PHẦN A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội. Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy: Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6% đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua. Tỷ lệ bạo lực tinh thần ở mức cao: có 54% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộc đời và 25% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua. Tất cả những phụ nữ cho biết đã trải qua bạo lực thể chất và tình dục thì đồng thời cũng chịu bạo lực tinh thần. Nếu kết hợp dữ liệu của cả 3 hình thức bạo lực cho thấy 58% phụ nữ đã từng trải qua cả bạo lực thể chất, tình dục và tinh thần. 27% phụ nữ cho biết đã chịu ít nhất một trong 3 hình thức bạo lực này trong 12 tháng qua. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng. Các số liệu mới được đưa ra đã nêu bật một thực trạng là đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lực gia đình ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ. Tại một số vùng ở Việt Nam đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cứ 10 phụ nữ thì có 4 người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ. Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu giếm nhiều. Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều “bình thường” và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm ấm cho gia đình. Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thể chất và tinh thần của người phụ nữ. Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần. So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần. Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bao hành. Theo báo cáo nghiên cứu, khoảng 5% phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian mang thai. Trong hầu hết các trường hợp này, họ đã bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng lạm dụng. Nghiên cứu khẳng định bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam là một trong các vấn đề xã hội cấp bách cần được quan tâm, tập trung giải quyết, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với các lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “ Bạo lực gia đình. Vận dụng hình thực tham vấn cho một trường hợp cụ thể” làm đề tài tiểu luận của mình. PHẦN B. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH. 2.1. Bạo lực là gì? Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ”. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em… 2.1.1. Bạo lực gia đình là gì? Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007). Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”. Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau. 2.1.2. Đặc điểm, dầu hiệu bạo lực, hình thức bạo lực. Đặc điểm bạo lực gia đình. Một số đặc điểm chung nhất, điển hình nhất của bạo lực gia đình như sau: Một là, bạo lực gia đình xảy ra giữa các thành viên gia đình hoặc những người đã từng có quan hệ gia đình. Vì vậy, phạm vi của bạo lực gia đình khá rộng và có tính bao quát. Hai là, bạo lực gia đình khó bị phát hiện, khó can thiệp bởi nó thường xảy ra trong gia đình; mà đã là chuyện gia đình thì người ngoài rất ít khi can thiệp. Ba là, bạo lực gia đình tồn tại dưới nhiều kiểu loại và dạng thức khác nhau. Có thể là bạo lực gia đình giữa vợ – chồng, cha mẹ – các con, ông bà – các cháu, anh, chị, em trong gia đình với nhau,… Dấu hiệu bạo lực gia đình. Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng. Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng. Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Cưỡng ép quan hệ tình dục. Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính. Hình thức bạo lực. Xét về hình thức, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau: Bạo lực thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ. Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình. Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản…). Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con. 2.1.3. Các dạng bạo lực trong gia đình. Bạo lực giữa vợ, chồng với nhau: bạo lực giữa người chồng đối với người vợ trong gia đình là dạng bạo lực phổ biến nhất trong gia đình (chiếm 70%). Hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực đối với chồng: thường biểu hiện ở những lời lẽ chửi bới, những cách ứng xử thô bạo, thậm chí đánh đập chồng, quản lý thời gian và tiền bạc quá chặt chẽ, cấm vận về tình dục với chồng… gây ra những tổn thương về thể chất hoặc tính mạng của người chồng. Bạo lực giữa cha mẹ và con cái: xuất phát từ cái quan niệm gọi là “Yêu cho roi cho vọt – Ghét cho ngọt cho ngào” cần phải nghiêm khắc với con. Bạo lực gia đình từ người con đối với cha mẹ: đây là hành vi bất hiếu, đi ngược lại đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình: anh em, chú cháu đánh nhau vì xích mích, mâu thuẫn trong cuộc sống, vì tranh chấp tài sản, chị em mắng chửi, nói xấu nhau. 2.1.4. Nguyên nhân của bạo lực gia đình. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình do các tệ nạn xã hội mà người chồng hoặc vợ mắc phải như: nghiện rượu, sa vào cờ bạc, kinh tế khó khăn, người chồng có tính gia trưởng, mất vị trí trụ cột trong gia đình, con cái vi phạm pháp luật (chiếm 63,7%) Sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả vợ chồng và các con, do trình độ học vấn thấp. Do không hiểu biết pháp luật, thiếu hiểu biết về bình đẳng giới, mang nặng tư tưởng về định kiến giới, tất yếu dẫn đến bạo lực gia đình (đây là nguyên nhân gốc rễ sâu xa của vấn đề ). Đời sống vợ chồng không được thoả mãn về tình dục thường dẫn đến sự phản bội trong tình yêu và hôn nhân, ngoại tình, dẫn đến gia đình tan vỡ. Việc thực thi pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả chưa cao. Những nạn nhân của bạo lực gia đình (chủ yếu là người phụ nữ người vợ) có thái độ cam chịu, không muốn tố cáo, không muốn “vạch áo cho người xem lưng”. Xem đây là chuyện của riêng gia đình chứ không phải chuyện của xã hội. Hiện nay hình phạt còn quá nhẹ, không tương xứng với hậu quả mà nó gây ra, tính phòng ngừa răn đe còn hết sức hạn chế. Bạo lực gia đình là một hiện tượng tiêu cực đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức văn hóa của dân tộc. Vì vậy Luật phòng chống bạo lực gia đình do Quốc Hội thông qua có hiệu lực từ tháng 72007. 2.1.5. Hậu quả của bạo lực gia đình. Hậu quả của mỗi hành vi bạo lực gia đình trực tiếp hay gián tiếp đều tác động và ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình và trật tự xã hội. + Làm tổn thương về tinh thần đối với những người bị bạo hành. + Gây thương tích thân thể, thậm chí gây tử vong. + Vợ chồng ly thân dẫn đến ly hôn gia đình tan vỡ. + Gây nhiều hậu quả xấu và nhiều vấn nạn xã hội phải giải quyết. 2.2. Giải pháp chống bạo lực gia đình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi bạo lực trong gia đình là do thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kỹ năng cư xử trong gia đình.Việc tư vấn góp ý kiến, phê bình đối với các đối tượng ở trên có ý nghĩa quan trọng và thiết thực, giúp mọi người nhận thức đúng đắn và sửa chữa hành vi bạo lực của mình đối với vợ chồng. Luật quy định cả việc tư vấn, góp ý ở trong cộng đồng dân cư, tại điều 17 trong luật này. Thứ nhất, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình, đặt mục đích giáo dục pháp luật lên hàng đầu ( bao gồm từ điều 9 đến điều 11 ) , khoản 1 điều 9 quy định “ Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.” Thứ hai, thực hiện Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình( từ điều 12 tới điều 15). Kịp thời, chủ động, kiên trì,hòa giải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tôn trọng sự tự nguyện tiến hành hòa giải của các bên, luôn khách quan, công minh, có lý, có tình. Thứ ba, Là phương pháp tư vấn góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình bao gồm điều 16 và điều 17 trong Luật phòng chống bạo lực gia đình có quy định về nội dung tư vấn là khoản 2 Điều 16 “Tư vấn về gia đình ở cơ sở bao gồm các nội dung sau đây: Cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; Hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình. Tuy nhiên, với những trường hợp việc đóng góp ý kiến trở lên không hiệu quả, vợ chồng vẫn thực hiện các hành vi bạo lực đối với chồng vợ của mình thì vấn đề xử phạt là điều rất cần thiết nhằm xử lý hành vi này một cách triệt để. Điều này, Luật cũng quy định cụ thể và chi tiết. 2.3. Nguyên tắc tham vấn cho nạn nhân bị bạo lực gia đình. Bảo mật thông tin tham vấn. Thân chủ trọng tâm. Tôn trọng và chấp nhận. Lắng nghe. Thấu cảm phù hợp. Không được lợi dụng thân chủ. Tránh mối quan hệ sóng đôi.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
- -TIỂU LUẬN THAM VẤN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CHỦ ĐỀ: BẠO LỰC GIA ĐÌNH.
Giảng viên : TS Lê Thị Thủy
Họ và tên : Nguyễn Văn Trường
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2020
Trang 3Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam đượcChính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho thấy:Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo lực tại một thời điểm nào đótrong cuộc đời Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thểchất trong cuộc đời và 6% đã trải qua bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua Tỷ lệ bạolực tinh thần ở mức cao: có 54% phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần trong cuộcđời và 25% bị bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua Tất cả những phụ nữ cho biết đã trảiqua bạo lực thể chất và tình dục thì đồng thời cũng chịu bạo lực tinh thần Nếu kết hợp dữliệu của cả 3 hình thức bạo lực cho thấy 58% phụ nữ đã từng trải qua cả bạo lực thể chất,tình dục và tinh thần 27% phụ nữ cho biết đã chịu ít nhất một trong 3 hình thức bạo lựcnày trong 12 tháng qua
Các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiềuhơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng Các số liệu mới được đưa ra
đã nêu bật một thực trạng là đa số phụ nữ Việt Nam đều có nguy cơ tiềm tàng bị bạo lựcgia đình ở một hay một vài thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ Tại một số vùng ởViệt Nam đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số cứ 10 phụ nữ thì có 4 người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối với họ
Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bịgiấu giếm nhiều Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ cònnghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều “bình thường” và người phụ nữ cần bao
Trang 4phụ nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì cómột người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong
số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần So với những phụ nữ chưa từng bị bạohành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sứckhỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần Phụ nữ
có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bao hành Theo báo cáo nghiên cứu, khoảng 5%phụ nữ từng có thai cho biết họ đã bị đánh đập trong thời gian mang thai Trong hầu hếtcác trường hợp này, họ đã bị chính người cha của đứa trẻ mình đang mang trong bụng
Nghiên cứu khẳng định bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam là một trong các vấn đề xãhội cấp bách cần được quan tâm, tập trung giải quyết, nhất là ở khu vực nông thôn, vùngsâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Với các lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “ Bạo lực gia đình Vận dụng hình thực tham vấn cho một trường hợp cụ thể” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 5PHẦN B CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH.
2.1.1 Bạo lực gia đình là gì?
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007) Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”.
Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình
có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau
Trang 62.1.2 Đặc điểm, dầu hiệu bạo lực, hình thức bạo lực.
Đặc điểm bạo lực gia đình.
Một số đặc điểm chung nhất, điển hình nhất của bạo lực gia đình như sau:
Một là, bạo lực gia đình xảy ra giữa các thành viên gia đình hoặc những người đã
từng có quan hệ gia đình Vì vậy, phạm vi của bạo lực gia đình khá rộng và có tính baoquát
Hai là, bạo lực gia đình khó bị phát hiện, khó can thiệp bởi nó thường xảy ra trong
gia đình; mà đã là chuyện gia đình thì người ngoài rất ít khi can thiệp
Ba là, bạo lực gia đình tồn tại dưới nhiều kiểu loại và dạng thức khác nhau Có thể
là bạo lực gia đình giữa vợ – chồng, cha mẹ – các con, ông bà – các cháu, anh, chị, emtrong gia đình với nhau,…
Dấu hiệu bạo lực gia đình.
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tínhmạng
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm
Trang 7 Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêmtrọng.
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà vàcháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năngcủa họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc vềtài chính
Hình thức bạo lực.
Xét về hình thức, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau:
Bạo lực thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn
thương tới sức khỏe, tính mạng của họ
Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh
dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành
viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản…)
Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các
quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con
Trang 82.1.3 Các dạng bạo lực trong gia đình.
Bạo lực giữa vợ, chồng với nhau: bạo lực giữa người chồng đối với người vợ
trong gia đình là dạng bạo lực phổ biến nhất trong gia đình (chiếm 70%)
Hiện tượng người vợ sử dụng bạo lực đối với chồng: thường biểu hiện ở những
lời lẽ chửi bới, những cách ứng xử thô bạo, thậm chí đánh đập chồng, quản lý thời gian
và tiền bạc quá chặt chẽ, cấm vận về tình dục với chồng… gây ra những tổn thương vềthể chất hoặc tính mạng của người chồng
Bạo lực giữa cha mẹ và con cái: xuất phát từ cái quan niệm gọi là “Yêu cho roi
cho vọt – Ghét cho ngọt cho ngào” cần phải nghiêm khắc với con.
Bạo lực gia đình từ người con đối với cha mẹ: đây là hành vi bất hiếu, đi ngược
lại đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình: anh em, chú cháu đánh nhau vì
xích mích, mâu thuẫn trong cuộc sống, vì tranh chấp tài sản, chị em mắng chửi, nói xấunhau
2.1.4 Nguyên nhân của bạo lực gia đình.
Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình do các tệ nạn xã hội mà người chồng hoặc
vợ mắc phải như: nghiện rượu, sa vào cờ bạc, kinh tế khó khăn, người chồng có tính
gia trưởng, mất vị trí trụ cột trong gia đình, con cái vi phạm pháp luật (chiếm 63,7%)
Sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả vợ chồng và các con, do trình độ học vấn
thấp Do không hiểu biết pháp luật, thiếu hiểu biết về bình đẳng giới, mang nặng tư tưởng
về định kiến giới, tất yếu dẫn đến bạo lực gia đình (đây là nguyên nhân gốc rễ sâu xa của vấn đề ).
Đời sống vợ chồng không được thoả mãn về tình dục thường dẫn đến sự phản
bội trong tình yêu và hôn nhân, ngoại tình, dẫn đến gia đình tan vỡ
Việc thực thi pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả chưa cao.
Những nạn nhân của bạo lực gia đình (chủ yếu là người phụ nữ - người vợ) có thái độ
cam chịu, không muốn tố cáo, không muốn “vạch áo cho người xem lưng” Xem đây là
chuyện của riêng gia đình chứ không phải chuyện của xã hội
Trang 9 Hiện nay hình phạt còn quá nhẹ, không tương xứng với hậu quả mà nó gây ra,
tính phòng ngừa răn đe còn hết sức hạn chế
Bạo lực gia đình là một hiện tượng tiêu cực đi ngược lại những chuẩn mực đạođức văn hóa của dân tộc Vì vậy Luật phòng chống bạo lực gia đình do Quốc Hội thôngqua có hiệu lực từ tháng 7/2007
2.1.5 Hậu quả của bạo lực gia đình.
Hậu quả của mỗi hành vi bạo lực gia đình trực tiếp hay gián tiếp đều tác động vàảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình và trật tự xã hội
+ Làm tổn thương về tinh thần đối với những người bị bạo hành
+ Gây thương tích thân thể, thậm chí gây tử vong
+ Vợ chồng ly thân dẫn đến ly hôn gia đình tan vỡ
+ Gây nhiều hậu quả xấu và nhiều vấn nạn xã hội phải giải quyết
2.2 Giải pháp chống bạo lực gia đình.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi bạo lực trong gia đình là dothiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kỹ năng cư xử trong gia đình.Việc tư vấn góp ý kiến, phêbình đối với các đối tượng ở trên có ý nghĩa quan trọng và thiết thực, giúp mọi ngườinhận thức đúng đắn và sửa chữa hành vi bạo lực của mình đối với vợ/ chồng Luật quyđịnh cả việc tư vấn, góp ý ở trong cộng đồng dân cư, tại điều 17 trong luật này
Trang 10Thứ nhất, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình, đặt mục đích giáo dục
pháp luật lên hàng đầu ( bao gồm từ điều 9 đến điều 11 ) , khoản 1 điều 9 quy định “Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm thay đổi nhận thức, hành
vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức
về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.”
Thứ hai, thực hiện Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia
đình( từ điều 12 tới điều 15) Kịp thời, chủ động, kiên trì,hòa giải phù hợp với chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và
phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Tôn trọng sự tự nguyện tiến hành hòa
giải của các bên, luôn khách quan, công minh, có lý, có tình
Thứ ba, Là phương pháp tư vấn góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng
ngừa bạo lực gia đình bao gồm điều 16 và điều 17 trong Luật phòng chống bạo lực gia
đình có quy định về nội dung tư vấn là khoản 2 Điều 16 “Tư vấn về gia đình ở cơ sở bao
gồm các nội dung sau đây: Cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; Hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
Tuy nhiên, với những trường hợp việc đóng góp ý kiến trở lên không hiệu quả, vợ/chồng vẫn thực hiện các hành vi bạo lực đối với chồng/ vợ của mình thì vấn đề xử phạt là
Trang 11điều rất cần thiết nhằm xử lý hành vi này một cách triệt để Điều này, Luật cũng quy định
cụ thể và chi tiết
2.3 Nguyên tắc tham vấn cho nạn nhân bị bạo lực gia đình.
- Bảo mật thông tin tham vấn
- Thân chủ trọng tâm
- Tôn trọng và chấp nhận
- Lắng nghe
- Thấu cảm phù hợp
- Không được lợi dụng thân chủ
- Tránh mối quan hệ sóng đôi
CHƯƠNG III BẠO LỰC GIA ĐÌNH.
3.1 Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình ở nước ngoài.
Tham vấn được sử dụng lần đầu tiên bởi B.Davis, khi ông thành lập trung tâmtham vấn hướng nghiệp đầu tiên tại Detroit năm 1898 Từ giữa thế kỷ XX, khi tham vấnphát triển như một nghề chuyên nghiệp ở một số nước, trong đó phải kể đến nhữngnghiên cứu về tham vấn, hoạt động tham vấn và trị liệu tâm lý của G.Williamson, CarlRogers…
Năm 1930 E.G Williamson đã phát triển một lý thuyết toàn diện về tham vấn vớiquy trình 5 bước:
1 Phân tích, xác định vấn đề đưa ra ghi chép có thể và trắc nghiệm đối với
khách hàng
Trang 123 Chẩn đoán, giải nghĩa vấn đề.
4 Tham vấn hỗ trợ đối tượng giải quyết vấn đề.
5 Theo dõi khẳng định lại Lúc này tham vấn thực sự chuyển hướng từ tư vấn nghề
nghiệp sang tham vấn trên tất cả các lĩnh vực
Theo Froehlich W.D (1993) thì “Tham vấn chỉ sự giúp đỡ quyết địnhhay định hướng thông qua các nhà chuyên môn như bác sỹ, các nhà tâm lý học, giáo dụchọc, cán bộ xã hội…trong những cuộc đàm thoại cá nhân hay nhóm Tham vấn thườngđược kết hợp những cuộc trao đổi thăm dò diễn ra trước đó cũng như những nghiên cứutrắc nghiệm và gắn với các chương trình can thiệp hỗ trợ khác” Trên nền tảng những tưtưởng và cách tiếp cận của Parsons, G Williamson (1930), trong lý thuyết về tham vấnvới tên gọi “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”, các tác giả đã bổ sung và phát triển quy trìnhtham vấn giải quyết vấn đề với 5 bước cơ bản từ chẩn đoán, kết thúc đến theo dõi
Tại Mỹ, Canada, Singapore, Philippin khi phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ nhậnđược sự hỗ trợ của nhà tham vấn, nhân viên công tác xã hội Khi phụ nữ bị bạo lực giađình đến hoặc được giới thiệu đến trung tâm tham vấn, trung tâm công tác xã hội hoặcnơi làm việc của nhà tham vấn, nhà tham vấn tiếp nhận, đánh giá, xác định vấn đề, xâydựng kế hoạch giải quyết vấn đề Nhà tham vấn, sẽ là người đồng hành cùng với phụ nữ
bị bạo lực gia đình trong suốt quá trình trợ giúp Dựa trên những kiến thức và hiểu biếttâm lý, tâm lý xã hội nhà tham vấn, tìm cách hỗ trợ về tâm lý xã hội và trị liệu với từng cánhân
Thông thường hình thức ThV và trị liệu đối với các nạn nhân là tham vấn trực tiếptrong các trung tâm, phòng tham vấn với phụ nữ bị bạo lực gia đình Những nhà thamvấn là những người kết nối dịch vụ hỗ trợ cho phụ nữ bị bạo lực gia đình điều phối cácdịch vụ Các thành viên trong gia đình của các phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ được cungcấp các dịch vụ xã hội Ngoài dịch vụ tham vấn cá nhân, các thành viên trong gia đìnhcũng được hỗ trợ thông qua các dịch vụ tham vấn gia đình, tham vấn nhóm, tham gia cáccâu lạc bộ, tham gia các khóa tập huấn về kỹ năng sống, tập huấn về kiến thức gia đình
và nâng cao nhận thức về bạo lực gia đình
Trang 133.2 Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình
ở trong nước.
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, nên việc tìm kiếm cácnguồn tư liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình ởViệt Nam không nhiều vì vậy trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu gặp phải một số khókhăn Dưới đây em xin nêu ra một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề tham vấn cho phụ
nữ bị bạo lực gia đình
Trước năm 1945 ở một số bệnh viện như bệnh viện Bạch Mai đã có mặt của một
số cán bộ xã hội và họ đã sử dụng kỹ năng tham vấn vào quá trình trợ giúp cho bệnh nhânchữa trị tại bệnh viện Ở Miền nam trước những năm 1975 đã có những khóa đào tạotham vấn được đề cập trong các khóa đào tạo cán sự xã hội do thạc sỹ Nguyễn Thị Oanh,
TS Trần Thị Giồng tiến hành và sau đó là mô hình tham vấn học đường cũng được đề cập
và phát triển ở miền nam vào những năm 90 của thế kỷ XX Tham vấn ở Việt Nam thực
sự là một lĩnh vực, ngành nghề mới nên các nghiên cứu về tham vấn không nhiều: ThVtâm lý, lý luận về ThV được các tác giả: Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Ngọc Phú, PhạmTất Dong,Trần Quốc Thành, Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn Thị Mùi… đề cập đến trongcác hội thảo khoa học, tạp chí tâm lý học Nghiên cứu của UNPA và Bộ Văn hóa thể thao
và Du lịch năm 2010 để đưa ra hướng dẫn thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đìnhcũng đề cập đến những dịch vụ cần phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, trong đó cónhà tạm lánh, địa chỉ tin cậy cũng như tham vấn hôn nhân gia đình, bao gồm cả tham vấn
cá nhân, tham vấn nhóm đối với các đối tượng liên quan như phụ nữ bị bạo lực gia đình,người gây ra bạo lực gia đình và trách nhiệm tham vấn, tư vấn với cộng đồng Nghiêncứu của Lê Thị Quý năm (2007) về bạo lực gia đình cũng cho thấy hiện nay bạo lực giađình đối với phụ nữ xảy ra nhiều hình thức khác nhau đối với phụ nữ, việc xây dựng các
mô hình, câu lạc bộ tại địa phương cũng có tác động phần nào, tuy nhiên tác giả cũng chỉ
ra thực trạng tư vấn, hòa giải vấn đề bạo lực gia đình còn có những bất cập Nghiên cứucủa UNPA phối hợp với CSAGA (2006) cũng chỉ ra khoảng cách giữa luật pháp và thực
Trang 14bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em của Bùi Thị Xuân Mai (2009) đã chỉ ra sự thiếu hụtcác dịch vụ trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình trong đó đặc biệt là dịch vụ tham vấn.ThV cho phụ nữ bị BLGĐ cũng là một chủ đề được các tổ chức quốc tế đóng tại ViệtNam như: Unicef, Care, Radda Barnen, Plan…quan tâm Đã có được những dự án với sựgiúp đỡ của các chuyên gia ThV về BLGĐ, họ đã tổ chức triển khai tương đối nhiều khóatập huấn về ThV về BLGĐ.
Chuyên mục tư vấn Thanh Tâm trên báo phụ nữ: Mỗi số báo hàng ngày của Báophụ nữ đều có mục tư vấn Thanh Tâm, số lượng người tìm đến ThV trên báo phụ nữ rất
đa dạng về độ tuổi, ở các vùng miền khác nhau với nhiều vấn đề khác nhau như: hônnhân gia đình, tình yêu giới tính…trong đó có ThV về BLGĐ Trong quá trình nghiêncứu trên chuyên mục này về các bài ThV liên quan đến BLGĐ, việc ThV cho nhữngngười bị BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao bởi nhiều lý do khác nhau như: Những ngườiThV không có chuyên môn về ThV nên đã dẫn đến rất nhiều thân chủ được ThV khônghài lòng, có những bài người tiến hành ThV đã phán xét thân chủ, áp đặt các giải pháp,thân chủ không được quyền tự quyết, đưa lời khuyên cho thân chủ, ThV chưa tập trungvào những vấn đề mà thân chủ đang muốn được tháo gỡ…
Chi hội phụ nữ các cấp, hoạt động ThV cho các chị em phụ nữ bị BLGĐthường xuyên được tiến hành bởi các chi hội phụ nữ, các thành viên tổ hòa giải của cụmdân cư hoặc tổ dân phố Tuy nhiên đang tồn tại một thực trạng đó là các cán bộ hội phụ
nữ, các cán bộ hòa giải cơ sở làm công tác ThV cho các chị em phụ nữ bị BLGĐ chưamang lại hiệu quả cao Đa số họ mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những lời khuyên cho chothân chủ chứ chưa thực sự ThV cho chị em hội viên phụ nữ của mình bị BLGĐ hoặc mớichỉ bằng kinh nghiệm và niềm say mê nghề nghiệp chứ chưa được qua đào tạo một cáchbài bản và chuyên nghiệp Chính vì lý do đó nên cũng chưa thực sự mang lại hiệu quả caotrong việc hỗ trợ cho các nạn nhân là phụ nữ bị BLGĐ
ThV của NNBY cho các nạn nhân bị BLGĐ được tiến hành bởi các cán bộ thamvấn cho đến nay phòng ThV đã ThV khoảng 3000 lượt Do là những người có kinhnghiệm và được đào tạo chuyên sâu về ThV nên các nạn nhan đến với phòng ThV đều
Trang 15chưa được nhiều người biết đến nên việc ThV còn hạn chế về số lượt người được ThV.Hầu hết những người được ThV ở ngôi bình chỉ là phụ nữ và trẻ em bị BLGĐ, song trênthực tế có cả những nam giới là nạn nhân của BLGĐ thì chưa được tham vấn.
3.3 Thực trạng thực hiện tham vấn cho một trường hợp cụ thể.
3.3.1 Mô tả tình huống.
Chị D Năm nay 30 tuổi Sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nông, gia đìnhrất hạnh phúc nên chị D luôn có gia đình là chỗ dựa vững chắc về cả mặt vật chất lẫn tinhthần từ nhỏ 20 tuổi chị tìm được việc làm ở một công ty xuất - nhập khẩu, trong một lầntình cờ đi làm thì chị gặp được anh Y là nhân viên bốc vác tạm thời tại công ty Chị D vàanh Y phải lòng nhau sau đó tiến tới hôn nhân, sau khi kết hôn thì anh Y quyết định nghỉviệc ở nhà mở hàng tạp hóa Cuộc sống hôn nhân của chị D, 3 năm đầu khá là viên mãn,
vợ chồng anh chị có 1 bé gái tên N làm gia đình anh chị càng thêm hạnh phúc Một thờigian sau đó, anh Y bị người ngoài tác động nói là “đàn ông gì mà thua kém vợ”, “núp váyvợ”, “vợ đi kiếm tiền còn chồng ở nhà chơi”, Anh Y không nói gì với chị D mà chịuđựng một mình, do dồn nén lâu ngày anh Y ngày càng trở nên khó tính, cáu bẩn Anh Y
về nhà khuya hơn và hay cáu giận với chị D Đỉnh điểm là một hôm anh Y say rượu và đã
ra tay đánh chị D, chị D nghĩ anh Y say nên không để ý trong lòng chị rất buồn Nhưng
sự việc vẫn tiếp tục diễn ra, anh Y đánh chị D nhiều hơn, bé N do nhiều lần chứng kiếncảnh anh Y đánh chị D mà trở nên sợ hãi, xa lánh bố Chị D không dám nói sự việc nàycho ai biết cả, ngay cả bố mẹ vì sợ bố mẹ lo lắng, và hơn cả chị rất sợ bố mẹ chồng đứng
về phe chồng Chị D bế tắc vô cũng và không biết phải làm thế nào Bé N trong một lầnđến chơi với ông bà đã vô tình kể lại sự việc trên cho ông bà nghe Bà dường như rất hiểu
và thông cảm với chị D nên đã giới thiếu đến trung tâm tham vấn XY nhờ sự giúp đỡ củanhà tham vấn
Mô tả quá trình tham vấn.
Giai đoạn 1: Tiếp xúc ban đầu, tạo lập mối quan hệ.
NTV: Cháu chào bác, chào anh chị ạ Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là Hằng, đến từ