Khóa luận, chuyên đề, đề tài, luận văn, báo cáo
Trang 1Đặc biệt cho em gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sỹ Hoàng Thị Diệu Thúy
đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp
Bên cạnh đó, em cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc công ty TNHH Bia Huế và riêng các anh, chị trong phòng Marketing- Tiếp thị đã giúp đỡ trong thời gian thực tập tại công ty.
Ngoài ra em cũng cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo những điệu kiện tốt nhất, động viên trong thời gian qua, giúp em hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa em xin chân thânh cảm ơn!
Huế, ngày 15/5/2012
Sinh viên thực hiện
Lang Thanh Quý
MỤC LỤC
Trang 2PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thương hiệu 4
1.1.1 Khái niệm thương hiệu 4
1.1.2 Khái niệm thương hiệu cá biệt 4
1.1.3 Cấu tạo của thương hiệu 4
1.1.4 Thành phần của thương hiệu 4
1.1.5 Các chức năng của thương hiệu 4
1.1.5.1 Chức năng nhận biết và phân biệt 4
1.1.5.2 Chức năng thông tin và chỉ dẫn 4
1.1.5.3 Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy 4
1.1.5.4 Chức năng kinh tế 4
1.2.1 Vai trò đối với người tiêu dùng4
1.2.2 Vai trò đối với doanh nghiệp 4
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT THƯƠNG HIỆU HUDA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH 4
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 4
Trang 32.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ 4
2.1.2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty 4 2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban Tổng công ty 4
2.1.3 Giới thiệu chung về sản phẩm bia Huda 4
2.1.3.1 Đặc điểm sản phẩm Huda 4 2.1.3.2 Hệ thống phân phối của bia Huda tại thị trường Vinh 4 2.1.3.3 Các hoạt động cộng đồng của công ty Bia Huế 4
2.1.4 Đặc điểm nguồn nhân lực của công ty TNHH Bia Huế 4
2.1.5 Tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty TNHH Bia Huế 4
2.1.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Bia Huế giai đoạn 2009-2011 4
2.2 Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu bia Huda tại thị trường Vinh- Nghệ An
42.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 4
2.2.2 Mức độ quan trọng của các yếu tố khi lựa chọn bia 4
2.2.3 Địa điểm khách hàng thường sử dụng bia Huda 4
2.2.4 Loại bia khách hàng nghĩ đến đầu tiên tại thị trường Vinh 4
2.2.5 Kiểm định mối quan hệ nhãn hiệu bia được khách hàng nhớ đến đầu tiên và thu nhập của khách hàng sử dụng bia 4
2.2.6 Mức độ nhận biết thương hiệu bia Huda 4
2.2.7 Kênh thông tin giúp khách hàng nhận biết tới thương hiệu Huda 4
2.2.8 Đánh giá của khách hàng về tên gọi “Huda” 4
2.2.9 Đánh giá của khách hàng về Logo của sản phẩm bia Huda 4
2.2.10 Đánh giá của khách hàng đối với mẫu mã chai bia Huda 4
2.2.11 Đánh giá của khách hàng về các chương trình hỗ trợ bán hàng của công ty TNHH bia huế đối với sản phẩm Huda 4
2.2.12 Kiểm định sự đánh giá của khách hàng về mức độ yêu thích thương hiệu Huda 4
2.2.13 Lựa chọn của khách hàng khi các loại bia cùng mức giá 4
Trang 42.2.14 Kiểm định mối quan hệ giữa chỉ tiêu thu nhập trung bình và lựa chọn của khách hàng khi các loại bia có cùng mức giá 4
2.2.15 Ý kiến đánh giá của khách hàng về biện pháp giúp thương hiệu Huda được nhận biết dễ dàng 4
2.2.16 Tiêu chí khách hàng lựa chọn để giới thiệu bia Huda 4
2.2.17 Kiểm định ANOVA giữa 2 tiêu chí thu nhập trung bình và mức độ quan trọng của kiểu dáng chai khi lựa chọn bia 4
2.2.18 Kiểm định ANOVA giữa hai tiêu chí độ tuổi khách hàng và mức độ quan trọng của yếu tố có khuyến mãi hấp dẫn 4
3.1 Định hướng 4 3.2 Một số giải pháp tăng cường sự nhận biết thương hiệu Huda tại thị
PHẦN III - KẾT LUẬN 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO4
Trang 5PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Thương hiệu là dấu hiệu để người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa và dịch vụ củadoanh nghiệp trong muôn vàn các hàng hóa cùng loại khác Thương hiệu góp phầnduy trì và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại và
chống cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp (Bùi Hữu Đạo, 2005)
Hình ảnh thương hiệu như là một “con tem cầu chứng” cho sản phẩm khi thâmnhập vào thị trường thế giới Giữa muôn vàn thông tin đang chờ nuốt chửng người tiêudùng, thương hiệu mang lại cho người yêu dùng sự an tâm, một thước đo, một tiêu
chuẩn để ra quyết định (Đoàn Đình Hoàng, 2004)
Theo Tiến sĩ Bùi Hữu Đạo (1993), "Thương hiệu là một trong các nhân tố quantrọng góp phần duy trì, mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước cho cácdoanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lànhmạnh Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, các doanh nghiệp đứngtrước việc cạnh tranh gay gắt, nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhậpvào thị trường Việt Nam Vì vậy, điều hết sức cần thiết là các doanh nghiệp phải xâydựng thương hiệu cho hàng hóa của mình"
Trước xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt
là Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan xuống còn mức 0-5% thì vấn đề cạnh tranhđang đặt ra một thách thức to lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ ở thịtrường quốc tế mà cả thị trường trong nước Chính vì vậy, để có thể thâm nhập vàđứng vững trên thị trường, song hành cùng chiến lược cạnh tranh và phát triển bềnvững, mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là người chủ thương hiệu, cần phải có tư duy đúng
Trang 6về thương hiệu để từ đó đầu tư xây dựng, bảo vệ và phát triển nó phù hợp với chiếnlược kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập.
Hiện nay thị trường bia Việt Nam có nhiều công ty tham gia vào sản xuất loạithức uống này với rất nhiều sản phẩm bia khác nhau, cả sản xuất trong nước và nhậpkhẩu từ nước ngoài Trong nước, nhiều doanh nghiệp xuất hiện từ rất sớm tham giavào lĩnh vực này đã có được thị trường rộng lớn, tạo uy tín trong tâm trí người tiêudùng như: tổng công ty Rượu- Bia- NGK Hà Nội (Habeco) thành lập 1890 hiện naychiếm giữ 13.9% thị phần bia toàn quốc, tổng công ty Rượu- Bia- NGK Sài Gòn(Sabeco) chiếm 51,40%, Công ty TNHH Nhà Máy Bia Việt Nam (VBL) chiếm
29,70% (Số liệu điều tra của Sabeco, 2010).
Tốc độ phát triển của thị trường này luôn tiếp tục dẫn đầu với mức tăngtrưởng cao, Với mức tiêu thụ 2,7 tỷ lít bia trong năm 2010 cộng với mức tăng trưởng15%/năm, thị trường bia Việt Nam được xếp thứ ba tại châu Á về sản lượng tiêu thụ
(Hồng Nga & Bích Loan, 2011) Ngoài các thương hiệu bia nội địa thì cũng không
thiếu các nhãn hiệu bia nước ngoài xuất hiện, được nhiều người tiêu dùng ưu chuộng
và cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm trong nước Các loại bia như Corona,Budweiser, Bit Burger, Leffe Brown, Hoegaarden White, MOA, Cooper, Bavaria xuất xứ Mexico, Đức, Bỉ, Hà Lan đã trở nên quen thuộc với nhiều người, cho dùgiá các loại bia này cao gấp 2-3 lần so với bia sản xuất trong nước
Công ty TNHH bia Huế ra đời sau nhưng có sự phát triển vượt bậc trong thờigian qua Năm 1990, Nhà máy Bia Huế được thành lập Từ sản lượng 3 triệu lít/nămban đầu, đến năm 2009 bia Huế đã tăng sản lượng lên 170 triệu lít/năm; theo kếhoạch, năm 2012 sẽ là 220 triệu lít/năm, với sản phẩm truyền thống là bia Huda vàFestival Mặc dù có sự phát triển lớn mạnh về sản lượng nhưng thị trường tiêu thụchủ yếu vẫn là một số tỉnh Miền Trung và cũng không ổn định, việc mở rộng ra thịtrường khác vẫn là một câu hỏi khó cho các nhà quản lý của công ty
Tại khu vực bắc Miền Trung thương hiệu lâu đời Huda của Bia Huế không chỉchiếm vị trí số 1 tại thị trường Thừa Thiên - Huế (98%) mà còn dẫn đầu của khu vựcbắc miền Trung: 95% ở Quảng Trị, 65% ở Quảng Bình, 55% ở Hà Tĩnh, 20% ở Nghệ
An (Tuổi trẻ.vn – Chuyên mục Kinh tế,2011) Nghệ An nói chung và thành phố Vinh
Trang 7nói riêng là một thị trường có sự phát triển năng động, thu nhập người dân ngày càngtăng, nhịp độ tăng trưởng GDP của thành phố Vinh giai đoạn 2004 - 2010 đạt bìnhquân 14%/năm Như vậỵ, với khu vực rộng lớn cả nước, tất nhiên đó sẽ là một thịtrường tiêu thụ đầy tiềm năng mà nhà sản xuất bia nào cũng muốn hướng tới Mặtkhác, công ty Bia Huế vẫn chưa có một nghiên cứu đánh giá khách hàng một cáchchính thức tại thị trường này trong thời gian tiêu thụ sản phẩm.
Và thương hiệu bia Huda thực sự đã có một dấu ấn tại thị trường này haychưa? Có được người tiêu dùng biết hay không và nằm ở vị trí nào trong tâm trí củakhách hàng trong các thương hiệu bia khác, là một câu hỏi mà công ty Bia Huế chưathể trả lời được Quan trọng hơn, sự phát triển của bia Huda nói riêng và Bia Huế nóichung tại thị trường này giúp công ty tăng doanh thu và là bước đệm để thương hiệubia Huda của Công Ty TNHH Bia Huế vươn ra xa hơn ở thị trường Bắc Trung Bộ
Xuất phát từ những lý do trên, trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Bia
Huế em đã chọn đề tài “Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Huda của công ty bia Huế trên địa bàn thành phố Vinh- Nghệ An” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ nhận biết của khách hàng dành cho thương hiệu bia Huda ởcấp độ nào: Nhận biết đầu tiên, nhận biết không có nhắc nhở, nhận biết có nhắc nhởhay hoàn toàn không nhận biết về thương hiệu này
- Đánh giá, nhận xét của khách hàng về các tiêu chí: tên gọi, logo, kiểu dángchai của sản phẩm bia Huda
- Từ kết quả điều tra, đưa ra các ý kiến đóng góp để tăng cường sự nhận biếtcủa người tiêu dùng đối với thương hiệu Bia Huda tại thị trường Vinh
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian
Dữ liệu thứ cấp: tài liệu từ năm 2009 đến năm 2011
Số liệu sơ cấp: Thu thập từ ý kiến đánh giá của người tiêu dùng bia trongkhoảng thời gian thực tập từ tháng 02/2012 đến 05/2012
- Phạm vi không gian: trên địa bàn thành phố Vinh (Nghệ An)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8a Dữ liệu thứ cấp
- Tài liệu được thu thập từ công ty TNHH bia Huế số 243 Nguyễn Sinh Cung
- Thông tin về tổ chức, nguồn vốn, tình hình lao động của công ty
- Thông tin về tình hình nguồn nhân lực của công ty qua 3 năm 2009-2011
- Kiến thức thương hiệu trên trang website: http://www.lantabrand.com
- Thông tin tình hình phát triển, chiến lược phát triển của của công ty TNHHBia Huế trên website: www.huda.com.vn
e
p p Z
Trong đó: n = kích thước mẫu
Z là giá trị liên quan đến mức độ tin cậy (chọn mức độ tin cậy là 95%) ta có Z=1,96
P là xác suất xuất hiện dấu hiệu của phần tử đang nghiên cứu (tỷ lệ 93,3% kếtquả điều tra thử có 2 trên 30 bảng hỏi không nhận biết sản phẩm Huda ) =0,933
q=1-p
e= 5% (sai số cho phép)
Từ các giá trị đó ta có tính được cỡ mẫu là 101
- Phương pháp chọn mẫu điều tra
Chọn mẫu nhiều giai đoạn (multi-stage sampling):
Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp) Trước tiên phân chiatổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I Tiếp đến phânchia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệthống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối…để chọn ra các đơn vị mẫu
Cụ thể như sau:
- Từ tổng thể thành phố Vinh (bao gồm 25 phường, xã) bốc thăm ngẫu nhiênchọn ra 5 phường (xã)
Trang 9- Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện tại các nhà hàng, quán ăn, quánnhậu bình dân trong mỗi phường.
5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để tiến hành phân tích số liệu điều tra được
Thống kê tần số Frequencies, thông kê mô tả (Descriptives), dùng bảng kếthợp các biến số nhằm mô tả mối quan hệ (Crostabulation)
Kiểm định giá trị trung bình sự dụng One- Sample T Test
Các giá trị trung bình được kiểm định xem nó có ý nghĩa thống kê hay không
Cặp giả thuyết thống kê:
Ho: Mức độ yêu thích thương hiệu Huda ở mức 4 (mức đồng ý)
H1: Mức độ yêu thích thương hiệu Huda khác mức 4
Nguyên tắc chấp nhận giả thiết :
Nếu Sig ≥ 0,05 chưa đủ cơ sở bác bỏ giả thiết H0 với mức ý nghĩa bằng 0,05 Nếu Sig < 0,05 bác bỏ giả thiết Ho với mức ý nghĩa bằng 0,05
Kiểm định mối quan hệ hai biến định tính
Kiểm định Chi – bình phương kiểm định mối quan hệ giữa hai biến định danh
và thứ bậc
Cặp giả thuyết thống kê 1:
H0: Hai biến thu nhập trung bình và loại bia được nhớ đến đầu tiên không có mối liên hệ với nhau.
H1: Hai biến giữa thu nhập trung bình và loại bia được nhớ đến đầu tiên có mối liên hệ với nhau.
Cặp giả thuyết thống kê 2:
H0: Hai biến thu nhập trung bình và lựa chọn của khách hàng khi các loại bia
có cùng mức giá không có mối liên hệ với nhau.
H1: Hai biến thu nhập trung bình và lựa chọn của khách hàng khi các loại bia
có cùng mức giá có mối liên hệ với nhau.
Trang 10Nguyên tắc chấp nhận giả thuyết:
Nếu Sig ≥ 0,05 chưa đủ cơ sở bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa bằng 0,05 Nếu Sig < 0,05 bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa bằng 0,05
Kiểm định phương sai ANOVA đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm khách hàng
Nguyên tắc chấp nhận giả thuyết:
Nếu Sig ≥ 0,05 chưa đủ cơ sở bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa bằng 0,05 Nếu Sig < 0,05 bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa bằng 0,05
Trang 11PHẦN II - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thương hiệu
1.1.1 Khái niệm thương hiệu
Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) là một
dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Thương hiệu theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ là: “một cái tên, một từ ngữ, ký
hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế… hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”
Ở Việt Nam không có định nghĩa chính thức về thương hiệu mà hiện tại theoĐiều 4, Luật sở hữu trí tuệ, (2005) chỉ có định nghĩa về Nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau
Căn cứ vào điều Điều 3, Nghị định 89/2006/ NĐ-CP ngày 30/9/2006 về nhãn
hàng hóa ta có: Nhãn hiệu hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ,
hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên chất liệu khác được gắn lên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.
Trong cuốn sách Thương hiệu và nhà quản lý, Theo tác giả T.S Nguyễn Quốc
Thịnh và Nguyễn Thành Trung (2004), định nghĩa thương hiệu như sau: Thương hiệu,
trước hết là một thuật ngữ dùng nhiều trong Marketing; là hình tượng về một cơ sở
sản xuất, kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) hoặc hình tượng về một loại hoặc
một nhóm hàng hóa, dịch vụ trong con mắt khách hàng; là tập hợp các dấu hiệu để
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác hoặc để phân biệt chính doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Các dấu hiệu có thể là các chữ cái, con số, hình vẽ, hình tượng, sự thể hiện của
Trang 12màu sắc, âm thanh… hoặc sự kết hợp tất cả các yếu tố đó; dấu hiệu cũng có thể là sự
cá biệt, đặc sắc của bao bì và cách đóng gói của hàng hóa
1.1.2 Khái niệm thương hiệu cá biệt
Thương hiệu cá biệt (hay còn gọi thương hiệu cá thể, hoặc thương hiệu riêng) làthương hiệu của từng chủng loại hoặc tên từng hàng hóa, dịch vụ cụ thể Với thươnghiệu cá biệt, mỗi loại hàng hóa lại mang một thương hiệu riêng và như thế một doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể có nhiều thươnghiệu khác nhau, ví dụ: Dream, Wave α, SH là những thương hiệu cá biệt của công tyHonda Nhiều người cho đây là nhãn hiệu hàng hóa Đặc điểm của loại thương hiệu này làthường mang những thông điệp về những hàng hóa cụ thể (như tính năng nội trội, tính ưuviệt, những tiện ích đích thực ) và được thể hiện trên bao bì hoặc chính sự khác biệt củabao bì hàng hóa Loại thương hiệu này cũng có các tính riêng biệt, luôn tạo cho người tiêudùng một cơ hội lựa chọn cao ngay cả trong trường hợp đó là những thương hiệu thuộc sởhữu của cùng một công ty (ví dụ, dầu gội Sunsilk, Clear, Dove đều của Unilever những
đã tạo ra cơ hội lựa chọn rất cao cho người tiêu dùng nhờ những thuộc tính khác biệt đượcđịnh vị riêng cho từng tập khách hàng)
Thương hiệu cá biệt luôn gắn liền với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể và cóthể tồn tại một cách độc lập trên hàng hóa, cũng có thể được gắn liền với các loạithương hiệu khác Trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng tạo ra thương hiệu
cá biệt cho hàng hóa
1.1.3 Cấu tạo của thương hiệu
Cấu tạo của thương hiệu gồm 2 phần:
giác của người nghe như tên của doanh nghiệp, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu, đoạnnhạc, hát đặc trưng và các yếu tố phát âm được
cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế vàcác yếu tố nhận biết khác
Trang 13Các yếu tố thương hiệu của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được phát luậtbảo hộ dưới dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ; nhãn hiệu hàng hóa; tên thươngmại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền.
Đặc điểm của thương hiệu
Là loại sản phẩm vô hình, có giá trị ban đầu bằng 0, giá trị của nó được hìnhthành dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phẩm và các biện pháp quảng cáo
Thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm ngoàiphạm vi doanh nghiệp và thuộc trong tâm trí người tiêu dùng
Thương hiệu được hình thành dần theo thời gian nhờ nhận thức của ngườitiêu dùng khi họ sử dụng những sản phẩm được yêu thích, tiếp xúc với những hệ thốngcủa các nhà phân phối, và qua quá trình tiếp nhận thông tin về sản phẩm
Thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng với sự thua
lỗ của công ty
1.1.4 Thành phần của thương hiệu
Tên thương hiệu (brand name): Tên thương hiệu được tạo thành từ sự kết hợp
từ ngữ hoặc các chữ cái có khả năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệpnày với sản phẩm của doanh nghiệp khác Theo Báo doanh nhân 360 (2008), Tênthương hiệu có một trong 9 đặc điểm sau thì đó sẽ là một tên thương hiệu thành công.Các đặc điểm đó là: ngắn gọn; đơn giản; gợi mở đến sản phẩm; độc đáo (một tênthương hiệu độc đáo thường đi theo một số nguyên tắc như: ngắn gọn, đơn giản và dễđọc…); lặp âm đầu; dễ đọc; dễ đánh vần; gây sốc (ví dụ yahoo!); tư nhân hóa
Biểu trưng (logo): Là một chữ, một biểu tượng hay hình ảnh đồ họa có thểphân biệt được công ty hoặc sản phẩm khi sử dụng thương hiệu trong quá trình giaotiếp Nó là sự kết hợp một cách thống nhất của các thành phần cơ bản là biểu tượng(symbol) Phông chữ của logo, sự bố trí và phối màu sắc của logo, tỷ lệ kích thướcchuẩn của logo
Khẩu hiệu(slogan): Là câu văn ngắn truyền đạt thông tin mô tả hoặc thuyếtphục theo một cách nào đó
Nhạc hiệu: Là đoạn nhạc được viết riêng cho một nhãn hiệu nhất định,thương mang ý nghĩa đặc biệt trong nhận thức nhãn hiệu
Trang 14Sự các biệt của kiểu dáng hàng hóa trong nhiều trường hợp, kiểu dáng hànghóa có thể tạo ra thương hiệu cho hàng hóa đó.
Sự cá biệt của bao bì: Thương hiệu luôn được thể hiệu trên bao bì của mỗiloại sản phẩm có bao bì Bao bì là một bộ phận cấu thành nên thương hiệu, nó giúpmột phần quan trọng để người tiêu dùng nhanh chóng nhận ra sản phẩm trong sựtương quan với các sản phẩm khác
Các nhân tố khác (màu sắc, mùi vị ) có nhiều loại sản phẩm được nhận rabởi những màu sắc hay mùi vị đặc trưng
1.1.5 Các chức năng của thương hiệu
Theo tác giả Nguyễn Quốc Thịnh & Nguyễn Thành Trung (Thương hiệu và nhà
quản lý, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia,2004): Thương hiệu có bốn chức năng cơ bản:
1.1.5.1 Chức năng nhận biết và phân biệt
Đây là chức năng rất đặc trưng và quan trọng của thương hiệu Có thể nói chứcnăng gốc của thương hiệu là phân biệt và nhận biết Khả năng nhận biết được củathương hiệu là yếu tố quan trọng không chỉ cho người tiêu dùng mà còn cho cả doanhnghiệp Thông qua thương hiệu, người tiêu dùng và nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt
và nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Tập hợp các dấuhiệu của thương hiệu (tên hiệu, biểu trưng, biểu tượng, khẩu hiểu hoặc kiểu dáng đặc biệtcủa hàng hóa và bao bì…) chính là căn cứ để nhận biết và phân biệt
Khi hàng hóa càng phong phú và đa dạng thì chức năng phân biệt càng trở nênquan trọng Mọi dấu hiệu gây khó khăn khi phân biệt sẽ làm giảm uy tín và cản trở sựphát triển của thương hiệu
1.1.5.2 Chức năng thông tin và chỉ dẫn
Chức năng thông tin và chỉ dẫn của thương hiệu thể hiện ở chỗ, thông quanhững hình ảnh, ngôn ngữ hoặc các dấu hiệu khác cũng như khẩu hiệu của thươnghiệu, người tiêu dùng có thể nhận biết được phần nào về giá trị sử dụng của hàng hóa,những công dụng đích thực mà hàng hóa đó mang lại cho người tiêu dùng trong hiệntại và tương lai Những thông tin về nơi sản xuất, đẳng cấp của hàng hóa cũng nhưđiều kiện tiêu dùng…cũng có thể phần nào được thể hiện thông qua thương hiệu
Trang 15Nội dung thông điệp mà thương hiệu truyền tải luôn rất phong phú và thể hiệnchức năng thông tin, chỉ dẫn của thương hiệu Tuy nhiên, có rất nhiều dạng thông điệpđược truyền tải trong các yếu tố cầu thành thương hiệu và hiệu quả của sự thể hiệnchức năng thông tin sẽ phụ thuộc nhiều vào dạng thông điệp, phương pháp tuyêntruyền và nội dung cụ thể của thông điệp.
Không phải tất cả mọi thương hiệu đang tồn tại trên thị trường đều có chứcnăng này Tuy nhiên, khi thương hiệu thể hiện rõ chức năng thông tin và chỉ dẫn sẽ lànhững cơ hội thuận lợi để người tiêu dùng tìm hiểu và đi đến chấp nhận thương hiệu.Chức năng thông tin, chỉ dẫn dù rõ ràng và phong phú đến đâu nhưng không thỏa mãn
về khả năng phân biệt và nhận biết thì cũng sẽ coi là một thương hiệu không thànhcông, bởi nó dễ tạo ra một sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng
1.1.5.3 Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy
Thương hiệu còn có chức năng tạo sự cảm nhận Đó là cảm nhận của người tiêudùng về sự sang trọng, sự khác biệt, một cảm nhận yên tâm, thoải mái và tin tưởng khitiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó là sự tin tưởng khi lựa chọn tiêu dùng hàng hóa đó Ví
dụ, nói đến bia Heineken thường tài trợ và chương trình quảng cáo gắn với các mônthể thao quý tộc như Golf, quần vợt… đã tạo cho người tiêu dùng một sự cảm nhận vàliên tưởng đến một loại bia quý tộc, sang trọng
Nói đến sự cảm nhận là người ta nói đến một ấn tượng nào đó về hàng hóa, dịch
vụ trong tâm trí người tiêu dùng Sự cảm nhận của khách hàng không phải tự nhiên mà
có, nó được hình thành do tổng hợp các yếu tố của thương hiệu như màu sắc, tên gọi,biểu tượng, biểu trưng, âm thanh, khẩu hiểu… và cả sự trải nghiệm của người tiêu dùng.Cùng một hàng hóa nhưng sự cảm nhận của người tiêu dùng có thể khác nhau phụ thuộcvào dạng thông điệp hoặc hoàn cảnh tiếp nhận thông tin, hoặc phụ thuộc vào sự trảinghiệm trong tiêu dùng hàng hóa Tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu dùng là mộtthành công quan trọng của mỗi thương hiệu Chủ nhân của một chiếc xe Mercedes luôncảm thấy mình sang trọng hơn và thành đạt hơn nhưng người khác
1.1.5.4 Chức năng kinh tế
Thương hiệu mang trong nó một giá trị hiện tại và tiềm năng Giá trị đó được thểhiện rõ nhất khi sang nhượng thương hiệu Thương hiệu được coi là tài sản vô hình và
Trang 16rất có giá trị của doanh nghiệp Ví dụ, UBND tỉnh TT- Huế đã bán công ty TNHH biaHuế cho đối tác Đan Mạch với số tiền là 1.1875 tỷ đồng, trong đó “thương hiệu Huda”
được định giá 1000 tỷ đồng còn 875 tỷ đồng là tài sản máy móc trong công ty (Trần
Minh Tích,2011) Mặc dù giá trị của thương hiệu rất khó định đoạt, nhưng nhờ những
lợi thế mà thương hiệu nổi tiếng mang lại, hàng hóa sẽ bán được nhiều hơn, thậm chí làgiá cao hơn, dễ thâm nhập thị trường hơn Thương hiệu không tự nhiên mà có, nó đượctạo ra với ý đề nhất định và với rất nhiều khoản đầu tư và chi phí khác nhau Những chiphí đó tạo nên một giá trị kinh tế cho thương hiệu
1.2 Vai trò của thương hiệu
1.2.1 Vai trò đối với người tiêu dùng
Thương hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt nhanh chóng hàng hóa cần muatrong muôn vàn các hàng hóa cùng loại khác, góp phần xác định được nguồn gốc xuất
xứ của hàng hóa Mỗi hàng hóa do một nhà cung cấp khác nhau sẽ mang một tên gọihay các dấu hiệu khác nhau, vì thế thông qua thương hiệu người tiêu dùng có thể nhậndạng dễ dàng hàng hóa hoặc dịch vụ của từng nhà cung cấp Có một thực tế là ngườitiêu dùng luôn quan tâm đến công dụng lợi ích đích thực mà hàng hóa, dịch vụ manglại cho họ, nhưng khi cần phải lựa chọn hàng hóa, dịch vụ thì hầu hết người tiêu dùnglại luôn để ý đến thương hiệu, xem xét hàng hóa hoặc dịch vụ đó của nhà cung cấpnào, uy tín hoặc thông điệp mà họ mang lại đến là gì, những người tiêu dùng khác cóquan tâm và để ý đến hàng hóa mang thương hiệu đó không Như vậy, thực chất thươnghiệu như một lời giới thiệu, một thông điệp và dấu hiệu quan trọng để người tiêu dùngcăn cứ vào đó để đưa ra phán quyết cuối cùng về hành vi mua sắm
Thương hiệu góp phần tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu dùng, một cảmgiác sang trọng và được tôn vinh Thực tế, một thương hiệu nổi tiếng sẽ mang đến chokhách hàng một giá trị cá nhân nào đó trong cộng đồng, nó làm cho người tiêu dùng cócảm giác được sang trọng hơn, nổi bật hơn, có đẳng cấp hơn và được tôn vinh khi tiêudùng hàng hóa mang thương hiệu đó
Thương hiệu tạo một tâm lý yên tâm về chất lượng, giảm thiểu rủi ro trong tiêudùng Khi người tiêu dùng lựa chọn một thương hiệu, tức là họ đã gửi gắm niềm tin vào
Trang 17thương hiệu đó Họ hoàn toàn yên tâm về chất lượng hàng hóa, những dịch vụ đi kèm vàthái độ cư xử của nhà cung cấp với các sự cố xảy ra đối với hàng hóa, dịch vụ.
1.2.2 Vai trò đối với doanh nghiệp
Theo báo Thương mại số 33 (2005), trình bày một số vai trò của thương hiệuđối với doanh nghiệp, bao gồm:
- Tăng doanh số bán hàng
- Thắt chặt sự trung thành của khách hàng
- Tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho doanh nghiệp
- Mở rộng và duy trì thị trường
- Tăng cường thu hút lao động và việc làm
- Tăng sản lượng và doanh số hàng hóa
- Tăng giá trị sản phẩm do người tiêu dùng phải trả tiền mua uy tín của sản phẩm
- Nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm tăng, điều này dẫn tới tăng trưởng chokinh tế nói chung
Thương hiệu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp: Khi một thương hiệu đã
được khách hàng chấp nhận, nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đích thực
dễ nhận thấy Đó là khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng và sâu rộng hơn ngay cả khi
đó là một chủng loại hàng hóa mới (ví dụ như Wave @, thuộc sản phẩm củaHonda…); tạo ra cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường đối với các thương hiệumạnh Hàng hóa mang thương hiệu nổi tiếng có thể bán giá cao hơn so với các hànghóa tương tự nhưng mang thương hiệu xa lạ Ngoài ra một thương hiệu mạnh sẽ giúpbán được nhiều hàng hơn (nhờ tác dụng tuyên truyền và phổ biến kinh nghiệm củachính những người tiêu dùng)
Thu hút đầu tư: Thương hiệu nổi tiếng không chỉ tạo ra những lợi thế nhất định
cho doanh nghiệp trong quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, mà còn tạo điều kiện
và như là một sự đảm bảo thu hút đầu tư và gia tăng các quan hệ bán hàng
Thương hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp: thương hiệu là tài
sản của doanh nghiệp, nó là tổng hợp của rất nhiều yếu tố, những thành quả mà doanhnghiệp tạo dựng được trong suốt quá trình hoạt động của mình Chính sự nổi tiếng củathương hiệu như là một đảm bảo cho lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp (Ví dụ
Trang 18trước đây nhiều doanh nghiệp thường không để ý đến thương hiệu, vì vậy khi biết lậpđoàn Elida mua lại thương hiệu P/S với giá 5 triệu USD trong khi giá trị tài sản cố định
và lưu động của công ty ước chỉ trên dưới 1 triệu USD, nhiều doanh nghiệp Việt Nam
đã nhận thấy giá trị của thương hiệu và giá trị này thật khó ước tính)
1.3 Nhận biết thương hiệu
Sự nhận biết thương hiệu là số phần trăm của dân số hay thị trường mục tiêu biếtđến sự hiện diện của một thương hiệu hay công ty Có 3 mức độ nhận biết thương hiệu là:thương hiệu nhớ đến đầu tiên, thương hiệu không nhắc mà nhớ, thương hiệu nhắc mới nhớ
Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm
và tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu Một thương hiệu càngnổi tiếng thì càng dễ dàng được khách hàng lựa chọn Tuy vậy, việc quảng bá thươnghiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh hưởng của sự nhận biết đếntiến trình lựa chọn sản phẩm sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được cách thức xâydựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí hợp lý hơn
Sự nhận biết thương hiệu được tạo ra từ các chương trình truyền thông nhưquảng cáo, quan hệ cộng đồng, khuyến mãi, bán hàng cá nhân hay tại nơi trưng bàysản phẩm Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia ra làm 3 cấp độ khác nhau Cấp
độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên (Top of mind) Cấp độ kếtiếp là không nhắc mà nhớ (spontaneous) Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ Khi cộnggộp 3 cấp độ nhận biết thương hiệu thì ta sẽ là tổng số nhận biết nhãn hiệu
Thương hiệu được nhận biết đầu tiên chính là thương hiệu mà khách hàng sẽnghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về một loại sản phẩm nào đó Ví dụ, khi nói đến xe gắnmáy thì mọi người thường nghĩ ngay đến Honda
1.4 Các cấp độ nhận biết thương hiệu
Tầng 1: Hoàn toàn không nhận biết
Ở cấp độ này, khách hàng hoàn toàn không có bất kỳ nhận biết nào đối với thươnghiệu khi được hỏi, dù được trợ giúp bằng cách cho xem thương hiệu để nhắc nhớ Mức độnhận biết của khách hàng đối với thương hiệu trong trường hợp này bằng không
Trang 19Tầng 2: Nhận biết khi được nhắc nhở
Để đo lường mức độ nhận biết thương hiệu ở cấp này, người ta sử dụng các kỹthuật nghiên cứu như phỏng vấn qua điện thoại hoặc phỏng vấn trực tiếp Người đượcphỏng vấn (đáp viên) sẽ được nhắc nhớ bằng cách cho xem một danh sách các thươnghiệu trong cùng nhóm sản phẩm (Show card), sau đó sẽ trả lời xem mình nhận ra đượcnhững thương hiệu nào Ở tầng này, bắt đầu xuất hiện sự liên hệ giữa thương hiệu và sảnphẩm, nghĩa là khách hàng đã có thể nhớ ra thương hiệu khi được cho biết trước nhómsản phẩm của thương hiệu Tuy nhiên mối liên hệ này còn rất yếu
Tầng 3: Nhận biết không nhắc nhở
Ở cấp độ này: đáp viên sẽ tự mình nêu tên thương hiệu mà không cần xem danhsách các thương hiệu như ở cấp độ 2 Mức độ nhận biết thương hiệu ở tầng này đạtđược là nhờ vào chiến lược định vị thương hiệu hiệu quả Số thương hiệu được kháchhàng liệt kê được thường ít hơn nhiều so với khi được nhắc nhớ, vì chỉ những thươnghiệu có tên trong bảng xếp hạng của não mới được họ nhớ
Tầng 4: Nhận biết trước nhất
Đây là tầng cao nhất trong “tháp nhận biết” Đáp viên nêu tên thương hiệutrước nhất khi được hỏi về nhóm sản phẩm Trong trường hợp này thương hiệu đãchiếm vị trí đặc biệt trong trí nhớ của khách hàng, vị trí hạng nhất trong bảng xếp hạngcủa não Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khoảng cách giữa thương hiệu hạng nhất
và thương hiệu hạng nhì là không lớn (ví dụ: Coca-Cola và Pepsi)
1.5 Thực trạng phát triển thương hiệu ở Việt Nam
Theo Trung tâm thông tin – Tư liệu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương (2009),đã đưa ra thực trạng xây dựng và phát triển trong các doanh nghiệp ở Việt
Nam như sau:
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhận thức đúng mức về vấn đềthương hiệu Theo một điều tra gần đây của Dự án hỗ trợ doanh nghiệp về năng lựcxây dựng và quảng bá thương hiệu, với mẫu 500 doanh nghiệp trên toàn quốc thì cóđến 20% doanh nghiệp không hề đầu tư cho việc xây dựng thương hiệu, trên 70%doanh nghiệp có đầu tư thương hiệu nhưng chỉ ở mức đầu tư dưới 5% Theo một khảosát mới đây của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công - Thương), có tới 95% trong số hơn
Trang 20100 doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng cần thiết phải xây dựng và phát triển thươnghiệu Hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, thương hiệu đóng vai trò quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh doanh, là tài sản vô hình có giá trị lớn nhất của doanhnghiệp… Tuy nhiên, mới chỉ có 20% doanh nghiệp hiểu được rằng xây dựng thươnghiệu cần bắt đầu từ đâu, số còn lại đều rất lúng túng khi đưa ra một kế hoạch phát triểnthương hiệu Thậm chí, có doanh nghiệp cho rằng xây dựng thương hiệu chỉ đơn thuần
là đăng ký một cái tên và làm logo
Việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay còn mangtính tự phát, một số có tính tổ chức nhưng còn mang tính manh mún, rời rạc Thương hiệucủa hầu hết các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức độ để phân biệt chứ chưa được thươngmại hoá Nhiều doanh nghiệp còn ngần ngại cho việc đầu tư xây dựng, đăng ký bảo hộthương hiệu Hơn 70% trong số các doanh nghiệp nhỏ và vừa của chúng ta chưa đăng kýbảo hộ Logo, nhãn hiệu hàng hoá của mình tại Cục Sở hữu trí tuệ Trong số này, không kểnhững doanh nghiệp chưa biết đến Luật Sở hữu trí tuệ thì hầu hết các doanh nghiệp cònlại là không quan tâm tới việc bảo hộ thương hiệu của mình, một số thì e ngại đối với cácthủ tục đăng ký Đối với những doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãnhiệu hàng hoá thì cũng chỉ lưu giữ văn bằng này như một biện pháp phòng thủ từ xa đốivới các vi phạm mà không có những hành động tiếp theo nhằm phát triển thương hiệu củamình Thậm chí nhiều doanh nghiệp còn quên không xin gia hạn khi Giấy chứng nhậnđăng ký nhãn hiệu hàng hoá hết hiệu lực và hậu quả mà họ đã tự từ bỏ quyền sở hữu nhãnhiệu của mình mà không hay biết Đây là điểm yếu của của các doanh nghiệp hiện nay, nóbắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết do hạn chế về tiềm lực tài chính vì trên90% các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động chủ yếu dựa vàonguồn vốn vay Vì vậy, họ rất ngại tốn kém chi phí khi phải bỏ ra số tiền không phải lànhỏ và còn gặp nhiều khó khăn trong việc đăng ký bảo hộ thương hiệu, đặc biệt là ở thịtrường nước ngoài Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu về nhận thức luật pháp,phong cách kinh doanh mang đậm nét của một quốc gia nông nghiệp
Hậu quả, trên thị trường nội địa, các công ty, tập đoàn của nước ngoài một mặttăng cường quảng bá thương hiệu của mình, tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn đối với cácdoanh nghiệp trong nước, mặt khác họ đã bắt đầu “khai thác” các thương hiệu nổi tiếng
Trang 21của Việt Nam bằng cách bỏ tiền ra mua lại thương hiệu và đổi mới, phát triển sản phẩmthành một trong những thương hiệu lớn của mình Điển hình là việc Unilever mua lạithương hiệu kem đánh răng P/S và khai thác chỉ dẫn địa lý “Phú Quốc” với sản phẩmnước mắm Knorr Phú Quốc Từ một thương hiệu P/S khá nổi tiếng trên thị trường ViệtNam nhưng không còn đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của nước ngoài, Unilever đãbiến P/S thành một thương hiệu nổi tiếng với các sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng vềchủng loại, phong phú về mẫu mã.
Trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu mạnh các mặt hàngnông sản, thực phẩm chế biến, giày dép, quần áo, thủ công mỹ nghệ, thủy hải sản vớichất lượng ngày càng được nâng cao không hề thua kém các sản phẩm của các nước xuấtkhẩu lớn khác Thế nhưng có một thực tế là 90% hàng Việt Nam do không thiết lập đượcthương hiệu độc quyền nên vẫn còn phải vào thị trường thế giới thông qua trung gian dướidạng thô hoặc gia công cho các thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài Do đó, doanhnghiệp bị gánh chịu nhiều thua thiệt lớn và người tiêu dùng nước ngoài vẫn còn chưa cónhiều khái niệm về hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam
Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Việt Nam cũng đang phải đối mặtvới vấn đề bị các công ty nước ngoài ăn cắp hoặc nhái nhãn hiệu trên thị trường quốc tế.Trong những năm qua, các vụ tranh chấp thương hiệu đã liên tiếp xảy ra giữa các doanhnghiệp Việt Nam và các công ty của nước ngoài Hàng loạt các thương hiệu lớn của ViệtNam đã lao đao vì bị mất cắp thương hiệu: Trung Nguyên ở thị trường Mỹ, Nhật; PetroViệt Nam, Vifon, Saigon Export, Việt Tiến ở thị trường Mỹ; Vinataba ở thị trường 12nước Châu Á; Sa Giang ở thị trường Pháp, Biti’s ở Trung Quốc Cuộc chiến thươnghiệu luôn đi kèm với những rắc rối về kiện tụng, mất mát nhiều thời gian và tiền bạc, dùđược hay thua cũng đều gây ra những tổn thất rất lớn cho doanh nghiệp
Có thể nói đến thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhậnthức được tầm quan trọng của thương hiệu, song ư thức đầu tư cho thương hiệu vẫn cònrất dè dặt Đó cũng là lý do tại sao hiện nay nền kinh tế Việt Nam chưa có nhiều thươnghiệu lớn như FPT, Việt tiến, Trung Nguyên, Vinamilk…
Trang 221.6 Đặc điểm thị trường bia Việt Nam
Với mức tiêu thụ 2,7 tỷ lít bia trong năm 2010 (khoảng 24 lít trên/đầu người/năm,bằng 1/10 so với châu Âu), Việt Nam đã trở thành nước thứ ba có sản lượng tiêu thụ bia caonhất châu Á, sau Nhật và Trung Quốc Dù đang ở mức cao nhưng sức tiêu thụ mặt hàng biavẫn đang tăng lên mạnh mẽ bất chấp những khó khăn của nền kinh tế
(Nguồn: Số liệu Sabeco)
Biểu đồ 1: Thị phần 10 sản phẩm bia dẫn đầu tại thị trường Việt Nam
Theo dữ liệu nghiên cứu thị trường ngành bia – nước giải khát của Tổng CTCP
Bia rượu NGK Sài Gòn (Sabeco, 2010) khảo sát thị trường bia, được báo cáo tại đại
hội cổ đông năm 2011 Bia Sài Gòn Đỏ, bia 333, bia Hà Nội và Heineken là nhữngloại bia được uống nhiều nhất năm 2010
(Nguồn: Số liệu Sabeco)
Trang 23Biểu đồ 2: Thị phần sản lượng các nhà sản xuất bia tại Việt Nam
Bia Sài gòn – Sabeco chiếm 51,40 %, Công Bia Hà Nội – Habeco chiếm13,9%, đây là hai đối thủ chính của công ty bia Huế trong việc sản xuất các sảnphẩm có định vị khách hàng có thu nhập thấp, cạnh tranh trực tiếp với sản phẩmHuda (Habeco có bia Hà Nội, Sabeco có bia Sài Gòn Đỏ) Đặc biệt hai công ty này
đã đặt nhà máy tại thị trường Nghệ An, công ty nhà máy bia Việt Nam chiếm29,70% Thị trường bia Việt Nam hiện hình thành thế “chân vạc” với 3 doanhnghiệp lớn nhất là Sabeco, Habeco và VBL Ba công ty này chiếm tới 95% thị phầnsản lượng, các doanh nghiệp khác có Bia Huế, Tân Hiệp Phát, Liên doanh nhà máybia Đông Nam Á
Trang 24CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT THƯƠNG HIỆU
HUDA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH
2.1.Tổng quan về công ty TNHH Bia Huế
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Ngày 20/10/1990, Nhà máy Bia Huế được thành lập theo Quyết định số 402QĐ/UB của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế với hình thức xí nghiệp liên doanh có vốn góp
từ các đơn vị quốc doanh và ngoài quốc doanh trong tỉnh và vay vốn ngân hàng
Số vốn đầu tư ban đầu của Nhà máy là 204 triệu USD Ngay sau khi được thànhlập, sản phẩm đầu tiên của nhà máy là bia Huda được sản xuất theo công nghệ tiến tiếncủa Đan Mạch đã nhanh chóng có mặt trên thị trường, đáp ứng nhu cầu người tiêudùng trong cả nước
Năm 1994, nhà máy tiến hành liên doanh với hãng bia Tuborg Internationl vàquỹ công nghiệp Đan Mạch dành cho các nước phát triển tại giấy phép số 835/GPngày 6/4/1994 với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 50%, Đan Mạch 50% Đây thực sự là mộtbước ngoặt trọng đại trong quá trình phát triển của đơn vị Từ đây, Nhà máy Bia Huếchính thức mang tên Công ty TNHH Bia Huế
Do chất lượng luôn đảm bảo, giá cả hợp lý, được khách hàng ưu chuộng nênmặc dù sản lượng cung ứng của Công ty Bia Huế luôn tăng mạnh nhưng vẫn khôngđáp ứng đủ nhu cầu thị trường Từ công suất ban đầu là 3 triệu lít, đến nay toàn nhàmáy (cả cơ sở Phú Thượng và cơ sở tại KCN Phú Bài) có tổng công suất 150 triệulít/năm Với việc đầu tư xây dựng nhà máy bia Huế giai đoạn 2 tại khu công nghiệpPhú Bài từ 80 triệu lít/năm lên 160 triệu lít/năm, đến nay Công ty bia Huế sẽ có tổngcông suất khoảng 230 triệu lít/năm
Năm 2011, tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức chuyển nhượng 50% phần vốn củamình cho tập đoàn này sở hữu 100% vốn Năm vừa qua (2011), công ty sản xuất, tiêuthụ trên 166,5 triệu lít bia, doanh thu đạt trên 2.050 tỷ đồng, tăng 0,7%; nộp ngân sách
877 tỷ đồng, tăng 14,6% so với năm trước; lợi nhuận đạt 375 tỷ đồng Năm 2012, Công
ty TNHH Bia Huế phấn đấu đạt sản lượng tiêu thụ 220 triệu lít, nộp ngân sách 1.000 tỷđồng; đồng thời nâng mức thu nhập bình quân lên hơn 8 triệu đồng/người/tháng
Trang 25Bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới mẫu mã các nhãnhiệu bia, công ty Bia Huế luôn Chú trọng đến công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm
Từ một doanh nghiệp chỉ có một sản phẩm là bia chai Huda, đến nay công ty đã pháttriển thêm nhiều sản phẩm mới, chất lượng cao như: bia Festival (cả bia chai và lon),Huebeer, Huda Extra Sản phẩm của Huda không chỉ chinh phục thị trường trongnước mà còn vươn ra các thị trường trên thế giới như: Mỹ, Anh, Canada, Tây Ban Nha,Pháp và các nước Châu Á như: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Lào, Campuchia
2.1.2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty
Mối quan hệ chức năng
Mối quan hệ trực tuyến
(Nguồn: Phòng hành chính – Công ty TNHH Bia Huế)
Sơ đồ 1: Mô hình cơ cấu tổ chức tại công ty Bia Huế
Bộ phận Sale
Phòng cung ứng
Giám đốc Sale và Marketing
Giám đốc tài chính
Giám đốc kỹ thuật
Phòng
hành
chính
Phòng nhân sự
Trang 26dài hạn cho công ty Các thành viên của Hội đồng quản trị có thể tái cử, chủ tịch hội đồngquản trị là ông Jesper Bjorn Madsen, Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Carlsberg.
Tổng giám đốc là thành viên Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị đề cử.Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về kết quả kinhdoanh theo đúng ngành nghề đăng ký và đúng pháp luật hiện hành Tổng giám đốchiện nay của công ty là ông Nguyễn Mậu Chi
Phó Tổng giám đốc là người đại diện cho Công ty Carlsberg Đan Mạch, chịutrách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Phó tổng giám đốc là ngườiquản lý hoạt động tiêu thụ và tiếp thị của công ty
Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm quản lý phòng kế hoạch vật tư và phòngtài chính của công ty
Giám đốc kỹ thuật: quản lý các hoạt động sản xuất của công ty, chịu tráchnhiệm trước Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban Tổng công ty
Phòng Kế hoạch vật tư: hỗ trợ cho giám đốc tài chính công tác kế hoạch vật tưphục vụ cho sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện; cung cấp và cung ứng vật tư đầy
đủ cho hoạt động sản xuất hàng ngày theo đúng định mức kỹ thuật và kế hoạch đề ra
Phòng Tài chính: quản lý và theo dõi sự biến động tài sản của công ty, tổ chứckiểm kê đánh giá định kỳ, phản ánh kịp thời tình hình sản xuất kinh doanh bằng số liệu,lập báo cáo tài chính, cùng các phòng ban khác phân tích, đánh giá kết quả kinh doanh
Phòng Marketing: nghiên cứu thị trường, đưa ra các chiến lược tiếp thị,quảng cáo, khuyến mãi, giới thiệu sản phẩm…
2.1.3 Giới thiệu chung về sản phẩm bia Huda
2.1.3.1 Đặc điểm sản phẩm Huda
Huda được đóng trong chai màu nâu dung tích 450ml và 355 ml, ngoài racòn có lon 330ml với độ cồn 4,7% và 7,0% (dùng cho xuất khẩu), két 50 lít (Biatươi) với độ cồn 4,7% Bia Huda là dòng bia mạnh nhất Huế và phổ biến nhất khu
vực Miền Trung Phân đoạn chính nhu cầu hội họp, với bản chất: Chia sẻ, gần
gũi, thực tế và bình dị Đối thủ chính của Huda trong phân khúc này là Sài Gòn
Đỏ, Bia Hà Nội, Bia Bivinna và Larue
Trang 27Được tinh chiết từ men bia danh tiếng hơn 160 năm của Châu Âu, hòaquyện cùng nguyên liệu ủ bia cao cấp Với lịch sử hơn 20 năm phát triển và ngàycàng được ưu chuộng trên khắp mọi miền đất nước và trên thế giới, Huda sẽ sớmtrở thành một sản phẩm bia mang thương hiệu quốc gia.
2.1.3.2 Hệ thống phân phối của bia Huda tại thị trường Vinh.
Sản phẩm của công ty bia Huế sử dụng các trung gian như đại lý cấp 1, cấp
2, cấp 3…Công ty chỉ quản lý đại lý cấp 1, ký hợp đồng với đại lý cấp 1, công tykhông có quan hệ với đại lý cấp 2, cấp 3… và các điểm bán lẻ Các đại lý cấp 1của công ty sẽ chịu trách nhiệm trong việc phân phối sản phẩm lại cho các đại lýcấp thấp hơn, các điểm bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng
Các đại lý ở thị trường miền Nam có xu hướng giảm sút và một vài thịtrường đã không có đại lý chính thức của công ty Tuy nhiên sản phẩm của công
ty rất được khách hàng ưu chuộng ở thị trường Miền Trung nên hệ thống đại lýcủa công ty phủ khắp các tỉnh này Trung bình mỗi đại lý cấp 1 của công ty phânphối cho khoảng 5 đại lý cấp 2 và khoảng hơn 20 điểm bán lẻ, quán ăn…
Hiện nay, sản phẩm Huda có 19 đại lý cấp 1 tại thị trường Nghệ An nóichung, trong đó có 8 đại lý trên đại bàn thành phố Vinh
Nhằm xây dựng Huda thành thương hiệu bia quốc gia, trong những năm quacông ty Bia Huế đã rất chú trọng đến việc đầu tư cho hoạt động quan hệ cộng đồngnhằm đưa hình ảnh nhãn hiệu Huda nói riêng và các nhãn hiệu của công ty nói chungđến với người tiêu dùng trong cả nước
2.1.3.3 Các hoạt động cộng đồng của công ty Bia Huế
Các hoạt động PR chủ yếu tại thị trường Vinh như tài trợ giải bóng đá sinh viêncúp Huda (vòng chung kết cúp Huda được tổ chức tại đây tài trợ phát sóng chươngtrình “Lễ hội du lịch Cửa Lò” trên kênh Truyền hình Nghệ An, tài trợ cho Đại hộiđoàn thành phố Vinh, Nghệ An… và nhiều hoạt động xã hội khác
Trang 28Bảng 1:Tổng kinh phí cho hoạt động cộng đồng qua 5 năm 2005-2010
Kinh phí (triệu đồng) 1865 2894 4199 4925 6207 7088
(Nguồn: Phòng kế toán – Công ty TNHH Bia Huế
Qua bảng ngân sách dành cho hoạt động PR hằng năm ta thấy công ty luôn tích cựctrong các hoạt động cộng đồng, ngân sách cho PR tăng lên qua các năm, điều này cho thấycông ty đã nhận thấy được vai trò của PR trong chiến lược phát triển thương hiệu
2.1.3.4 Đặc điểm thương hiệu Huda.
Hình 1: Logo của Huda Huế
Tên thương hiệu: Sức mạnh của một thương hiệu nằm ở chỗ tên thương hiệu đó
có nằm trong tâm trí của khách hàng hay không Tên sản phẩm Huda nhìn chung khángắn gọn, đơn giản, độc đáo, dễ đọc và dễ đánh vần
Biểu trưng (logo): Là chữ Huda màu đen được viết cách điệu trên biểu tượng
ngọ môn (Huế) màu xanh
Khẩu hiểu (slogan): Công ty Bia Huế có những thay đổi slogan trong thời gian
vừa qua, hiện tại slogan của sản phẩm bia Huda là thổi hồn vào mọi cuộc vui.
Ngoài các yếu tố cơ bản như đã trình bày, những yếu tố như nhãn chai, kiểudáng chai bia, hương vị bia Huda cũng góp phần tạo nên thương hiệu Huda
Lao động là yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh và nó cóảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tình hìnhnguồn lực của công ty được thể hiện qua bảng sau:
Trang 29Bảng 2: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2009-2011
Chỉ tiêu 2009 2010 2011
So sánh(2010/2009)
So sánh(2011/2010)
(Nguồn: Phòng nhân sự- Công ty TNHH Bia Huế)
Nhìn chung qua 3 năm thì số lượng lao động của công ty có sự biến động, năm
2011 tăng 1,27%, năm 2010 tăng 0,91% lao động, như vậy từ năm 2009 đến năm
2011 lao động của công ty tăng lên 2,18% Có sự gia tăng về lao động là do quy môsản xuất của công ty ngày càng tăng lên, nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm củacông ty ngày càng cao, đòi hỏi phải đủ số lượng lao động để phục vụ
- Xét về cơ cấu lao động phân theo giới tính: Năm 2011 lao động nam tăng
lên 1,39% và lao động nữ tăng lên 0,38% so với năm 2010 Lao động nam năm 2010tăng 0,46% và lao động nữ tăng 2,56% so với năm 2009 Nhìn chung, lao động tạicông ty chủ yếu là nam với 78% (năm 2011), lao động nữ chỉ chiếm 22% Do phần lớncông việc tại công ty chủ yếu nằm trong nhà máy sản xuất, bản chất công việc khánặng nhọc như: đứng trong dây chuyền sản xuất bia, sửa chữa máy móc thiết bị, lái xebốc xếp hàng… Lao động nữ chủ yếu làm việc ở bộ phận văn phòng
- Xét theo tính chất công việc: Từ năm 2009 đến năm 2011 lao động trực tiếp
liên tục giảm lần lượt là 1 và 6 lao động Lực lượng này có xu hướng giảm chính làviệc công ty áp dụng nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại Mặt khác, lực lượng laođộng gián tiếp tăng nhanh Năm 2010 tăng 7,7% so với năm 2009, năm 2011 tăng1,34% so với năm 2010, đây là lực lượng không trực tiếp làm ra sản phẩm mà chỉđóng vào quá trình tạo ra sản phẩm như: thiết kế, bộ phận văn phòng…
Trang 30- Xét theo trình độ lao động: Nhìn chung lao động có trình độ từ trung cấp đến
trên đại học chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số lao động của công ty, với 364 laođộng chiếm 65%, lao động phổ thông chiếm 35%(năm 2011) Tỷ lệ gia tăng lao động
có trình độ đại học và sau đại học tăng nhanh, năm 2010 so với 2009 tăng 7 tươngđương 2,72%, năm 2011 tăng 14 lao động tương ứng 7,18% Lao động có trình độ caođẳng và trung cấp tăng trung bình 1,31% từ năm 2009 năm 2011 Đây là một tín hiệutốt khi công ty ngày càng có xu hướng tuyển dụng lao động có trình độ cao, đáp ứngđược các yêu cầu về công việc trong tương lai Ngược lại, lao động phổ thông liên tụcgiảm, mức giảm trung bình là 3,18% từ năm 2009 đến năm 2011
Tóm lại, qua 2 năm ta thấy đội ngũ lao động của công ty có sự biến động tăng, doquy mô sản xuất của công ty ngày càng mở rộng và nhu cầu tiêu thụ thị trường cao Laođộng có trình độ được tuyển dụng nhằm bổ sung nguồn nhân lực có trình độ cao để đápứng các mục tiêu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
2.1.5 Tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty TNHH Bia Huế
Mục tiêu quan trọng nhất của việc sử dụng vốn và tài sản là đảm bảo cho quátrình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường và hiệu quả cao Nguồn vốn làmột nhân tố không thể thiếu trong bất kì một hoạt động sản xuất nào Để thấy rõ tìnhhình tài sản, nguồn vốn của công ty Bia Huế hiện nay, ta phân tích tình hình tài sản,nguồn vốn của công ty trong giao đoạn từ năm 2009 đến 2011
Qua bảng thể hiện tổng tài sản, nguồn vốn sản xuất kinh doanh của công ty qua
3 năm có sự thay đổi Tổng tài sản của công ty TNHH Bia Huế liên tục tăng từ năm
2009 đến năm 2011 với mức tăng bình quân 12.9%
Các chỉ tiêu liên tục tăng qua 3 năm bao gồm: tài sản ngắn hạn có mức tăngtrung bình 9,3% Trong đó, giá trị hàng tồn kho tăng bình quân khoảng 18,5%, đây là mứctăng khá cao, điều này thể hiện một dấu hiệu không tốt cho doanh nghiệp Sự gia tăng lớncủa hàng tồn kho báo động khả năng tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc cácsản phẩm dở dang đang ứ đọng không kịp đưa vào sản xuất Tài sản cố định của doanhnghiệp tăng đều qua 3 năm trung bình khoảng 16,1% Trong 3 năm qua công ty có đầu tưvào tài sản dài hạn mặc dù mức đầu tư không cao trung bình khoảng 16,7%
Trang 31Bảng 3.1: Tình hình tài sản của công ty TNHH Bia Huế
( ĐVT: Tỷ đồng )
2009
Năm2010
Năm2011
-2 Đầu tư tài chính ngắn
(Nguồn: Phòng kế toán- Công ty TNHH Bia Huế)
Các chỉ tiêu có mức độ tăng trưởng âm qua 3 năm bao gồm: Các khoản phảithu liên tục giảm qua các năm, với mức giảm trung bình từ năm 2009 đến 2011 là28,7% Các khoản đầu tư tài chính có xu hướng giảm mạnh với mức trung bình lên tới50% Chỉ tiêu có mức giảm lớn nhất qua 3 năm qua là tài sản dài hạn khác với mứcgiảm 60,2%
Các chỉ tiêu có sự tăng giảm không ổn định từ năm 2009 đến 2011 bao gồm:Tiền và các khoản tương đương tiền, mặc dù có sự tăng trung bình là 12,3% Tuy nhiên từnăm 2009 đến 2010 giảm 19,3%, đến năm 2011 có sự gia tăng trở lại lên 13,8% Chỉ tiêu
có mức tăng, giảm không ổn định khá cao là tài sản ngắn hạn khác, cụ thể năm 2009 đếnnăm 2010 giảm 13,9%, nhưng đến năm 2011 lại tăng lên rất cao tới 190,1% Đầu tư tàichính ngắn hạn của công ty, có mức tăng giảm không ổn định nhất năm 2009 đến năm
2010 tăng tới 1800% nhưng lại giảm mạnh tới 63,1% vào năm 2011
Bảng 3.2: Tình hình nguồn vốn của công ty TNHH Bia Huế
Trang 32Chỉ tiêu Năm
2009
Năm2010
Năm2011
II Vốn chủ sở hữu 573,2 585,8 548,4 12,6 2,2 -37,4 -6,4 -2,11.Vốn đầu tư của chủ sở hữu 216,7 216,7 216,7 0 0 0 0 0
3.Lợi nhuận chưa phân phối 117,2 129,9 92,4 12,7 10,8 -37,5 -28,9 -9,05
(Nguồn: Phòng kế toán- Công ty TNHH Bia Huế)
Nhìn vào bảng nguồn vốn của công ty qua 3 năm 2009 đến 2011 cho tathấy tổng nguồn vốn của công ty có xu hướng tăng với mức tăng trung bình qua 3năm là 12,95% Trong đó, nợ phải trả có mức tăng trưởng xu hướng tăng mạnh lêntới 35,15%, cả hai chỉ tiêu năm trong nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dàihạn đều tăng cao lần lượt là 36,65% và 29,3%
Trong phần vốn chủ sở hữu có thể thấy ít có sự thay đổi hoặc sự thay đổi khôngđáng kể nhìn chung có xu hướng giảm, mức giảm bình quân là 2,1% Hai chỉ tiêu vốnđầu tư của chủ sở hữu và quỹ đầu tư phát triển không có sự thay đổi nào qua 3 năm Lợinhuận chưa phân phối của công ty giảm là yếu tố duy nhất làm cho vốn chủ sở hữu giảm,chỉ tiêu này giảm bình quân từ năm 2009 đến năm 2011 là 9,05%
giai đoạn 2009-2011
Để đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệu quả hay không thìphải qua những kết quả mà nó đạt được Do đó việc phân tích kết quả hoạt động kinhdoanh là yếu tố đầu tiên và phần nào cho thấy hiệu quả của những chiến lược, chính sách
mà công ty đã đề ra để tăng doanh thu và lợi nhuận
Từ bảng phân tích kết quả kinh doanh của công ty từ năm 2009 đến năm 2011, tathấy rằng tổng doanh thu của công ty qua 3 năm có sự gia tăng đáng kể Tốc độ tăngtrưởng bình quân từ năm 2009 đến năm 2011 là 25,6% Tổng doanh thu không ngừng tăngqua các năm thể hiện tình hình tiêu thụ của công ty ngày càng tốt, công tác tiêu thụ hoạt
Trang 33động có hiệu quả tốt Đồng thời, doanh thu tăng cũng thể hiện quy mô công suất của nhàmáy liên tục được mở rộng và được khai thác hết công suất.
Để hiểu rõ hơn tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty, ta phân tích doanhthu thuần và giá vốn hàng bán Từ năm 2009 đến năm 2011 doanh thu thuần của công tytăng lên mỗi năm với tốc độ tăng trưởng bình quân là 33,7% Trong khi đó, giá vốn hàngbán năm có mức tăng trưởng bình quân từ năm 2009 đến năm 2011 là 31,1% Như vậy,tốc độ tăng trưởng trung bình của doanh thu thuần cao hơn giá vốn hàng bán Điều nàycho thấy hoạt động sản xuất của công ty đang tiến triển tốt qua các năm
Lợi nhuận gộp của doanh nghiệp tăng có mức độ tăng trưởng trung bình quân 3năm từ 2009 đến 2011 là 37,1% Lợi nhuận trước thuế của công ty qua 3 năm đềutăng khá cao, mức độ tăng trưởng bình quân là 55,8% Góp phần làm tăng lợi nhuậntrước thuế thì doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác cũng đều tăng Cụ thể,doanh thu hoạt động tài chính có mức tăng trung bình từ năm 2009 đến năm 2011 là79,8% Thu nhập khác của doanh nghiệp qua 3 năm cũng có mức tăng đáng kể, trungbình khoảng 16,5%
Các khoản chi phí như chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanhnghiệp và chi phí khác có tăng Cụ thể là chi phí tài chính qua 3 năm có mức độ tăngtrưởng bình quân cao lên tới 71,1% Chi phí bán hàng cũng có mức tăng trung bìnhkhoảng 36,7% Chi phí quản lý doanh nghiệp qua từ năm 2009 đến 2011 mức độ tăngtrung bình chỉ 16,7% (riêng năm 2010 đến 2011 chỉ tăng 3,5%)
Trang 34Bảng 4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
Năm2011
TB 3năm
3 Doanh thu thuần 759,2 974,3 1.356,
4 215,1 28,3 382,1 39,2 33,7
4 Giá vốn hàng bán (416,3
) (543)
(716,1) -126,7 30,4 -173,1 31,8 31,1
(214,7) -39,1 34,6 -60,8 39,5 36,8
13 Lợi nhuận trước thuế 161,9 237,7 392,1 75,8 46,8 154,4 64,9 55,9
14 Chi phí thuế thu
nhập DN (36,5) (40,4) (82,1) -3,90 10,6 -41,70
103,
2 57
15 Lợi nhuận sau thuế 125,3 197,2 309,9 71,9 57,3 112,7 57,1 57,3
(Nguồn: Phòng kế toán-CôngTNHH Bia Huế)
Trang 352.2 Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu bia Huda tại thị trường Nghệ An
Vinh-2.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tiến hành điều tra khách hàng trên địa bàn Thành phố Vinh (Nghệ An),khách hàng trả lời phỏng vấn 100% nam, đặc trưng sản phẩm bia Huda dành chonam giới, nữ giới sử dụng bia rất ít,đối tượng này không phải khách hàng mục tiêucủa sản phẩm bia Huda Sự đánh giá của đối tượng này không làm ảnh hưởng đếndoanh thu tiêu thụ sản phẩm bia Huda
(Nguồn: Theo số liệu xử lý)
Biểu đồ 3: Cơ cấu mẫu điều tra theo độ tuổi
Độ tuổi chiếm nhiều nhất trong tổng số khách hàng được điều tra là từ 30-45tuổi với 38,6%, độ tuổi này được xác định đa số là đã có gia đình và thu nhập ổnđịnh, tiếp theo là 24-30 tuổi có 30,7%, đối tượng này được đánh giá thu nhập chưa
ổn định
(Nguồn: Theo số liệu xử lý)
Biểu đồ 4: Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn