Được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đồng ý cho tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến sự hìn
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiết cho các loài cây rừng nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác và nhân giống cây rừng nhanh với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp giâm hom
Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triển thành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc (rễ, củ, …) theo mạch rây Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Axin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ
- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài Năm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt, đã tiến hành nuôi cấy mô tế bào thực vật dể chứng minh tế bào là toàn năng Tế bào có tính toàn năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh
Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan Đặc trưng của hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào con Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau và giống tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt) Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ Tùy thuộc vào các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất [11]
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể mới
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan sinh dưỡng như cành, thân lá Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên cây nguyên vẹn (cây đa, cây si ), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm ra khỏi vỏ Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra rễ một cách dễ dàng Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống
Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn chuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau Thông thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom Nhưng ở nhiều loài cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ Mức độ hóa gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [7]
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trong tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên ngoài Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối với các loài khó ra rễ
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao
Những nghiên cứu trên Thế giới
Sản xuất hoa trên thế giới hiện nay, đang phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành thương mại với giá trị sản lượng cao Sản xuất hoa mang lại chuỗi giá trị rất lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa cây cảnh Cùng chung xu hướng phát triển của thế giới, sản xuất hoa ở các nước châu Á cũng đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ hoa Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên Theo Sudhagar và Phil năm 2013, trên thế giới có hơn 145 quốc gia tham gia vào việc trồng hoa và diện tích các loại cây hoa đang gia tăng đều đặn Năm 2013 có khoảng 305.105 ha diện tích sản xuất hoa ở các nước trên thế giới, trong đó tổng diện tích ở châu Âu là 44.444 ha, Bắc Mỹ 22.388 ha, Châu Á và Thái Bình Dương 215.386 ha, Trung Đông và Châu Phi 2.282 ha, Trung Phi và Nam Phi 17.605 ha Ấn Độ có diện tích lớn nhất với
88.600 ha, theo sau là Trung Quốc với 59.527 ha, Indonesia: 34.000 ha, Nhật Bản 21.218 ha, Hoa Kỳ 16.400 ha, Brazil 10.285 ha, Đài Loan 9.661 ha, Hà Lan 8.017 ha, Ý 7.654 ha, Vương quốc Anh 6.804 ha, Đức 6.621 ha và Colombia 4.757 ha Hoa trồng trong nhà kính trên thế giới là 46.008 ha [18]
Theo Barbara và cs (2014), giá trị xuất khẩu hoa trên thế giới tăng trung bình hàng năm 9% trong giai đoạn 2001 đến 2012 từ 7,1 tỷ đô la Mỹ năm 2001 lên 17,8 tỷ đô la Mỹ năm 2012 Trong đó hoa cắt cành tăng từ 47 % năm 2001 lên 49 % năm 2012 về tổng giá trị xuất khẩu hoa trên thế giới [16]
Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất và chất lượng, giảm chi phí lao động, giảm giá thành sản phẩm Mục tiêu sản xuất hoa hướng tới là giống chất lượng cao và giá thành thấp Châu Âu và Bắc Mỹ là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất thế giới Sản phẩm hoa đã trở thành loại hàng hoá có khối lượng lớn trong mậu dịch quốc tế nhưng do sự chênh lệch về trình độ khoa học kỹ thuật, sự khác biệt về điều kiện môi trường sinh thái nên ở mỗi nước có tốc độ phát triển công nghệ trồng hoa khác nhau Trong mười năm qua, 5 nước xuất khẩu hoa đứng hàng đầu thế giới là Hà Lan, Colombia, Kenya, Ecuador và Ethiopia [17]
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100 năm nay Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường xanh bằng hom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu chương trình nhân giống Bạch đàn Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m 3 /ha/năm [10]
Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m 3 /ha/năm lên 15 m 3 /ha/năm trên đất xấu Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m 3 /ha/năm ở Zimbabuê, 30 m 3 /ha/năm ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 – 100 m 3 /năm/ha [6]
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là ACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiến hành ở các nước Đông Nam á Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada[13] đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các lại cây họ dầu, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thế sản xuất được 200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các lại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ của cây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả hơn, phun sương mù, kĩ thuật trẻ hóa cây mẹ… thì tỉ rễ được cải thiện( vd: Hopea odorta có tỉ lệ ra rễ là 86%, Shorea Leprosula 71% )[12].
Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang được đưa vào sử dụng ngày một nhiều và đóng vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng
Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống hom với một số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây có sợi tại Phù Ninh - Phú Thọ Đây là những nghiên cứu rất sơ khai, song đã mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm sau này ở Việt Nam
Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứu ở đây là các cây lâm nghiệp như Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường và xử lí các chất kích thích ra rễ đến tỉ lệ sống và ra rễ của hom giâm[14]
Trong những năm 1990 trở lại đây,công nghệ sản xuất cây giống bằng mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Từ những kết quả ban đầu của những khu rừng trồng bạch đàn, keo lai bằng mô hom cho thấy chất lượng rừng trồng đã được cải thiện, năng suất rừng tăng lên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế cây trồng rừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho công tác trồng rừng
Trong kĩ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, khí hậu từng vùng, từng quốc gia, thời vụ giâm, giống đem giâm và loại cành[15]
Những nền giâm hay còn gọi là giá thể hiện nay được sử dụng nhiều như: cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vanli calete (hợp chất chưa Mica), peclite (đá chân trâu), dung nhan phun thạch núi lửa… Nếu chỉ giâm cho hom ra rễ mới chuyển hom giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt vào vườn ươm
Những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của giá thể đến hom giâm Ví dụ: Ảnh hưởng của giá thế đến khả năng ra rễ của hom xoan với các loại giá thể như: Cát sông, 50%+50% đất tầng mầu, 20% cát + 50% đất + 30% than chấu, 70% đất+ 30% hỗn hợp ruột bầu và 100% đất bầu thì khả năng ra rễ lần lượt là 39.26%, 52.59%, 52.59%, 57.04%, 39.26%[19]
Như vậy cùng một loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thế khác nhau thì khả năng ra rễ của hom giâm là khác nhau
Các chất điều hòa sinh trưởng cũng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm.Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất và Auxin được chia làm hai nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp
Auxin tự nhiên được biết đến như Axit Indol Axete(IAA)
Các loại Auxin tổng hợp như: Axit Indol Butylic (IBA), Axit Indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với một loại chất kích thích, nồng độ kích thích, thời gian sử lí thuốc và phương pháp sử lí hom cũng khác nhau
Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự hình thành rễ của hom Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lí bằng IAA,IBA, NAA nồng độ 50ppm trong 3 giờ thì có tỉ lệ ra rễ lần lượt là 74,1%, 93,8%,
Cùng một loại thuốc kích thích nhưng ở các loại nồng độ khác nhau thì khả năng ra rễ của hom cũng khác nhau, nồng độ xử lí quá thấp không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao sẽ làm cho hom bị thối rữa trước khi ra rễ Ví dụ:Hom cây xoan xử lý bằng IBA ở các nồng độ khác nhau 0,25% 0,5% 0,75% 1,0% 1,25% 1,5% có tỉ lệ ra rễ khác nhau lần lượt là: 37.78%, 39.26%, 57.78%, 30.37%, 22.22%, 18,52%[19]
Về thời gian xử lí thuốc thì cùng một loại thuốc, nồng độ nhưng thời gian xử lí thuốc là khác nhau thì cho các kết quả khác nhau Ví dụ: Hom
Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ thì có tỉ lệ ra rễ tương ứng là 74%, 81,3%, 73% và 55,7%[4]
Khi xử lí hom bằng thuốc kích thích chúng ta cũng cần chú ý đến nồng độ và nhiệt độ không khí vì chúng cũng có mối quan hệ với nhau
Ngoài ra một số nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại (loại hom, kích thước hom, tuổi hom…) đến khả năng ra rễ của hom cây rừng
Những thông tin về cây Mẫu đơn đỏ (Ixora coccinea)
Cây mẫu đơn đỏ là loài cây ưa ánh sáng, không ưa bóng râm, rất sợ tối và úng nước Có thể trồng cây trên nền đất màu mỡ, thoát nước tốt và đặc biệt lưu ý “cây không thích hợp với loại đất mặn”
Nhiệt độ: Thường bị mẫn cảm với nhiệt độ của đất và ngoài trời, thích hợp với những vị trí có địa thế cao, tầng đất sâu và thoát nước tốt Vào mùa hè, khi trời mưa các bạn cần chú ý tới sự thoát nước của cây, tránh trường hợp mưa to cây thoát nước không kịp dẫn tới hiện tượng chết, mặc dù chỉ trong thời gian ngắn thôi cũng ảnh hưởng khá nhiều tới sự phát triển của cây
Tác dụng: Cây mẫu đơn đỏ cho hoa rất đẹp và có chút hoài cổ nên thường được trồng để làm cây tạo cảnh quan môi trường, cây công trình đẹp tại đường phố, khu đô thị, nhà vườn biệt thự, nhà thờ …
- Vỏ rễ sử dụng để làm thuốc lợi tiểu chữa đái đục và sốt, đau nhức, kiết lỵ, bệnh gan, đau kinh, bệnh co giật, chuột rút… Chỉ cần phơi khô sắc uống là có thể trị được nhiều bệnh [5]
- Hoa của cây cũng chữa được bệnh lỵ…
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây
- Hoa mẫu đơn được nhân giống bằng cách giâm cành hoặc chiết cành
- Thời vụ trồng là quanh năm, có thể trồng cây vào chậu Nhưng thời điểm trồng tốt nhất là tháng 2 và tháng 10 (Đầu đông và cuối thu), bởi giai đoạn này cây sẽ phát triển tốt do không chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết giá rét
- Chọn nền đất tơi xốp có hàm lượng dinh dưỡng cao để trồng cây
- Đào hố sâu và rộng phù hợp với kích thước của cây con Lưu ý: Hố phải sâu và rộng hơn bầu từ 20 – 30 cm Khi trồng cần chú ý để rễ cây trải đều trong hố, sau đó nén chặt đất, tưới nước giữ ẩm cho cây
- Trong 1 tháng đầu tiên trồng cây cần phải cung cấp đủ lượng nước tưới, đặc biệt không nên tưới phân trong giai đoạn này
- Đối với những cây trồng trong chậu, ta cần chọn những chậu sành và có đường kính rộng khoảng hơn 50 cm, sâu từ 60- 70 cm tùy vào từng gốc to hay bé Thích hợp trồng vào tháng 9 và tháng 10
- Sau giai đoạn 1 tháng, cây mẫu đơn ta cần được bón phân theo định kỳ + Đợt 1: Tưới khi chồi lộc xuân
+ Đợt 2: Tưới khi cây ra hoa được 1 tháng
+ Đợt 3: Lặp lại chu kỳ tưới cho cây nhưng ngắn hơn với 15 ngày ( Giai đoạn cây đang có hoa)
+ Đợt 4: Tưới khi vào vụ đông, để cải thiện kết cấu của đất
- Có thể dùng phân lân NPK hoặc những loại phân chuồng, khô đầu, phân bắc để tưới cho cây Tùy thuộc vào từng điều kiện khác nhau mà chọn loại phân phù hợp nhất
- Vào mùa xuân cần phải xới đất và làm cỏ
- Khi nhiệt độ ngoài trời tăng cao cần có biện pháp che phủ cho cây, khi vào buổi tối cần dỡ ra để phòng trường hợp thiếu ánh sáng, cây sẽ bị rụng lá
- Cần cắt hết hoa để cây cho ra bộ lộc mới
- Tỉa cành và tạo dáng cho cây Thường xuyên ngắt và dọn gốc những lá khô Bởi khi trời mưa lá rơi xuống gốc dễ bị tồn đọng nước, dẫn tới hiện tượng thối rễ, thậm chí là gây lên mầm bệnh mới hại cây.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.5.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu
Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp -Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:
Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Phía Tây giáp xã Phúc Hà
Phía Đông giáp khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 25 0 C, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2 - 5 0 C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39 0 C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 0 C
Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là hom cây Mẫu đơn đỏ dưới ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Tháng 8 đến tháng 11 năm 2017 Địa điểm nghiên cứu: trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - xã Quyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
- Theo dõi số hom sống theo định kỳ ở các công thức thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng ra rễ ở các công thức thí nghiệm: Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài của rễ
- Nghiên cứu khả năng ra chồi ở các công thức thí nghiệm: Số hom ra chồi, số chồi/ hom, chiều dài của chồi
- Phương pháp kế thừa và chọn lọc: Kế thừa những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, ….), một số đặc điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu được sử dụng toán thống kê trong lâm nghiệp để kiểm tra kết quả
Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA đến khả năng ra rễ của hom cây Mẫu đơn ta đỏ
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8-11/2017
- Thí nghiệm với IBA được thực hiện với 6 công thức, 3 lần nhắc lại, ở các nồng độ thuốc:
Công thức 1: IBA nồng độ 50ppm Công thức 2: IBA nồng độ 100ppm Công thức 3: IBA nồng độ 150ppm Công thức 4: IBA nồng độ 200ppm Công thức 5: IBA nồng độ 250ppm Công thức 6: Không xử lý thuốc (Đối chứng) Các công thức trong thí nghiệm đồng đều về các điều kiện thí nghiệm khác nhau về nồng độ thuốc
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên:
Nhắc lại Công thức thí nghiệm
1 CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
2 CT6 CT5 CT4 CT3 CT2 CT1
3 CT3 CT2 CT1 CT6 CT5 CT4
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
Hình 3.2: Ảnh bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần); số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm), số liệu ghi vào mẫu bảng:
Bảng theo dõi số hom sống ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: sau giâm hom ngày; Ngày theo dõi: Công thức:
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3
Bảng đo đếm chỉ tiêu rễ ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: cuối đợt thí nghiệm
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3 Hom ra rễ
Bảng đo đếm chỉ tiêu chồi ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: cuối đợt thí nghiệm
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3
Quá trình xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵn trên máy tính
Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính
Bước 2 Phân tính và xử lý số liệu :
- Các chỉ tiêu được theo dõi là:
+ Tỷ lệ hom sống = (Tổng số hom sống/ Tổng số hom thí nghiệm) ×100% + Tỷ lệ hom ra rễ = (Tổng số hom ra rễ/ Tổng số hom thí nghiệm) ×100% +Chiều dài rễ trung bình = ∑ (Số rễ cùng chiều dài × chiều dài rễ)/ Tổng số hom thí nghiệm
+ Số rễ trung bình/hom= (Tổng số rễ/ Tổng số hom ra rễ) ×100%
+ Chỉ số ra rễ = (Số rễ trung bình/hom × Chiều dài rễ trung bình)
+ Tỷ lệ ra chồi= (tổng số chồi các hom kiểm tra/tổng số hom ra chồi)x100%
Từ những số liệu thu thập được qua công tác ngoại nghiệp, tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS [1]
Tìm công thức trội nhất theo tiêu chuẩn Ducan
Bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA
Phương sai (MS) F Xác suất của
* Để có bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA như trên:
Ta thực hiện trên phần mềm SPSS như sau:
Nhập số liệu vào bảng tính
Click Analyz Compare Means→One way Anova
Trong hộp thoại One way Anova
Dependent List: Khai vùng dữ liệu
Kích chuột vào Post Hoc: Chọn Ducan Trong Options chọn Descriptive và Homogeneity of variance Test để có các đặc trưng mẫu và kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai
Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi số hom sống theo định kỳ ở các công thức thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng ra rễ ở các công thức thí nghiệm: Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài của rễ
- Nghiên cứu khả năng ra chồi ở các công thức thí nghiệm: Số hom ra chồi, số chồi/ hom, chiều dài của chồi.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa và chọn lọc: Kế thừa những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, ….), một số đặc điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu được sử dụng toán thống kê trong lâm nghiệp để kiểm tra kết quả
Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA đến khả năng ra rễ của hom cây Mẫu đơn ta đỏ
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8-11/2017
- Thí nghiệm với IBA được thực hiện với 6 công thức, 3 lần nhắc lại, ở các nồng độ thuốc:
Công thức 1: IBA nồng độ 50ppm Công thức 2: IBA nồng độ 100ppm Công thức 3: IBA nồng độ 150ppm Công thức 4: IBA nồng độ 200ppm Công thức 5: IBA nồng độ 250ppm Công thức 6: Không xử lý thuốc (Đối chứng) Các công thức trong thí nghiệm đồng đều về các điều kiện thí nghiệm khác nhau về nồng độ thuốc
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên:
Nhắc lại Công thức thí nghiệm
1 CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
2 CT6 CT5 CT4 CT3 CT2 CT1
3 CT3 CT2 CT1 CT6 CT5 CT4
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
Hình 3.2: Ảnh bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ thuốc
Các chỉ tiêu theo dõi: Số hom sống (30 ngày thu thập số liệu 1 lần); số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài rễ, số hom ra chồi, số chồi/hom, chiều dài chồi (thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm), số liệu ghi vào mẫu bảng:
Bảng theo dõi số hom sống ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: sau giâm hom ngày; Ngày theo dõi: Công thức:
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3
Bảng đo đếm chỉ tiêu rễ ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: cuối đợt thí nghiệm
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3 Hom ra rễ
Bảng đo đếm chỉ tiêu chồi ở các công thức thí nghiệm giâm hom
Thời gian theo dõi: cuối đợt thí nghiệm
Lần nhắc lại 1 Lần nhắc lại 2 Lần nhắc lại 3
Quá trình xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵn trên máy tính
Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính
Bước 2 Phân tính và xử lý số liệu :
- Các chỉ tiêu được theo dõi là:
+ Tỷ lệ hom sống = (Tổng số hom sống/ Tổng số hom thí nghiệm) ×100% + Tỷ lệ hom ra rễ = (Tổng số hom ra rễ/ Tổng số hom thí nghiệm) ×100% +Chiều dài rễ trung bình = ∑ (Số rễ cùng chiều dài × chiều dài rễ)/ Tổng số hom thí nghiệm
+ Số rễ trung bình/hom= (Tổng số rễ/ Tổng số hom ra rễ) ×100%
+ Chỉ số ra rễ = (Số rễ trung bình/hom × Chiều dài rễ trung bình)
+ Tỷ lệ ra chồi= (tổng số chồi các hom kiểm tra/tổng số hom ra chồi)x100%
Từ những số liệu thu thập được qua công tác ngoại nghiệp, tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS [1]
Tìm công thức trội nhất theo tiêu chuẩn Ducan
Bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA
Phương sai (MS) F Xác suất của
* Để có bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA như trên:
Ta thực hiện trên phần mềm SPSS như sau:
Nhập số liệu vào bảng tính
Click Analyz Compare Means→One way Anova
Trong hộp thoại One way Anova
Dependent List: Khai vùng dữ liệu
Kích chuột vào Post Hoc: Chọn Ducan Trong Options chọn Descriptive và Homogeneity of variance Test để có các đặc trưng mẫu và kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA đến tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn đỏ
Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các định kỳ theo dõi dưới ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA được thể hiện ở bảng 4.1, hình 4.1:
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn đỏ của các công thức thí nghiệm theo định kỳ theo dõi
Thời gian theo dõi (ngày)
(Nguồn: Kết quả thí nghiệm của đề tài) Nhận xét: Số liệu ở bảng 4.1, hình 4.1 cho thấy, hom cây Mẫu đơn đỏ sau khi giâm hom được 30 ngày có số hom sống tương đối cao ở tất cả các công thức thí nghiệm
Hình 4.1: Tỷ lệ sống (%) của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
Số hom sống sau khi thí nghiệm được 60 ngày đều giảm So sánh giữa các công thức cho thấy: Các công thức dùng thuốc kích thích IBA đều cho tỷ lệ sống cao hơn công thức đối chứng (không dùng thuốc)
Khí thí nghiệm giâm hom cây Mẫu đơn đỏ được 90 ngày, trong các công thức sử dụng nồng độ thuốc khác nhau, nồng độ thuốc 100ppm (CT2) cho tỷ lệ sống đạt cao nhất 96,67%, gấp 2 lần công thức không sử dụng thuốc (48,89%) Như vậy, bước đầu có thể nhận thấy thuốc IBA có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn đỏ.
Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA đến khả năng ra rễ của
Kết quả nghiên cứu về khả năng ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ các công thức thí nghiệm về ảnh hưởng của nồng thuốc kích thích ra rễ IBA được thể hiện ở bảng 4.2, hình 4.2 a, b Kết quả cho thấy: Khả năng ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các công thức có nồng độ thuốc khác nhau có chênh lệch, nhất là so với công thức không dùng thuốc (Đối chứng)
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Bảng 4.2: Khả năng ra rễ của hom Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm
Số hom ra rễ (hom)
(Nguồn: Kết quả thí nghiệm của đề tài)
Hình 4.2 a: Tỷ lệ (%) ra rễ của hom cây Mẫu đơn ta đỏ ở các công thức thí nghiệm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Tỷ lệ ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ (%)
Hình 4.2 b: Ảnh hom cây mẫu đơn ra rễ ở các công thức thí nghiệm
1) Về tỷ lệ hom ra rễ
Số liệu ở bảng 4.2, hình 4.2a, b cho thấy tỷ lệ hom Mẫu đơn đỏ ra rễ khá cao Các công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cho tỷ lệ ra rễ cao hơn công thức không dùng thuốc
So sánh giữa các công thức dùng thuốc cho thấy: nồng độ 100ppm thuốc IBA kích thích hom Mẫu đơn đỏ ra rễ tốt nhất đạt 96,67%, nồng độ thuốc thấp hơn, cao hơn 100ppm đều cho kết quả thấp hơn
So sánh giữa công thức dùng thuốc cho kết quả tốt nhất và không dùng thuốc cho thấy: nồng độ 100ppm thuốc IBA kích thích hom Mẫu đơn đỏ ra rễ tốt nhất đạt 96,67% gấp 2 lần công thức không sử dụng thuốc chỉ đạt 48,89%
2) Số rễ trung bình/hom
Số liệu ở bảng 4.2, hình 4.2b, c cho thấy số rễ trung bình/hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho số rễ trung bình đạt 8,91 cái/hom, trong khi đó công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 3,8 cái/hom
Hình 4.2 c: Số rễ trung bình/hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Số rễ trung bình trên hom (cái)
3) Chiều dài rễ trung bình
Số liệu ở bảng 4.2, hình 4.2b, d cho thấy chiều dài rễ trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho chiều dài rễ trung bình đạt 4,92 cm, trong khi đó công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 3,79 cm
Hình 4.2 d: Chiều dài rễ trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
Chỉ số ra rễ phản ánh tổng hợp chất lượng của bộ rễ cây hom, chỉ số ra rễ cao phản ảnh sức sinh trưởng của cây hom sẽ tốt
Hình 4.2 e: Chỉ số ra rễ trung bình của cây hom Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Chiều dài rễ trung bình (cm)
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Chỉ số ra rễ của cây hom Mẫu đơn đỏ
Số liệu ở bảng 4.2, hình 4.2b, e cho thấy chỉ số ra rễ trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho chỉ số ra rễ trung bình đạt 43,84, gấp 3 lần công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 14,40 Để khẳng định một cách chính xác về ảnh hưởng của thuốc IBA ở nồng độ khác nhau, đến khả năng rễ của hom, đề tài tiến hành phân tích phương sai một nhân tố bằng phần mềm SPSS, chi tiết ở phụ biểu 01
Kết quả cho thấy xác suất của F về chỉ số ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ nhỏ hơn 0,05 Điều đó khẳng định, chỉ số ra rễ của hom tại các công thức thí nghiệm là có sự khác nhau rõ rệt
Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để kiểm tra sai dị giữa các trung bình mẫu nhằm lựa chọn công thức cho chỉ số ra rễ tốt nhất, kết quả cho thấy CT2 là công thức trội nhất (43,84)
Như vậy, nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA là 100ppm phù hợp nhất cho giâm hom cây Mẫu đơn đỏ.
Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA đến khả năng ra chồi của
Kết quả nghiên cứu về khả năng ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ các công thức thí nghiệm về ảnh hưởng của nồng thuốc kích thích ra rễ IBA được thể hiện ở bảng 4.3, hình 4.3 a
Kết quả cho thấy: Khả năng ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các công thức có nồng độ thuốc khác nhau có chênh lệch, nhất là so với công thức không dùng thuốc (Đối chứng)
Bảng 4.3: Kết quả ảnh hưởng của nồng độ thuốc IBA đến khả năng ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm
Số hom ra chồi (hom)
Số chồi Tb/ hom (cái)
Chiều dài chồi Tb (cm)
(Nguồn: Kết quả thí nghiệm của đề tài)
Hình 4.3a: Tỷ lệ (%) ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Tỷ lệ ra chồi của cây hom Mẫu đơn đỏ (%)
Hình 4.3 b: Ảnh hom cây mẫu đơn ra chồi ở các công thức thí nghiệm
1)Về tỷ lệ hom ra chồi
Số liệu ở bảng 4.3, hình 4.3a, b cho thấy tỷ lệ hom Mẫu đơn đỏ ra chồi khá cao Các công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) nhìn chung cho tỷ lệ ra chồi cao hơn công thức không dùng thuốc
So sánh giữa các công thức dùng thuốc cho thấy: nồng độ 100ppm thuốc IBA kích thích hom Mẫu đơn đỏ ra chồi tốt nhất đạt 96,67%, nồng độ thuốc thấp hơn, cao hơn 100ppm đều cho kết quả thấp hơn
So sánh giữa công thức dùng thuốc cho kết quả tốt nhất và không dùng thuốc cho thấy: nồng độ 100ppm thuốc IBA kích thích hom Mẫu đơn đỏ ra chồi tốt nhất đạt 96,67% gấp 2 lần công thức không sử dụng thuốc chỉ đạt 48,89%
2) Số chồi trung bình/hom
Số chồi trung bình/hom được thể hiện ở bảng 4.3, hình 4.3b, c:
Hình 4.3 c: Số chồi trung bình/hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
Kết quả cho thấy số chồi trung bình/hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm,
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Số chồi trung bình trên hom (cái)
200ppm, 250ppm) về cơ bản cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho số chồi trung bình đạt 1,17 cái/hom, trong khi đó công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 1,14 cái/hom
3) Chiều dài chồi trung bình
Số liệu ở bảng 4.3, hình 4.3b, d cho thấy chiều dài chồi trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho chiều dài rễ trung bình đạt 1,92 cm, trong khi đó công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 1,28 cm
Hình 4.3 d: Chiều dài chồi trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN
Chỉ số ra chồi phản ánh tổng hợp khả năng ra chồi và sinh trưởng của cây hom Chỉ số ra chồi được thể hiện ở bảng 4.3, hình 4.3b, e Kết quả cho thấy chỉ số ra chồi trung bình hom cây Mẫu đơn đỏ của công thức dùng thuốc IBA ở các nồng độ khác nhau (50ppm, 100ppm, 150ppm, 200ppm, 250ppm) đều cao hơn công thức không sử dụng thuốc Công thức 2 (100ppm) cho chỉ số ra chồi trung bình đạt 2,25, gấp gần 2 lần công thức 6 (không dùng thuốc) chỉ đạt 1,45
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Chiều dài chồi trung bình (cm) hom cây Mẫu đơn đỏ
Hình 4.3 e: Chỉ số ra chồi trung bình của cây hom
Mẫu đơn đỏ ở các CTTN Để khẳng định một cách chính xác về ảnh hưởng của thuốc IBA ở nồng độ khác nhau, đến khả năng ra chồi của cây hom Mẫu đơn đỏ, đề tài tiến hành phân phân tích phương sai một nhân tố bằng phần mềm SPSS, chi tiết ở phụ biểu 02 Kết quả cho thấy xác suất của F về chỉ số ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ nhỏ hơn 0,05, điều này khẳng định chỉ số ra chồi của hom tại các công thức thí nghiệm là có sự khác nhau rõ rệt
Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để kiểm tra sai dị giữa các trung bình mẫu nhằm lựa chọn công thức cho chỉ số ra chồi tốt nhất, kết quả cho thấy CT2 là công thức trội nhất (2,25)
Như vậy, nồng độ thuốc kích thích ra rễ IBA là 100ppm phù hợp nhất cho giâm hom cây Mẫu đơn đỏ
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Chỉ số ra chồi của cây hom Mẫu đơn đỏ