1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo THỰC HÀNH tâm lý học LAO ĐỘNG TRUNG tâm GDDB HỪNG ĐÔNG

35 615 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Thực Hành Tâm Lý Học
Tác giả Nguyễn Văn Trường
Người hướng dẫn T.s Nguyễn Thị Hương, Ths. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Lao Động Xã Hội
Chuyên ngành Tâm Lý Học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 4,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG 2.1. Khái quát cung về tâm lý học lao động. Những yếu tố của con người tác động đến lao động bao gồm: Thể chất: thể hiện chủ yếu ở sức khỏe và tình trạng thần kinh đảm nhiệm nhiệm vụ lao động. Trình độ nhận thức, tỉnh cảm và cảm xúc: của con người thể hiện sự hứng thú khi nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ý chí, thuộc tính tâm lý cá nhân: Thể hiện ở xu hướng và tính cách tạo nên một màu sắc riêng biệt của cá nhân khi đảm đương nhiệm vụ 2.1.2 Khái niệm Tâm lý lao động. Tâm lí học Lao động là một môn Tâm lý học chuyên ngành nghiên cứu các đặc điểm tâm lý trong các loại hoạt động lao động nhằm góp phần phát triển con người toàn diện, đồng thời góp phần cải tiến quá trình lao động và nâng cao hiệu quả lao động của con người. 2.2. Đối tượng của Tâm lý học lao động. Tâm lý học lao động đề cập tới hoạt động lao động nói chung, mà hoạt động của con người diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau nên tâm lý học lao động cũng bao hàm một phạm vi rộng lớn, gồm tâm lý học kinh doanh, tâm lý học hành chính, tâm lý học quản lý, trường học . Dù ở lĩnh vực hoạt động nào thì đối tượng nghiên cứu của tâm lý học lao động bao gồm: Các hoạt động lao động. Những đặc điểm nhân cách của người lao động, đặc điểm về nghề nghiệp của họ. Môi trường xã hội. Lịch sử và môi trường lao động cụ thể mà trong đó hoạt động lao động được thực hiện. Các mối quan hệ giữa các cá nhân trong lao động. Các công cụ lao động, các sản phẩm lao động và các phương pháp dạy lao động 2.2.1 Nhiệm vụ của Tâm lý học lao động. Tâm lý học lao động có nhiệm vụ chung là làm tăng sức làm việc của con người bằng cách vận dụng những nhân tố tâm lý khác nhau. Để thực hiện được nhiệm vụ chung này. Nghiên cứu những quy luật tâm lý của sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo lao động, sự hình thành tay nghề cao nhằm hoàn thiện các phương pháp dạy lao động Nghiên cứu các phương tiện nâng cao năng suất lao động và tổ chức lao động một cách đúng đắn. Nghiên cứu các phương tiện kỹ thuật làm cho chúng phù hợp với những đặc điểm tâm lý của con người nhằm mục đích hoàn thiện kỹ thuật hiện có và tham gia vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế kỹ thuật mới. CHƯƠNG III. YẾU TỐ THẨM MĨ TRONG LAO ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA CHÚNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 3.1. Yếu tố thẩm mỹ trong lao động. 3.1.1. Khái niệm về lao động vầ yếu tố thẩm mỹ trong lao động. Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và cácgiá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tốquyết định sự phát triển của đất nước. (Trích từ lời mở đầu Luật lao động) Lao động là một mối đồng quy giữa mọi mối quan hệ qua lại giữa: người và tự nhiên. người và máy. người và người. Con người sống trên trái đất có nghĩa vụ và quyền lợi tham gia lao động mà thựcchất là đem sức lực tinh thần và vật chất của mình tác động vào tự nhiên nhằm tăng cườngvà chế biến của cải trên trái đất. Trong quá trình lao động đó, những người lao động lại cóquan hệ qua lại với nhau nhằm thúc đẩy quan hệ ngày càng thu được hiệu quả cao hơn.Rõ ràng, yếu tố tâm lý con người có liên quan mật thiết với lao động. Người lao động, kểcả người lao động đơn giản, đặc biệt là người quản lý tổ chức lao động rất cần những kiếnthức về tâm lý học và càng cần biết vận dụng những yếu tố tâm lý vào lao động. Vai trò của lao động trong cuộc sống con người: + Lao động là loại hoạt động đặc trưng của con người. + Lao động sáng tạo ra chính bản thân con người. + Lao động thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân. + Lao động là nguồn gốc của sự phồn thịnh xã hội cũng như của từng thành viên. 3.1.2. Khái niệm về yếu tố thẩm mĩ trong lao động. Yếu tố thẩm mĩ trong lao động được hiểu là những giá trị tác động tới tâm lý người lao động, hiệu quả sản xuất và an toàn lao động. Trong lao động không chỉ có một mà có thể có nhiều yếu tố thẩm mĩ cùng tham gia. Việc đưa các yếu tố thẩm mỹ vào trong lao động là một biện pháp có hiệu quả lớn nhằm hạ thấp sự mệt mỏi và nâng cao năng suất lao động. Có hai yếu tố thẩm mỹ quan trọng được đưa vào trong lao động sản xuất: màu sắc và âm nhạc. 3.2. Màu sắc trong lao động sản xuất. Tâm lý con người thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh. Đôi khi đang buồn lại có thể vui ngay khi nhìn thấy nụ cười của người khác, nhiều lúc cảm thấy buồn chán bỗng lại thấy phấn chấn chỉ vì nghe một bài hát yêu thích. Trong số các tác động ngoại cảnh thì màu sắc là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhất. Màu sắc là một trong những phương tiện gây tác động xúc cảm đến con người mạnh nhất, gây ảnh hưởng đến cảm giác của con người, đến sinh lý của con người, đến sức làm của con người, đến trạng thái tâm lý, đến tâm trạng con người, đến kết quả lao động của con người cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Màu da cam là màu rực rỡ, hăng say: vì màu này có tác dụng làm nóng vừa cótác dụng kích thích. Trong công việc mầu da cam có ý nghĩa báo hiệu nguy hiểm với nhiệt độ cao, thông báo chú ý nguy hiểm . Màu vàng là màu của sự tươi vui, sảng khoái: Màu này có độ sáng cao nhất trong quang phổ, gây kích thích đối với thị giác. Những sắc điệu khác nhau của màu vàng có khả năng làm dịu bớt trạng thái thần kinh quá căng thẳng, màu vàng còn được sử dụng để chữa bệnh thần kinh. Trong công việc màu vàng báo hiệu nguy hiểm cơ học, sơn những vật sắc nhọn, động cơ máy, điểm nguy hiểm, thông báo chú ý. Màu lục là màu dịu dàng nhất của tự nhiên: đó là một màu tươi mát, màu lục làm cho trí óc được thư giãn. Màu hồng nhạt: Màu hồng nhạt là đại diện tiêu biểu nhất cho sự dịu dàng. Khi để những người đang bực tức nhìn thấy màu hồng nhạt, tâm trạng của họ lập tức sẽ thay đổi. Bởi màu hồng nhạt có tác dụng giúp cho tuyến thượng thận giảm tiết hoóc môn, điều này giúp cho tâm trạng ổn định hơn. Màu đỏ: Màu đỏ là màu có tác dụng kích thích. Tuy nhiên không nên tiếp xúc quá nhiều với màu đỏ, không những gây hại cho thị lực mà còn khiến cho con người có cảm giác buồn nôn. Đối với những người có bệnh về não thì tuyệt đối không nên nhìn màu đỏ. 3.2.1. Vai trò của màu sắc trong lao động. Màu sắc được sử dụng để tạo điều kiện tối ưu cho tri giác nhìn: dùng màu sắc tối ưu về sinh lý để sơn cho các vật dụng nằm trong trường thị giác của người lao động, sử dụng màu sắc có hệ số phản chiếu cao (trắng, vàng, sáng lục tăng độ chiếu sáng trong phòng làm việc… + Tạo điều kiện tối ưu cho các hoạt động lao động: sử dụng các nhóm thiết bị cùng loại bằng một mầu riêng biệt, sơn các nút bấm điều khiển, các chuyển mạch bằng màu sắc khác biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động lao động sản xuất. + Nâng cao sức làm việc cho người lao động: giảm sự mệt mỏi, mệt nhọc trong quá trình lao động. + Cải thiện điều kiện nơi làm việc: dùng màu sắc tạo cảm giác phòng làm việc sạch sẽ, thoáng mát, rộng rãi. + Sử dụng màu sắc hợp lý có thể hỗ trợ cho sự tập trung chú ý vào đối tượng của công việc: nếu công việc đòi hỏi sự di chuyển chú ý thường xuyên từ đối tượng này sang đối tượng khác cần tránh màu sặc sỡ, tương phản và nên dùng màu tương đối đơn điệu. + Sử dụng báo hiệu: bằng màu sắc trong các phân xưởng sản xuất, trong giao thông nhằm đảm bảo an toàn lao động. 3.2.2. Vai trò của âm nhạc trong hoạt động sản xuất. a.) Vai trò của âm nhạc trong lao động sản xuất. Ảnh hưởng của nhịp điệu và âm nhạc đến trạng thái tâm lý và hoạt động lao động của con người đã được quan tâm từ lâu. Từ xa xưa con người đã sử dụng âm nhạc như làmột phương tiện chữa bệnh nhằm nâng cao tinh thần của người bệnh. Trong quá trình lao động phối hợp cùng nhau đã nảy sinh các điệu hò, câu hát rất phong phú đa dạng có tác dụng huy động sức mạnh tinh thần của người lao động, thí dụ như hò kéo pháo, hò chèo thuyền, hò mái đẩy. Âm nhạc tác động đến con người 2 mặt: Tạo ra một tâm trạng tốt và nhịp điệu lao động cao, ổn định. Điều này dẫn đến hạ thấp độ mệt mỏi trong lao động Hiện nay, âm nhạc được sử dụng rộng rãi tại các xí nghiệp, công xưởng nơi màngười lao động thực hiện những công việc đơn điệu, quen thuộc bận tâm chú ý. b.) Những nguyên tắc cần chú ý khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuất. + Thời gian sử dụng nhạc trong ngày lao động sản xuất cụ thể như sau: Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ được trình bày trong cuốn“Nghệ thuật và sản xuất” của V.V. Svili thì thời gian tối ưu có sử dụng nhạc trong ngàylà 1giờ. Sử dụng nhạc 1 giờ trong ngày có tác dụng tăng năng suất lao động lên 12%. +Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô xác định thời gian sửdụng nhạc có hiệu quả nhất là 2 giờ 30 phút. Căn cứ vào các công trình nghiên cứu của Mỹ và Liên Xô có thể đưa ra số thời gian sử dụng nhạc trong một ngày làm việc từ 1giờ đến 2giờ 30 phút. Nguyên tắc nhỏ giọt cáclần mở nhạc trong ngày lao động đem lại những kết quả tốt nhất. + Tính chất của âm nhạc trong lao động Nhịp độ và âm độ của nhạc sử dụng trong lao động tuỳ thuộc tính chất của các động tác lao động, theo trình độ hiểu biết âm nhạc của người lao động, thị hiếu của họ và thờigian của ca sản xuất. Âm độ và nhịp độ (nhanh hay chậm) của nhạc phải điều chỉnh tuỳ theo mức độ tập trung chú ý của người lao động vào công việc. Thí dụ công việc đòi hỏi phải tập trung chúý nhiều thì âm độ của nhạc thấp và nhịp điệu phải càng thanh thản hơn. Ngược lại côngviệc đòi hỏi sự tập trung chú ý ít thì âm độ và nhịp độ của nhạc cao. • Không dùng nhạc Jazz có nhịp độ và âm độ thay đổi thường xuyên vào lao động sản xuất sẽ làm tăng sự mệt mỏi và hạ thấp sức làm việc của người lao động. Khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuất phải tính đến thị hiếu và trình độ hiểu biết âm nhạc của người lao động. Vì vậy trước khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuất cần điều tra sở thích âm nhạc của người lao động: “Anh (chị) thích những bản nhạc nào. • Không dùng nhạc có lời trong lao động sản xuất vì nhạc có lời gây mất tập trung chú ý vào công việc. Nội dung của âm nhạc trong lao động sản xuất: • Không nên dùng một bản nhạc hai lần trong một tuần. • Ngay trong một ngày làm việc nội dung của bản nhạc phải phù hợp với sựthay đổi của sức làm việc: + Giai đoạn bắt tay vào làm việc: dùng nhạc có âm độ lớn, nhịp độ nhanh nhằm mụcđích làm cho người lao động bắt vào nhịp lao động một cách nhanh chóng. + Giai đoạn sức làm việc cao và ổn định: dùng nhạc có âm độ, nhịp độ thấp, thanh thản nhằm củng cố nhịp lao động tối ưu, đẩy lùi mệt mỏi. + Giai đoạn sức làm việc giảm sút: cần dùng nhạc sảng khoái, giàu sinh khí, có nhịp độ nhanh. + Vào cuối giờ làm việc nên dùng nhạc mạnh, nhịp độ nhanh, hào hứng, yêu đời đem lại niềm vui và tinh thần thư thái cho người lao động sau một ngày lao động. Nhạc dùng trong giờ giải lao: Dùng nhạc sinh động, vui tươi, trong đó có cả nhạcvà lời. Giờ giải lao buổi chiều hoặc ca đêm cần nhạc sảng khoái, tỉnh táo nhằm phục hồi khả năng lao động. Để kích thích người lao động tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho họ. Thí dụ: Như ở Nhật nhiều hãng có bài chính ca. Hãng Mát su xi ta có bài chính ca với lời bài ca như sau: Chúng ta liên kết sức lực và trí tuệ, ta sẽ làm được mọi cái vì sự phồn vinh. Hãy cứ để cho hàng hoá của chúng ta đến với mọi dân tộc trên thế giớ. Cứ để cho chúng tuôn chảy không ngừng, vĩnh cửu, như nước ở vòi phun không bao giờ cạn. 4.1.Khái niệm hoạt động giáo dục và ứng dụng của yếu tố thẩm mĩ trong hoạt động giáo dục. Trước khi tìm hiểu khái niệm hoạt động giáo dục là gì ta cần xem xét lại khái niệm cơ sở về giáo dục: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, một quá trình, trong đó, dưới tác động có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp của người giáo viên, với tư cách là nhà giáo dục, nhà sư phạm, học sinh tự giác, tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện nhằm hình thành thế giới quan và những phẩm chất nhân cách tốt đẹp của người công dân tương lai. Theo đó, hoạt động giáo dục là quá trình tác động có hệ thống và có mục đích đến tâm lý người bị giáo dục, để luyện tập cho họ những thói quen cũng như những phẩm chất tâm lý mà người giáo dục mong muốn. 4.2.Ứng dụng của yếu tố thẩm mĩ trong hoạt động giáo dục. Như chúng ta đã biết, việc sử dụng màu sắc trong trường học đã nhiều công trình nghiên cứu trong đó có công trình nghiên cứu của Acgônôvích đã chứng minh: học sinh tiểu học ưa thích nhất những màu sáng chói và nguyên chất, tuổi càng lớn thì các em càng ham thích những màu có sắc điệu lạnh và phức tạp. Đó là cơ sở khoa học để dùng màu sơn các công cụ trong xưởng, trường, đồ dùng học tập, sách giáo khoa, đồ dùng dạy học, trang trí lớp học. Làm cho quang cảnh nhà trường được tươi mát, vui mắt bằng cách trồng các cây xanh. Để cung cấp bóng mát và không khí trong lành cần trồng cây cao to, có vòm lá phủ được một phần mái nhà, sân trường, trong những ngày nắng hè. Ứng dụng của yếu tố thẩm mĩ trong hoạt động giáo dục không nằm ngoài mục đích giáo dục, nội dung giáo dục cũng như phương pháp giáo dục. Ở đây ứng dụng của yếu tố thẩm mĩ trong giáo dục thẩm mĩ cho người học. 4.2.1. Giáo dục thẩm mĩ trong hoạt động giáo dục của nhà trường. Phát triển con người toàn diện theo quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin là mục đích hướng tới của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó bao gồm những yếu tố đức dục, trí dục, thể dục, mĩ dục, lao động, hướng nghiệp. Sự phát triển hài hòa những yếu tố trên không chỉ tạo cho thế hệ trẻ có được tiềm năng phát triển trên cơ sở tiếp nhận những gì đã có của xã hội, động thời còn giúp cho thế hệ trẻ biết đánh giá một cách lành mạnh đúng đắn cuộc sống tinh thần và vật chất của xã hội mang lại theo cách riêng của mình phù hợp với những chuẩn mực xã hội. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, và là việc cần phải tiến hành một cách nghiêm túc. Có thể coi trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ. Ở lứa tuổi này, tâm hồn trẻ rất nhạy cảm dễ xúc động đối với con người và cảnh vật xung quanh, trí tưởng tượng của trẻ bay bổng và phong phú. Do vậy, năng khiếu nghệ thuật và cũng thường được nảy sinh từ lứa tuổi này. Khi nó đến giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo, ta thường coi đó là nhiệm vụ của trường mầm non với các “tiết học” tạo hình, múa hát, đóng kịch… mà hầu như ít người chú ý. Đến một trong những nhà giáo dục chủ yếu nhất và tuyệt vời nhất – đó chính là gia đình. Sự cảm nhận đầu tiên , rực rỡ nhất, ấn tượng nhất về vẻ đẹp được bắt nguồn từ thẩm mỹ của cha mẹ từ mối quan hệ giao tiếp ứng xử tốt đẹp trong gia đình, đây là điều kiện quan trọng nhất để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Hiện nay, các bậc cha mẹ không phải ai cũng ý thức được vai trò của gia đình đối với giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non, cha mẹ có thể tham khảo các biện pháp giáo dục sau: Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua việc sử dụng môi trường thiên nhiên nguồn ấn tượng không bao giơ cạn về cái đẹp chính là thiên nhiên. Thiên nhiên có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển mạnh mẽ đối với sự phát triển của tâm hồn con người. Chẳng phải mỗi lúc buồn chán, ta tìm đến thiên nhiên, ngồi yên lặng nhìn đồng cỏ với âm thanh rì rào trong gió, ta lại cảm thấy yêu đời hơn, muốn sống tốt đẹp hơn. Trẻ nghe những câu chuyện kèm theo những bức tranh minh họa sinh động. Hãy kể cho trẻ nghe những câu chuyện cổ tích, đưa trẻ vào thế giới bí ẩn đầy huyền thoại và giàu trí tưởng tượng, gợi lên ở trẻ những ước mơ về cái đẹp , cái nhân hậu luôn chiến thắng cái xấu, cái thấp hèn. Hãy khuyến khích trẻ đọc những bài thơ ca hay, giàu tình cảm… tất cả những cái đó đều làm nảy sinh trong tâm hồn trẻ những cảm xúc lớn lao, hướng trẻ học tập và làm theo những nhân vật tốt đẹp trong câu chuyện, hình thành ở trẻ tính yêu đối với văn học, biết trân trọng sách vở, có thói quen và hứng thú đọc sách này. 4.2.2. Giáo dục thẩm mĩ trong hoạt động giáo tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học tâm lý – Giáo dục Hừng Đông. Màu sắc rất quan trong họat động lao động tại trung tâm Giáo Dục Hừng Đông, cũng như một phần đóng góp một phần rất quan trọng trong quá trình can thiệp cho trẻ. Trẻ nhỏ luôn hứng thú với việc tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua quan sát. Trẻ nhỏ thường rất thích tò mò tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua quan sát. Mỗi tuần dạy bé một màu sắc sẽ giúp trẻ nhớ lâu màu sắc đó. Tuần đầu tiên, nếu bạn dạy bé màu đỏ, hãy cố gắng cho bé tiếp xúc với những đồ vật có màu đỏ nhiều nhất. Ví dụ bạn có thể cho bé mặc áo đỏ, giày dép đỏ, balo đỏ,... Hoặc có thể cho bé tiếp xúc với những đồ chơi có màu đỏ như bóng đỏ, đồ xếp hình màu đỏ,… Nhắc đi nhắc lại màu đỏ với bé bé sẽ nhớ màu vô cùng hiệu quả. Nhà trị liệu chỉ cần nói thật chậm rãi để trẻ kịp tiếp thu và ghi nhớ. Có những trò chơi khác nhau để giúp trẻ phân biệt màu sắc: – Cho trẻ chơi nhặt đồ vật có cùng màu vào mỗi hộp từ đống đồ chơi có màu khác nhau. – Trò chơi đố vui: đưa một đồ chơi có màu xanh ra chẳng hạn, bảo trẻ tìm một đồ chơi khác có màu xanh ở trong phòng và bảo trẻ gọi tên màu đó ra. – Cho trẻ chơi thi đua xem ai tìm được đồ chơi cùng màu nhiều nhất trong một đống đồ chơi. – Cho trẻ chơi tô màu theo mẫu hình những bông hoa, con cá, cái cây… – Cho trẻ tập vẽ và tô màu hình vẽ và gọi tên màu vẽ. – Cho trẻ chơi đất nặn, nặn những thứ khác nhau với màu khác nhau. – Cho chơi những ruy băng khác màu. Hãy sử dụng đồ chơi phát ra âm thanh hoặc ta có thể tạo ra âm được để chơi với trẻ, khuyến khích trẻ bắt chước thốt ra âm thanh.  Tập vận động môi bằng các trò chơi như phun mưa, xe chạy.  Để khuyến khích trẻ sử dụng giọng nói, hãy sử dụng các trò chơi hành động, âm thanh như con vẹt biết nói.  Hãy hát thường xuyên, có dừng lại chờ trẻ đệm từ vào.  Hãy sử dụng giọng nói linh hoạt: cao thấp, mạnh mẽ, êm ái, kích thích trẻ. Tùy trong cuộc sống thực tế của Trung tâm, có đồ chơi gì thì cho trẻ chơi thứ ấy, nhưng đối với trẻ nên mua những đồ chơi có màu sắc khác nhau để làm tăng sự hấp dẫn. Những vật dụng hàng ngày của trẻ như quần áo, tất, giày dép, túi, ba lô đựng đồ… cũng nên sử dụng mẫu mã ngộ nghĩnh và màu sắc tươi tắn sẽ khuyến khích sự quan sát của trẻ và làm cho trẻ dễ nhớ dễ tìm đồ của mình. Dạy trẻ nhận biết màu sắc qua đồ vật, trong cuộc sống hàng ngày, trẻ có cơ hội được tiếp xúc với nhiều đồ vật có màu sắc khác nhau. Đây chính là cơ hội để bạn dạy trẻ nhận biết màu sắc. Nên tận dụng mọi lúc để dạy trẻ cách nhận biết màu sắc một cách thường xuyên. Đồng thời, so sánh các vật có màu khác nhau giúp trẻ nhớ và nhận biết màu sắc một cách nhanh và lâu hơn. Những vật dụng thiết yếu có thể làm công cụ cho bạn dạy trẻ nhận biết màu sắc là những vật thân thuộc nhất với bé hàng ngày như quần áo, khăn tắm, bát, thìa, cốc,… + Dạy trẻ nhận biết màu sắc qua trò chơi. + Dạy trẻ nhận biết màu sắc qua những món ăn. 4.3. Yếu tố âm nhạc tác động tới tâm lý trẻ trong trung tâm Giáo Dục – Hừng Đông. Hãy sử dụng đồ chơi phát ra âm thanh hoặc ta có thể tạo ra âm được để chơi với trẻ, khuyến khích trẻ bắt chước thốt ra âm thanh:  Tập vận động môi bằng các trò chơi như phun mưa, xe chạy.  Để khuyến khích trẻ sử dụng giọng nói, hãy sử dụng các trò chơi hành động, âm thanh như con vẹt biết nói.  Hãy hát thường xuyên, có dừng lại chờ trẻ đệm từ vào.  Hãy sử dụng giọng nói linh hoạt: cao thấp, mạnh mẽ, êm ái, kích thích trẻ. + Thu hút sự chú ý của trẻ: Hãy làm cho trẻ thích thú và hưởng ứng sự thích thú của trẻ.  Chỉ cho trẻ những vật đặc biệt, nói về những gì bạn đang nói tới.  Giúp trẻ hiểu cử chỉ, hành động.  Chia sẻ với trẻ. Khi trẻ có món đồ chơi muốn khoe với bạn, thì cầm lấy đồ vật đó và nói: “Ồ, máy bay đẹp quá” trước khi trả lại trẻ. + Sử dụng phòng yên tĩnh, giảm các tác động môi trường. Dùng các dấu hiệu gia tăng sự chú ý của trẻ như chạm vào tai để nghe, chạm vào má để nhìn.  Sử dụng tên trẻ để mở đầu, ví dụ Sóc nghe nào.  Cho trẻ nghe các âm thanh, cường độ khác nhau.  Dùng âm nhạc và các tác động để tương tác với trẻ.  Giúp trẻ ngồi yên, nghe, nhìn trong khoảng thời gian ngắn có thể bằng cách sử dụng đồ chơi, trò chơi trẻ thích.  Sử dụng băng đĩa nhạc kích thích âm thanh nơi trẻ.  Cho trẻ nghe tiếng kêu các con vật, khuyến khích trẻ bắt chước. KẾT LUẬN Việc điều tra kịp thời, chính xác các vi phạm ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động cũng như cải thiện điều kiện lao động và là biện pháp nâng cao năng suất lao động. Các yếu tố thẩm mỹ có tác động to lớn đến tâm lý con người khi lao động. Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu sâu để tìm cách khắc phục những khó khăn đó. Màu sắc hài hòa, phù hợp với bối cảnh giúp người nhìn thoải mái hơn, tránh gây căng thẳng dẫn đến mất tập trung, tăng năng suất lao động của con người. Về phí trẻ: đa số trẻ tự kỷ thường có khó khăn rõ rệt khi tập thể dục và trong các trò chơi, chúng chỉ có thể bắt chước một số động tác đơn giản, nhưng khi các động tác trở nên phức tạp hơn thì trẻ không thể nắm bắt được, nhất là trong các trò chơi phối hợp với đồng bạn. Một điều nghịch lý là trẻ rất khó khăn khi nói, nhưng lại có khả năng nhại lại lời nói của người lớn, trong khi lại rất khó khăn khi lặp lại các động tác. Một số trẻ tỏ ra đặc biệt ưa thích hay sợ hãi một loại tiếng động nào đó. Một số trẻ tỏ ra thích thú với hình ảnh, ánh sáng, âm thanh màu sắc của vô tuyến. Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như một món đồ ăn. Có những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh. Nhiều trẻ tỏ ra không biết đau khi bi ngã, gẫy xương, vết trầy xước, ngược lại cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi đau một tí đã khóc rất lâu. Có một số trẻ chỉ ăn một số món nhất định, đó là một dạng chống đối sự thay đổi. Việc thiết kế màu sắc cho phòng của trẻ có thể trở nên căng thẳng với Trung Tâm khi chúng ta có vô vàn màu để lựa chọn. Đối với trẻ tự kỷ, những màu sắc phù hợp nhất chính là những gam màu dịu nhẹ và trung tính. Tương tự như ánh sáng, một số màu sắc nhất định có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tâm trạng của trẻ tự kỷ. Cần tuyệt đối tránh xa những sắc màu quá tươi hoặc quá tối. Trong khi việc thiết kế phòng cho trẻ thường khuyến khích những màu sắc tươi sáng rực rỡ, đây lại là điều cần hạn chế tối đa đối với không gian sinh hoạt của trẻ tự kỷ. Những màu sắc tươi sáng chỉ nên được dùng làm những điểm nhấn nhỏ trong phòng. Nếu bạn sử dụng giấy dán tường trong phòng của trẻ, cần hạn chế các mẫu giấy dán tường có quá nhiều đường kẻ hoặc hoa văn cầu kỳ, vì chúng có thể khiến trẻ tự kỷ cảm thấy bối rối và mất tập trung. Ưu tiên sử dụng màu sắc dịu nhẹ và các loại sơn tường có thành phần an toàn cho sức khỏe của trẻ.

Trang 1

LLỜI CẢM ƠN

ời đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn

thể quý Thầy cô khoa Công tác xã hội ngành Tâm Lý Học – Trường Đại Học Lao Động Xã Hội trụ sở chính 43 Trần Duy Hưng đã luôn tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu, trong suốt thời gian qua Đó chính là cơ sở, tiền

đề vững chắc giúp em tự tin bước vào thực tế để tìm hiểu và học hỏi nhiều hơn.

Tiếp đến, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo – T.s Nguyễn Thị Hương – Giảng Viên Khoa Công tác xã hội ngành Tâm Lý Học đã quan tâm, giúp đỡ, tận tình chỉ bảo và hướng dẫn, giúp em có những hướng đi đúng đắn để hoàn thành những ngày thực hành ở cơ sở một cách tốt nhất.

Em cũng xin cảm ơn chân thành đến Ths.Nguyễn Thị Thu Hiền - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học tâm

lý – Giáo dục Hừng Đông và các anh chị trong trung tâm đã tận tình giúp đỡ, cho em những kiến thức, nhận xét, góp ý trong thời gian thực hành, cũng như định hướng dẫn các công việc và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành kì thực hành này.

Với năng lực còn hạn chế của một sinh viên, cũng như là thời gian tìm hiểu tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học tâm lý – Giáo dục Hừng Đông có sự hạn chế, sự nhìn nhận hay giải quyết vấn đề còn nhiều sai sót Rất mong nhận được lời đóng góp của các anh chị trong Trung tâm để kì thực hành được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Thành phố Hà Nội, Tháng 7 Năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Văn Trường

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KHOA HỌC

TÂM LÝ – GIÁO DỤC HỪNG ĐÔNG

m xin chân thành cảm ơn đến Ths Nguyễn Thị Thu Hiền và

các anh chị trong Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học tâm lý – Giáo dục Hừng Đông đã tận tình giúp đỡ em

trong thời gian thực hành vừa qua, tạo điều kiện, cũng như hỗ trợ cơ

sở vật chất trong thời gian thực hành ở Trung tâm trong đợt thực tập này, đã cho em những kinh nghiệm quý báu Những kinh nghiệm đó giúp em hoàn thiện hơn trong công việc và môi trường làm việc sau này.

E

Mặc dù em đã hoàn thành báo cáo thực hành với tất cả nỗ lực của bản thân nhưng do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm thực tế chưa cao, nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong sự chia sẻ để em hoàn thành bài tập báo cáo tốt hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hà Nội, Tháng 7 Năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Văn Trường

Trang 4

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC HÀNH

1.1 Thông tin về đơn vị thực hành:

Cơ sở I của Trung tâm Hừng Đông bắt đầu từ mùa hè năm

2014, với các hoạt động đầu tiên là đánh giá, chẩn đoán, can thiệp theo giờ và nhóm kỹ năng xã hội.

Hình 1.1.Cơ sở I của Trung tâm Hừng Đông bắt đầu từ mùa

hè năm 2014, với các hoạt động đầu tiên là đánh giá, chẩn đoán, can thiệp theo giờ và nhóm kỹ năng xã hội.

Cơ sở I của Trung tâm Hừng Đông bắt đầu từ mùa hè năm

2014, với các hoạt động đầu tiên là đánh giá, chẩn đoán, canthiệp theo giờ và nhóm kỹ năng xã hội

Hiện nay, cơ sở I đang cung cấp các dịch vụ:

- Đánh giá, chẩn đoán các rối loạn phát triển

- Tư vấn, trị liệu tâm lý, tình cảm, các mối quan hệ

Trang 5

- Can thiệp sớm cho trẻ rối loạn phát triển, hiện có khoảng

10 trẻ theo học

- Lớp kỹ năng xã hội, hiện tại có 1 lớp dành cho trẻ tiềntiểu học (4-6 tuổi) và 1 lớp dành cho trẻ đang học cấp 1

- Đào tạo về đánh giá và can thiệp rối loạn phát triển cho các

cá nhân và tổ chức có nhu cầu

 Sau 2 năm sau khi phát triển.

Sau 2 năm hình thành, xây dựng và phát triển, hoạt độngdưới sự lãnh đạo của Hội khoa học tâm lý - giáo dục Việt Nam,

Trung tâm Hừng Đông đã bước đầu được sự tin tưởng và ghi

nhận từ phụ huynh và các bạn đồng nghiệp, nay trung do nhu

cầu và định hướng phát triển trung tâm tiếp tục xây dựng cơ sở

mới tại địa chỉ ngõ 135 Nguyễn Xiển, đường vào của khu tập

thể công an Thanh Trì và binh đoàn 12, hoặc đi từ ngõ 64 Kim

Giang

Hình1.1.2 Dưới sự lãnh đạo của Hội khoa học tâm lý - giáo dục Việt Nam, Trung tâm Hừng Đông đã bước đầu được sự tin tưởng và ghi nhận từ phụ huynh và các bạn đồng nghiệp, nay trung do nhu cầu và định hướng phát triển

Trang 6

trung tâm tiếp tục xây dựng cơ sở mới tại địa chỉ ngõ 135 Nguyễn Xiển, đường vào của khu tập thể công an Thanh Trì và binh đoàn 12, hoặc đi từ ngõ 64 Kim Giang.

1.2 Trụ sở chính:

Quản lý cơ sở: ThS Vũ Thị Thu Hiền

Địa chỉ: Nhà C9, ngõ 33 phố Đốc Ngữ, phường Liễu Giai, quận Ba

Đình, TP Hà Nội

Thân gửi các phụ huynh, các nhà chuyên môn, bạn bè đồng nghiệp:

Cơ sở III cung cấp một số dịch vụ chính sau:

 Can thiệp sớm cho trẻ dưới 6 tuổi

 Can thiệp cho nhóm trẻ 6 tuổi - dậy thì

 Can thiệp cho nhóm trẻ lớn, từ tuổi dậy thì

 Lớp kỹ năng xã hội vào buổi tối

 Các hoạt động khác như đánh giá, chẩn đoán, tư vấn, đào tạo, tập huấn, v.v

Can thiệp của Trung tâm được dựa trên cơ sở tổng hợp, lấy giáo dục

và can thiệp hành vi làm nền tảng, lấy khoa học là kim chỉ nam dẫnđường, đặt trẻ là mục tiêu, gia đình trẻ là trọng tâm của quá trình canthiệp Ngoài các nội dung đào tạo về kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, tươngtác, vận động, tự phục vụ, quản lý hành vi, các nội dung bổ trợ khác nhưđiều hòa cảm giác, làm quen và cảm thụ nghệ thuật, dã ngoại, hướngnghiệp ở mức độ đơn giản

Quy trình can thiệp: đánh giá - chẩn đoán - xác định vấn đề và mức

độ của vấn đề, dạy - đánh giá lên chương trình, lên chương trình - mụctiêu trọng tâm 6 tháng, lên chương trình 1 tháng (đây cũng là chươngtrình được sử dụng để can thiệp hàng ngày), ghi sổ nhật kí can thiệphàng ngày, nhận xét chung của giáo viên can thiệp cuối hàng tháng,đánh giá lại kỹ năng sau 6 tháng, và đánh giá lại tổng thể sau 1 nămhoặc theo nhu cầu/đề xuất của gia đình

Đảm bảo chất lượng: Cán bộ của trung tâm tốt nghiệp các ngành

tâm lý, tâm lý - giáo dục, công tác xã hội, mầm non, được đào tạo

Trang 7

khoảng 6 tháng sau khi bắt đầu làm việc tại trung tâm trước khi bắt đầucan thiệp cho trẻ một cách độc lập Trung tâm mời chuyên gia bên ngoài

về làm việc, tập huấn, giám sát, trao đổi chuyên môn với cán bộ của cơ

sở khoảng 1 lần/2 tháng; giám sát của Mạng lưới cơ sở can thiệp trẻ rốiloạn phát triển 1 lần/năm; giám sát, trao đổi trong nội bộ trung tâm 1lần/tuần vào thứ 7

Đặt gia đình là trọng tâm: Phụ huynh có con đang nhận dịch vụ can

thiệp tại cơ sở có thể đến cơ sở bất cứ lúc nào và ở lại bao lâu tùy nhucầu để quan sát việc can thiệp của con, học tập cách thức, kỹ năng canthiệp cho con Tập huấn miễn phí cho phụ huynh khoảng 1 lần/2 tháng

Kế hoạch, sổ liên lạc được chia sẻ với phụ huynh hàng ngày Phụ huynhđược hướng dẫn về kiến thức và kỹ năng làm việc với con miễn phí khi cónhu cầu

Hoạt động dã ngoại/trải nghiệm bên ngoài: Vào thứ 6 hàng tuần, trẻ

sẽ được đi dã ngoại tại một sân chơi hoặc phòng vận động gần cơ sở Mỗitháng trẻ sẽ được đi dã ngoại tại một khu vực xa cơ sở Trung tâm khôngthu chi phí dã ngoại thường xuyên

Hợp tác: Trung tâm luôn có nhu cầu và nguyện vọng hợp tác, kết

nối với các cơ sở cung cấp cùng loại dịch vụ để hỗ trợ trẻ tốt nhất theonhững khu vực khác nhau; liên kết và hợp tác với các trường mầm non,mẫu giáo, tiểu học, trung học công lập và dân lập trên địa bàn để hỗ trợviệc đi học hòa nhập của trẻ; hợp tác với các cơ sở dạy nghề, sản xuất,buôn bán kinh doanh, v.v để hỗ trợ trẻ hòa nhập với cộng đồng

Thu phí: Tùy dịch vụ mà gia đình đăng ký cho trẻ, chi phí gia đình

phải trả sẽ bao gồm một hoặc nhiều hơn trong những khoản sau: chi phítrông giữ (tiền học nhóm, hoạt động chung), ăn, can thiệp theo giờ, đihọc hòa nhập tại trường mầm non Trung tâm không thu tiền cơ sở vậtchất hay tiền dã ngoại Trung tâm có thể giảm học phí cho một số giađình thực sự khó khăn nhưng vẫn quyết tâm cho con đi can thiệp

Trang 8

CƠ SỞ LÝ LUẬNCHƯƠNG II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÂM LÍ HỌC LAO

ĐỘNG 2.1 Khái quát cung về tâm lý học lao động.

Những yếu tố của con người tác động đến lao động bao gồm:

Thể chất: thể hiện chủ yếu ở sức khỏe và tình trạng thần

kinh đảm nhiệm nhiệm vụ lao động

Trang 9

Trình độ nhận thức, tỉnh cảm và cảm xúc: của con người

thể hiện sự hứng thú khi nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao

Ý chí, thuộc tính tâm lý cá nhân: Thể hiện ở xu hướng và

tính cách tạo nên một màu sắc riêng biệt của cá nhân khi đảm đương nhiệm vụ

2.1.2 Khái niệm Tâm lý lao động.

Tâm lí học Lao động là một môn Tâm lý học chuyên ngànhnghiên cứu các đặc điểm tâm lý trong các loại hoạt động laođộng nhằm góp phần phát triển con người toàn diện, đồng thờigóp phần cải tiến quá trình lao động và nâng cao hiệu quả laođộng của con người

2.2 Đối tượng của Tâm lý học lao động.

Tâm lý học lao động đề cập tới hoạt động lao động nóichung, mà hoạt động của con người diễn ra trong nhiều lĩnh vựckhác nhau nên tâm lý học lao động cũng bao hàm một phạm virộng lớn, gồm tâm lý học kinh doanh, tâm lý học hành chính,tâm lý học quản lý, trường học

Dù ở lĩnh vực hoạt động nào thì đối tượng nghiên cứu củatâm lý học lao động bao gồm:

- Các hoạt động lao động

- Những đặc điểm nhân cách của người lao động, đặc điểm

về nghề nghiệp của họ

- Môi trường xã hội

- Lịch sử và môi trường lao động cụ thể mà trong đó hoạtđộng lao động được thực hiện

- Các mối quan hệ giữa các cá nhân trong lao động

Trang 10

- Các công cụ lao động, các sản phẩm lao động và cácphương pháp dạy lao động

2.2.1 Nhiệm vụ của Tâm lý học lao động

Tâm lý học lao động có nhiệm vụ chung là làm tăng sứclàm việc của con người bằng cách vận dụng những nhân tố tâm

lý khác nhau Để thực hiện được nhiệm vụ chung này

- Nghiên cứu những quy luật tâm lý của sự hình thành các

kỹ năng, kỹ xảo lao động, sự hình thành tay nghề cao nhằmhoàn thiện các phương pháp dạy lao động

- Nghiên cứu các phương tiện nâng cao năng suất lao động

và tổ chức lao động một cách đúng đắn

- Nghiên cứu các phương tiện kỹ thuật làm cho chúng phùhợp với những đặc điểm tâm lý của con người nhằm mục đíchhoàn thiện kỹ thuật hiện có và tham gia vào việc xây dựng cơ

sở khoa học cho việc thiết kế kỹ thuật mới

Trang 11

CHƯƠNG III

YẾU TỐ THẨM MĨ TRONG LAO ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA

CHÚNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 3.1 Yếu tố thẩm mỹ trong lao động.

3.1.1 Khái niệm về lao động vầ yếu tố thẩm mỹ trong lao động.

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người,tạo ra của cải vật chất và cácgiá trị tinh thần của xã hội

Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao lànhân tốquyết định sự phát triển của đất nước (Trích từ lời mởđầu Luật lao động)

Lao động là một mối đồng quy giữa mọi mối quan hệqua lại giữa:

là người quản lý tổ chức lao động rất cần những kiếnthức vềtâm lý học và càng cần biết vận dụng những yếu tố tâm lývào lao động

- Vai trò của lao động trong cuộc sống con người:

+ Lao động là loại hoạt động đặc trưng của con người.+ Lao động sáng tạo ra chính bản thân con người

Trang 12

+ Lao động thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thầncủa mỗi cá nhân.

+ Lao động là nguồn gốc của sự phồn thịnh xã hội cũngnhư của từng thành viên

3.1.2 Khái niệm về yếu tố thẩm mĩ trong lao động.

Yếu tố thẩm mĩ trong lao động được hiểu là những giá trịtác động tới tâm lý người lao động, hiệu quả sản xuất và antoàn lao động Trong lao động không chỉ có một mà có thể cónhiều yếu tố thẩm mĩ cùng tham gia Việc đưa các yếu tố thẩm

mỹ vào trong lao động là một biện pháp có hiệu quả lớn nhằm

hạ thấp sự mệt mỏi và nâng cao năng suất lao động Có hai yếu

tố thẩm mỹ quan trọng được đưa vào trong lao động sản xuất:

màu sắc và âm nhạc.

3.2 Màu sắc trong lao động sản xuất.

Trang 13

Tâm lý con người thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tốngoại cảnh Đôi khi đang buồn lại có thể vui ngay khi nhìn thấy

nụ cười của người khác, nhiều lúc cảm thấy buồn chán bỗng lạithấy phấn chấn chỉ vì nghe một bài hát yêu thích Trong số cáctác động ngoại cảnh thì màu sắc là một trong những yếu tố ảnhhưởng nhất

Màu sắc là một trong những phương tiện gây tác động xúccảm đến con người mạnh nhất, gây ảnh hưởng đến cảm giáccủa con người, đến sinh lý của con người, đến sức làm của conngười, đến trạng thái tâm lý, đến tâm trạng con người, đến kếtquả lao động của con người cả về mặt số lượng lẫn chất lượng

- Màu da cam là màu rực rỡ, hăng say: vì màu này có tác

dụng làm nóng vừa cótác dụng kích thích Trong công việc mầu

da cam có ý nghĩa báo hiệu nguy hiểm với nhiệt độ cao, thôngbáo " chú ý - nguy hiểm "

- Màu vàng là màu của sự tươi vui, sảng khoái: Màu này

có độ sáng cao nhất trong quang phổ, gây kích thích đối với thịgiác Những sắc điệu khác nhau của màu vàng có khả năng làmdịu bớt trạng thái thần kinh quá căng thẳng, màu vàng cònđược sử dụng để chữa bệnh thần kinh Trong công việc màuvàng báo hiệu nguy hiểm cơ học, sơn những vật sắc nhọn, động

cơ máy, điểm nguy hiểm, thông báo chú ý

- Màu lục là màu dịu dàng nhất của tự nhiên: đó là một

màu tươi mát, màu lục làm cho trí óc được thư giãn

Màu hồng nhạt: Màu hồng nhạt là đại diện tiêu biểu nhất

cho sự dịu dàng Khi để những người đang bực tức nhìn thấymàu hồng nhạt, tâm trạng của họ lập tức sẽ thay đổi Bởi màuhồng nhạt có tác dụng giúp cho tuyến thượng thận giảm tiết

Trang 14

hoóc môn, điều này giúp cho tâm trạng ổn định hơn.

Màu đỏ: Màu đỏ là màu có tác dụng kích thích Tuy nhiên

không nên tiếp xúc quá nhiều với màu đỏ, không những gây hạicho thị lực mà còn khiến cho con người có cảm giác buồn nôn.Đối với những người có bệnh về não thì tuyệt đối không nênnhìn màu đỏ

3.2.1 Vai trò của màu sắc trong lao động.

Màu sắc được sử dụng để tạo điều kiện tối ưu cho tri giác nhìn: dùng màu sắc tối ưu về sinh lý để sơn cho các vật dụng

nằm trong trường thị giác của người lao động, sử dụng màu sắc

có hệ số phản chiếu cao (trắng, vàng, sáng lục tăng độ chiếusáng trong phòng làm việc…

+ Tạo điều kiện tối ưu cho các hoạt động lao động: sử

dụng các nhóm thiết bị cùng loại bằng một mầu riêng biệt, sơncác nút bấm điều khiển, các chuyển mạch bằng màu sắc khácbiệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động lao động sảnxuất

+ Nâng cao sức làm việc cho người lao động: giảm sự mệt

mỏi, mệt nhọc trong quá trình lao động

+ Cải thiện điều kiện nơi làm việc: dùng màu sắc tạo cảm

giác phòng làm việc sạch sẽ, thoáng mát, rộng rãi

+ Sử dụng màu sắc hợp lý có thể hỗ trợ cho sự tập trung chú ý vào đối tượng của công việc: nếu công việc đòi hỏi sự di

chuyển chú ý thường xuyên từ đối tượng này sang đối tượngkhác cần tránh màu sặc sỡ, tương phản và nên dùng màu tươngđối đơn điệu

+ Sử dụng báo hiệu: bằng màu sắc trong các phân xưởng

sản xuất, trong giao thông nhằm đảm bảo an toàn lao động

Trang 15

3.2.2 Vai trò của âm nhạc trong hoạt động sản xuất.

a.) Vai trò của âm nhạc trong lao động sản xuất

Ảnh hưởng của nhịp điệu và âm nhạc đến trạng thái tâm lý vàhoạt động lao động của con người đã được quan tâm từ lâu Từ xa xưacon người đã sử dụng âm nhạc như làmột phương tiện chữa bệnh nhằmnâng cao tinh thần của người bệnh Trong quá trình lao động phối hợpcùng nhau đã nảy sinh các điệu hò, câu hát rất phong phú đa dạng cótác dụng huy động sức mạnh tinh thần của người lao động, thí dụ như

hò kéo pháo, hò chèo thuyền, hò mái đẩy

- Âm nhạc tác động đến con người 2 mặt:

Tạo ra một tâm trạng tốt và nhịp điệu lao động cao, ổn định.Điều này dẫn đến hạ thấp độ mệt mỏi trong lao động

Trang 16

- Hiện nay, âm nhạc được sử dụng rộng rãi tại các xí nghiệp,công xưởng nơi màngười lao động thực hiện những công việc đơnđiệu, quen thuộc bận tâm chú ý.

b.) Những nguyên tắc cần chú ý khi sử dụng âm nhạc trong laođộng sản xuất

+ Thời gian sử dụng nhạc trong ngày lao động sản xuất cụ thểnhư sau: Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ đượctrình bày trong cuốn“Nghệ thuật và sản xuất” của V.V Svili thì thờigian tối ưu có sử dụng nhạc trong ngàylà 1giờ

Sử dụng nhạc 1 giờ trong ngày có tác dụng tăng năng suất laođộng lên 12%

+Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô xácđịnh thời gian sửdụng nhạc có hiệu quả nhất là 2 giờ 30 phút Căn cứvào các công trình nghiên cứu của Mỹ và Liên Xô có thể đưa ra số thờigian sử dụng nhạc trong một ngày làm việc từ 1giờ đến 2giờ 30 phút

Nguyên tắc nhỏ giọt cáclần mở nhạc trong ngày lao động đem lạinhững kết quả tốt nhất

+ Tính chất của âm nhạc trong lao động

Nhịp độ và âm độ của nhạc sử dụng trong lao độngtuỳ thuộc tính chất của các động tác lao động, theo trình

độ hiểu biết âm nhạc của người lao động, thị hiếu của họ

và thờigian của ca sản xuất Âm độ và nhịp độ (nhanh haychậm) của nhạc phải điều chỉnh tuỳ theo mức độ tậptrung chú ý của người lao động vào công việc Thí dụcông việc đòi hỏi phải tập trung chúý nhiều thì âm độ củanhạc thấp và nhịp điệu phải càng thanh thản hơn Ngượclại côngviệc đòi hỏi sự tập trung chú ý ít thì âm độ vànhịp độ của nhạc cao

 Không dùng nhạc Jazz có nhịp độ và âm độ thay đổithường xuyên vào lao động sản xuất sẽ làm tăng sự mệtmỏi và hạ thấp sức làm việc của người lao động Khi sửdụng âm nhạc trong lao động sản xuất phải tính đến thịhiếu và trình độ hiểu biết âm nhạc của người lao động Vìvậy trước khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuấtcần điều tra sở thích âm nhạc của người lao động: “Anh(chị) thích những bản nhạc nào

Trang 17

 Không dùng nhạc có lời trong lao động sản xuất vìnhạc có lời gây mất tập trung chú ý vào công việc.

- Nội dung của âm nhạc trong lao động sản xuất:

 Không nên dùng một bản nhạc hai lần trong mộttuần

 Ngay trong một ngày làm việc nội dung của bảnnhạc phải phù hợp với sựthay đổi của sức làm việc:

+ Giai đoạn bắt tay vào làm việc: dùng nhạc có âm độ

lớn, nhịp độ nhanh nhằm mụcđích làm cho người lao độngbắt vào nhịp lao động một cách nhanh chóng

+ Giai đoạn sức làm việc cao và ổn định: dùng nhạc

có âm độ, nhịp độ thấp, thanh thản nhằm củng cố nhịplao động tối ưu, đẩy lùi mệt mỏi

+ Giai đoạn sức làm việc giảm sút: cần dùng nhạcsảng khoái, giàu sinh khí, có nhịp độ nhanh

+ Vào cuối giờ làm việc nên dùng nhạc mạnh, nhịp độnhanh, hào hứng, yêu đời đem lại niềm vui và tinh thầnthư thái cho người lao động sau một ngày lao động

- Nhạc dùng trong giờ giải lao: Dùng nhạc sinh động,

vui tươi, trong đó có cả nhạcvà lời Giờ giải lao buổi chiềuhoặc ca đêm cần nhạc sảng khoái, tỉnh táo nhằm phục hồikhả năng lao động Để kích thích người lao động tậptrung vào giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho họ

Ngày đăng: 08/06/2021, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w