Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện “mở cửa” và “cạnh tranh” đòi hỏi tất cả các đơn
Trang 1Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của toàn thể cán bộ công nhân viên công ty Việt Phát, đã tham gia trả lời phỏng vấn một cách tận tình, đã hợp tác, cung cấp cho Em những thông tin cần thiết để phục vụ cho việc nghiên cứu Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo công ty, đại diện là Anh GĐNM Nguyễn Ngọc Tuấn đã hết sức tạo điều kiện cho Em tham gia vào hoạt động nhà máy và cung cấp thông tin để Em thực hiện việc điều tra một cách thuận tiện nhất.
Cuối cùng xin chúc Nhà trường ngày càng lớn mạnh trong công tác giáo dục tri thức, rèn luyện nhân cách và đào tạo nhiều hơn nữa những con người có đức có tài cho xã hội Xin chúc quý thầy cô sức khỏe và hai chữ thành công trên con đường giảng dạy Và xin chúc doanh nghiệp Việt Phát ngày càng phát triển trên thương trường trong và ngoài nước.
Do cũng hạn chế về kinh nghiệm thực tế, thời gian thực tập có hạn cũng như hiểu biết của Em còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên đề tài sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót Vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của tất cả quý thầy cô và quý Ban lãnh đạo Doanh nghiệp để Em có thể hoàn thiện hơn cho những nghiên cứu lần sau.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
Trang 3Danh mục các sơ đồ, đồ thị
Trang
Sơ đồ 1.1: Vòng tròn Deming (vòng tròn PDCA) 20
Sơ đồ 1.2: Mô hình nghiên cứu ban đầu 22
Sơ đồ 2.1: Quy trình kiểm tra chất lượng bao xi măng 32
Sơ đồ 2.2: Mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh 58
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi 39
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn 41
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu mẫu theo bộ phận chuyên môn 42
Trang 4Danh mục bảng biểu và hình vẽ Tr
ang
Bảng 2.1: Tổng hợp tỷ lệ phế phẩm và tỷ lệ phần trăm sai hỏng qua các năm 31
Bảng 2.2: Tổng hợp về số lượng khách khách hàng, số lượng sản phẩm và các chứng chỉ qua các năm 35
Bảng 2.3: Phân bố mẫu theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, bộ phận chuyên môn 38
Bảng 2.4: Thu nhập trung bình hằng tháng theo trình độ học vấn 42
Bảng 2.5: Thu nhập trung bình hằng tháng theo thời gian làm việc 43
Bảng 2.6a: Kiểm định KMO and Bartlett's – thang đo các yếu tố chung 44
Bảng 2.6b: Kết quả phân tích nhân tố - thang đo các yếu tố chung 45
Bảng 2.7a: Kiểm định KMO and Bartlett's – thang đo các yếu tố chung 46
Bảng 2.7b: Kết quả phân tích nhân tố - thang đo các yếu tố chung 47
Bảng 2.8a: Kiểm định KMO and Bartlett's – thang đo các yếu tố chung 48
Bảng 2.8b: Kết quả phân tích nhân tố - thang đo các yếu tố chung 49
Bảng 2.9: Kết quả phân tích nhân tố: Thang đo tầm quan trọng của CLSP 52
Bảng 2.10: Hệ số Cronhbach Alpha thang đo các yếu tố 53
Bảng 2.11: Hệ số Cronhbach Alpha thang đo CLSP 56
Trang 5Bảng 2.12 : Tổng hợp các hệ số tin cậy Cronhbach Alpha sau khi loại các biến
không đủ độ tin cậy 57
Bảng 2.13: Các hệ số xác định mô hình 59
Bảng 2.14: Thống kê phân tích các hệ số hồi quy 60
Bảng 2.15: Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu 61
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang phát triển trong nền kinh tế thị trường
Xu thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế diễn ra vô cùng mạnh mẽ kéo theo sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt với tất cả các doanh nghiệp kinh doanh ở tất cả các loại hình khác nhau
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải sản xuất và cung cấp được những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đồng thời tạo được hình ảnh tốt trong con mắt của người tiêu dùng Đứng trên quan điểm của khách hàng, các yếu tố tác động đến quyết định của họ trong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ chính là chất lượng sản phẩm, giá cả và thời gian giao hàng Trong đó việc nâng cao chât lượng sản phẩm, hạ thấp giá thành sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp tại địa bàn TT Huế nói riêng Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện “mở cửa” và “cạnh tranh” đòi hỏi tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh phải quan tâm đến hai vấn đề cực kỳ quan trọng đó là: Giá cả và chất lượng sản phẩm, hàng hoá, trong đó chất lượng sản phẩm như là một yếu tố quyết định Vậy phải làm thế nào để đảm bảo và nâng cao chất lượng một cách kinh tế nhất nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm ở các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế hiện nay?
Trang 6Nhìn tình hình chung hiện nay, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của TT Huế nói riêng còn rất yếu, vì còn tồn tại một số vấn đề quan trọng như: Các chỉ tiêu chất lượng chưa được chú trọng và lựa chọn hợp lý; trình độ công nghệ đa số đều lạc hậu so với thế giới; năng suất lao động thấp; chất lượng không
ổn định; thông tin nói chung và thông tin thị trường nói riêng rất ít và cập nhật rất chậm; công tác quản lý chưa được coi trọng nên hiệu quả còn thấp Nhìn chung cả 3 yếu tố cơ bản để cạnh tranh là: chất lượng, chi phí và giao hàng ở các doanh nghiệp Việt Nam hay các doanh nghiệp tại TT Huế còn rất yếu so với thế giới cũng như trong nước Nếu mỗi doanh nghiệp không giải quyết tốt 3 vấn đề này thì khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp ngay chính thị trường TT Huế là hết sức khó khăn Đặc biệt là tiêu chí chất lượng hiện đang được các doanh nghiệp hướng đến hàng đầu Và các chỉ tiêu chất lượng đang hết sức được các doanh nghiệp coi trọng
Với những thách thức và cơ hội như vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài khóa
luận tốt nghiệp là: “Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Tại Doanh Nghiệp Nhựa Bao
Bì Việt Phát” Nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng và đưa ra một số giải pháp chính cũng
như phương hướng thực hiện để thiết lập các chỉ tiêu chính nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại doanh nghiệp
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định được các chỉ tiêu chất lượng nhằm nâng cao CLSP (chất lượng sản phẩm) tại doanh nghiệp Việt Phát
Nhận dạng các chỉ tiêu chất lượng quan trọng, ưu tiên để đưa ra đánh giá, cũng như đề xuất một số định hướng và giải pháp cho doanh nghiệp
Câu hỏi nghiên cứu:
Những chỉ tiêu chính nào ảnh hưởng và quyết định đến việc đánh giá CLSP nhựa bao bì Việt Phát?
Những phương hướng thực hiện nào nhằm nâng cao CLSP ở doanh nghiệp Việt Phát?
Giải pháp nào làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp?
Trang 73 Phương pháp nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu:
Nghiên cứu sơ bộ: hay nghiên cứu định tính dựa trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý
thuyết về các chỉ tiêu CLSP và các tài liệu liên quan nhằm thiết lập bảng câu hỏi bằng cách thiết lập, điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát để sử dụng cho việc nghiên cứu chính thức tiếp theo
Nghiên cứu chính thức: bằng định lượng nhằm mục đích khảo sát các vị lãnh đạo,
các nhân viên công ty, cũng như công nhân sản xuất tại doanh nghiệp Việt Phát để đưa những chỉ tiêu chất lượng quan trọng giúp nâng cao CLSP và làm tiền đề để so sánh với một số chỉ tiêu cơ bản của đối thủ cạnh tranh
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Điều chỉnh
Thang đo chính thứcNghiên cứu định lượng (N=108)
- Mô tả mẫu điều tra
- Đánh giá sơ bộ thang đo = Cronhbach
Alpha
- Phân tích nhân tố EFA và loại biến có
trọng số nhân tố < 0.5
- Phân tích hồi quy tương quan
Đưa ra phương hướng thực hiện, cũng như những giải pháp nhằm thiết lập các chỉ tiêu đánh giá CLSP cho doanh nghiệp
Trang 8 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các thông tin về nội bộ doanh nghiệp từ BGĐ của công ty và từ các Website
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp phỏng vấn trực tiếp CBCNV (cán bộ công nhân viên) của công ty (Điều tra nghiên cứu với bảng hỏi được thiết kế sẵn)
Phương pháp chọn mẫu và xác định kích thước mẫu:
+ Kích thước mẫu: Độ tin cậy của thông tin phụ thuộc vào kính thước mẫu,
mẫu càng lớn thì độ tin cậy của thông tin càng tăng Theo kinh nghiệm, các nhà nghiên cứu cho rằng, khi phân tích nhân tố EFA, kích thước mẫu nên theo tỷ lệ với số biến quan sát tối thiểu là 1:5 (Hair & ctg, 1998), (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc – phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê 2005) Mô hình đo lường gồm
28 biến quan sát, theo tỷ lệ 1:5 ta có kích thước mẫu là: 28 x 5 = 140 mẫu Nhưng tại doanh nghiệp Việt Phát thì tổng số lượng CBCNV là 108 người nên ta chọn kích thước mẫu là 108 mẫu
+ Phương pháp chọn mẫu: Do tổng thể doanh nghiệp có 108 CBCNV nhỏ hơn 140
nên ta quyết định điều tra toàn bộ tổng thể của tất cả các CBCNV trong công ty
Phương pháp xử lý dữ liệu với chương trình SPSS 16.0:
+ Phương pháp thống kê mô tả biến định tính, định lượng
+ Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và đánh giá độ tin cậy Cronbach Alpha
+ Phương pháp phân tích hồi quy tương quan
Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Phân tích nhân tố khám phá là một phương pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một tập hợp gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair & ctg, 1998)
Điều kiện dùng để phân tích nhân tố:
KMO >= 0,5, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig <= 0.05)
Trang 9 Tổng phương sai trích >= 50% (Gerbing & Anderson, 1988)
Factor Loading lớn nhất của mỗi Item phải >= 0,5 (Hair & ctg, 1998)
Phương pháp trích Principal Component, phép quay Varimax
Eigenvalues >= 1 (Garson, 2003)
Chênh lệch giữa Factor Loading lớn nhất và Factor Loading bất kỳ phải >= 0,3 (Jabnoun & Al-Timimi, 2003)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chỉ tiêu đánh giá CLSP để nâng cao CLSP, nhằm thiết lập các chỉ tiêu chính cũng như những chỉ tiêu quan trọng nhất cho doanh nghiệp Việt Phát
Phạm vi nghiên cưu:
Thời gian: khoảng gần 3,5 tháng kể từ ngày 27/1-8/4 /2012
Không gian: tại doanh nghiệp Nhựa bao bì Việt Phát (đường số 4-KCN Phú Bài-Thị Xã Hương Thủy-TT Huế)
5 Bình luận các nghiên cứu liên quan
Đề tài tương đối mới nên không có bình luận gì về các nghiên cứu liên quan
6 Tóm tắt đề tài
Đề tài này nghiên cứu những chỉ tiêu chất lượng mang tính chất là tìm ra chỉ tiêu nào quan trọng và chỉ tiêu nào quan trọng nhất để đưa vào đánh giá cũng như nghiên cứu trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp Đồng thời đưa ra những phương hướng thực hiện và những giải pháp để nâng cao CLSP nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Phát dựa vào những chỉ tiêu chất lượng đã được lựa chọn
Đề tài này được tiến hành bằng cách điều tra khảo sát trực tiếp 108 CBCNV của công ty Nguồn thông tin được lấy từ cả nguồn thứ cấp và nguồn sơ cấp để phục vụ cho đề tài và cũng đã được lãnh đạo công ty cho phép
Trang 10 Từ kết quả nghiên cứu thì đề tài đã có căn cứ để đề ra một số phương hướng cũng như giải pháp thực hiện Đồng thời từ đó cũng đưa ra kết luận chung và những kiến nghị của riêng bản thân tôi về doanh nghiệp.
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Theo giáo sư Ishikawa chuyên gia về chất lượng của Nhật Bản cho rằng: "Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất".(Quản lý chất lượng theo phương pháp Nhật.Kaoru Ixikaoa NXB KH_KT 1990)
Theo Feigenbaum: "chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm" (Quản lý chất lượng đồng bộ John.S.Oakard NXBTK 1994)
Còn Juran thì định nghĩa chất lượng sản phẩm đơn giản, ngắn gọn: "Chất lượng
là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng" (Quản lý chất lượng đồng bộ John.S.Oakard NXBTK 1994) Phần lớn các chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Trang 11Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì: chất lượng sản phẩm là tổng tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thoả mãn những yêu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế, kỹ thuật, xã hội.
Chất lượng sản phẩm là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được Những thông số này lấy ngay trong sản phẩm hoặc giá trị sử dụng của nó
Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khả năng thoả mãn được những nhu cầu phù hợp với công dụng của sản phẩm đó Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với các tiêu chuẩn hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật
Như quan điểm này chất lượng sản phẩm được quy định bởi đặc tính nội tại của sản phẩm, không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài (Quản trị chất lượng GS Nguyễn Quang Toản NXBTK 1995)
Phù hợp với công dụng sản phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814:1994 thì: "Chất lượng là tập hợp các đặc tính một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn"
Để phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của các quan điểm trên, tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO (Intenational for Standard Organization) đã đưa
ra khái niệm ISO cho rằng: "chất lượng sản phẩm, dịch vụ là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm, thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định" (Quản trị chất lượng trong doanh nghiệp theo TCVN ISO
9000 PTS Nguyễn thị Định - NXBTK) Đây có thể nói là một khái niệm hiện đại về chất lượng sản phẩm, được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất
1.1.1.2 Những chỉ tiêu đánh giá CLSP
Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính chỉ tiêu có giá trị
sử dụng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Mỗi thuộc tính chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế – kỹ thuật phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Các thuộc tính chỉ tiêu này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một mức chất lượng nhất định của sản phẩm
Trang 12+ Các thuộc tính kỹ thuật: phản ánh tính công dụng, chức năng của sản phẩm
Được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và đặc tính về cơ,
lý, hoá của sản phẩm
+ Các yếu tố thẩm mỹ: đặc trưng cho sự truyền cảm, hợp lý về hình thức, dáng
vẻ, kết cấu, kích thước, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính thời trang
+ Tuổi thọ của sản phẩm: đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm
giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định Đây là yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng
+ Độ tin cậy của sản phẩm: là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh
chất lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho tổ chức có khả năng duy trì và phát triển thị trường của mình
+ Độ an toàn của sản phẩm: những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành sản
phẩm, an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất yếu, bắt buộc phải có đối với mỗi sản phẩm
+ Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm: là yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải
tuân thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường
+ Tính tiện dụng: phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển,
bảo quản, dễ sử dụng và khả năng thay thế của sản phẩm khi bị hỏng
+ Tính kinh tế của sản phẩm: Thể hiện khi sử dụng sản phẩm như có tiêu hao
nguyên liệu, năng lượng
Ngoài những thuộc tính hữu hình trên còn có những thuộc tính vô hình khác như những dịch vụ đi kèm sản phẩm, đặc biệt là dịch vụ sau khi bán hàng, tên, nhãn hiệu, danh tiếng, uy tín của sản phẩm…cũng tác động đến tâm lý của người mua hàng
Các thuộc tính chỉ tiêu này không tồn tại độc lập tách rời mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau mỗi loại sản phẩm cụ thể sẽ có những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơn những chỉ tiêu khác Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho sản phẩm của mình mang sắc thái riêng phân biệt với sản phẩm đồng loại khác trên thị trường Ngoài ra các chỉ tiêu an toàn đối với người sử
Trang 13dụng và xã hội, môi trường ngày càng quan trọng và trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp Đặc biệt là đối với những sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ
và cuộc sống của con người
1.1.1.3 Những nhân tố tạo nên CLSP
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện trong chu kỳ sống của sản phẩm PLC (Product Life Cycle) Nó được hình thành từ khi xây dựng phương án sản phẩm, thiết kế, lập kế hoạch, chuẩn bị sản xuất, sản xuất, phân phối và tiêu dùng Nói khác đi thì chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định như
+ Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
Từ đó chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm được cấu thành từ rất nhiều các nhân tố và các nhân tố này đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, chúng ta có thể thấy rõ hơn qua chuỗi giá trị (The value chain)
1.1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới CLSP
a Nhóm nhân tố bên trong
Lực lượng lao động
Lực lượng lao động của một doanh nghiệp là nhân tố ảnh hưởng có tính quyết
Trang 14+ Trình độ chuyên môn và ý thức kỷ luật, tinh thần lao động hiệp tác của đội ngũ lao động tác động trực tiếp đến khả năng có thể tự mình sáng tạo ra sản phẩm, kỹ thuật công nghệ với chất lượng ngày càng tốt hơn không?
+ Có thể làm chủ được công nghệ ngoại nhập để sản xuất ra sản phẩm với chất lượng mà kỹ thuật công nghệ quy định hay không?
+ Có khả năng ổn định và nâng cao dần chất lượng sản phẩm với chi phí kinh doanh chấp nhận được hay không?
Khả năng về kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ quy định giới hạn tối đa của chất lượng sản phẩm: kỹ thuật công nghệ nào thì sẽ cho chất lượng sản phẩm tương ứng Chất lượng và tính đồng bộ của máy móc thiết bị sản xuất ảnh hưởng đến tính ổn định của chất lượng sản phẩm do máy móc thiết bị đó sản xuất ra
Nguyên vật liệu và hệ thống tổ chức nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là nhân tố trực tiếp cấu thành sản phẩm, tính chất của nguyên vật liệu quyết định trực tiếp đến tính chất của sản phẩm Nên chú ý rằng không phải là từng loại mà là tính đồng bộ về chất lượng của các nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm đều tác động đến tiêu thức chất lượng sản phẩm Ngày nay, việc nghiên cứu, phát hiện và chế tạo các nguyên vật liệu mới ở từng doanh nghiệp dẫn đến những thay đổi quan trọng về chất lượng sản phẩm
Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất
Đây là nhân tố tác động trực tiếp, liên tục đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Có thể nói dù có đầy đủ các nhân tố trên nhưng nhà quản lý, đặc biệt là quản lý sản xuất không tốt sẽ dẫn đến làm giảm hiệu lực của cả ba nhân tố đã nêu trên, làm gián đoạn sản xuất, giảm chất lượng nguyên vật liệu và làm giảm thấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Cũng vì có vai trò như vậy nên tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế đã tập hợp, tổng kết và tiêu chuẩn hoá, định hướng những thành tựu và kinh nghiệm quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp thành bộ ISO 9000 ISO 9000 là bộ các tiêu chuẩn về chất lượng của thế giới trong thập niên cuối thế kỷ 20 với tư tưởng nhất quán là chất lượng sản phẩm do chất lượng quản lý quy định
Trang 15Trong thực tiễn quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp nhiều chuyên gia về quản lý chất lượng cho rằng 80% các vấn đề về chất lượng do khâu quản lý gây ra.
b Nhóm nhân tố bên ngoài
Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu và cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lý chất lượng vì
nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thức chất lượng cụ thể
Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt
và mang tính "quốc tế hoá" Chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng quy định lợi thế cạnh tranh, trình độ chất lượng sản phẩm cũng được "quốc tế hoá" và ngày càng phát triển Nếu doanh nghiệp không nghiên cứu kỹ và tính toán nhân tố này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị bất lợi về chất lượng và do đó giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Cơ chế quản lý kinh tế
Đây là một nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phạm trù chất lượng sản phẩm Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quy định tính thống nhất của chất lượng sản phẩm Trong điều kiện đó, chất lượng sản phẩm hầu như chỉ phản ánh đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của sản xuất mà không chú ý đến cầu và nhu cầu của người tiêu dùng Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cạnh tranh là nền tảng, chất lượng sản phẩm không còn là phạm trù của riêng nhà sản xuất mà là phạm trù phản ánh cầu của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm không phải là phạm trù bất biến mà thay đổi theo những nhóm người tiêu dùng và thời gian
Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô
Trong cơ chế kinh tế thị trường hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước trước hết là hoạt động xác lập các cơ chế pháp lý cần thiết vế chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm Pháp lệnh chất lượng hàng hoá quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến cơ quan
Trang 16quản lý chất lượng ban hành và áp dụng tiêu chuẩn, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và quyền của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm.
1.1.2 Đặc điểm của CLSP
1.1.2.1 CLSP là một phạm trù kinh tế xã hội
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội, công nghệ tổng hợp luôn thay đổi theo thời gian và không gian phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng thời kỳ
1.1.2.2 CLSP là một chỉ tiêu có thể đo lường
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt bên trong của bản thân sản phẩm đó Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó Mỗi tính chất được biểu thị các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường đánh giá được Vì vậy nói đến chất lượng phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể Đặc điểm này khẳng định những sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không thể
đo lường, đánh giá được
1.1.2.3 CLSP mang tính dân tộc
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau Mỗi sản phẩm có thể được xem là tốt ở nơi này nhưng lại được coi là không tốt ở nơi khác Trong kinh doanh không thể có một chất lượng như nhau ở tất cả các vùng mà phải cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án về chất lượng cho phù hợp Chất lượng chính là sự phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của khách hàng Chất lượng biểu thị
ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách quan và chủ quan hay nói cách khác còn gọi là hai loại chất lượng: Chất lượng trong tuân thủ thiết kế và Chất lượng trong sự phù hợp
1.1.3 Các loại CLSP
Trang 17Để hiểu đầy đủ và có những biện pháp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượng sản phẩm Theo hệ thống chất lượng ISO_9000 người ta phân các loại chất lượng sau:
- Chất lượng thiết kế: là giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo ra trên cơ
sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng Đồng thời có so sánh với các hàng tương tự của nhiều nước Chất lượng thiết kế được hình thành ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành chất lượng sản phẩm
- Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm được thừa nhận, phê chuẩn trong quản lý chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là nội dung tiêu chuẩn một loại hàng hoá Chất lượng tiêu chuẩn có ý nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hiên nghiêm chỉnh trong quá trình quản lý chất lượng
- Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu dùng
- Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế với chất lượng tiêu chuẩn Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân Khi chất lượng thực tế của sản phẩm vượt quá dung sai cho phép thì hàng hoá sẽ trở thành hàng hoá phế phẩm
- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị trường trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất Thường người ta phải giải quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp mà chất lượng vẫn đảm bảo có như vậy doanh nghiệp mới có lợi thế cạnh tranh và tăng được sức cạnh tranh
1.1.4 Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao CLSP
1.1.4.1 Tầm quan trọng của CLSP
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và nền kinh tế Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với các doanh nghiệp Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối của quy luật kinh tế, trong đó quy luật cạnh
Trang 18tranh chi phối một cách mạnh nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt không gian, thời gian, số lượng, chất lượng
Thế mạnh của kinh tế thị trường là hàng hoá phong phú đa dạng, cạnh tranh gay gắt, người tiêu dùng được các sản phẩm theo nhu cầu, sở thích, khả năng mua của họ Trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định khả năng trên thị trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược Marketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường Từ đó làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu bền của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào
sự phát triển sản xuất có năng suất, chất lượng mà còn được tạo thành bởi sự tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị, lao động trong quá trình sản xuất và không sản xuất ra các phế phẩm Nâng cao chất lượng chính là điều kiện để đạt được sự tiết kiệm đó Nhờ tăng chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế
xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường Như vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm chính là con đường ngắn nhất và tốt nhất đem lại hiệu quả kinh tế
Chất lượng sản phẩm được nâng cao giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình là lợi nhuận Đây đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chất lượng sản phẩm góp phần đẩy mạnh tiến bộ sản xuất, tổ chức lao động trong một doanh nghiệp nói riêng cũng như trên phạm vi quốc gia nói chung Khi doanh nghiệp đã đạt được lợi nhuận thì có điều kiện để bảo đảm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho họ và làm cho họ tin tưởng gắn bó với doanh nghiệp, góp hết công sức để sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng Riêng đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất thì chất lượng sản phẩm tốt sẽ đảm bảo cho việc trang
bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, tăng năng suất lao động Chất lượng sản
Trang 19phẩm không những làm nâng cao uy tín hàng hoá của nước ta trên thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để tăng cường thu nhập ngoại tệ cho đất nước.
1.1.4.2 Sự cần thiết phải nâng cao CLSP
a Do yếu tố cạnh tranh
Hội nhập vào kinh tế thị trường thế giới, nghĩa là chấp nhận sự cạnh tranh, chịu
sự tác động của quy luật cạnh tranh Với chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm của họ phải mang tính cạnh tranh cao nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì việc liên tục hạ giá thành sản phẩm và không ngừng hoàn thiện chất lượng là một trong những mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của mình
b Do yêu cầu của người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quyết định trong việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng Các sản phẩm muốn thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng, được người tiêu dùng tín nhiệm phải phù hợp về kiểu dáng, hiệu suất cao khi sử dụng, giá cả,
sự an toàn, dịch vụ sau khi bán hàng hơn nữa trong buôn bán quốc tế ngày càng được
mở rộng, sản phẩm hàng hoá phải tuân thủ những quy định, luật lệ quốc tế, thống nhất
về yêu cầu chất lượng Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế người tiêu dùng IOCU (International Organization Consumer Union) vào năm 1962, vai trò của người tiêu dùng trở nên quan trọng trong việc toàn cầu hoá thị trường Từ đó cho đến nay nhiều nước đã có luật bảo vệ người tiêu dùng, nhằm đấu tranh cho chất lượng và đảm bảo chất lượng sản phẩm Đặc biệt là bảo đảm thông tin kịp thời, sự kiểm tra nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh môi trường
c Do yêu cầu tiết kiệm
Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô) Kinh nghiệm của Nhật Bản và các con
Trang 20rồng Châu Á đã cho thấy một trong những nguyên nhân thành công của họ là nhờ vào
sự tiết kiệm
Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lý cho phép
hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng, đủ sức cạnh tranh với giá cả sản phẩm trong nước cũng như ngoài nước
d Do đòi hỏi của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất
Thực tế chứng minh rằng ở bất kỳ nền sản xuất nào, dù phát triển đến đâu đi nữa người ta vẫn còn thấy có những vấn đề liên quan đến chất lượng cần phải giải quyết nhằm nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả chung của nền sản xuất xã hội (vấn đề thị trường, nguyên liệu, trao đổi quốc tế, tranh giành ảnh hưởng, vấn đề ô nhiễm môi trường ) Vì vậy, vấn đề chất lượng luôn được xem xét, cân nhắc trong các chương trình phát triển chung của các doanh nghiệp và các quốc gia
1.1.5 Nâng cao sức cạnh tranh và vai trò của CLSP trong việc nâng cao sức cạnh tranh
1.1.5.1 Quan niệm về sức cạnh tranh
Trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam và sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Yêu cầu này đặt ra không chỉ đối với khu vực tham gia vào thị trường thế giới, mà ngay cả đối với khu vực chỉ sản xuất hàng hoá cho thị trường nội địa, vì tính chất giao lưu quốc tế hiện nay không còn thuần tuý ở phạm vi ngoài biên giới
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp Cho đến nay đã có nhiều tác giả đưa các cách hiểu khác nhau về khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, của một nền công nghiệp cũng như của một quốc gia:
- Fafchamps cho rằng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường
- Randall lại cho rằng, khả năng cạnh tranh là khả năng dành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định
Trang 21- Một quan niệm khác cho rằng khả năng cạnh tranh là trình độ của công nghiệp
có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường, đồng thời duy trì được mức thu nhập thực tế của mình
Có thể thấy rằng các quan niệm nêu trên xuất phát từ các góc độ khác nhau, nhưng đều có liên quan đến hai khía cạnh: Chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận Tóm lại, khả năng cạnh tranh có thể hiểu là năng lực nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy khả năng cạnh tranh được nâng cao Quan niệm này có thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp, một nền công nghiệp cũng như đối với một quốc gia trong cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới hay khu vực
1.1.5.2 Các biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh
- Nâng cao chất lượng sản phẩm
- Đa dạng hoá sản phẩm
- Đẩy mạnh tiếp thị, mở rộng thị trường
- Cải tiến phương thức phục vụ khách hàng
- Đổi mới hệ thống quản lý trong các doanh nghiệp
- Kiên quyết tiết kiệm
- Đẩy mạnh tích tụ và tập trung vốn trong các doanh nghiệp
1.1.5.3 Vai trò của CLSP trong việc nâng cao sức cạnh tranh
Có thể nói chất lượng sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Nó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì chất lượng chính là một nhân tố chính, cơ bản giúp cho các doanh nghiệp tăng được sức cạnh tranh của mình, tạo được lợi thế cạnh tranh và khác biệt hoá sản phẩm nhờ chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ Cùng với sự phát triển cao trong ngành kỹ thuật hiện đại, những yêu cầu chất lượng đã trở nên đồng bộ hơn và cao hơn
Trang 22Vì thế để nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp phải tập trung vào các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh như đã trình bày ở trên và đặc biệt tập trung vào nâng cao chất lượng sản phẩm vì đây là yếu tố quan trọng hàng đầu.
1.1.6 Quá trình hình thành và phát triển của khoa học QLCL
1.1.6.1 Khái niệm QL CLSP hiện đại
Cũng như các khái niệm về chất lượng sản phẩm, hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý (quản trị) chất lượng, nhưng tuy vậy những định nghĩa này
có nhiều điểm tương đồng và phản ánh được bản chất của quản lý chất lượng hiện đại
Theo quan điểm của người Nhật: Quản lý chất lượng là hệ thống các biện pháp công nghệ sản xuất tạo điều kiện cho những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng với chi phí thấp nhất
Quan điểm Phương tây cho rằng: Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất, có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong những tổ chức trên một đơn
vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các thông số chất lượng, duy trì chất lượng đã đạt được và nâng cao mức chất lượng thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của người tiêu dùng
Một quan niệm khác do tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO đưa ra khá toàn diện và được chấp nhận rộng rãi hiện nay: "Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng bằng những phương tiện như: lập kế hoạch điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng"
1.1.6.2 Quá trình hình thành và phát triển của QLCL
Quản lý chất lượng được phát triển và hoàn thiện liên tục thể hiện ngày càng đầy
đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường kinh doanh mới Chúng ta có thể tóm tắt các giai đoạn của quản trị chất lượng như sau:
Trang 23Kiểm tra sản xuất
Kiểm soát chất lượng
Đảm bảo chất lượng
Quản lý chất lượng
Quản trị chất lượng toàn diện (TQM)Vào những năm đầu thế kỷ 20, chưa có khái niệm quản lý chất lượng toàn diện
mà chỉ có khái niệm kiểm tra chất lượng Toàn bộ hoạt động quản lý chất lượng được
bó hẹp trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát sản phẩm trong quá trình sản xuất của các phân xưởng Sự phát triển của thị trường cùng với việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, hàng hoá, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không ngừng tăng lên
Chuyển sang những năm 1950 cung hàng hoá bắt đầu vượt cầu hàng hoá trên thị trường Do đó, các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn, khái niệm quản lý chất lượng bắt đầu hình thành và xuất hiện Phạm vi, nội dung và chức năng của quản lý chất lượng được mở rộng hơn, nhưng vẫn chỉ tập trung vào giai đoạn sản xuất sản phẩm là chủ yếu
Vào những năm của thập kỷ 70, sự cạnh tranh đã tăng lên đột ngột làm các doanh nghiệp phải nhìn nhận lại và thay đổi về quản lý chất lượng Để thoả mãn khách hàng các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất mà đã quan tâm đến chất lượng sản phẩm ngay cả sau khi sản phẩm đã bán ra thị trường Quản lý chất lượng đã mở rộng ra tới tất cả các lĩnh vực từ sản xuất đến tiêu dùng trong toàn bộ đời sống của sản phẩm
Trang 24A P
(Ation) (plan)
C D
(Check) (Do)
1.1.7 Vai trò của quản lý chất lượng sản phẩm
Sơ đồ 1.1: Vòng tròn Deming (vòng tròn PDCA)
Quản trị chất lượng được thực hiện một cách liên tục thông qua triển khai vòng tròn quản lý hay còn gọi là bánh xe Deming (vòng tròn PDCA) Dưới góc độ quản trị vòng tròn PDCA là trình tự cần thiết khi thực hiện bất cứ một công việc nào như tổ chức một buổi họp, đi dự một hội thảo, sắp xếp nhân sự trong phòng lớn hơn như xây dựng chính sách chất lượng trong doanh nghiệp
* Hoạch định chất lượng
Đây là giai đoạn đầu tiên của quản trị chất lượng Hoạch định chất lượng chính xác, đầy đủ sẽ giúp định hướng tốt các hoạt động tiếp theo bởi vì tất cả chúng đều phụ thuộc vào kế hoạch Nếu kế hoạch ban đầu được xây dựng tốt thì sẽ có ít các hoạt động cần điều chỉnh và các hoạt động sẽ được điều khiển một cách có hiệu quả hơn Hoạch định chất lượng được coi là chức năng quan trọng nhất cần ưu tiên hàng đầu hiện nay
* Tổ chức thực hiện.
Sau khi hoàn thành chức năng hoạch định thì chuyển sang tổ chức thực hiện chiến lược đã hoạch định Thực chất quá trình này là quá trình điều khiển các hoạt động thông qua kỹ thuật, phương tiện, phương pháp cụ thể nhằm bảo đảm chất lượng sản
Trang 25phẩm theo đúng yêu cầu kế hoạch đề ra Tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đến việc biến các kế hoạch chất lượng thành hiện thực.
* Kiểm tra
Để đảm bảo đúng mục tiêu chất lượng dự kiến được thực hiện theo đúng yêu cầu kế hoạch đặt ra trong quá trình tổ chức thực hiện cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, kiểm soát chất lượng Kiểm tra chất lượng là hoạt động theo dõi phát hiện và đánh giá những trục trặc của hệ thống và khuyết tật của sản phẩm và dịch vụ được tiến hành trong mọi khâu xuyên suốt đời sống của sản phẩm Mục đích kiểm tra không phải là tập trung vào phát hiện các sản phẩm hỏng, loại sản phẩm xấu ra khỏi tốt mà là những trục trặc khuyết tật ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi quá trình nhằm tìm kiếm những nguyên nhân gây ra khuyết tật để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời
* Hoạt động điều chỉnh và cải tiến
Hoạt động điều chỉnh nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống doanh nghiệp
có khả năng thực hiện được những tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là hoạt động đưa chất lượng sản phẩm thích ứng với tình hình mới, nhằm giảm dần khoảng cách mong muốn của khách hàng với thực tế chất lượng đạt được để thoả mãn nhu cầu của khách hàng ở mức độ cao hơn
1.1.8 Mô hình & Giả thiết nghiên cứu
1.1.8.1 Mô hình nghiên cứu
Đề tài đã dựa trên cơ sở lý thuyết để thiết lập mô hình nghiên cứu chung về các thuộc tính chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm Đồng thời có sửa chữa bổ sung cho phù hợp với đối tượng điều tra và phù hợp với mô hình các chỉ tiêu mà doanh nghiệp đưa ra
Trang 26Sơ đồ 1.2: Mô hình nghiên cứu ban đầu
1.1.8.2 Giả thuyết nghiên cứu dựa trên mô hình
H1: Tính kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H2: Tính thẩm mỹ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H3: Tuổi thọ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H4: Độ tin cậy ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H5: Độ an toàn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H6: Chỉ tiêu sinh thái ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H7: Tính tiện dụng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
H8: Chỉ tiêu công nghệ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Trang 27H9: Tính kinh tế ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Trang 281.2 Chất Lượng Sản Phẩm Nhựa Bao Bì
1.2.1 Một số thông tin về nhựa bao bì
Trong sinh hoạt hàng ngày, loại nhựa thường gặp nhất là PE (polyethylene) Đi vào một số cửa hàng bán tạp hoá hay đồ nhựa, chúng ta dễ dàng bắt gặp nhiều loại túi hình chữ nhật trong suốt không màu hay túi đựng có nhiều màu khác nhau mà theo thói quen không biết từ khi nào gọi nhầm là túi nilon (nilon là một loại polyamid có cấu tạo hoá học và tính chất hoàn toàn khác)
Những chai đựng sữa, nước ngọt và một số thực phẩm lỏng khác thường làm bằng nhựa PE tỷ trọng cao, được gọi tắt là HDPE (high density polyethylene) hay PVC (polyvinyl chloride) loại chuyên dùng cho thực phẩm Tuy nhiên, việc sản xuất ra HDPE cũng sử dụng tới các hoá chất độc hại như hexane và benzne
Một loại nhựa khác gần với PE là PP (polypropylene) Do PP có tính chất cơ học cao hơn PE nên được kéo sợi và dệt thành các loại bao bì đựng gạo, đường, ngô, đậu nành, bao xi măng… Tùy theo yêu cầu, phía trong bao bì còn một lớp màng chống ẩm
Chai đựng nước tinh khiết … có dung tích 0,3; 0,5 và 1,0 lít thường thấy trên bàn tiếp khách của cơ quan, bàn ăn của nhà hàng, gia đình, mang theo đi công tác hay du lịch, chủ yếu làm bằng nhựa PET (polyethyleneterephtalat) Loại nhựa này có độ bền cơ học tốt nên hầu như không bị nứt, vỡ khi vận chuyển Những loại chai lớn hơn có dung tích 5 lít, 20 lít cũng làm bằng loại nhựa này
Tất cả những loại chất dẻo nêu trên như PE, HDPT, PVC, PET đều thuộc họ nhựa nhiệt nghĩa là khi tăng nhiệt độ thì mềm ra rồi chảy nhớt và khi làm nguội lại trở
về trạng thái rắn ban đầu Vì tất cả chúng sử dụng cho mục đích thông thường nên còn gọi là nhựa nhiệt dẻo thông dụng (commodity thermoplastics)
Với những kiến thức trên, ta có thể nhận biết được những sản phẩm nhựa dùng hàng ngày đi từ gốc nhựa nào Tuy nhiên, để chắc chắn hơn, có thể làm một thí nghiệm đơn giản là đốt Nhựa PE, HDPE, PP đều thuộc một họ có cấu tạo hoá học gần như nhau, nếu có khối lượng phân tử thấp thì tương tự như parafin (sáp) Do vậy, nếu châm bật lửa đốt, không có mùi khét thì đấy là PE, HDPE hay PP Nhựa PET cháy với ngọn lửa có khói đen và có mùi khét Còn nhựa PVC không cháy thành ngọn lửa
Trang 29Xem xét vấn đề độc hại của chất dẻo khi sử dụng có thể nói rằng, tất cả những chất dẻo dùng làm bao bì chứa thực phẩm lỏng với các thương hiệu nổi tiếng trong nước hay nước ngoài thì đều an toàn vì các nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định pháp lý về chất lượng bao bì nhựa.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới CL nhựa bao bì
Nhân tố chính trị, luật pháp
Sự ổn định của hệ thống chính trị, luật pháp, chính sách của một quốc gia có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định và khả năng phát triển của các ngành kinh tế nói chung Ngành Nhựa Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó Trong Quyết định số 11/2004/QĐ-BCN ngày 17/2/2004 về Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nhựa Việt Nam đến năm 2010, Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên phát triển ngành Nhựa thành ngành kinh tế mạnh Tiếp theo, trong Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê duyệt danh mục 10 ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn giai đoạn 2007- 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển, ngành Nhựa cũng nằm trong danh sách các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển Tuy nhiên, hiện nay ngành Nhựa vẫn còn thiếu quy định của Nhà nước về việc nhập khẩu phế liệu sản xuất để tái sinh nhằm hạ giá thành đầu vào cho ngành Nhựa Điều này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chủ động nguyên liệu đầu vào và giảm chi phí
Nhân tố kinh tế
Đặc điểm nổi bật của ngành Nhựa Việt Nam là phải nhập khẩu đến 80 – 90% nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm Do đó, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nếu tỷ giá tăng lên thì chi phí đầu vào của doanh nghiệp cũng sẽ tăng theo, trong khi giá bán sản phẩm lại không thể điều chỉnh tăng tương ứng
Bên cạnh đó, các loại nguyên liệu đầu vào của ngành Nhựa được tạo ra chủ yếu
từ dầu mỏ, nên giá dầu mỏ cũng là yếu tố chính có ảnh hưởng quyết định đến giá của các loại nguyên liệu nhựa Một nhân tố kinh tế nữa cũng có ảnh hưởng đến ngành nhựa
là lãi suất Để thực hiện sản xuất, ngoài vốn tự có và vốn huy động qua các hình thức phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhựa nói riêng đều phải sử dụng đến nguồn vốn tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên việc vay vốn của ngân hàng không hoàn toàn dễ dàng cho các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp
Trang 30Nhân tố xã hội
Nhựa ngày càng chứng tỏ được vai trò to lớn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các ngành kinh tế Các sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong tiêu dùng hàng ngày cũng như làm nguyên liệu cho các ngành khác Cuộc sống càng phát triển, thu nhập càng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với chất lượng, mẫu mã của sản phẩm nhựa cũng tăng lên, kể cả các sản phẩm cao cấp
Nhân tố công nghệ
Nhân tố công nghệ có một tác động to lớn đến sự phát triển của ngành nhựa Khoa học công nghệ phát triển đã giúp cho nhựa trở thành nguyên liệu thay thế cho các sản phẩm truyền thống như gỗ, kim loại v.v Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại đang góp phần tạo ra những sản phẩm nhựa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ cũng như sự an toàn trong sử dụng cho người tiêu dùng
1.2.3 Triển vọng phát triển của ngành
- Sản phẩm ngành nhựa, bao bì được ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hóa chất So với các ngành công nghiệp khác, ngành nhựa được xem là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh Trong những năm gần đây, ngành nhựa Việt Nam có những bước phát triển nhảy vọt đáng kể Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới
- Xét về nhu cầu và khả năng đáp ứng của ngành nhựa Việt Nam, hiện nay các sản phẩm nội địa mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu về sản phẩm nhựa chất lượng cao nên khá nhiều công ty phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài Chính vì vậy, chiến lược đầu tư cho ngành nhựa luôn được Chính phủ quan tâm và tạo điều kiện phát triển Theo chiến lược phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2010 đã được Chính phủ thông qua từ năm 1995, Hiệp hội Nhựa đã phối hợp với các ngành chức năng hướng dẫn các công ty trong nước và nước ngoài đầu tư theo thứ tự ưu tiên được khuyến khích theo quy hoạch chung đối với các sản phẩm: Nguyên liệu nhựa; Giày nhựa xuất khẩu; Cao su chế biến; Nhựa dân dụng; Nhựa Công nghiệp, kỹ thuật cao; Vật liệu xây dựng; Bao bì nhựa
Trang 31Chương 2 Thực Trạng Và Kết Quả Nghiên Cứu Các Chỉ Tiêu Chất Lượng Nhựa
Nhà máy Nhựa bao bì Việt Phát với tổng vốn đầu tư 15 tỷ đồng Việt Nam do công ty TNHH một thành viên nhựa bao bì Việt Phát mua lại xưởng sản xuất của công
ty xuất nhập khẩu Thái Hòa, và đi vào hoạt động ngay trong tháng 5/2007 Diện tích sử dụng đất của nhà máy là 16302m2 Với công suất 300 triệu vỏ bao/năm
Nhà máy Nhựa bao bì Việt Phát ra đời nhằm cung cấp sản phẩm bao bì cho các đơn vị có nhu cầu về bao bì trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh lân cận như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng,… Hiện nay đã mở rộng xuất khẩu sang nhiều nước châu Âu như Ý, Ai Cập, Bỉ…
2.1.2 Quá trình xây dựng và chiến lược phát triển
2.1.2.1 Vị thế của công ty trong ngành
- Là doanh nghiệp có uy tín trong hoạt động kinh doanh cho nên khả năng tận dụng tốt các chính sách ưu đãi của các tổ chức tín dụng
- Đã có gần 5 năm kinh nghiệm sản xuất kinh doanh bao bì, Việt Phát đã có vị thế trên thương trường, Công ty đã xây dựng được cho mình một thương hiệu và uy tín
về chất lượng là nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai
- Ban lãnh đạo Việt Phát có những bước đầu tư chiến lược hợp lý, đúng thời điểm, có hiểu biết sâu sắc về công nghệ và sự tương quan chiến lược giữa công nghệ và thị trường Đồng thời, các thành viên Ban lãnh đạo tích lũy được nhiều kinh nghiệm
Trang 32trong quá trình quản lý, tổ chức kỹ thuật, hoạch định sản xuất kinh doanh nhiều năm trong ngành; tập thể lãnh đạo, người lao động đoàn kết, gắn bó, cùng chung lợi ích và chí hướng duy trì phát triển Công ty.
2.1.2.2 Chiến lược phát triển của Công ty
Chiến lược về sản phẩm:
- Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Việt Phát phấn đấu trở thành đơn vị mạnh về lĩnh vực sản xuất, cung cấp vỏ bao cho ngành xi măng và nhiều loại bao PP khác nhau trên phạm vi toàn quốc và quốc tế
Chiến lược mở rộng sản xuất kinh doanh:
- Tập trung phát triển các sản phẩm truyền thống mà Công ty có lợi thế
- Đầu tư thiết bị, công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực in ấn, sản xuất bao bì
- Xuất khẩu bao bì nhiều hơn
Chiến lược về tài chính:
- Duy trì cơ cấu tài chính lành mạnh và phù hợp để giảm rủi ro tài chính cho Công ty cũng như đảm bảo đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Dựa vào tình hình tài chính của Công ty, tình hình thị trường để tiếp cận, huy động vốn vay từ ngân hàng thương mại, định hướng tham gia thị trường chứng khoán và phát hành tăng vốn trong thời gian tới
- Công tác kế toán đảm bảo kịp thời, đầy đủ, rõ ràng, đảm bảo tiến độ thu hồi công nợ tốt Trích nộp ngân sách và thanh toán lương thưởng đầy đủ và kịp thời
Chiến lược về nhân lực:
- Xây dựng bộ máy quản lý tinh gọn, hiệu quả
- Tăng cường đào tạo tại chỗ NNL (nguồn nhân lực)
- Thu hút thêm NNL có năng lực từ bên ngoài vào làm việc tại các vị trí chủ chốt
- Có chính sách động viên khuyến khích lực lượng lao động có năng lực, tâm huyết với Công ty
Trang 332.1.3 Xác định đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Phát
Đối thủ cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp là các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa bao bì không chỉ trong nước mà cả các doanh nghiệp ở các nước lân cận Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất Nhựa bao bì trong nước như: Công ty Nhựa bao
bì Tiến Phát; CTCP Nhựa bao bì Vinh; CTCP Bao bì Tân Khánh An; CTCP Bao bì Bút Sơn; Công ty Bao bì VAFACO-SCPC; Công ty Bao bì Kiến Xương Long An…
Nắm bắt được những thông tin về đối thủ cạnh tranh sẽ đảm bảo cho việc Việt Phát có được một chiến lược tốt và một vị trí tốt trên thị trường Nó cũng đồng thời giúp Việt Phát linh hoạt và đáp ứng nhanh với những thay đổi của thị trường Bằng cách biết được các doanh nghiệp khác đang làm gì, Việt Phát có thể chắc chắn được là giá cả của mình có thể cạnh tranh, công việc marketing của mình là hợp lý, và sản phẩm của mình thu hút người mua
Nghiên cứu xem đối thủ cạnh tranh của Việt Phát là ai và hiểu được sự khác nhau giữa cách họ kinh doanh và cách của mình kinh doanh sẽ tạo động lực cho Việt Phát cải tiến liên tục và điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình Sản phẩm của Việt Phát cần phải khác biệt so với các sản phẩm khác thì mới thành công được, và để làm được điều này Việt Phát cần phải lợi dụng những điểm yếu của đối thủ cạnh tranh
2.2 Các Đặc Điểm Kinh Tế, Kỹ Thuật Chủ Yếu Ảnh Hưởng Tới Chất Lượng Nhựa Bao Bì Việt Phát
2.2.1 Tình hình kiểm tra chất lượng sản phẩm
Với phương châm chính sách chất lượng của Công ty là: “Chất lượng ngày càng cao, giá thành ngày càng hợp lý, dịch vụ ngày càng hoàn hảo” Chất lượng và giá bán hợp lý là yếu tố tiên quyết để khách hàng đến với Công ty Khách hàng là người bạn đồng hành cùng với sự phát triển bền vững của Công ty Luôn đáp ứng mọi yêu cầu đã thoả thuận với khách hàng phù hợp với yêu cầu của luật định, kể cả đáp ứng những yêu cầu thay đổi
Trong quá trình sản xuất, với mục tiêu lấy chữ “Tín” làm đầu, coi trọng chất lượng và giá thành sản phẩm là yếu tố tiên quyết để phục vụ khách hàng Vì vậy Công
Trang 34ty luôn chú trọng xây dựng hệ thống quản lý chặt chẽ và linh hoạt; hiện nay Công ty đang định hướng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008.
2.2.2 Các đặc tính kinh tế, kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng tới chất lượng Nhựa Bao Bì tại DN Việt Phát
Chất lượng sản phẩm được Việt Phát đánh giá qua một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể Những chỉ tiêu chất lượng đó chính là các thông số kinh tế - kỹ thuật và các đặc tính riêng có của sản phẩm phản ánh tính hữu ích của nó Những đặc tính này gồm có:
Công tác quản lý chất lượng tại doanh nghiệp Việt Phát được Ban lãnh đạo công
ty thực hiện tốt trong tất cả các khâu ở tất cả các công đoạn Bên cạnh đó việc lập kế hoạch điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng đã được công ty triển khai tương đối chặt chẽ ở tầng bộ phận Mặc dù công ty đã có những hoạt động tốt ở tầng công đoạn trong công tác quản lý chất lượng như vậy và cũng đã đạt được những thành quả đáng kể, nhưng cũng không thể tránh khỏi có sản phẩm sai, hỏng Điều đó chứng tỏ công ty cần quan tâm hơn nữa công tác quản lý chất lượng sản phẩm, mà đặc biệt là bộ phận Ban lãnh đạo trong việc chỉ đạo, hướng dẫn và điều khiển con người, điều khiển máy móc
Trang 35Ngoài ra công tác quản lý chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào sự phù hợp của từng đối tượng khách hàng nên sự điều chỉnh kế hoạch và chuyển hướng hay điều chỉnh thiết bị máy móc đã gây trở lại không nhỏ cho công tác quản lý Đối tượng khách hàng của Việt Phát tương đối đa dạng cả trong và ngoài nước như Ý; Ai Cập; Bỉ…và sự đòi hỏi về từng chỉ tiêu chất lượng sản phẩm khác nhau Giá cả cũng là một yếu tố ảnh hướng đến việc quản lý chất lượng ở Việt Phát Việt Phát là một doanh nghiệp sản xuất mặt hàng xuất khẩu cho một số nước châu Âu và châu Á nên phải đối mặt với các doanh nghiệp cạnh tranh ở nước ngoài như Trung Quốc với thiết bị công nghệ hiện đại và tân tiến hơn, đã đẩy Việt Phát vào thế phải tăng tỷ lệ phụ gia để cân bằng giá cả, mà cũng đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng nằm trong khoảng cho phép Như vậy, công tác quản lý chất lượng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định, đưa ra các chiến lược để cạnh tranh cả trong và ngoài nước.
Theo bảng 2.1 thì ta thấy tỷ lệ phần trăm sai hỏng trong năm vừa qua (2011) ở công ty Việt Phát là 0,2% Theo nguồn số liệu của công ty thì tỷ lệ phần trăm sai hỏng qua các năm là đã có sự thay đổi đáng kể và chuyển hướng tích cực Năm 2009 là 0,4%, đến năm 2010 thì giảm chỉ còn 0,35%, mà đáng kể hơn là tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 0,2% vào năm 2011 Điều đó cũng dễ hiểu vì nâng cao chất lượng sản phẩm là một chiến lược đang được đại đa số các doanh nghiệp hướng đến Giảm tỷ lệ sai hỏng là một mục tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược đó Nhưng cũng không dễ gì để thực hiện điều đó và có con số giảm tích cực như Việt Phát Sau hai năm (từ 2009-2011) đã giảm
tỷ lệ phần trăm sai hỏng xuống một nửa Đó là một con số đáng khích lệ để Việt Phát trên đà tiếp bước cho các năm tiếp theo Dự kiến về tỷ lệ phần trăm sai hỏng mà công ty đưa ra vào năm 2012 là 0,1% Tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại thì tỷ lệ phần trăm sai hỏng đó ở doanh nghiệp Việt Phát so với các đối thủ cạnh tranh vẫn chưa thể nói là vượt trội hơn hẵn như: CTCP Bao bì Vinh 0,25%; CTCP Tân Khánh An 0,3% và CTCP Bao
bì Bút Sơn 0,17% Như vậy Việt Phát cần nỗ lực hơn nữa trong việc giảm tỷ lệ phần trăm sai hỏng xuống ở mức thấp nhất có thể là 0,17%, tương đương bằng tỷ lệ sai hỏng của CTCP Bao bì Bút Sơn Theo dự kiến của công ty là 0,1% vào năm tiếp theo là một chiều hướng cực kỳ tốt Đó là những thông tin được khách hàng đánh giá mà công ty Việt Phát cung cấp
Trang 36Bảng 2.1: Tổng hợp tỷ lệ phế phẩm và tỷ lệ phần trăm sai hỏng qua các năm
Tên công ty Tỷ lệ phế phẩm Tỷ lệ % sai hỏng
2009 2010 2011 2009 2010 2011Công ty TNHH nhựa bao bì Việt Phát 10% 7% 6% 0,4% 0,35% 0,2%
(Nguồn: Ban lãnh đạo công ty cấp)Bên cạnh đó thì tỷ lệ phế phẩm cũng giảm tương đối nhiều qua các năm từ 2009-
2011 Cụ thể là năm 2009 ở mức 10%, năm 2010 là 7% và 6% vào năm 2011 Số lượng khách hàng ngày càng tăng, số lượng sản phẩm được công ty sản xuất ra qua các năm ngày càng nhiều Công suất sử dụng con người và máy móc tương đối cao, mà tỷ lệ phế phẩm giảm từ 10% xuống còn 6% như vậy là có thể chấp nhận được Công ty cần phát huy hơn để đạt tỷ lệ thấp nhất có thể Đó là cơ sở để giảm chi phí, cân bằng giá cả và tăng khả năng cạnh tranh
2.4 Phân Tích Thực Trạng CL Nhựa Bao Bì Việt Phát
2.4.1 Quy trình về kiểm tra chất lượng nhựa bao bì Việt Phát
Trang 37Trách nhiệm Tiến trình Mô tả công việc/
Tài liệu -KCS/ Tr.ka
-KCS/Tr.ka /
Phụ trách vỏ bao xi
măng
Lồng ống, in, cắt (Polytex)
-KCS/Tr.ka
-Thủ kho
- BGĐ
Xuất kho BM-12A-08-SX
(Nguồn: Ban lãnh đạo công ty cấp)
Sơ đồ 2.1: Quy trình kiểm tra chất lượng bao xi măng
Chú thích:
5.1 Kiểm tra chất lượng hạt PP và hạt phụ gia (KTr1)
KTr1
KTr
7,9
KTr6
KTr5
KTr4
KTr3
KTr2
KTr
Trang 385.2 Kiểm tra chất lượng sợi (KTr2)
5.3 Kiểm tra chất lượng vải dệt (KTr3)
5.4 Kiểm tra chất lượng mành và cuộn vải tráng màng (KTr4)
5.5 Kiểm tra chất lượng ống bao (công đoạn Polytex) (KTr5)
5.6 Kiểm tra chất lượng van, may, in giáp lai, ép kiện (KTr6, KTr7)
5.7 Thành phẩm lưu kho/lưu bãi (Ktr8)
Kết quả kiểm tra chất lượng sợi & nguyên liệu (BM-12A-01-SX)
Kết quả kiểm tra chất lượng vải dệt (BM-12A-02-SX)
Kết quả kiểm tra chất lượng mành tráng (BM-12A-03-SX)
Kết quả kiểm tra chất lượng ống bao (BM-12A-04-SX)
Kết quả kiểm tra chất lượng van-may-ép hoàn thiện (BM-12A-05-SX)
Kết quả đo sợi (BM-12A-06-SX)
Kết quả đo vải tráng (BM-12A-07-SX)
Tiêu chuẩn chất lượng nội (TCCL-12A-SX)
Kết quả kiểm tra thành phẩm xuất kho (BM-12A-08-SX)
Từ sơ đồ 2.1 cho biết quá trình kiểm tra chất lượng bao xi măng tại doanh nghiệp Việt Phát Mỗi tiến trình sẽ có mỗi người phụ trách (trưởng ka) tiến hành kiểm tra, chủ yếu là ở bộ phận KCS Đồng thời ở các khâu kiểm tra cuối thì có thủ kho và BGĐ cùng tiến hành kiểm tra trước khi nhập kho để xuất kho Ở mỗi giai đoạn công việc nếu có sự sai sót thì người quản lý hay người kiểm tra ở khâu đó sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm Bên cạnh đó, qua quy trình thì ta cũng thấy ở mỗi công việc thì có tương ứng một khâu kiểm tra nên nó cũng mang lại hai mặt ưu và nhược điểm tương ứng
* Ưu điểm
Trang 39+ Quy trình kiểm tra càng chặt chẽ thì khả năng sửa chữa và giảm thiệt hại về chi phí càng cao.
+ Giúp cho công nhân làm việc ở các bộ phận đó được an tâm và đẩy nhanh tiến
độ công việc hơn
+ Nâng cao năng suất sử dụng máy móc thiết bị và tăng số lượng SP hoàn chỉnh.+ Đảm bảo đúng tiến độ và đúng quy trình sản xuất
Trang 402.4.3 Đánh giá chung về CL nhựa bao bì Việt Phát
2.4.3.1 Những kết quả đã đạt được
Nhìn chung thì những kết quả về chất lượng sản phẩm tại công ty Nhựa bao bì Việt phát được các tổ chức kiểm định chất lượng uy tín chứng nhận và cấp chứng chỉ thì vấn còn hạn chế và khiêm tốn Tuy chưa được các tổ chức kiểm định chất lượng uy tín cấp chứng nhận cũng như những chứng chỉ chất lượng, nhưng công ty lại được sự tín nhiệm rất cao của khách hàng và xã hội Bằng chứng là sự tăng lên và sự trung thành về
số lượng khách hàng cả trong và ngoài nước của công ty trong mấy năm gần đây là tương đối tốt Số lượng sản phẩm được các khách hàng là các tổ chức sản xuất trong và ngoài nước đặt hàng tại doanh nghiệp Việt Phát ngày càng tăng cao Bên cạnh đó công
ty cũng đang phát triển hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp của mình với các khách hàng thông qua việc nỗ lực hết mình để nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo cân bằng giá cả thị trường Đồng thời công ty định hướng nghiên cứu và áp dụng hệ thống kiểm tra chất lượng ISO 9001:2008
Bao PP
Vỏ BXM
Bao PP
Vỏ BXM
Bao PP
Vỏ BXM
Bao PP
Vỏ BXM
SLSP 600
tấn
144 triệu
600 tấn
168 triệu
600 tấn
216 triệu 100% 116,67% 100% 128,57%
Chứng
chỉ Chưa có Chưa có
ISO 9001:2008
(Nguồn: Ban lãnh đạo công ty cấp)Nhìn vào bảng 2.2 sẽ cho ta thấy rõ hơn về sự tăng lên đó Đối với Bao PP thì không có sự tăng lên qua các năm, mà chỉ ổn định ở một mức đặt hàng cố định và với số lượng khách hàng tương ứng đồng đều từ 2009-2011 Nhưng đối với Bao xi măng thì có
sự tăng lên về cả số lượng khách hàng và số lượng sản phẩm Cụ thể là năm 2010 so với năm 2009 thì số lượng sản phẩm tăng 16,67% tương ứng là tăng 24 triệu vỏ Bao xi măng, số lượng khách hàng thì vẫn giữ nguyên Năm 2011 so với năm 2010 thì số lượng