Đoạn văn : 10 câu Bài tập 14 : a Để diễn tả phong cách người vùng cao đón khách, tác giả Lê Va đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật quen thuộc : nhân hoá, so sánh, tự gợi tả, song đặc biệ[r]
Trang 1Chương III
HƯỚNG DẪN VÀ BÀI TẬP MẪU VỀ CẢM THỤ THƠ VĂN
C – GIẢI ĐÁP BÀI TẬP LUYỆN CẢM THỤ THƠ VĂN
Bài tập 1 : a) - Trước khi tả bông sen, câu ca dao 1 có nhiệm vụ giới thiệu
sen, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của sen bằng nghệ thuật so sánh hơn kém
- Câu ca dao 2 tả một bông sen theo trình tự từ ngoài vào trong (lá bông nhị )
- Câu ca dao 3 tả một bông sen nữa theo trình tự quay lại (nhị bông lá ) ; nghĩa là từ trong ra ngoài bông sen
- Chắc chắn còn tả tiếp bông thứ ba/thứ tư cho đến hết đầm, tưởng tượng theo tay trỏ của người tả Vậy tả hai bông sen : theo lối vừa lặp, vừa đảo là để tả cả đầm sen bát ngát (đây là hai hình ảnh biểu trưng cho đầm sen)
a) Viết đoạn văn ngắn để nêu cảm nghĩ, liên tưởng, phân tích bài ca dao trên Sau đây là một hướng viết:
Bốn câu ca dao đã giới thiệu với chúng ta hoa sen và đầm sen Câu 1 làm hai nhiệm vụ : vừa giới thiệu hoa sen vừa ca ngợi sen đẹp không gì sánh bằng qua nghệ thuật so sánh hơn, kém Bông sen đã hiện lên trước mắt chúng ta qua cách tả rất độc đáo từ ngoài vào trong của cấu tạo bông hoa
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng.
Ba từ miêu tả sắc màu thật trang nhã : xanh, trắng, vàng, đã đem lại vẻ dịu dàng của sen Ta tưởng tượng như người tả đang trỏ tay vào từng bông, từng nét đẹp của hoa để giới thiệu với người ngắm cảnh Câu 3 vừa lặp lại, vừa đảo các bộ phận của một bông sen :
Các dạng bài tập làm văn
và cảm thụ thơ văn lớp 6
Trang 2Nhị vàng, bông trắng, lá xanh.
Ta hình dung còn tiếp nữa : bông thứ ba, bông thứ tư và hết cả đầm sen Vậy
tả hai bông, là để bạn đọc tưởng tượng cả đầm sen bát ngát, thơm ngào ngạt Lối tả của dân gian thật tinh tế Câu 4 đã gây ra bất ngờ khi nói về môi trường sống của sen :
Gần bùn, mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Câu 4 đã khiến người đọc từ sen liên tưởng tới con người Dù con người có sống nghèo khổ, nhưng ở họ vẫn ngời lên phẩm chất cao đẹp đáng quý
(Đoạn văn : 12 câu)
Bài tập 2 : a) + Quy luật vần trong thơ lục bát như sau :
- Tiếng cuối cùng của câu 6 tiếng, vần với tiếng thứ sáu của câu 8 tiếng
- Tiếng thứ 8 của câu 8 tiếng, lại vần với tiếng cuối cùng của câu 6 tiếng tiếp theo, và cứ thế nối tiếp
+ Thơ lục bát tạo giọng điệu thiết tha, gần gũi, đi vào lòng người Đó là thể thơ dân tộc, rất tiêu biểu cho tình cảm của người Việt Nam
+ Thể thơ lục bát thiết tha, khuyên nhủ bé làm việc bằng cách tế nhị kể ra việc làm của những người xung quanh bé
b) Bài thơ trên, nghệ thuật nhân hoá được sử dụng đắc lực Nhờ nhân hoá, các vật vô tri, vô giác đã trở thành những con người yêu lao động đáng mến xung quanh bé : cái Chổi quét nhà, anh Kim chị Chỉ vá may, bạn Vở chép chữ, cô Mướp vươn tay leo giàn, Đồng Hồ chỉ thời gian, cái Rá vo gạo, cậu Than đốt lò; chú Gà báo trời sáng, bác Cửa mở cửa đón nắng vào nhà Tất cả con vật nêu trên đều có những việc làm, suy nghĩ như người và tên tất cả các nhân vật đều được viết hoa như tên riêng của người Chính vì vậy, bài thơ thật hấp dẫn
c) Từ việc hiểu bài thơ, có thể đặt đầu đề cho bài là :
- Vui làm việc
- (Hoặc) Mỗi người, mỗi việc
Trang 3Bài tập 3 : a) Các biện pháp tu từ về từ được dùng trong đoạn văn trích Chiếc nhẫn bằng thép của nhà văn Pau-tốp-xki :
- So sánh : mùa xuân như một bà chủ trẻ tuổi
(Khái niệm trừu tượng) (Khái niệm cụ thể)
- Nhân hoá :
+ Mùa xuân đi dạo.
+ Bà chủ đó liếc nhìn.
+ Mùa xuân tiến bước đều.
+ Con suối reo to hơn.
b) Tập phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn văn trên
Nhà văn Pau-tốp-xki miêu tả cảnh mùa xuân vừa đến, trên nước Nga xứ ôn đới đầy băng tuyết lạnh giá cuối đông Giống như một nhà nhiếp ảnh tài ba, tác giả
đã chớp được phút chuyển giao kì diệu từ mùa đông sang mùa xuân Bằng cách sử dụng xen kẽ khéo léo nghệ thuật so sánh “Mùa xuân như bà chủ trẻ tuổi” với nghệ thuật nhân hoá : “Mùa xuân đi dạo ngoài đồng” khiến người đọc hình dung mùa xuân như một phụ nữ rất đẹp, rất trẻ, nhưng rất sang trọng và quyền uy, bản lĩnh đang đi dạo trên cánh đồng cuối đông Nga Cái uy, cái đẹp của bà chủ trẻ tuổi đó như có sức mạnh huyền diệu Rất nhẹ nhàng với cách dùng từ “chỉ cần” và động từ “liếc nhìn”, bà chủ trẻ tuổi đã làm cho thiên nhiên biến đổi đến lạ lùng Con suối đang im lặng (vì đóng băng) lập tức “chảy róc rách, tràn trề” Hai từ gợi
tả : âm thanh “róc rách” và hình ảnh “tràn trề” đã cho thấy mùa xuân đem về sức sống mới cho cảnh vật Kì diệu thay ! Bà chủ trẻ tuổi mùa xuân ! Mỗi bước đi của
bà lai làm cho âm thanh cuộc sống ngân vang hơn, “làm những con suối reo to hơn” Thật đàng hoàng, tự tin, bà chủ ấy cứ “bước đều”, “bước đều” Bà đi đến đâu, cuộc sống reo vui đến đấy Đó là một nét đẹp trong cảnh giao mùa từ đông sang xuân của nước Nga - xứ ôn đới Đất nước Việt Nam quê hương em - xứ nhiệt đới, nên khi mùa xuân sang không có âm vang sống động tưng bừng như nước Nga
Em chưa đến nước Nga, song qua những câu văn miêu tả độc đáo của nhà văn Pau-tốp-xki, em như được sống trong, cảnh ấy ! Thật thú vị biết bao khi qua các ngôn
từ thôi, mà đâu đây như có băng tan, tuyết chảy, chim hót, dòng sông cuộn sóng
Trang 4(Đoạn văn : 15 câu)
Bài tập 4 : a) Bài thơ sử dụng phương thức biểu đạt chính : Tự sự : C
b) Tác giả La Phông-ten đã thành công trong sử dụng nghệ thuật nhân hoá Tên con vật được viết hoa như tên riêng của người Nhờ nghệ thuật nhân hoá, con Diệc biết suy nghĩ, tính toán, cân nhắc như con người Đầu tiên, ta có thể nhận ra Diệc rất tin, nó đi kiếm sống mà “lững thững”, có vội gì đâu ! Nhà thơ khéo chọn con Diệc (cùng họ với cò) có “đôi chân cao ngẳng”, có cổ vươn dài, nghĩa là rất nhiều thuận lợi trong kiếm ăn Trước hết Diệc gặp cá Cá Chép, Cá Măng là loại cá
“cao cấp”, ăn rất ngon, mà bắt lại “quá dễ” nên Diệc “không thèm bắt”, dáng đi
“đủng đỉnh” của nó khẳng định : nó rất yên tâm về khả năng kiếm sống của nó Lúc quay lại thấy Rô Con, nó nghĩ “chả bõ bẩn mồm” Lúc xuất hiện “Cân Cấn”,
nó nghĩ “cá nhép không ăn” Cuối cùng lội mò mãi nó đành ăn ốc Sên Nhờ nghệ thuật nhân hoá, con Diệc đã nghi và hành động như một con người Từ đây, câu chuyện có lời khuyên nhủ, và lời khuyên ấy đi vào lòng người dễ dàng
c) Diễn xuôi bài thơ trên :
Một con Diệc có đôi chân cao và cái cổ dài Nó lững thững ra ven sông kiếm
ăn Dưới chân nó, nước trong vắt, có thể nhìn thấy Cá Chép vùng vẫy, Cá Măng lượn vòng quẩn quanh Bắt Cá Chép, Cá Măng lúc này quá dễ, nhưng Diệc ta chưa thèm bắt, vì cho rằng chưa đến giờ ăn Diệc ta còn đủng đỉnh đi dạo quanh quẩn một hồi, thấy đói bụng mới quay lại chỗ khi nãy để tìm cá ngon Khi quay lại, Diệc chỉ thấy Rô Con, nó lẩm bẩm “Ăn Rô chả bõ bẩn mồm” và quyết tìm cá ngon mới
ăn Song Diệc cũng chỉ thấy vài con Cân Cấn, Diệc ta lại nghĩ “Vài con nhép, ăn uống gì” và nó cứ lọ mọ lội mò suốt dọc quãng sông Cuối cùng, đói quá, Rô Con chẳng thấy, Cân Cấn cũng không, Diệc ta đành phải dùng ốc Sên vậy Từ câu chuyện Diệc đi kiếm ăn trên, ta rút ra bài học : Đừng chê những cái nhỏ, mà có lúc trắng tay Sống ở đời không nên quá kén vì sẽ lỡ dịp may
(Đoạn văn : 10 câu)
- Có thể đặt đầu đề cho câu chuyện là "Con Diệc" hoặc : “Già kén, kẹn hom”
Bài tập 5 :
Trang 5a) C
b) B
c) C
d) Khi viết về đàn cò, nhà thơ Trần Đăng Khoa lại tách câu thơ thành 3 câu nhỏ, xuống dòng liên tiếp ba lần khiến nhịp câu thơ tạo thành 3/2/2 rõ rệt, nhằm diễn tả rõ đàn cò khiêng nắng rất nặng, không thể bay la lả như mọi lần được, nhịp bay có chậm đi nhiều, cách ngắt câu thơ đã hỗ trợ cho động từ nhân hoá “khiêng” một cách đắc lực
e) Qua ba dòng thơ cuối đoạn, em có thể nhận ra thời gian lúc nhà thơ đang
ở cánh đồng là đã quá 12 giờ trưa vì “Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” là đã vào đầu giờ chiều ; lại “có vẻ vui tươi” (ánh nắng mặt trời rất rực rỡ) ; bọn trẻ nhìn lên bác khi cười phải “nhăn nhó” vì chói mắt Thật là hồn nhiên, vì mấy ai đưa cả
“nhăn nhó”, vào thơ
f) Viết đoạn văn ngắn, phân tích đoạn thơ :
Đi bắt cá cùng các bạn, bên những ruộng lúa “xanh non”, thiên nhiên đồng quê như mở ra một thế giới tưởng tượng trong hồn thơ thi sĩ 10 tuổi
Sáng hôm ấy có gió (không đọc đến câu thơ thứ bảy của đoạn, cũng biết) vì hai bím tóc của các chị lúa “phất phơ” và các “cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” Ai cũng nhìn thấy lúa và tre trong gió, nhưng chưa ai diễn tả độc đáo như Khoa, chưa ai dùng nhân hoá biến lúa và tre thành những người chị, người bạn gần gũi tuổi thơ như Khoa Bức tranh đồng quê của tác giả không chỉ có gió thổi, mà còn có nắng đẹp Nắng chiếu trên lưng đàn cò trắng, lại được nhà thơ diễn tả :
Đàn cò trắng Khiêng nắng Qua sông
với thái độ đầy trách nhiệm Câu thơ được cắt làm ba nhịp 3/2/2 đã giúp đàn cò nhập vai trong nghệ thuật nhân hoá Gió được gọi là “cô” (không thể là cậu) vì gió mềm mại, uyển chuyển Mặt trời được gọi là “bác” như một người cao tuổi, làm
Trang 6được bao điều hữu ích Song, “cô gió” hay “bác mặt trời” vẫn chưa phải là “điểm
sáng” cần chú ý Cái mà người đọc thấy thú vị, ngộ nghĩnh là ở chi tiết : “Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” và Nhìn chúng em nhăn nhó cười ”.
Đoạn thơ là một bức tranh làng quê miền Bắc Việt Nam thật sống động Đoạn thơ này sẽ còn mở ra trong cảm nhận ở mỗi người đọc nhiều điều sâu sắc, nếu biết rằng đoạn thơ được viết vào năm 1968, tại quê hương nhà thơ
(Đoạn văn : 12 câu)
Bài tập 6 : a) Đoạn văn của tác giả Trần Hoàng viết về động nước ở Phong
Nha gồm hai câu (trích) :
- Câu 1 không những nhận xét, đánh giá khối thạch nhũ trong động, mà còn miêu tả thêm sắc màu của nó
- Câu 2 tả một nét độc đáo của cảnh động : những nhánh phong lan xanh biếc rủ xuống từ trên vách động
Để hấp dẫn bạn đọc, khi tả cũng như khi nhận xét, đánh giá, người viết đã sử dụng từ ngữ cũng như cách diễn đạt đặc biệt:
“Bàn tay tài hoa của tạo hoá” là cách nói ẩn dụ về thiên nhiên đã tạo dáng cho các khối thạch nhũ
Để diễn tả màu sắc của các khối thạch nhũ này, người viết không viết “màu sắc” mà lại dùng là “sắc màu” (hai lần), lần thứ hai liên tiếp có hai định ngữ “lóng lánh như kim cương”, “không bút nào tả hết” Sự đánh giá về sắc màu còn được chuyển lên trước để nhấn mạnh “rất huyền ảo”
b) Hình ảnh “những nhánh phong lan xanh biếc” trên vách động gợi cho người đọc nhiều cảm xúc, liên tưởng
- Từ “xanh biếc” cũng gợi một sắc màu sáng xanh trong động tối (bổ sung một nét cho sắc màu của những khối thạch nhũ kia)
- Chất thơ toát lên từ những nhánh phong lan xanh biếc bởi nó đối lập với tất
cả những gì đã hiện diện trong động tối (nó là non tơ bên cạnh những khối đá già nua - nó là sự sống mới nảy sinh bên cạnh những sự vật đã lâu đời trong động)
Trang 7- Nó là sức sống mãnh liệt của phong lan.
Bài tập 7
a) D
b) D
c) C
d) Em bé trong bài thơ rất thích và mong Tết đến Tâm lí đó rất đúng với mọi người Việt Nam vì Tết Nguyên đán là Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, là ngày chuyển giao giữa năm cũ và năm mới Người Việt Nam trong ngày Tết này thường làm bánh chưng, bánh giầy, làm cỗ cúng Trời Đất và Tổ tiên Đó là ngày sum họp gia đình đầm ấm của người Việt Đó cũng là ngày mà người Việt Nam có những lời chúc tốt đẹp tới mọi người trong gia đình và cộng đồng, hướng về cội nguồn
Đặc biệt là các em bé thì càng thích và mong Tết đến vì nhiều thứ, vì “Được
ăn, còn được chơi”
Nhưng lí do khiến em lại nhắn Tết “Hãy đến từ từ thôi !” vì em rất thương
bà ngoại Mỗi năm Tết đến, bà lại già đi, tóc bà lại bạc thêm Đó là chủ đề chính của bài thơ
e) Có người nhận xét : “Đây là bài thơ về tình cháu với bà, nhưng bài thơ lại diễn tả rất tự nhiên tâm lí trẻ thơ.”
Đúng vậy
- Đây là bài thơ về tình bà cháu Việc tả không khí Tết, cũng như sự mong mỏi Tết về là một phương tiện để diễn tả tình cháu với bà theo phương pháp đòn bẩy : Mong Tết đến như thế, nhưng vì thương ngoại, sự mong chờ ấy đã thay đổi
- Nhưng bài thơ lại diễn tả rất tự nhiên tâm lí trẻ thơ : ở những chi tiết rất hồn nhiên và tinh tế
+ “Hương nếp thơm quá trời !” (Rất hồn nhiên, rất Nam Bộ)
+ “Tết thích ơi, là thích Được ăn, còn được chơi”
Trang 8+ “Tết ơi ! Có thương ngoại Hãy đến từ từ thôi !”.
Chi tiết cuối này có nhiều điều thú vị : em bé gọi Tết để nhắn nhủ như người bạn và nhắc Tết của bé như em và cũng có ngoại Nhưng không phải là Tết đừng đến, mà Tết hãy đến từ từ thôi Như thế mới mềm mại và hợp lí, như thế mới phù hợp tâm lí trẻ thơ ; rất thương ngoại, nhưng Tết vẫn phải đến
Bài tập 8 : a) Trong đoạn cuối của truyện Bức tranh của em gái tôi (tác giả
Tạ Duy Anh - Sách Ngữ văn 6, tập hai, trang 30) khi mẹ và anh đi cùng với Kiều
Phương đến nhận giải nhất quốc tế về hội hoạ của Kiều Phương vẽ người anh, tác giả đã diễn tả hai lần người mẹ hỏi người anh :
- Lần 1 : (Khi cả hai mẹ con mới nhìn bức hoạ) “Con có nhận ra con
không ?” Ý người mẹ muốn nói : Con xem em Kiều Phương vẽ con có giống không, có đẹp không ?
- Lần 2 : (Sau khi cả hai mẹ con đã xác định rõ bức hoạ cũng như dòng chữ
“Anh trai tôi” trên bức họạ) người mẹ vẫn hồi hộp “Con đã nhận ra con chưa ?” Câu hỏi lần hai khiến người đọc khách quan cảm nhận như một câu hỏi tu từ (theo dụng ý của người viết ?), hoặc do cá nhân cảm thụ của người đọc (Ngoài ý muốn của người viết)
+ Con đã nhận ra con trong bức hoạ chưa ? Một người anh tuyệt vời phải như thế đó
+ Con đã nhận ra con trong đời thường chưa, con đã nhận ra cách cư xử, những suy nghĩ ích kỉ của con chưa ? Từ bức hoạ này soi vào, con đã nhận ra con người thực của con chưa ?
b) Thực ra, khi nhìn bức hoạ của em gái, người anh đã nhận ra tất cả Người anh dự kiến, nếu nói được cùng mẹ, anh sẽ nói : “Không phải con đâu, đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy”
Câu nói ấy đã diễn tả rất sâu sắc tâm tư của người anh Bức hoạ ấy đúng là
vẽ người anh, nhưng anh lại nói “Không phải con đâu ” vì tự nhận thấy mình không xứng đáng được trân trọng như thế Nhưng sáng tạo nên bức hội hoạ ấy, phải là một Kiều Phương có tâm hồn cao thượng, giàu tưởng tượng nghệ thuật, phải là một Kiều Phương nhân hậu, giàu lòng vị tha và bao dung Câu nói trên của
Trang 9người anh dự báo sẽ có một người anh của Kiều Phương trong tương lai, trong đời thường đẹp như bức hoạ được giải
Bài tập 9 : Hai từ “xuân” (Trong hai đoạn thơ của Hoàng Như Mai và Lâm
Thị Quỳnh Anh) được hiểu theo nghĩa chuyển Từ “xuân” trong đoạn thơ 1 chính
là tình yêu thương của mẹ đối với tuổi thơ của bé Bởi vì bé đã “bắt gặp mùa xuân” trong vòng tay yêu thương của mẹ Mùa xuân cho bé thật giản dị và cần cho bé biết bao ! Cho nên bé ước ao thật xúc động :
Ước chi vòng tay ấy
Ôm hoài thơ ấu con.
Từ “xuân” trong đoạn thơ 2 cũng được hiểu theo nghĩa chuyển Nếu “xuân”
ở đoạn 1 là vòng tay yêu thương của mẹ với bé, thì ở đoạn 2, mùa xuân cần cho tuổi thơ của bé biết chừng nào :
Và trong bầu sữa mẹ Xuân ngọt ngào dòng hương.
Dòng sữa mẹ ấm áp chính là mùa xuân nuôi bé lớn với nghĩa đầy đủ nhất :
cả vật chất và tinh thần Các mẹ hãy giữ mùa xuân cho các bé !
(Đoạn văn : 9 câu)
Bài tập 10 : a) Có người nhận xét : “Bài thơ Cơn dông mang những nét rất
gần gũi với làng quê miền Bắc Việt Nam”
- Điều đó đúng, trước hết ở đề tài bài thơ là Cơn dông Đó là hiện tượng
thiên nhiên thường xảy ra ở miền Bắc Việt Nam về mùa hè
- Tiếp theo, các sự vật trong bài thơ bốn câu đều rất bình dị, gần gũi với nông thôn đồng bằng miền Bắc Việt Nam : “làng”, “bờ ao”, “gốc cây bàng”, “quả bòng”, “Ao con’’
- Hơn nữa, cơn dông được miêu tả gọn mà đúng với thực tế : cơn dông bất ngờ ập đến, dông gió có thể cuộn lên ngay ở giữa làng, và từ đó gió xoáy mọi phía Dông gió mạnh làm cho “bờ ao lở, gốc bàng nghiêng, bòng rụng nổi trên mặt ao
Trang 10Dông gió mạnh đến mức làm cho nước ở ao con (vốn tĩnh lặng) phải nổi sóng bạc đầu
b) Nếu biết rằng, năm 1972 là năm bọn giặc Mĩ ném bom, bắn phá miền Bắc
ác liệt, thì bài thơ Cơn dông còn có ý nghĩa sâu sắc : Bài thơ đã diễn tả được hai
điều :
- Sự ác liệt của chiến tranh do kẻ thù tàn ác đem đến làng quê đang sống thanh bình
- Tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt Nam trong những năm tháng đánh giặc
(Nghệ thuật nhân hoá “quả bòng”, “ao con” đã làm rõ điều này)
c) Được sống và học tập trong khung cảnh hoà bình, đọc bài thơ Cơn dông,
em thầm biết ơn những người đi trước đã gìn giữ cho em mảnh đất này với những ngày tươi đẹp hôm nay Em phải gắng học tập để góp phần gìn giữ cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc ấy
Bài tập 11 : a) Cách diễn đạt về “trăng” trong đoạn thơ của nhà thơ Hải Như
gợi cho em nhiều cảm xúc và suy nghĩ về Bác Hồ kính yêu :
- Trăng là người bạn thuỷ chung của Bác Giờ đây trăng vẫn là người bạn, đang cùng chúng ta vào lăng viếng Người Nghệ thuật nhân hoá đã diễn tả rõ ý này
- Trăng là người bạn thơ của Bác trong mọi hoàn cảnh Qua trăng, ta thấy con người thi sĩ trong Bác Hồ
b) Ba từ “ngủ” trong hai câu thơ 3 và 4 có những điểm giống nhau và khác nhau :
Giống nhau : Cả ba đều xuất phát từ nghĩa chính : diễn tả trạng thái nghỉ ngơi của con người trong một ngày
Khác nhau :
- Ngủ (1) (câu 3) là nghĩa chính (ý câu thơ : ca ngợi tấm lòng của Bác với dân, với nước, lúc nào cũng lo lắng)