số nằm trong khu vực bảo vệ của hàng trăm vờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của các nớc) Các loài động thực vật trong các khu bảo tồn rất phong phú và đa dạng Thêm vào đó, do có sự khác biệt về vị trí, địa hình, khí hậu mà thành phần loài trong các khu bảo tồn cũng có sự khác biệt Đến các khu bảo tồn ở các nớc ASEAN ngời ta sẽ thấy đợc sự phong phú, đa dạng và rất hấp dẫn của các khu rừng nhiệt đới rụng lá theo mùa, rừng nhiệt đới và rừng xích đạo ẩm ớt quanh năm với nhiều loại động thực vật

đặc hữu quý hiếm Đặc biệt, các khu rừng ngập mặn ở Indonesia và Việt Nam với

Trang 15

diện tích chỉ đứng sau rừng ngập mặn Amazone, không chí có ý nghĩa lớn về mặt kinh

tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về du lịch sinh thái và bảo vệ môi trờng.

ASEAN có hơn 20 điểm đã đợc UNESCO xếp vào danh mục các di sản thế giới (kể cả di sản tự nhiên và văn hoá) Trong số các di sản tự nhiên thế giới ở ASEAN thì

có hai điểm ở Inđônêsia (Vờn quốc gia Ujungkulon và Vờn quốc gia Komodo) và một

điểm cũng rất nổi tiếng ở Việt Nam đó là Vịnh Hạ Long Vờn quốc gia Ujungkulon là nơi duy nhất còn giữ đợc khoảng 50 con cuối cùng của loài tê giác một sừng Java, ở

đây còn nhiều loài động thực vật quý hiếm khác; Vờn quốc gia Komodo nổi tiếng với loại thằn lằn khổng lồ gọi là Rồng Komodo; Vịnh Hạ Long có vẻ đẹp tự nhiên kỳ ảo với một quần thể hơn 3.000 hòn đảo nhỏ đợc gọi tên theo trí tởng tợng của ngời dân

nh hòn Con Cóc, hòn Con Voi, hòn Gà Chọi, hòn Mái Nhà và có nhiều hang động

đẹp mà tên gọi gắn liền với các truyền thuyết nh hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ, hang Sửng Sốt, động Thiên Cung

1.1.2 Về nhân văn

Tất cả các nớc ASEAN đều có bề dày lịch sử đợc thế giới biết đến với những nền văn hoá giầu bản sắc thể hiện qua rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc còn gìn giữ đợc đến ngày nay Hầu hết các di sản văn hoá thế giới của khu vực ASEAN là các kinh đô của của các triều đại phong kiến có phong cách kiến trúc và nghệ thuật cổ

nh Angkor, Huế, Ayutthaya, Sukhothai, Luang Phra Bang và Pagan Chẳng hạn, Angkor là kinh đô cổ của Campuchia, gồm một chuỗi cung điện nguy nga tráng lệ đ -

ợc xây dựng trên diện tích gần 200 km2 dới thời đại Angkor, thời kỳ huy hoàng nhất của dân tộc Kh’me Angkor có nghệ thuật chạm khắc đá ít nơi nào trên thế giới bì kịp Chung quanh Angkor là cả một hệ thống kênh đào và hồ nớc tạo nên một kết cấu tổng thể đẹp mắt Quần thể kiến trúc tuyệt vời Angkor có thể đợc xem nh là kỳ quan thứ 8 của thế giới

Những di sản văn hoá còn lại của ASEAN là các công trình kiến trúc cổ nh

đền thờ Borobudur (công trình tởng niệm của Phật giáo) đợc coi là một trong những công trình nghệ thuật kiến trúc vĩ đại nhất không chỉ của Inđônêsia và thế giới Phật giáo mà còn của cả nhân loại; khu đền Prambanan với bộ sử thi Ramayana bằng đá, Chùa vàng ở Myanmar là một quần thẻ kiến trúc với hàng chục ngôi tháp, điện thờ Phật, tháp chuông, cột cờ trong đó toàn bộ bề mặt tháp chính đợc phủ bằng vàng và đá quý; Phố cổ Hội An với những khu phố vẫn còn giữu nguyên đợc các kiến trúc cổ và thánh địa Mỹ Sơn nơi hội tập rất nhiều tháp chàm mang nét đặc sắc của nền văn hoá Chăm Pa ở việt nam

Bên cạnh các di tích đã đợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới còn rất nhiều các di tích khác có giá trị không kém về mặt lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, cảnh quan và đã trở thành những nơi thu hút rất nhiều khách du lịch trong nớc và quốc tế đến tham gia và nghiên cứu Các di tích đó bao gồm các kiến trúc cổ, các đền,

Trang 16

chùa, thành cổ, các làng nghề truyền thống, các bảo tàng, các di chỉ khảo cổ Những

di tích này có thể gặp ở khắp nơi trên cùng lãnh thổ của các nớc ASEAN Nó phản

ánh sự phong phú, đa dạng về bản sắc văn hoá, phản ánh quá trình hình thành đất n ớc

và những bớc thăng trầm trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc

ASEAN còn rất nổi tiếng về những lễ hội sống động và phong phú gồm các lễ hội dân gian nh tết đầu năm, hội xuân, hội mùa, hội đền chùa và các giỗ tết khác đan xen với những ngày hội của tôn giáo Phổ biến nhất ở ASEAN là các lễ hội đền chùa

đợc tổ chức ở khắp nơi trong khu vực Lễ hội đền Borobudur của Inđônêsia diễn ra từ cuối tháng 5 đến tháng 6 Lễ hội chùa Hơng ở Việt Nam từ tháng 1 đến tháng 3 (âm lịch), lễ hội Thạt Luồng của Lào diễn ra vào tháng 11, lễ hội Chùa Vàng của Myanmar đợc tổ chức vào tháng 5.

Một sự hấp dẫn khác của các nớc và thờng là nơi dừng chân đầu tiên của du khách là thủ đô Thủ đô là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của mỗi quốc gia, là nơi tập trung các công trình kiến trúc, nghệ thuật, các viện bảo tàng, các trung tâm th-

ơng mại lớn Thủ đô thờng đợc xây dựng và phát triển trên cơ cở kinh đô cũ, một thành phố hay một đô thị đã tồn tại và phát triển từ trớc đó Chính vì vậy, ở các thành phố này có những nét hiện đại của kiến trúc mới đan xen với những công trình kiến trúc cổ xa Tại các thủ đô có rất nhiều các điểm thăm quan du lịch đẹp hấp dẫn nh di tích lịch sử, khu phố cổ, viện bảo tàng, thắng cảnh đẹp và công trình kiến trúc Những thành phố thủ đô của các nớc ASEAN phát triển với cuộc sống hiện đại và sống động nhng vẫn bảo tồn đợc truyền thống văn hoá cổ truyền, đó chính là nguyên nhân khiến cho những thành phố thủ đô này thu hút đợc dông đảo khách du lịch.

Ngoài thủ đô, còn rất nhiều các thành phố khác nh Chiangmai, Thành phố Hồ Chí Minh là những trung tâm văn hoá, kinh tế và du lịch cuả các nớc với những thắng cảnh đẹp, với những khu vui chơi giải trí có các loại hình phong phú và đa dạng, với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch hiện đại là những nơi hàng năm thu hút một lợng khách rất lớn tới thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giả trí.

1.2 Đặc điểm thị trờng du lịch ASEAN

Thị trờng du lịch ASEAN là thị trờng du lịch mới nổi so với các thị trờng du lịch truyền thống khác nh thị trờng Châu Âu, Châu Mỹ Trớc đây, thị trờng du lịch ASEAN cha đợc thế giới chú ý đến nhiều nhng hiện nay ASEAN đang đợc coi là một trong những điển hình về phát triển và khai thác tốt hoạt dộng du lịch quốc tế.

Thị trờng du lịch ASEAN đợc coi là khu vực thị trờng du lịch năng động nhất thế giới Cùng với các thành tựu kinh tế, du lịch ASEAN đã đạt đợc những kết quả

đáng kể, góp phần đa ASEAN thành một trung tâm du lịch của Châu á và thế giới Hầu hết các nớc thành viên ASEAN đều tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng, xếp vào hàng thứ hai hoặc thứ ba trong nền kinh tế quốc dân Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippines và Singapore đã trở thành những

Trang 17

điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới Tốc độ tăng ởng của thị trờng du lịch ASEAN nhanh khoảng 10%/năm trong khi thị trờng du lịch thế giới chỉ đạt trung bình khoảng 2%/năm.

tr-Thị trờng du lịch ASEAN có sự hài hoà giữa 3 yếu tố : chính sách nhà nớc, quản lý phát triển và cộng đồng dân c Có thể nói các nớc ASEAN đã theo đuổi một chính sách nhất quán nhằm khuyến khích phát triển du lịch Những chính sách nhất quán đó thể hiện trên những khía cạnh sau:

- Bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Giáo dục và phổ cập nhận thức xã hội về du lịch, chú trọng quyền lợi để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch Chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên du lịch, nâng cao chất lợng của các dịch vụ du lịch.

- Tập trung đầu t hợp lý cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cũng nh chú trọng, khuyến khích phát triển du lịch và xúc tiến quảng bá du lịch đặc biệt, các nớc ASEAN luôn có chính sách nhất quán trong điều phối vĩ mô các hoạt

động du lịch Tạo môi trờng thuận lợi để du lịch phát triển Chính nhờ những chính sách đó mà trong thập kỷ qua tốc độ tăng trởng của ngành du lịch các nớc ASEAN nhanh nhất thế giới Mặc dù vài năm gần đây, do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, tốc độ này có phần chững lại, nhng theo các chuyên gia kinh tế dự báo thì khả năng trong những năm đầu của thế kỷ tới kinh tế ASEAN nói chung và du lịch nói riêng sẽ phục hồi Hơn nữa xu thế chung của du lịch thế giới vẫn là hớng tới những vùng thiên nhiên và văn hoá mới lạ, hoang sơ, về mặt này Đông Nam á vẫn là nơi hấp dẫn đối với du khách.

Chính sách nhà nớc đúng đắn, đợc hệ thống quản lý tốt và có sự tham gia tích cực của cộng đồng đã tạo ra sự hài hoà giữa cung và cầu trong du lịch của ASEAN Cung luôn luôn đáp ứng đợc yếu tố cầu trong du lịch, đấy chính là chìa khoá của sự tăng trởng du lịch ASEAN.

Trong cơ cấu khách du lịch quốc tế đến thị trờng ASEAN, khách đi lại giữa các quốc gia trong khu vực có tỷ lệ cao nhất chiếm trung bình khoảng từ 35% đến 40% Chi phí cho du lịch quốc tế của các nớc ASEAN đang tăng lên nhanh chóng Những

đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định và định hớng chính sách thị trờng du lịch của Việt Nam.

Hợp tác du lịch giữa các nớc ASEAN cha cao, tuy nhiên quá trình này có xu ớng ngày một gia tăng Hiện nay, sự phối hợp chung và sự hợp tác phát triển giữa các quốc gia đã trở thành xu hớng chỉ đạo trong khu vực, hợp tác du lịch ASEAN diễn ra trên cả ba bình diện: Hợp tác đa phơng trong toàn khối (hợp tác đa phơng chuyên ngành du lịch, hợp tác du lịch trong khuôn khổ hợp tác dịch vụ ASEAN), hợp tác tiểu vùng trong ASEAN (hợp tác tiểu vùng sông Mêkông, hợp tác du lịch ba bên Việt

Trang 18

h-Nam - Lào - Thái Lan ) về hợp tác song phơng giữa các nớc ASEAN Nhiều kế hoạch hành động chung đang đợc xúc tiến trong đó đáng chú ý là chơng trình xúc tiến quảng bá cho du lịch các nớc ASEAN với tên gọi “ASEAN tầm nhìn thế kỷ”

Thị trờng du lịch ASEAN, tuy đã có sự hợp tác du lịch nhng vẫn còn mang tính cạnh tranh cao giữa các nớc thành viên Các nớc ASEAN vẫn còn áp dụng nhiều biện pháp thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ du lịch nh áp dụng thuế xuất cảnh cao hơn thuế nhập cảnh và phải thực hiện nhiều thủ tục trớc khi đợc cấp hộ chiếu và visa xuất cảnh nhằm khuyến khích khách quốc tế đến thăm quan du lịch và hạn chế dân c trong nớc đi du lịch nớc ngoài, qua đó duy trì đợc mức thặng d trong cán cân thanh toán quốc tế về du lịch.

Nói đến thị trờng du lịch ASEAN là nói đến sự thống nhất trong đa dạng Sản phẩm du lịch của ASEAN có nhiều nét tơng đồng, tuy nhiên ở mỗi nớc các sản phẩm

du lịch đều đã có sự biến đổi cho phù hợp với phong tục tập quán cũng nh các thăng trầm trong lịch sử của mỗi nớc Nhờ nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và

độc đáo cộng thêm sự năng động, sáng tạo, thông minh và khéo léo của những nhà tổ chức trong việc sắp xếp và khai thác nên hệ thống sản phẩm du lịch ở các nớc ASEAN rất đặc sắc và có sức thu hút mạnh mẽ Các nhà tổ chức đã chú trọng việc khai thác một cách triệt để các thế mạnh, các nét độc đáo của khu vực nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch mang phong cách riêng biệt Ngoài ra họ cũng chú trọng đến việc đầu t cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng, cơ cở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch làm phong phú thêm các loại hình sản phẩm du lịch, đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch Điều này đã thu hút đợc nhiều khách du lịch quốc tế đến với ASEAN và cũng tạo nên dòng khách

du lịch trong nội bộ khu vực.

Khách đến du lịch ASEAN chủ yếu để thởng thức các tài nguyên thiên nhiên còn hoang sơ và các nét văn hoá riêng biệt đặc sắc của khu vực Ngoài ra thị tr ờng du lịch ASEAN cũng rất thành công trong việc kích thích tiêu dùng của khách du lịch nhờ có hệ thống sản phẩm phong phú, tơng đối chất lợng và giá rẻ, đặc biệt là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

Một trong những điểm nổi bật mà hầu hết các nớc ASEAN đã thực hiện là việc

tổ chức “Năm du lịch” riêng của mình nh: (Thái Lan là nớc đầu tiên tổ chức “Năm du lịch” vào năm 1987 Sau đó tổ chức chơng trình “Amazing Thailand” năm 1998,

1999, 2000 , Philippines phát động “Lễ hội Philippines” và chiến lợc thu hút ngời Philippines thế hệ thứ 3, thứ 4 đang ở nớc ngoài “ Tìm về cội nguồn”, Inđônêsia khởi xớng “Năm du lịch Indonesia” năm 1991 và lấy thập kỷ 90 làm “Thập kỷ du lịch Indonesia”, năm 1999 có chiến dịch “Kỳ diệu Indonesia” với nhiều chơng trình khuyến mại và giảm giá hấp dẫn, Campuchia có dự án Ariston Sihanouville và chơng trình du lịch Angkor với lễ hội Ramayana tại khu vực này vào năm 2000 Việt Nam

Trang 19

phát động lần đầu “Năm du lịch” vào năm 1990 và năm 2000 thực hiện chơng trình

“Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới” Khái niệm này đợc đa ra nhằm tập trung vào việc giới thiệu rộng rãi những điểm du lịch, đồng thời nêu bật bản sắc văn hoá, lịch sử và nghệ thuật của mỗi quốc gia Hiện nay toàn khu vực ASEAN đã và

đang xúc tiến nhiều chơng trình du lịch chung nh “ASEAN tầm nhìn thế kỷ” hay

“Năm du lịch ASEAN 2002”; để thực hiện các chơng trình này các nớc ASEAN đã xây dựng rất nhiều kế hoạch hợp tác chặt chẽ, xúc tiến hoạt động tuyên truyền quảng bá cho cả khu vực nhằm giới thiệu ASEAN nh một vùng du lịch thống nhất với bạn

bè thế giới.

Trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên du lịch sẵn có cả về tự nhiên lẫn nhân văn, các nớc ASEAN có rất nhiều loại hình sản phẩm du lịch độc đáo và hấp dẫn, các loại hình sản phẩm đáng kể nhất là :

- Du lịch thăm quan danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc và nghệ thuật

- Du lịch biển, nghiên cứu sinh vật vùng rừng nhiệt đới, các khu bảo tồn tự nhiên

- Du lịch văn hoá, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử dân tộc, bộ tộc

- Du lịch lễ hội, tìm hiểu về sinh hoạt tâm linh của các dân tộc

- Du lịch thể thao, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, an dỡng chữa bệnh

2 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch của các nớc ASEAN

Nhờ biết tận dụng khai thác những thế mạnh về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cũng nh xây dựng đợc những chiến lợc phát triển du lịch hợp lý mà nhiều n-

ớc trong khu vực đã đạt đợc sự tăng trởng mạnh mẽ trong hoạt động du lịch, đa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần đa tới sự phồn vinh của đất nớc Thực tiễn phát triển cũng nh thành công trong hoạt động du lịch của các nớc trong khu vực có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu mà Việt Nam có thể học hỏi:

- Nhận thức đúng vị trí du lịch trong việc phát triển nền kinh tế đất nớc, chú trọng khai thác các tiềm năng du lịch trong nớc (đặc biệt là các tiềm năng tự nhiên và văn hoá).

- Mạnh dạn đầu t vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc, vận tải, khách sạn, khu giải trí theo tiêu chuẩn quốc tế.

- Xây dựng những sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng và hấp dẫn lôi cuốn

Trang 20

- Phát triển du lịch đi đôi với việc tăng cờng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trờng xã hội của du lịch.

Chơng II Tiềm năng du lịch Việt Nam và thực trạng của ngành du lịch sau dịch bệnh SARS

I Tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam

Đất nớc Việt Nam với diện tích 363.000 km2 nằm án ngữ ở cửa ngõ bán đảo

Đông Dơng, là một đầu mối giao thơng quan trọng trong khu vực Châu á - Thái Bình Dơng đang phát triển hết sức sôi động Là một nớc nằm ở khu vực khí hậu cận nhiệt

đới, Việt Nam đã đợc thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp và đa dạng về giá trị sinh thái tự nhiên Trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng n ớc và giữ nớc, con ngời Việt Nam qua bao thế hệ đã dày công xây dựng nên một nền văn hoá đặc sắc, đa dạng và mang những nét bản sắc riêng có Việt Nam hiện cũng đang đợc xem

là một đất nớc của những di sản với sự hiện diện của 6 di sản thiên nhiên và văn hoá

đợc Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thế giới, bao gồm Vịnh Hạ Long, Vờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,

Cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Nhã nhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể) Chính bởi vậy, Việt Nam đang đợc đánh giá là một nớc có tiềm năng du lịch lớn trong phạm vi khu vực cũng nh trên thế giới.

1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Với điều kiện địa lý tự nhiên sẵn có đã tạo cho Việt Nam những tiềm năng du lịch dồi dào về du lịch biển, rừng, vùng núi cao, hang động Hầu nh ở bất cứ địa ph-

ơng nào trên lãnh thổ Việt Nam, du khách đều có thể chiêm ngỡng và hoà mình vào những cảnh quan tự nhiên mang nhiều nét đẹp độc đáo và đặc sắc

Việt Nam là đất nớc của biển cả với chiều dài bờ biển 3.260 km, dài hơn cả chiều dài của đất nớc Trên suốt chiều dài đó có tới 20 bãi tắm nổi tiếng, ở phía Bắc

có Trà Cổ, Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, phía Nam có các vùng biển ấm áp và tràn ngập ánh mặt trời quanh năm nh biển Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên Các bãi biển có độ dốc tơng đối thoải với cảnh quan đẹp là nơi lý tởng để du khách nghỉ dỡng, vui chơi giải trí Đặc biệt vùng biển Hạ Long không chỉ là một bãi tắm đẹp

mà còn là một kỳ quan thiên nhiên Đợc UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1994, Hạ Long đã trở thành một niềm tự hào không chỉ của ngời dân

địa phơng mà còn của cả nớc Việt Nam Nớc biển Hạ Long trong xanh màu ngọc bích, mặt nớc phẳng lặng, ít có sóng lớn Trên vùng biển rộng khoảng 1.500km2 có tới hàng ngàn đảo đá quần tụ với nhiều dáng vẻ khác nhau trông hết sức đặc sắc, trong lòng các đảo đá còn là những hang động kỳ thú Hạ Long luôn lôi cuốn, hấp dẫn du

Trang 21

khách bởi vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa duyên dáng, thơ mộng của mình, và đã góp phần giới thiệu cảnh đẹp Việt Nam nói chung với thế giới.

Là một đất nớc nhiệt đới nhng Việt Nam lại có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang dáng dấp ôn đới nh Sapa, Tam Đảo, Bạch Mã, Đà Lạt Các điểm nghỉ mát này thờng ở độ cao trên 1000m so với mực nớc biển Đã biết đến Sapa trong mây qua tác phẩm của nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh, đến Sapa là du khách còn đến với những phiên chợ tình, đến với tiếng khèn gọi bạn mang đậm chất men nồng, là còn

đến với đặc sản thổ cẩm của địa phơng Du khách cũng có thể tới Đà Lạt - một thành phố nghỉ mát lý tởng trong sơng với những rừng thông, thác nớc và rực rỡ hoa tơi, đợc

đắm mình trong âm hởng trầm hùng, tha thiết của tiếng đàn T’rng và cồng chiêng Tây Nguyên.

Ngoài những điểm nghỉ mát vùng núi, Việt Nam còn có những khu quốc gia nổi tiếng với với những bộ su tập phong phú về các loại động thực vật nhiệt đới nh rừng quốc gia Cúc Phơng, Vờn quốc gia Cát Bà, khu bảo tồn quốc gia Pù Mát, rừng quốc gia Côn Đảo Khu vực phía Nam còn tập trung những vùng tràm chim và sân chim nổi tiếng Sân chim Minh Hải có tới hơn 80 loài chim, vùng tràm chim Tam Nông (Đồng Tháp) nơi có chim sếu đầu đỏ sinh sống, tại đây đã hình thành một trung tâm thông tin về chim sếu do Ngân quỹ bảo vệ chim Quốc tế ở Bơ Rên (Đức) tài trợ

Việt Nam còn đợc thiên nhiên hào phóng ban tặng một nguồn nớc khoáng thiên nhiên phong phú và quý giá: suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh), Suối khoáng Hội Vân (Bình Định), Vĩnh Hảo (Bình Thuận), Dục Mỹ (Nha Trang), Kim Bôi (Hoà Bình) Những vùng nớc khoáng này đã trở thành những địa điểm lý tởng để nghỉ ngơi và phục hồi sức khoẻ đợc nhiều du khách a chuộng.

Bên cạnh Di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long, mới đây vào tháng 7/2003, Việt Nam đã có thêm Vờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đợc UNESCO tiếp tục công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới Vờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bao gồm một quần thể hang động phong phú, kỳ vĩ và một khu rừng nhiệt đới nguyên sinh trên núi

đá vôi với độ che phủ trên 95%, là nơi hội tụ của nhiều loài động thực vật của ba miền Bắc - Trung - Nam Phong Nha vừa mang dáng dấp của danh thắng Hạ Long tuyệt

mỹ, hình ảnh của vờn quốc gia Cúc Phơng hùng vĩ, lại mang tính huyền bí của thiên nhiên với sự muôn màu muôn vẻ của hệ thống hang động vùng núi đá vôi Quần thể hang động ở đây đợc đánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất thế giới với các

đặc trng có sông ngầm dài nhất, các hang có chiều cao và rộng nhất, các bãi cát trong hang dài nhất và có thạch nhũ đẹp nhất Với 20 hang động có tổng chiều dài trên 70

km, đây có thể coi là thiên đờng cho bộ môn hang động học và du lịch hang động Phong Nha - Kẻ Bàng còn có hàng chục đỉnh núi cao trên 1.000 m hiểm trở cha có vết chân ngời (Co Rilata - 1.128m, Co Preu - 1.213m ), xen kẽ ở giữa là những thung lũng phù hợp cho du lịch sinh thái Với dãy núi đá vôi trùng trùng điệp điệp, những

Trang 22

khu rừng nguyên sinh bạt ngàn với khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng, những dòng sông nớc chảy trong vắt nh sông Chày, sông Troóc, với hệ thống hang

động đẹp vào loại bậc nhất thế giới đã tạo cho Phong Nha - Kẻ Bàng một tiềm năng

du lịch độc đáo và hấp dẫn Với tiềm năng đa dạng sinh học cao trên một địa hình Karst là hiện trờng hấp dẫn đối với các nhà khoa học trong và ngoài nớc và là nơi rất thích hợp cho du lịch thám hiểm Trong tơng lai không xa, đây sẽ là điểm du lịch lý t- ởng đầy hứa hẹn với du khách trong nớc và quốc tế Giờ đây, cùng với Hạ Long, Vờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng sẽ là một điểm du lịch gây ấn tợng mạnh với du khách, góp phần mời gọi khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam

Trên đây là một số nét chính về tài nguyên du lịch tự nhiên của Việt Nam, là cơ

sở phong phú và thuận lợi để khai thác phục vụ cho sự phát triển du lịch Việt Nam

2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Để làm nên giá trị và bản sắc của một điểm đến du lịch thì bên cạnh những tài nguyên du lịch tự nhiên, tất yếu đòi hỏi phải có đợc nguồn tài nguyên du lịch nhân văn - đó là tổng hợp những giá trị văn hoá - lịch sử - con ngời đợc tạo nên bởi một quá trình lịch sử phát triển và kế thừa cho tới ngày nay Điều đó góp phần quan trọng trong việc tạo ra sức hấp dẫn của một điểm đến đối với du khách.

Bên cạnh thế mạnh về tài nguyên du lịch tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng tài nguyên tài nguyên văn hoá phong phú Trải qua hơn 4.000 năm lịch sử, dân tộc ta đã định hình nên một đất nớc Việt Nam có bề dày lịch sử và văn hoá với hàng ngàn đợc xếp hạng cùng hàng vạn thiết chế tôn giáo, tín ngỡng (đình, đền, lăng, miếu, chùa, nhà thờ, thánh thất ) tạo nên một Việt Nam nơi nào cũng phảng phất khí thiêng sông núi, lung linh những giá trị lịch sử, giá trị nhân văn đặc thù Bên cạnh đó, cả ba miền đất nớc còn có hàng trăm lễ hội dân gian đợc tổ chức định kỳ góp phần tạo nên sức sống, linh hồn cho các di tích, các địa danh với nhiều màu sắc khác nhau về văn hoá - lịch sử địa phơng, văn hoá tâm linh Chúng thờng gắn với những hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian nh hát đối đáp của dân tộc Mờng, múa xoè, ném còn của dân tộc Thái, hát Si, Lợn, Then của các dân tộc Tày, Nùng, lễ đâm trâu, hát trờng ca thần thoại của các dân tộc ngời Tây Nguyên Đây là những di sản văn hoá - nghệ thuật truyền thống cội nguồn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hơn nữa, là một dân tộc có truyền thống yêu thích văn học nghệ thuật, có nếp

t duy hình tợng năng khiếu thẩm mỹ, Việt Nam mang trong mình một vốn nghệ thuật dân tộc với nhiều loại hình phong phú nh âm nhạc cổ truyền, múa dân gian, sân khấu truyền thống (tuồng, chèo, cải lơng, múa rối nớc ), mỹ thuật truyền thống (hội hoạ,

điêu khắc, kiến trúc ) mà mỗi loại đều mang những màu sắc đặc trng, đặc thù theo từng vùng, miền, địa phơng, đặc biệt là vốn ngành nghề thủ công truyền thống rất phong phú, đa dạng và tinh xảo Đây là những điểm có sức lôi cuốn rất lớn đối với các

du khách, đặc biệt là các du khách nớc ngoài Họ luôn tỏ rõ sự thích thú, ngạc nhiên

Trang 23

và khâm phục khi xem một vở rối nớc, ngắm một bức tranh khảm trai, tham quan một ngôi chùa cổ

Việt Nam với 54 dân tộc anh em thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau hầu

nh đại diện cho tất cả các ngữ hệ, các sắc tộc có mặt khắp vùng Đông Nam á Việt Nam có một vốn văn hoá tộc ngời rất phong phú với nhiều cộng đồng c trú đan xen tập trung, phân bố rải rác khắp mọi miền và quan trọng nhất là vẫn giữ đợc đầy đủ nét nguyên sơ trong phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngỡng, trong nếp sống vật chất tinh thần Bởi vậy mà ở những vùng đất khác nhau, du khách có thể thởng thức những phong tục tập quán riêng, nghe các thứ ngôn ngữ khác nhau, đón nhận những tình cảm và lòng mến khách đợc biểu thị theo nhiều cách khác nhau Điều này luôn đem lại cho du khách những điều mới mẻ, những nét hấp dẫn riêng có Đồng thời, ở bất kỳ

đâu trên đất nớc Việt Nam du khách cũng có thể thởng thức những nét văn

hoá ẩm thực phong phú, hấp dẫn, độc đáo theo từng vùng, miền, địa phơng.

Những giá trị văn hoá dặc sắc, phong phú của Việt Nam đã đợc thế giới thừa nhận Lần lợt các di tích cố đô Huế, Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn đã dợc UNESCO công nhận là Di sản văn hoá Thế giới Những địa điểm này hằng năm luôn thu hút một số lợng rất lớn các du khách của cả trong và ngoài nớc Mới đây nhất, vào

đầu tháng 11/2003, UNESCO đã tiếp tục công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là Di sản văn hoá Thế giới Đây là Di sản thế giới thứ sáu và là Di sản văn hoá phi vật thể

đầu tiên của Việt Nam Nó đã cho thấy đất nớc Việt Nam chứa đựng trong lòng những giá trị văn hoá có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ đối với bản thân Việt Nam

mà còn với cả thế giới Là một đất nớc của những di sản, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng du lịch nhân văn để thu hút du khách đến với mình Vấn đề là Việt Nam cần phải làm sao để khai thác tối đa những tiềm năng đó, phục vụ cho sự phát triển hiệu quả của ngành du lịch.

3 Nguồn lực con ngời

Ngoài tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên nhân văn thì vấn đề nguồn lực con ngời cũng đóng vai trò căn bản trong sự phát triển du lịch của một n ớc, bởi ngành

du lịch là một ngành phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố con ngời so với các ngành kinh

tế khác Xét theo ý nghĩa đó, lực lợng lao động dồi dào ở nớc ta cũng là một tiềm năng để phát triển du lịch.

Theo số liệu thống kê qua các năm 1986, 1990, 1995 và 1999, tốc dộ tăng dân

số và lực lợng lao động của nớc ta khá cao và liên tục nên nguồn bổ sung vào đội ngũ lao động là rất lớn Lực lợng lao động tăng bình quân trên 3%/năm, nguồn lao động rất dồi dào trong suốt cả quá trình Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất n ớc Đây là một thuận lợi nếu xét từ góc độ cung ứng lao động Về cơ cấu độ tuổi, nhìn chung lực lợng lao động của nớc ta dợc xếp vào loại trẻ, 54% số ngời trong độ tuổi lao động là thanh niên (từ 16 đến 35 tuổi) Hàng năm có khoảng 1,6 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động,

Trang 24

dự tính đến năm 2005 số lợng lao động trẻ sẽ là 30,4 triệu ngời Lực lợng lao động trẻ của Việt Nam có thuận lợi về sức khoẻ, tính năng động, sáng tạo, có trình độ văn hoá khá, có khả năng tiếp thu nắm bắt kỹ thuật - công nghệ, kiến thức kinh doanh tốt Lực lợng lao động này ngoài ngành du lịch đang hoạt động trong các ngành sản xuất và dịch vụ khác của nền kinh tế nh công nghiệp, nông nghiệp, thủ công truyền thống sẽ

hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của ngành du lịch, bởi du lịch là một ngành mang tính tổng hợp và liên ngành, nhu cầu của du khách đợc thoả mãn không chỉ bởi bản những sản phẩm đặc trng của ngành du lịch mà mà còn bởi một tập hợp các loại sản phẩm, dịch vụ do các ngành khác cung ứng nh dịch vụ thông tin liên lạc, sản phẩm mỹ nghệ, sản phẩm tiêu dùng

Mặt khác, ngời Việt Nam có t chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng

và thích ứng nhanh, đó là những u thế nổi trội của nguồn lực con ngời nớc ta Những phẩm chất này khẳng định năng lực thí tuệ của ngời Việt Nam hoàn toàn có thể theo kịp tốc độ phát triển củat công nghệ hiện đại trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ hiện nay Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, các nhà đầu t nớc ngoài, ngời lao động Việt Nam nhanh nhạy hơn nhiều so với các nớc trong khu vực.

Theo số liệu của UNDP, chỉ số phát triển con ngời HDI (Human Development Index) của Việt Nam có xu hớng gia tăng và cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 116 trên tổng

số 174 nớc (1993) lên vị trí 110/174 (1998), và năm 2002 chỉ số này là 102 Nớc ta là một trong 10 nớc có chỉ số xếp hạng về HDI cao hơn xếp hạng GDP/ngời trên 20 bậc, chứng tỏ Việt Nam đã cố gắng gắn tăng trởng kinh tế với phát triển xã hội, quan tâm

đến các yếu tố sức khoẻ, y tế, giáo dục , nỗ lực cải thiệnvà nâng cao chất lợng nguồn lực con ngời.

Bên cạnh đó, không thể không xét đến những phẩm chất đạo đức - tinh thần khi

đánh giá chất lợng nguồn lực con ngời của Việt Nam, đặc biệt là nhìn từ góc độ du lịch Qua thực tế giao tiếp, không ai phủ nhận đợc đất nớc Việt Nam, con ngời Việt Nam nói chung có truyền thống hiếu khách, biết yêu thơng tôn trọng con ngời, chuộng hoà bình, coi trọng đạo lý, nặng nghĩa tình Những phẩm chất, giá trị đó đã

đợc hun đúc và hình thành qua cả một cả quá trình lịch sử để đến ngày hôm nay trở thành những nhân tố tích cực thúc đẩy và làm gia tăng hiệu quả hoạt động của con ng -

ời Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Những khách du lịch quốc tế sau khi đến với Việt Nam đều thừa nhận họ đặc biệt ấn tợng với tình cảm, thái độ trân trọng, hiếu khách của ngời Việt Nam; lu giữ trong ký ức của họ là hình ảnh nụ cời thân thiện của ngời Việt Nam mà họ luôn bắt gặp trên khắp mọi miền.

Tất nhiên, chất lợng nguồn lực con ngời Việt Nam thực tế vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển nói chung và của ngành du lịch nói riêng, nhng với những phẩm chất tích cực của mình, nguồn lực con ngời rõ ràng là một tiềm năng đầy hứa hẹn, và hoàn toàn có cơ sở để tin rằng đây là nhân tố chính để thúc đẩy du lịch Việt Nam phát

Trang 25

triển đạt hiệu quả cao trong thời kỳ mới Vấn đề đặt ra là Nhà nớc cũng nh ngành du lịch phải có những chính sách, chơng trình thiết thực và cụ thể trong việc phát triển và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực, khi mà vấn đề chất lợng đã trở thành tiêu chí đầu tiên cần thiết trong xu hớng phát triển hiện nay của toàn thế giới.

4 Nguồn lực bên ngoài

Trong xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, bất kỳ một nền kinh tế, một ngành kinh tế nào đều không thể phát triển đi lên nếu chỉ dựa vào những nguồn lực nội tại Đơng nhiên ngành du lịch cũng không là một ngoại lệ Hoạt động kinh doanh

du lịch Việt Nam phát triển một mặt dựa trên cơ sở những nguồn tài nguyên, nguồn lực tự thân, đồng thời hớng ra thị trờng thế giới, trên cơ sở đó cố gắng tranh thủ thu hút và tận dụng những nguồn lực bên ngoài, hớng chúng vào phục vụ cho sự phát triển của ngành.

4.1 Yếu tố thị trờng

Bảng 2: Lợng khách du lịch quốc tế năm 2001 và dự báo đến năm 2020

Tỷ lệ tăng trởng trung bình năm (%)

Thị phần (%)

2010 2020 1995-2020 2001 2020 Thế giới 692,7 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100

Nguồn : Tổ chức Du lịch thế giới (WTO)

Việc hớng ra và khai thác thị trờng khách du lịch thế giới chính là nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế của du lịch Việt Nam Để phấn đấu trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc, song song với việc chú trọng đẩy mạnh du lịch nội địa, ngành

du lịch Việt Nam phải tập trung thu hút khách du lịch quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ, tăng thu ngoại tệ, giải quyết công ăn việc làm và góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra với thế giới.

Theo số liệu thống kê của WTO, năm 2001 tổng số khách du lịch quốc tế đạt 692,7 triệu lợt ngời Trong bản đánh giá và dự báo dài hạn “Du lịch: Tầm nhìn 2020”, WTO đã đa ra dự báo: đến năm 2010 tổng số khách du lịch quốc tế sẽ đạt 1.006,4 triệu lợt ngời, và sẽ đạt 1.561,1 triệu lợt vào năm 2020 với tỷ lệ tăng trởng bình quân trong giai đoạn này là 4,1%/năm Trong đó khu vực Đông á - Thái Bình Dơng đạt tốc

độ tăng trởng bình quân 6,5%/năm, chiếm 25,4% thị phần khách du lịch của thế giới Nằm trong khu vực Đông á - Thái Bình Dơng phát triển sôi động, du lịch Việt Nam

Trang 26

có nhiều thuận lợi để trở thành một thị trờng nhận khách đạt quy mô khá, nâng cao thị phần của mình so với các nớc trong khu vực.

Nhng năm vừa qua, thị trờng gửi khách truyền thống của Việt Nam là các nớc Tây Âu, Bắc Mỹ, các nớc và vùng lãnh thổ Đông Bắc á và các nớc nội khối ASEAN Tuy nhiên tỷ lệ khách đến Việt Nam so với số lợng khách từ các thị trờng này đi du lịch nớc ngoài còn rất thấp Trong năm 2002, trong tổng số 17 triệu khách du lịch ASEAN đi du lịch nội vùng thì lợng khách đến Việt Nam chỉ là 270 nghìn lợt ngời, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 1,6% Thực tế trên cho thấy du lịch Việt Nam còn hạn chế trong việc thu hút du khách nhng đồng thời cũng cho thấy đấy còn là tiềm năng, cơ hội cho

du lịch Việt Nam khai thác các thị trờng trọng điểm, gia tăng thị phần của mình so với khu vực.

4.2 Đầu t nớc ngoài

Hiện nay nhu cầu vốn đầu t cho phát triển du lịch rất cao, trong đó việc huy

động vốn đầu t bên ngoài là một nhu cầu tất yếu và có ý nghĩ hết sức quan trọng đối với sự phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay và cả trong tơng lai của ngành Trong các nguồn vốn bên ngoài thì vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đóng vai trò chủ đạo FDI không chỉ đa vốn vào mà đi kèm với vốn là cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyêt kinh doanh, năng lực Marketing; hơn nữa, FDI không làm phát sinh nợ cho nớc tiếp nhận vốn đầu t.

Thực tế thời gian qua đã cho thấy FDI giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của ngành du lịch Tính đến hết năm 2002 đã có hơn 272 dự án FDI đầu t vào ngành du lịch với tổng số vốn đăng ký trên 8,17 tỷ USD trong các lĩnh vực khách sạn, khu nghỉ mát, các dịch vụ bổ trợ Các dự án này đã đóng góp rất lớn trong việc nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch quốc tế Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm cho trên 17.000 lao động, chiếm trên 11,5% lực l - ợng lao động toàn ngành, đã tăng đóng góp cho Ngân sách nhà nớc, năm 2000 đạt 25,73 triệu USD FDI trong lĩnh vực du lịch cũng đóng góp không nhỏ trong việc nâng cao năng lực quản lý cũng nh đào tạo một đội ngũ cán bộ công nhân viên năng

động và nhiệt tình trong công việc.

Đầu t cho du lịch là đầu t cho phát triển nhằm nâng cơ sở vật chất kỹ thuật cho một ngành kinh tế mũi nhọn Trong hoàn cảnh nhu cầu vốn đầu t rất lớn, vốn ngân sách nhà nớc đầu t cho phát triển du lịch còn hạn chế, những đóng góp của nguồn vốn FDI mang ý nghĩ hết sức tích cực Do vậy, nếu tạo ra đợc môi trờng kinh doanh hấp dẫn, xây dựng đợc những chiến lợc thu hút đầu t nớc ngoài hiệu quả, từ đó sự gia tăng

về nguồn vốn FDI sẽ đóng vai trò là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam

4.3 Hội nhập và hợp tác quốc tế

Trang 27

Là một ngành kinh doanh mang tính chất hớng mở và đồng thời do nhu cầu phát triển, vấn đề hợp tác với các tổ chức bên ngoài là một đòi hỏi tất yếu đối với ngành du lịch Trong những năm qua, Việt Nam và ngành du lịch nói riêng đã tham gia một cách chủ động, mạnh mẽ và tích cực vào hội nhập và hợp tác quốc tế về du lịch, chủ trơng đẩy mạnh hợp tác theo cả hai hình thức song phơng và đa phơng.

ở cấp Chính phủ, Việt Nam đã ký Hiệp định hợp tác song phơng về du lịch với

15 nớc, là cơ sở quan trọng góp phần tích cực củng cố quan hệ toàn diện, tạo cơ sở pháp lý đẩy mạnh hợp tác du lịch ở các cấp, tạo điều kiện cho các đơn vị du lịch Việt Nam đẩy mạnh hợp tác làm ăn với với các đối tác trong khu vực và các thị trờng trọng điểm Song song với hợp tác song phơng, hợp tác đa phơng về du lịch cũng đợc

đẩy mạnh Việt Nam đã tham gia hợp tác Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng, hợp tác

du lịch ASEAN, là thành viên của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hiệp hội du lịch các nớc Châu á - Thái Bình Dơng (PATA) Việc phát triển một mạng lới hợp tác quốc tế chặt chẽ và đa dạng thời gian qua đã mang lại cho ngành du lịch Việt Nam sự

hỗ trợ quan trọng trên nhiều mặt: nghiên cứu và khai thác thị trờng, trao đổi thông tin,

đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng sản phẩm du lịch chất lợng cao, quy hoạch chiến

l-ợc, hỗ trợ phát triển

Việc hợp tác quốc tế chặt chẽ đóng vai trò là chiếc cầu nối quan trọng cho du lịch Việt Nam bớc ra khu vực và thế giới, là một ngoại lực không thể thiếu trong suốt quá trình phát triển Nhận thức dợc tầm quan trọng, Việt Nam một mặt phải khai thác tối đa và hiệu quả nguồn lực đó, mặt khác phải củng cố, mở rộng và tăng cờng hơn nữa quan hệ hợp tác với bên ngoài.

II Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ tiền SARs

1 Tổng quan chung

Nghị định 26/CP ngày 9/7/1960 về việc thành lập Công ty du lịch Việt Nam là mốc đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam Song do hoàn cảnh chiến tranh của đất nớc, hoạt động du lịch của nớc ta một thời gian khá dài chủ yếu làm chức năng phục vụ, nói đúng ra là ngành “bao cấp của bao cấp” Suốt cả thời kỳ từ năm

1960 đến những năm cuối thập kỷ 80, Tổ chức du lịch Việt Nam chủ yếu là phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nớc, hoạt động kinh doanh du lịch chiếm một tỷ lệ không đáng kể Mặt khác, cơ cấu bộ máy cũng thiếu ổn định: Tổng cục Du lịch mãi tới 1979 mới đợc thành lập, sau đó lại bị tách ra nhập vào với các Bộ khác Chính bởi vậy, hoạt động du lịch trong thời kỳ này thiếu một đề án thống nhất, thiếu những định hớng chiến lợc, thiếu đầu t dài hạn cũng nh những công trình nghiên cứu quy hoạch mang tính tổng thể Kết quả 30 năm hoạt động (1960 - 1990) thu đ ợc rất hạn chế so với tiềm năng du lịch to lớn và phong phú của nớc ta, hiệu quả kinh tế - xã hội đem lại hầu nh không đáng kể Từ khi Đảng ta đề ra đờng lối đổi mới, hoạt động du lịch cũng

đã bắt đầu thay đổi Sự biến động chính trị ở Liên Xô (cũ) và các nớc Đông Âu đã làm

Trang 28

theo những Nghị định th đợc ký kết theo giá bao cấp không còn nữa Du lịch Việt Nam bớc sang thời kỳ mới: thời kỳ hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng.

Thời kỳ phát triển mới đợc đánh dấu mở đầu với sự ra đời của chơng trình

“Năm du lịch Việt Nam 1990” Mặc dù Năm du lịch Việt Nam 1990 không đạt kết quả nh mong muốn bởi không có tổ chức bảo đảm (lúc đó du lịch có quyết định nhập vào Bộ Văn hoá), nhng đây đợc xem nh là bớc chuyển mình đầu tiên của du lịch Việt Nam, bắt đầu cho thời kỳ phát triển mới.

Thực tế, 13 năm phát triển cha phải gọi là dài nhng hoạt động kinh doanh du lịch của Việt Nam đã đạt đợc những bớc phát triển khá mạnh mẽ cả về lợng và chất.

Về số lợng khách, từ năm 1990 đến năm 2002, lợng khách du lịch quốc tế đã tăng hơn

10, năm lần từ 250.000 lên 2,63 triệu lợt ngời; khách du lịch nội địa tăng 8,7 lần từ 1,5 triệu lên 13 triệu lợt Thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh, năm 2002 đạt 23.500

tỷ đồng gấp 10,8 lần so với năm 1991 Hoạt động du lịch đã tạo việc làm cho khoảng

22 vạn lao động trực tiếp và trên 33 vạn lao động gián tiếp.

Nếu trớc đây phải mất 34 năm Việt Nam mới đón đợc ngời khách quốc tế thứ 1 triệu vào năm 1994 thì giờ chỉ cần 6 năm, đến năm 2000, nớc ta đã đón ngời khách quốc tế thứ 2 triệu; dự đoán, đến năm 2004, Việt Nam chắc chắn sẽ đón lợt khách thứ

3 triệu Tính mức thu bình quân từ mỗi du khách là 500 USD (trong khi mức thu bình quân của thế giới là 750 USD, của Australia là 2.200 USD, của Singapore là 1.300 USD ), tổng thu ngoại tệ năm 2002 là 1,315 tỷ USD, cao hơn so với kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực của nớc ta.

Cùng với sự gia tăng về số lợng khách du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng không ngừng phát triển với tốc độ tăng trởng trung bình hàng năm đạt hơn 14%,

số lợng và chất lợng các khách sạn tăng đều qua các năm Chính sách thu hút vốn đầu

t nớc ngoài cũng đạt kết quả tốt với 292 dự án FDI có tổng số vốn đăng ký trên 8,32

tỷ USD tính đến hết năm 2002 Công tác quy hoạch đợc triển khai mạnh mẽ, đặc biệt

là về những năm sau này: tiến hành quy hoạch tổng thể với 3 vùng du lịch chính với những chỉ tiêu và sản phẩm du lịch đặc trng của từng vùng, gồm Vùng du lịch Bắc Bộ (sản phẩm đặc trng là du lịch văn hoá kết hợp với tham quan, nghiên cứu), Vùng du lịch Bắc Trung Bộ (du lịch tham quan các di tích lịch sử cách mạng kết hợp với du lịch biển, hang động và du lịch quá cảnh), Vùng du lịch Nam Trung Bộ Và Nam Bộ (du lịch tham quan, nghỉ dỡng, du lịch biển và núi, du lịch sinh thái Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long), đồng thời cũng đã sắp xếp, quy hoạch các vùng du lịch trọng

điểm nhằm tập trung thu hút khách du lịch.

Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác quốc tế về du lịch đợc chú trọng và mở rộng Việt Nam hiện đã ký kết 15 Hiệp định hợp tác du lịch song ph ơng, nhiều doanh ngiệp du lịch Việt Nam tham gia với t cách thành viên vào các tổ chức, Hiệp hội quốc

tế nh PATA, JATA, ASTA, ASEANTA ; hiện có hơn 100 hãng lữ hành đủ điều kiện

Trang 29

tham gia kinh doanh lữ hành quốc tế đã thiết lập mối quan hệ làm ăn với hơn 1.000 hãng du lịch của trên 50 nớc Việc mở rộng hợp tác quốc tế về du lịch đã đóng góp tích cực trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, hình thành và củng cố môi trờng cho nền kinh tế mở của đất nớc Nhờ đó, vai trò và vị trí của ngành du lịch trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nớc đã dần đợc khẳng định, vị thế của du lịch Việt Nam trên thị trờng du lịch khu vực và thế giới ngày càng đợc nâng cao.

Ngành cũng đã bắt đầu chú trọng tới việc định hớng phát triển theo chiều sâu Năm 1999 Pháp lệnh Du lịch chính thức đợc ban hành, tạo ra một bộ khung pháp lý làm cơ sở cho hoạt động của ngành Năm 1998 Chơng trình Hành động quốc gia về

Du lịch (CTHĐQGDL) đã đợc xây dựng và đợc Thủ tớng Chính phủ phê duyệt, chính thức bắt đầu triển khai vào tháng 4/1999 và triển khai một cách tập trung vào năm

2000 Sau gần 4 năm thực hiện, CTHĐQGDL đã đạt hiệu quả về nhiều mặt cả về kinh

tế, chính trị, xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế Ch ơng trình đã thực sự trở thành động lực cho sự phát triển của ngành.

Trong thời kỳ này cũng phải kể tới hai thời điểm khó khăn của du lịch Việt Nam : đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á năm 1997 và vụ khủng bố nớc

Mỹ ngày 11/9/2001 Hai sự kiện nói trên đã tác động đến công việc kinh doanh của ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á Năm

1998 lợng khách quốc tế đến Việt Nam đã giảm 13,3 % sau 8 năm tăng tr ởng liên tục Nhng nhờ nỗ lực của toàn ngành, sang năm sau (1999) lợng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng trởng trở lại và tiếp tục duy trì tăng trởng cho đến hết năm 2002.

2 Số lợng và cơ cấu khách du lịch

Kể từ khi ngành du lịch phát động chơng trình Năm du lịch Việt Nam 1990 đến hết năm 2002, có thể nói thành công lớn nhất của ngành là đạt đợc sự tăng trởng mạnh mẽ của dòng khách du lịch, cả khách quốc tế lẫn khách trong nớc.

Biểu đồ 1: Số lợng khách quốc tế đến Việt Nam thời kỳ 1990-2002

(đơn vị: nghìn lợt ngời)

Trang 30

L ợng khách quốc tế đến Việt Nam (1990 - 2002)

250 300

440 670 1018 1351

160717161520

1782 2140 2330 2627

0 500 1000 1500 2000 2500 3000

Bảng 3: Lợng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1990 -2002

Năm

Lợng khách QT (nghìn l- ợt)

Tăng so năm trớc

Lợng khách QT (nghìn l- ợt)

Tăng so năm trớc (%)

Trang 31

Trong thời kỳ này, 6 năm đầu (1990 - 1995) là khoảng thời gian có tốc độ tăng trởng khách quốc tế cao nhất, trung bình tăng 41% mỗi năm Năm 1991 số khách quốc tế là 300.000 lợt ngời, tăng 20% so với năm 1990 Cũng so với năm trớc, năm

1992 đạt 440.000 lợt khách (tăng 47%), năm 1993 đạt 670.000 lợt (tăng 52%), năm

1994 đạt 1.018.000 lợt (tăng 52%) và năm 1995 đạt 1.351.000 lợt (tăng33%) Xét về mặt tơng đối, những chỉ số ở mức rất cao trên đây cho thấy tốc độ phát triển nhanh chóng của lợng khách quốc tế trong khoảng thời gian này Nhng xét về giá trị tuyệt

đối thì con số khách thực tăng qua mỗi năm là còn rất khiêm tốn, chỉ từ khoảng 2 đến

3 trăm nghìn lợt ngời, hoàn toàn không tơng xứng với tiềm năng to lớn của ngành du lịch Điều này có thể lí giải bởi ngành du lịch nớc ta cùng với toàn bộ nền kinh tế vừa mới bớc vào hội nhập, còn rất nhiều khó khăn cũng nh hạn chế, quy mô xuất phát

điểm còn thấp Xét từ góc độ này thì những con số trên đây là rất ấn t ợng, nó đánh dấu thành công bớc đầu và đồng thời cho thấy sự chuyển mình nhanh chóng của ngành du lịch nớc nhà Những năm sau, từ năm 1996 tốc độ tăng trởng khách quốc tế bắt đầu giảm xuống Đặc biệt, năm 1998 tốc độ tăng trởng đạt mức âm, giảm 13,3% (tơng đơng 196.000 lợt ngời) so với năm 1997, do kinh tế Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung đang bị tác động nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á diễn ra vào năm 1997 Nhng sang đến năm 1999, tình hình kinh doanh của ngành đã phục hồi, số lợng khách du lịch quốc tế đã tăng trở lại và duy trì mức tăng trởng đều đặn qua các năm sau, đạt 2,63 triệu lợt khách vào năm 2002, mặc dù trong thời gian đó ngành du lịch thế giới nói chung khá điêu đứng do vụ khủng bố nớc Mỹ tháng 9/2001.

Cũng phải nói rằng, dòng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng vốn có Bởi qua thực tế phát triển du lịch ở các n ớc láng giềng của Việt Nam nh Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Singapore thì Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút mỗi năm một số lợng khách quốc tế cao hơn nhiều so với hiện nay Singapore là một quốc gia nhỏ bé với hơn 4 triệu dân nhng mỗi năm họ thu hút gần 8 triệu lợt khách quốc tế Nhng nếu nh 10 năm trớc đây, lợng khách quốc tế vào Việt Nam chỉ bằng 1/40 của Singapore và Thái Lan, 1/10 của Philipine thì hiện nay khoảng cách ấy đã đợc rút ngắn đi 10 lần, đặc biệt là gần đuổi kịp Philippines Đây là một thành tựu rất đáng ghi nhận của du lịch Việt Nam.

Biểu đồ 2: Cơ cấu khách quốc tế chia theo phơng tiện đến

(1993 - 2002)

Trang 32

489 572

779 751

771

550 506

123 47

874 1022

1113 1294

188 157

131

309 285 256 162

31 35

Nguồn: Tổng cục Du lịch

Trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời kỳ này, nếu xét theo phơng tiện đến thì có thể thấy rõ lợng khách đến bằng đờng hàng không chiếm tỷ trọng lớn nhất với tỷ lệ bình quân hằng năm từ năm 1993 đến năm 2002 là 67,2% (xem biểu đồ) Đặc biệt là trong ba năm 1993, 1994, 1995 khách đến theo đờng hàng không chiếm tỷ trọng rất cao, lần lợt là 90%, 92,4% và 89,3% (con số cụ thể là 602.000, 941.000 và 1.207.000 lợt ngời) Các năm tiếp theo, tỷ trọng này có giảm đi nhng vẫn luôn cố định ở mức trên 50%, năm thấp nhất là năm 2000: 52% (1.113.000 lợt khách) Khách đến bằng đờng bộ và đờng biển tăng dần qua các năm, tơng ứng với

sự giảm dần của khách đờng hàng không, trong đó lợng khách đến theo đờng bộ cao hơn so với đờng biển và khoảng cách này đang có xu hớng dãn ra Nếu nh năm 1993

tỷ lệ giữa khách đờng bộ và khách đờng biển là 95% (33.335/35.000) thì sang năm

1994 con số này là 150% (46.522/31.015) và lên tới 564,5% (122.752/21.754) trong năm 1995 Qua các năm tiếp theo con số này lần lợt là 312,4% (1996), 418,6% (1997), 311,3% (1998), 304% (1999), 494% (2000), 263,9% (2001), 252% (2002).

Có sự chênh lệch này là do du lịch bằng đờng biển ở nớc ta còn ở quy mô nhỏ, cha thực sự phát triển, mặt khác, trong mấy năm trở lại đây, dòng khách từ các quốc gia

Trang 33

lân cận có chung đờng biên giới với Việt Nam nh Trung Quốc, Lào, Campuchia và Thái Lan có xu hớng tăng lên nhanh chóng.

Biểu đồ 3 : Cơ cấu khách quốc tế chia theo mục đích đến(1999 - 2002)

0 200 400 600 800 1000

Nguồn : Tổng cục Du lịch

Nếu chia theo mục đích chính thì lợng khách đi du lịch, nghỉ ngơi chiếm tỷ trọng lớn nhất Năm 2000 lợng khách quốc tế đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi là 1.138.200 lợt (chiếm 48,9%), năm 2002 là 1.460.546 (chiếm 55,6%), trong khi dòng khách đến với mục đích công việc và các mục đích khác tăng đều nhng chậm và cha vợt ngỡng 500.000 lợt Trong vòng 4 năm trở lại đây (1999 - 2002), bình quân mỗi năm lợng du khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi tăng 25,6% cho thấy Việt Nam đang có xu hớng trở thành điểm đến a thích của khách du lịch quốc tế Tuy nhiên, tỷ lệ khách đi du lịch chỉ xấp xỉ ở mức 50% nh hiện nay cho thấy Việt Nam vẫn cha thực sự là một địa điểm du lịch hấp dẫn và a thích đối với khách du lịch quốc

tế Đây là một thực tế mà ngành du lịch cần phải nhìn nhận bởi trong cơ cấu khách quốc tế thì khách đi du lịch là bộ phận quan trọng nhất đối với hoạt động kinh doanh

du lịch của nớc đến Đây là bộ phận có mức chi tiêu cao nhất, nó quyết định đến khả năng tăng doanh thu của ngành trong điều kiện lợng khách không đổi Nếu Việt Nam phát triển đợc tối đa bộ phận khách này thì lợng ngoại tệ thu về sẽ là rất lớn, hiệu quả kinh tế sẽ đợc nâng lên rất nhiều.

Bảng 4: Khách du lịch nội địa Việt Nam thời kỳ 1996 - 2002

Khách du lịch nội địa

Trang 34

ớc(triệu lợt)

Nguồn : Tổng cục Du lịch

Bớc sang thập niên 90, cùng với chính sách mở cửa và chủ động hội nhập quốc

tế của đất nớc, bên cạnh dòng khách du lịch nớc ngoài, số lợng Việt kiều về thăm quê hơng ngày càng tăng Năm 1991, số lợng khách Việt kiều là 42.560 lợt ngời thì đến năm sau, lợng khách Việt kiều đã đạt 430.994 lợt ngời, tăng hơn 10 lần Tính bình quân từ năm 1991 đến năm 2002 tỷ lệ Việt kiều về nớc trong tổng số khách vào Việt Nam chiếm 16,8% Bên cạnh mục đích về thăm quê hơng, rất nhiều Việt kiều về nớc nhằm mục đích tìm kiếm cơ hội đầu t làm ăn, phục vụ cho sự phát triển kinh tế của

đất nớc Nh vậy, trong cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam , dòng khách Việt kiều tuy chiếm tỷ trọng không cao nhng lại mang nhiều ý nghĩa hết sức tích cực.

Ngoài khách du lịch quốc tế còn phải kể tới số lợng khách du lịch nội địa.

Những năm vừa qua, lợng khách du lịch trong nớc đã tăng trởng rất mạnh mẽ (xem bảng 4) Nếu nh năm 1990 lợng khách nội địa mới chỉ đạt xấp xỉ 1 triệu lợt ngời thì

đến năm 2002 đã đạt 13 triệu lợt, tăng 13 lần, tính ra trung bình mỗi năm lại tăng thêm 1 triệu lợt khách đi du lịch trong nớc Kết quả này ghi nhận sự thành công cũng

nh nỗ lực của ngành du lịch, bởi trong chiến lợc phát triển của ngành đến năm 2010, việc thúc đẩy phát triển du lịch nội địa là một mục tiêu cơ bản, ngang tầm với mục tiêu phát triển du lịch quốc tế Thực tế thời kỳ vừa qua cho thấy du lịch nội địa đã có

sự tăng trởng tuyệt đối về số lợng khách, đảm bảo đợc mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề

ra trong hoạt động kinh doanh của ngành du lịch Việt Nam.

3 Doanh thu và việc làm

Bảng 5: Doanh thu du lịch giai đoạn 1990 - 2002

Doanh thu (tỷ

Trang 35

ngạch xuất khẩu trực tiếp của cả nớc là 16,7 tỷ USD Cùng với sự gia tăng về doanh thu du lịch đã kéo theo mức đóng góp của ngành cho Ngân sách Nhà nớc cũng tăng lên Bên cạnh đó, hoạt động du lịch cũng đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm mới Ban đầu, lực lợng lao động trực tiếp trong ngành du lịch cả nớc mới chỉ có 35.354 ngời vào năm 1992, 43.210 ngời năm 1993 thì đến nay đã có hơn 22 vạn lao

động trực tiếp và trên 33 vạn lao động gián tiếp Theo thống kê của WTO, cứ 1 lao

động trực tiếp trong ngành du lịch thì sẽ kéo theo khoảng 1,7 lao động gián tiếp Và

nh vậy, trong tơng lai, với việc quy mô kinh doanh của ngành tăng lên sẽ có rất nhiều chỗ làm mới đợc tạo ra, góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho xã hội.

Biểu đồ 4: Đóng góp Ngân sách của ngành du lịch giai đoạn 1991-2002

96 229 400

800 780 740 840

686 890

1277 1390 1560

0 200

Bớc vào thời điểm năm 1991, Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (cũ) cũng nh các

n-ớc Đông Âu sụp đổ đã kéo theo sự gián đoạn trong quan hệ với Việt Nam, kèm theo

đó là sự suy giảm đột ngột dòng khách đến từ các thị trờng này vốn là thị trờng truyền thống của du lịch Việt Nam Từ thời điểm đó, đã bắt đầu sự thay đổi căn bản đối với

du lịch Việt Nam về mặt thị trờng gửi khách.

Kể từ năm 1990 đến 1992, thị trờng gửi khách chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh và các nớc Tây â u và thị trờng khu vực ASEAN Trong khoảng thời gian đầu từ 1990 đến 1992, thị trờng gửi khách lớn nhất

Trang 36

l-Møc t¨ng (%)

Sè îng (1000)

l-Møc t¨ng (%)

Sè îng (1000)

l-Møc t¨ng (%)

Sè îng (1000)

l-Møc t¨ng (%)

Sè îng (1000)

l-Møc t¨ng (%)

Sè îng (1000)

l-Møc t¨ng (%)

Trang 37

của du lịch Việt Nam là Đài Loan với số lợng khách đến lần lợt qua các năm là 45.000, 54.000 và 70.143 lợt ngời Xếp kế sau Đài Loan lần lợt là các thị trờng Pháp, Nhật Bản và Mỹ Thời gian này do quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc mới bắt đầu bình thờng hoá trở lại nên số lợng khách Trung Quốc mới chỉ dừng ở các con số 3.525, 4.230, 2.738 lợt ngời Tuy nhiên sang năm 1993 đã ghi nhận hiện tợng tăng vọt khách du lịch đến từ Trung Quốc, Mỹ, Pháp và Nhật Bản Năm 1993 lợng khách du lịch từ Trung Quốc đạt 17.509 lợt ngời, tăng gần 6,4 lần; đến năm 1996 con

số này là 377.555 lợt ngời, tăng 137,9 lần so với năm 1992 Xu hớng tăng tiếp tục duy trì và cho đến nay, Trung Quốc là thị trờng gửi khách lớn nhất của du lịch Việt Nam: trong năm 2002 vừa qua, khách du lịch Trung Quốc đạt 724.385 lợt ngời, chiếm 27,6% trong tổng số 2,63 triệu lợt khách quốc tế đến Việt Nam.

Lợng khách từ thị trờng Mỹ biến động nhẹ qua từng năm kể từ năm 1993 nhng nhìn chung có tăng: năm 2002, khách Mỹ đạt 259.967 lợt ngời, chiếm 9,9% trong tổng số Khách từ thị trờng Pháp đạt mức cao nhất vào năm 1995 (137.890 lợt ngời) sau đó bắt đầu giảm xuống, trong suốt 4 năm chỉ duy trì ở mức bình quân 84.600 lợt khách/năm; bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại vào năm 2001 (99.700 l ợt ngời) và đạt 111.546 lợt vào năm 2002, tăng 11,9% so với năm trớc Thị trờng gửi khách Đài Loan cũng đạt mức cao nhất vào năm 1995 (224.127 lợt ngời), sang năm 1996 bắt đầu đi xuống liên tục trong vòng 2 năm tiếp theo và chỉ tăng trở lại vào năm 1999 (173.920 lợt ngời); và cũng trong năm đó (1996) chính thức nhờng ngôi vị quán quân cho Trung Quốc Lợng khách đến từ Nhật Bản hầu nh tăng đều đặn qua các năm và đạt mức cao nhất vào năm 2002 với 279.769 lợt ngời, tăng 36% so với năm 2001 Hiện tại Nhật Bản đợc đánh giá là một thị trờng gửi khách đầy tiềm năng của du lịch Việt Nam, du khách Nhật Bản ngày càng có nhiều ngời có xu hớng tìm đến với Việt Nam Khách trong nội khối ASEAN cũng bắt đầu tăng, chủ yếu là từ các nớc Thái Lan, Singapore, Lào và Campuchia.

Nhìn chung trong những năm qua du lịch Việt Nam đã đạt đợc một số thành công nhất định trong việc thu hút khách từ các thị trờng Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN Nhng, nh đã từng đề cập ở trên, tỷ lệ số lợng khách đến Việt Nam so với lợng khách từ các thị trờng này đi du lịch nớc ngoài còn quá thấp (chỉ xấp xỉ khoảng 1,6%), và xét trên tiêu chí này thì Việt Nam vẫn cha phải là điểm đến lý tởng.

Đây là một thực tế cần phải cân nhắc lại, đặc biệt là đối với khu vực ASEAN Thị tr ờng ASEAN rõ ràng là một thị trờng đầy tiềm năng, sự gần gũi về khoảng cách địa lý cho phép du khách trong khu vực thuận lợi và đễ dàng hơn trong việc di chuyển, tiết kiệm đợc nhiều chi phí so với đi du lịch xa hơn ra bên ngoài khu vực; sự tơng đồng về văn hoá, phong tục ở một chừng mực nào đó có thể khiến du khách cảm thấy thoải mái, dễ hoà nhập hơn Nếu khai thác tốt hơn thị trờng gửi khách này thì du lịch Việt Nam sẽ thu đợc một nguồn lợi không nhỏ Vấn đề đặt ra hiện nay là một mặt cần thiết

Trang 38

-phải duy trì các thị trờng gửi khách truyền thống, có mức chi trả cao và đang trong thời kỳ tăng trởng cao nh Tây Âu, Bắc Mỹ , mặt khác cần chuyển hớng và nỗ lực khai thác từ các thị trờng có khoảng cách xa và không an toàn đến thị trờng gần, an toàn hơn trong bối cảnh hiện nay, khi mà nhiều nơi trên thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ khủng bố.

5 Cơ sở lu trú

Theo tài liêu điều tra của dự án VIE/89/003, năm 1990 Việt Nam mới chỉ có khoảng 18.877 phòng có thể đón nhận khách du lịch, trong số đó số phòng đợc xếp hạng sao rất ít, chỉ xấp xỉ 15%.

Đến cuối năm 1994 cả nớc có 1.928 cơ sở lu trú, trong đó có có 674 khách sạn nhà nớc, 312 khách sạn t nhân với tổng số 36.000 phòng và riêng phòng đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế là gần 17.000 phòng Tính đến hết năm 2002, tổng số cơ sở

lu trú đã tăng lên 3.267 cơ sở, trong đó có 1.940 khách sạn Trong tổng số cơ sở l u trú của cả nớc thì khách sạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, 59,4%, với tổng số phòng là 55.760 phòng Số khách sạn đợc xếp hạng từ 1 đến 5 sao đạt 850 khách sạn, chiếm 43,8% tổng số khách sạn toàn ngành Doanh thu từ các cơ sở lu trú chiếm từ 65% - 75% doanh thu toàn ngành Hiện nay đã có nhiều tập đoàn khách sạn lớn hiện diện ở Việt Nam nh SOFITEL, HILTON, DAEWOO Hà Nội và TP HCM hiện là hai địa bàn có nhiều khách sạn hiện đại đợc xếp hạng sao cao nhất trên cả nớc với 7 khách sạn năm sao ở mỗi nơi.

Ngày đăng: 12/11/2012, 15:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: “Du lịch: Tầm nhìn 2020 ” - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 1 “Du lịch: Tầm nhìn 2020 ” (Trang 10)
Bảng 2:  Lợng khách du lịch quốc tế năm 2001 và dự báo đến năm 2020 - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 2 Lợng khách du lịch quốc tế năm 2001 và dự báo đến năm 2020 (Trang 25)
Bảng 3: Lợng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1990 -2002 - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 3 Lợng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1990 -2002 (Trang 30)
Bảng 4: Khách du lịch nội địa Việt Nam thời kỳ 1996 - 2002 - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 4 Khách du lịch nội địa Việt Nam thời kỳ 1996 - 2002 (Trang 33)
Bảng 4). Nếu nh năm 1990 lợng khách nội địa mới chỉ đạt xấp xỉ 1 triệu lợt ngời thì - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 4 . Nếu nh năm 1990 lợng khách nội địa mới chỉ đạt xấp xỉ 1 triệu lợt ngời thì (Trang 34)
Bảng 6: Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo một số thị trờng lớn giai đoạn 1990 - 1992 - Hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam thời kỳ hậu SARS: tình hình khắc phục và một số kiến nghị để tiếp tục phát triển theo xu hướng hội nhập
Bảng 6 Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo một số thị trờng lớn giai đoạn 1990 - 1992 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w