Xuất phát từ thực tế đó, để có những dẫn liệu cụ thể cho việc đề xuất các giải pháp phòng trừ mối chúng tôi tiến hành thực hiện xây dựng đề tài “Giải pháp phòng trừ mối hại công trình x
Trang 1MA ĐÌNH UY
GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ MỐI HẠI CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2MA ĐÌNH UY
GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ MỐI HẠI CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tuyên
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra thực địa hoàn toàn trung thực, chưa có công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan
đồng ý cho bảo vệ kết quả trước (ký, ghi rõ họ tên )
hội đồng khoa học
ThS Nguyễn Thị Tuyên Ma Đình Uy
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4Xuất phát từ phương châm đó để kết thúc khóa học 2014 -2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của
cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Tuyên và nguyện vọng của bản thân tôi đã
thực hiện đề tài”Giải pháp phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường
Hoàng Văn Thụ - Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên”
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, các thầy giáo, các cô giáo trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường Xong tôi cũng xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới Ban lãnh đạo phường và cùng toàn thể nhân dân trong phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Nguyễn Thị
Tuyên đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài giúp tôi
hoàn thành khóa luận này
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Xong do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa biết được Tôi rất mong được nhận ý kiến đóng góp, xây dựng của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại P
Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 25 Bảng 4.2 Thực trạng mối xuất hiện trong các công trình xây dựng tại
P Hoàng Văn Thụ - TP Thái Nguyên - T Thái Nguyên 28 Bảng 4.3 Thực trạng phòng mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công
trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T
Thái Nguyên 30 Bảng 4.4 Thực trạng các loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây
dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên - 31 Bảng 4.5: Thực trạng mối gây hại cho các cấu kiện bằng gỗ trong các
công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên –
T Thái Nguyên 32 Bảng 4.6 Kinh nghiệm phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây
dựng của người dân tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên –
T Thái Nguyên 40 Bảng 4.7 Phương pháp phòng trừ và thời gian tiến hành cho các công trình
xây dựng công cộng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T
Thái Nguyên 42 Bảng 4.8 Kết quả diệt thử nghiệm 57
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mối gỗ khô hại gỗ 5
Hình 2.2 Cấu trúc tồ mối 5
Hình 2.3.Mối chúa và mối vua 7
Hình 2.4 Mối cánh 7
Hình 2.5 Mối lính 8
Hình 2.6 Mối thợ 9
Hình 3.1 Dụng cụ phục vụ nghiên cứu 23
Hình 3.2 Vật liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu 24
Hình 4.1 Mối hại gỗ tại Nhà văn hóa - tổ 16- P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 34
Hình 4.2 Mối hại gỗ tại Sở lao động - Thương binh và xã hội - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 35
Hình 4.3 Mối hại gỗ tại nhà bà Phùng Thúy Hòa - tổ 16 - P.Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 36
Hình 4.4 Mối hại gỗ tại nhà ông Đinh Việt Hùng - tổ 2A - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 37
Hình 4.5 Mối hại gỗ tại nhà bà Triệu Thị Hội - tổ 11 - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 38
Hình 4.6 Mối hại gỗ tại nhà ông Nguyễn Văn Viên - tổ 6 - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 38
Hình 4.7 Mối hại gỗ tại nhà ông Lê Đăng Chi - tổ 6 - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên 39
Hình 4.8 Xử lý móng nhà 45
Hình 4.9 Tạo hào phòng mối 46
Hình 4.10 Phun thuốc phòng mối tại hào móng 47
Hình 4.11 Phun phòng mối mặt nền 48
Trang 7Hình 4.12 Phun phòng mối hại tường 48
Hình 4.13 Bắt diệt mối cánh 50
Hình 4.14 Đặt hộp nhử mối 51
Hình 4.15 Phun thuốc bột PMC 90 52
Hình 4.16 Các bước diệt thuốc lây nhiễm 55
Hình 4.17 Diệt mối gỗ khô 56
Hình 4.18 Hiệu quả diệt thử nghiệm 56
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC vi
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Tổ mối 4
2.1.2 Thức ăn của mối 6
2.1.3 Hình thái và chức năng của mối 6
2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối 9
2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình 10
2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến loài mối 11
2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam 13
2.2.1 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới 13
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam 15
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 17
2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18
Trang 92.3.3 Nhận xét và đánh giá chung 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.3.1 Thử nghiệm diệt mối bằng phương pháp lây nhiễm 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 20
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 20
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
3.4.4 Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu 23
3.4.5 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ 24
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Lịch sử phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 25
4.2 Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 27
4.3 Kinh nghiệm trong phòng trừ mối 40
4.4 Giải pháp khắc phục và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại địa phương 41
4.4.1 Giải pháp khắc phục tình trạng mối hại gỗ tại địa phương 41
4.4.2 Kế hoạch phòng trừ mối tại địa phương 42
4.4.3 Đề xuất các phương pháp phòng trừ mối có thể áp dụng tại địa phương43 4.4.4 Diệt thử nghiệm mối hại gỗ tại một số nhà dân 54
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 10Mối có đặc điểm hình thái: Có 2 cánh mỏng, cấu tạo 2 cánh giống nhau và kích thước gần bằng nhau, cánh mối chỉ có ở các cá thể sinh sản trước khi giao hoan, sau khi giao hoan đôi cánh rụng đi mất Các cá thể có đẳng cấp khác như mối thợ và mối lính đều có cánh Cơ quan miệng kiểu gặm nhai, chân dạng chân chạy, mối là loại biến thái không hoàn toàn (Vũ Quang Mạnh và cs,1993)
Trên thế giới mối có trên 2700 loài như: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes, Hicrotermes, Hypotermes, Cryptotermes,…các loài có đặc điểm khác nhau Chúng khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ nổi trên mặt đất, có loài làm tổ chìm, có loài làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên
ăn gỗ khô, có loài chuyên ăn gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp đường mui, có loài không đắp đường mui khi đi kiếm ăn, có loài ăn bên ngoài có loài chuyên ăn bên trong gỗ,…
Vấn đề mối phá hoại các công trình xây dựng, kho tàng, khu bảo tồn di tích, đê điều, cây trồng … hiện nay là rất nghiêm trọng Dù chưa có số liệu thống
kê chính thức nào, nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra không phải là nhỏ
Mối không những xâm nhập vào nhà tranh, vách nứa, mà còn xâm nhập vào những nhà xây dựng kiên cố, bê tông cốt thép; thâm nhập đường hầm cáp, nhà xưởng, nhà kho, thuỷ điện, gây chập mạch điện, ảnh hưởng các công trình kỹ thuật Để khắc phục hậu quả, mỗi công trình phải cần kinh phí hàng chục triệu đồng để sửa chữa Đặc biệt là các vật tư, nguyên liệu qúy hiếm, các lưu trữ, các thư tịch cổ, các hiện vật bảo tồn, bảo tàng, giá trị không thể tính bằng tiền bạc
Trang 11Hàng năm mối gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài chính cho nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam chúng ta Tại các công trình đang sử dụng, mỗi năm chúng ta phải bỏ ra một lượng kinh phí khổng lồ để duy trì, sửa chữa và thay thế các thiệt hại và khiếm khuyết mà mối đã gây ra
Các công trình xây dựng hiện nay đang có nguy cơ tiềm ẩn về sự phá hoại của loài mối Mỗi đối tượng nhà cửa, kho tàng và cây bị các loài mối gây hại ở mức độ khác nhau Riêng với nhà cửa, kho tàng ở nước ta thì mức độ gây hại
nghiêm trọng nhất thuộc về các loài mối thuộc giống coptotermes (còn gọi là
mối gỗ ẩm), tiếp theo là các loài thuộc nhóm mối đất, tập trung trong 2 giống Odontotermes và Macrotermes, cuối cùng là nhóm mối gỗ khô, thuộc giống
Cryptotermes Các loài mối coptotermes làm tổ ngầm trong nền móng công
trình, trong cây, hoặc kết cấu khác của công trình, đường mui chủ yếu là đơn
lẻ, chúng hoạt động ở nhiều tầng cao thấp khác nhau của công trình
Xuất phát từ thực tế đó, để có những dẫn liệu cụ thể cho việc đề xuất các
giải pháp phòng trừ mối chúng tôi tiến hành thực hiện xây dựng đề tài “Giải
pháp phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phýờng Hoàng Vãn Thụ – thành phố Thái nguyên – tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái nguyên – tỉnh Thái Nguyên từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp và lập kế hoạch phòng trừ
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiệu quả của một số phương pháp phòng trừ mối gây hại trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái nguyên – tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất được các phương pháp phòng trừ mối phù hợp và lập kế hoạch phòng
trừ khắc phục hậu quả do mối gây ra
Trang 121.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu giúp chúng tôi hiểu rõ thêm về mối một cách đầy đủ hơn về thức ăn, tập quán ăn mồi cũng như mức độ gây hại của chúng đối các sản phẩm làm từ gỗ trong các công trình xây dựng và hiểu biết thêm về các biện pháp phòng trừ
Giúp sinh viên học tập rèn luyện được phương pháp nghiên cứu khoa học,
cụ thể là phương pháp quan sát thực hành, khả năng phân tích và tổng hợp tài liệu phát huy tinh thần học độc lập sáng tạo trong học tập nghiên cứu khoa học Biết phân bổ thời gian hợp lý để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn quan trọng việc khoanh vùng gây hại, đánh giá mức độ gây hại của chúng đối với từng vùng để từ đó đề xuất các phương pháp phòng trừ mối cho các sản phẩm làm từ gỗ trong các công trình xây dựng và khắc phục các hậu quả do mối gây ra để giảm thiểu thiệt hại cho công trình tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
Bản thân là một sinh viên khoa lâm nghiệp khi đi điều tra khảo sát về mối thấy mối phá hại các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên, bản thân cảm thấy có trách nhiệm hơn với ngành nghề của mình Sẽ tiếp tục học tập, nghiên cứu ra những giải pháp mới trong việc phòng trừ mối hại gỗ cho các công trình xây dựng
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Mối là một nhóm côn trùng có tính xã hội cao Chúng lập thành vương quốc sớm nhất Đôi khi người ta gọi mối là (kiến trắng) nhưng thực tế chúng chẳng có họ hàng gì với họ kiến (thậm chí chúng còn không giống nhau) chúng chỉ có mối quan hệ: Đều là họ côn trùng, mối được phân loại như bộ cánh đều (danh pháp khoa học: isoptera) tuy nhiên dựa trên chứng cứ ADN người ta thấy
có sự ủng hộ của một giả thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Crytoocercus) Gần đây, điều này đã dấn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại như là một họ duy nhất, gọi là termidae, trong phạm vi bộ Balttodea, một bộ chứa các loài gián, tuy nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu ủng
hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi mối là một nhóm có tên gọi khoa học Isopteran, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ
phân loại nội bộ của các loài mối
Trên thế giới người ta đã giám định được trên 2.700 loài, ở nước ta đã giám định được trên 100 loài thuộc 6 giống, giữa các loài có sự khác nhau về hình thái,
về số lượng cá thể, về cấu trúc tổ song đều giống nhau là chúng sống quần thể Mỗi quần thể có sự phân chia theo công thức chức năng Ví dụ: Loài mối nhà (comptermes, formosanus shir.) tổ mối trưởng thành có trên 10 triệu cá thể
2.1.1 Tổ mối
Các loài mối khác nhau thì cấu tạo tổ có khác nhau, mối thường làm tổ trong thân cây, gốc cây hay trong đất Tổ mối có loài có kết cấu tổ khá đơn giản nhưng có loài cấu tạo lại khá phức tạp
Nguyên liệu chủ yếu để xây tổ là gỗ và đất được nhào với nước bọt của mối
* Tổ mối chỉ ở trong gỗ
Thường làm tổ trong gỗ khô như giống hoàn toàn không có liên hệ với đất
và nước Tổ này thường không lớn, các cấu tạo đơn giản có những lỗ nhỏ thông
từ hang này sang hang khác và thông ra bên ngoài
Trang 14
Hình 2.1 Mối gỗ khô hại gỗ
Đối với loại mối này chúng ở đâu thường đùn một phần phân ra ngoài, rơi xuống như đống cát nhỏ xíu, căn cứ vào đặc điểm này có thê phát hiện ra chúng, tuy chúng ở trong gỗ nhưng cũng đục vào sách vở quần áo nơi cận kề tổ Loài mối tổ khoảng ba bốn trăm con chỉ cần phát hiện tổ và dùng thuốc đặc trị phun trực tiếp vào tổ là diệt được
* Tổ mối có liên quan đến đất và nguồn nước
Hình 2.2 Cấu trúc tồ mối
(a Tổ mối; b Lật tung tổ mối) Tất cả các loài mối khác khi kiến trúc tổ đều có nhu cầu đất hoặc nước ở
Trang 15ngoài tổ Phần lớn các loài mối có cấu trúc một hệ thống tổ chính và nhiều tổ phụ để dung nạp số lượng các thể lớn Tổ chính có mối vua và mối chúa Có nhiều lại sâu trong lòng đất từ 1-2m Hệ thống tổ của loài mối nhà vừa ở dưới đất nền và trong cấu kiện phía trên, đôi khi nằm hoàn toàn phía trên, song có hệ thống đường giao thông nối với nguồn nước
Đối với đê đập độ rỗng của tổ mối có ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình nên cần thiết phải phát hiện tổ để xử lý
2.1.2 Thức ăn của mối
Nguồn thức ăn chủ yếu là sản phẩm thực vật, trong đó thành phần quan trọng chủ yếu là chất cellulose vì vậy đối tượng bị mối gây hại rất đa dạng
2.1.3 Hình thái và chức năng của mối
Cơ thể mối gồm có 3 phần: đầu, ngực, bụng với ranh giới rõ rệt Mối là loại côn trùng có kích thước nhỏ, vỏ cơ thể có cấu tạo cutin rắn chắc nhưng rất mềm dẻo, râu đầu hình chuỗi hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt Mối có cánh hoặc không có cánh
* Mối vua, mối chúa
Trong tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các thành phần: Mối vua, mối chúa, mối cánh, mối lính, mối thợ Mỗi thành phần lại
có các đặc điểm hình thái và đảm nhận các chức năng khác nhau
Trang 16Hình 2.3.Mối chúa và mối vua
Mỗi đàn có 1 hoặc 1 vài mối vua, 1 mối chúa Chúng có đặc điểm là đầu nhỏ, bụng to Bộ phận sinh dục phát triển Mối chúa có thể sống 10 năm, lúc đầu
đẻ ít trứng, sau 4-5 năm, bộ phận sinh dục trưởng thành, mỗi ngày có thể đẻ ra 8000-10000 trứng (Phạm Bình Quyền (2006)) [9]
Mối chúa có lượng lớn hơn 300 lần trọng lượng mối lao động đảm nhiệm chức năng sinh sản chính trong tổ Nếu diệt mối mà không diệt được “cỗ máy đẻ” này là chưa trừ tận “gốc” Mối chúa và mối vua thường không ra khỏi tổ, trừ trường hợp ngập úng, cho chúng có thể rời tổ chính đến tổ phụ an toàn hơn song thường không hay ở ngay vị trí đang gây hại (Phạm Bình Quyền (2006)) [9]
Trang 17* Mối lính
Mối lính phân hóa từ mối thợ, mối lính có bộ phận đầu và hàm răng phát triển, đầu có mầu nâu hồng có hạch độc, mối khi chiến đấu tiết ra chất sữa màu trắng có tính axit trong một số lượng mối lính không đều (khoảng 10%) Chức năng chủ yếu là canh gác và tấn công, canh phòng, báo động, chinh sát, hộ vệ mối lao động đi kiếm ăn Khi gặp tiếng động bất thường như có tiếng động mạnh, sự thay đổi cường độ ánh sáng mùi lạ hoặc đường mui bị phá vỡ mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời báo động cho quần thể một con báo động những con khác chuyền tiếp tạo ra những tiếng rào rào tai ta có thể nghe thấy được
Trang 18
Hình 2.6 Mối thợ
* Mối giống
Bao gồm mối giống có cánh và mối giống không có cánh
+ Mối giống có cánh: Đây là thành phần chiếm số lượng đông trong quần
thể Hình thái ít biến đổi có hai cánh màng dài bằng nhau, lưng của chúng có màu nâu đen và bụng có màu trắng đục Đây là đối tượng chia đàn và phát triển nòi giống
+ Mối giống không có cánh: Loại này chiếm số lượng ít trong quần thể, chức
năng của chúng là các mối vua, mối chúa bổ sung để đề phòng trong trường hợp mối vua hoặc mối chúa bị chết thì chúng sẽ được bồi dưỡng đặc biệt để thay thế
2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối
* Sự chia đàn và hình thành tổ mới của mối có thể xảy ra 2 tình huống
- Tình huống thứ nhất: Mối bay ra khỏi tổ để tìm một lãnh địa mới hàng năm
cứ vào mùa mưa từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 8 mối cánh ở đâu đó bay ra hàng đàn với số lượng rất lớn, chúng bay theo hướng gió sau đó mới tập trung hạ xuống mặt đất Mối cánh có tính xu quang nên chúng thường tập trung chỗ có ánh đèn sáng bay lượn Sau 10 - 15 phút bay thì rụng cánh, sau khi rụng cánh các con đực và con cái tìm đến với nhau và đi với nhau thành từng cặp nếu chúng sống sót được thì chúng tìm những chỗ thuận lợi để chui xuống đất Cặp nào chui được xuống dưới đất mà
Trang 19không bị các thiên địch khác tấn công thì chúng bắt đầu cuộc sống mới Mối cái bắt đầu đẻ trứng sau đó trứng trở thành mối con (mối thợ, mối lính, mối cánh) và từ đó trật tự trong tổ mối được hình thành Mối cánh sau này trở thành mối chúa và mối đực trở thành mối vua Ở giai đoạn bắt đầu này chúng phải chăm sóc và cho lũ mỗi con ăn nhưng sau đó một thời gian công việc này sẽ do mối thợ hay nối non lớn đảm nhiệm Một đôi mối rụng cánh lập tổ, mới đầu chỉ đẻ khoảng từ 10 - 20 trứng/ngày, nhưng sau vài năm có thể đẻ 1000 trứng/ngày hoặc hơn (Đặng Kim Tuyến (2008)) [2]
- Tình huống thứ hai: Trong quá trình sinh sống mối thường có thể xây sẵn một tổ phụ khi mà mối đủ lớn số thành viên quá đông thì trong số các thành viên đó có mối hậu đi cùng một số mối lính, mối thợ phát triển thành một tổ mối chính từ các tổ phụ, mối hậu bị lúc này trở thành mối vua và mối chúa (tổ có mối vua và mối chúa nằm trong đó) Hoặc tại các tổ phụ nơi mối thợ đưa trứng tới để chăm sóc, một vài trứng mối chúa ấn định làm mối vua và mối chúa mới.Tình huống này loài mối gỗ ẩm thực hiện nhiều nhất, vì thế tốc độ phát tán của loài mối gỗ ẩm rất lớn
2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
* Mối xâm nhập vào công trình, nhà cửa bằng 3 đường chính:
- Từ các công trình, nhà cửa kế cận có mối gọi là đường tiếp xúc
- Từ đất nền dưới đất nền đã có tổ mối, khi xây dựng không xử lý
- Mối bay giao hoan phân đàn, hàng năm từ các tổ mối, mối cánh bay ra và xâm nhập vào công trình Nhiều công trình kéo dài hai, ba năm Khi san lấp thu dọn
để sót ván cốt pha trong tường trong đất Mối bay đàn chui xuống có sẵn nguồn thức ăn và gây tổ Khi lát nền trong nền công trình đã có cả tổ mối nên chỉ 2-3 năm
đã thấy mối xuất hiện nhiều
Mối thường lợi dụng các đường ống cấp thoát nước đặt ở trong tường, đường dây điện ngầm, mạch phòng lún, để lên các tầng cao Chỉ khi gặp các chướng ngại vật chúng mới đục tường, ngoài ra chúng còn có khả năng bắc cầu đắp các đường ống, từ mặt đất nền đắp các trụ cao 10-15cm, từ vách ra 4-
Trang 206cm, từ trần đắp nhũ xuống 60-80cm, bởi vậy cách kê xếp hàng hóa nên chú ý đặc điểm này
2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến loài mối
Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới mối bao gồm các yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng và gió, thổ nhưỡng, đất
* Nhiệt độ
Sự trao đổi nhiệt độ được coi là quá trình năng lượng chủ yếu và trước tiên trong quan hệ giữa cơ thể và môi trường Vì mối là động vật có thân nhiệt không ổn định nên mọi thay đổi nhiệt độ môi trường sống dù cao hay thấp cũng làm cho nhiệt độ cơ thể mối bị biến đổi Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài mối là
từ 20-30oc Khi nhiệt độ môi trường quá cao (>35oc) hoặc quá thấp (10oc) thì hoạt động sống của mối giảm dần và rơi vào trạng thái choáng váng rồi hôn mê
vì nóng hoặc lạnh nếu nhiệt độ tiếp tục giảm hoặc tăng thì mối sẽ chết
* Độ ẩm và lượng mưa
Trong cơ thể mối có chứa một lượng nước rất lớn Thiếu nước mối không thể sống được vì tất cả các quá trình trao đổi chất, dinh dưỡng hô hấp, bài tiết của mối đều cần có sự tham gia của nước Mỗi thường ưa sống ở nhưng nơi
ẩm ướt, độ ẩm thích hợp cho mối hoặt động là 80-90%, nếu độ ẩm quá cao hay quá thấp thì mối sẽ chết Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối vì độ ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố thực vật nguồn thức ăn chính của mối Đối với mối cánh thì trời mưa chính là cơ hội để chúng bay ra ngoài để kết đôi xây dựng tổ mới vì khi đó các loài thiên địch ít hoạt động Nếu trời mưa to thì sẽ gây ngập lụt tổ và phá hoại tổ
* Ánh sáng
Trong ánh sáng thì bức xạ mặt trời là một trong những nguyên nhân chủ yếu sinh ra nhiệt trong khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và quá trình sinh lý hóa sảy ra trong cơ thể mối Ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác như: nhiệt độ, độ ẩm, sự phân bố của thực vật, gây ảnh hưởng gián tiếp
Trang 21tới mối Mối rất mẫn cảm với ánh sáng, chúng là loại côn trùng ưa sống ở những nơi có ánh sáng bóng điện để kết đôi xây dựng tổ mới
và độ ẩm của đất), tính lý hóa của đất (mối thường sống ở nơi có đất thịt trung bình
và độ PH trung bình)
* Thức ăn
Thức ăn được coi là nhân tố sinh thái quan trọng nhất trong các yếu tố sinh học, thức ăn cho mối phát triển, bù đắp lại năng lượng mất đi trong hoạt động sống hàng ngày và hình thành các sản phẩm sinh dục sau này
Mối chỉ ăn thức ăn có nguồn gốc xenlulo mà xenlulo chủ yếu tồn tại trong thực vật và các sản phẩm làm từ thực vật vì vậy sự phân bố của thực vật ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phát triển của các loài mối
* Thiên địch
Các loại thiên địch chủ yếu của mối như chim, thú ăn mối, kiến, chuồn chuồn,
bọ ngựa, nấm, vi khuẩn Chúng gây hại trực tiếp đến mối nên làm ảnh hưởng dến sự sinh tồn, phát triển và phân bố của mối
Trang 22Ví dụ: Mối cánh khi bay ra khỏi tổ gặp các loại thiên địch ăn thịt như: chim, chuồn chuồn, bọ ngựa, nếu sống sót được thì chúng sẽ xây dựng và phát triển tổ mới
Mối thường tìm nơi an toàn ít thiên địch nhất để làm tổ
Ví dụ: Mối thường làm tổ cách xa tổ kiến và thường đào rất sâu vào lòng đất
2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới
Mối là nhóm côn trùng có “Tính xã hội cao” Xuất hiện trên trái đất cách đây hơn 50 triệu năm Một số hóa thạch có từ kỷ Oligocen, Eocen, Miocen, có những hóa thạch phát hiện từ kỷ phấn trắng Trên thế giới hiện đã phát hiện khoảng 2700 loài mối, ở Việt Nam đã phát hiện 106 loài mối khác nhau Hàng năm mối gây thiệt hại rất lớn cho các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt đối với các tài liệu lưu trữ quý hiếm, các thư tịch cổ, các hiện vật bảo tàng có giá trị khi bị mối phá hoại thì không thể tính được giá trị tổn thất Ở Trung Quốc nhất là vùng Hoa Nam có đến 80% số nhà cửa kho tàng, nhà lầu hàng năm bị mối phá hại
Hơn 2 triệu gia đình yêu cầu phương pháp điều trị mối mỗi năm gây thiệt hại khoảng 2.5 tỷ USD/năm Đó là thiệt hại lớn hơn cả các vụ cháy, bão và động đất kết hợp
Ở nước ta, loài mối thường gặp là mối gỗ khô (cryptotermes domestices),
một số loài mối còn có khả năng khoét đất tạo khoang rỗng trong lòng đất Mối phá hoại các công trình xây dựng, kho tàng, đê điều, cây trồng,… hiện nay là rất nghiêm trọng Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:
- Phá huỷ các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình
- Phá huỷ hệ thống cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử
- Gây sụt lún cho nền móng công trình, vỡ đê đập thủy điện
- Mối gây gãy, đổ, chết cây trồng
Trang 23Dù chưa có số liệu nào thống kê chính thức nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra không phải là nhỏ Để khắc phục hậu quả mỗi công trình cần phải có hàng chục triệu đồng để sửa chữa Mối không những xâm nhập vào nhà tranh, vách nứa mà còn xâm nhập vào những công trình kiên cố, bê tông cốt thép… Nhiều công trình, tòa nhà mối đã xuất hiện ở cả tầng cao nhất như Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, 8 tầng; mối xuất hiện ở tầng 11 khách sạn Hà Nội; nhiều gia đình ở tầng 4, tầng 5 đã bị mối gây hại sách vở, quần áo, chăn bông
Những năm gần đây, ở các tỉnh đã phải chi một khoảng tiền khá lớn cho việc phòng trừ mối, bảo quản và giữ gìn tài sản Nhà nước, từ những công trình
cơ sở như trường học, bệnh viện, khu làm việc,… đến các công trình kiên cố to đẹp như Ngân hàng, Nhà nước, Kho tiền, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng lưu trữ hồ
sơ UBND tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ Sở Công an, các trạm viba thông tin liên lạc,… đã bị mối tấn công Đó là chưa kể các tổn thất do mối ở nhà ở và các công trình khác của nhân dân (Tạp chí nông nghiệp nông thôn, 2007) [10]
Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối Linnacus vào năm 1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống Termes Holmgreen người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học về mối Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Light, 1921; Grasse, 1949… đã hiệu đính và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định Snyder,
1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ Termitinae Ông có đưa ra những
mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong
tự nhiên
(Lê Văn Nông, 1999), (Nguyễn Đức Khảm, 1976) [11] Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập nhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại của Ahmad (1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở Ấn Độ… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình
Trang 24thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm lưng ngực của mối lính lớn của
loài Microtermes pakistanicus… nhưng các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm
phân bố và phân hoá các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập (Kumar Krishna and fancer M.Weesner, 1970) [15] Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955 của mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của
loài M pakistanicus, góp phần rất lớn trong việc phát hiện và phòng trừ loại mối
gây hại này
Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và những đề xuất cải tiến về thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Trước đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đã đưa
ra bản thống nhất cách đo đạc mối vào năm 1969 (Kumar Krishna and fancer M.Weesner (1970) [15] Hầu như tất cả các khoá định loại hiện nay nói chung, đối với loài mối M pakistanicus nói riêng đều dựa trên cơ sở so sánh về hình thái
ngoài của mối Tuy nhiên sự khác biệt về hình thái giữa các loài nhiều khi không
rõ ràng dẫn đến sự nhầm lẫn khi phân loại Oshima (1914), Light (1921),
Kemner (1930, 1933, 1934) nhầm lẫn loài M Pakistanicus ở các vùng khác nhau
nên đã cho nhiều tên khác nhau Về sau chính các tác giả này đã kiểm tra và đính
chính lại chuyển thành synonym Microtermes pakistanicus Để khắc phục tình
trạng đó, đã có một số công trình nghiên cứu cấu trúc lớp biểu bì, cấu trúc ADN của loài mối này Nhưng những kết quả này chỉ cho phép tách ra được các nhóm loài chứ chưa tách ra được từng loài (Kaib, Richard, 1994) Trích theo (Nguyễn Tần Vương (1997) [8]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình với các vùng lân cận nên thành phần loài mối cũng khá phong phú Công trình nghiên cứu đầu tiên về mối ở Việt Nam là của tác giả J>Batheller, 1927 Khi nghiên cứu khu hệ mối Đông Dương, ông đã mô tả hình thái, sinh thái của 9 loài trong đó Việt Nam có 17 loài Tuy nhiên
Trang 25loài Microtermes pakistannicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm hình
thái, sinh học và phân bố trong tự nhiên (S Dronnet, M.ohresser, E L Vargo, C Lohou, J L.Clement and A G.Bagneres (2006) [14]
Công trình có giá trị nhất về phòng trừ mối mà đến nay chúng ta vẫn áp dụng là của tác giả Allurad vào năm 1947
Từ những năm 60 của thế kỉ XX trở về đây, nhóm côn trùng này đã gây chú ý nhiều hơn và thu hút nhiều cán bộ của Việt Nam tham gia nghiên cứu như Bùi Huy Dưỡng, Nguyễn Xuân Khu, Vũ Văn Tuyển…tuy nhiên, mặt mạnh vẫn chỉ là những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểm sinh thái sinh học
của một số loài gây hại chính Những dẫn liệu về cấu trúc tổ mối loài M pakistanicus trong các nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho rằng loài có cấu trúc
tổ nổi giống với cấu trúc tổ của một số loài thuộc giống Macrotermes, (Đặng
Kim Tuyến (2008) [3]
Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất là của Nguyễn Đức Khảm, (1975) [12] về mối miền bắc Việt Nam, tác giả mô tả về tập tính, cấu trúc tổ, vùng phân
bố của 61 loài mối ở miền bắc, trong đó loài mối M pakistanicus được bổ sung
thêm các dẫn liệu về thời kì giao hoan của mối cánh, đặc điểm xây dựng tổ và vai trò của các đẳng cấp trong tổ mối
Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái diệt mối cũng bắt đầu được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học, viện nghiên cứu của nhà nước, trong đó trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đã có được những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ Công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối hại cây (2007), (Tạp chí nông nghiệp nông thôn (2007) [10], đã đưa ra những dẫn liệu mới về cấu trúc tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn
và xây dựng tổ của loài mối M Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm
thiểu tác hại do chúng gây ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp đối với các tỉnh Tây
Trang 26Nguyên Công trình này cho rằng cấu trúc tổ của loài có những khác biệt về hình thái so với những nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó Song song với những nghiên cứu ở Miền Nam, cũng có những nghiên cứu sơ bộ về loài mối này trải dài khắp các địa phương của Miền Bắc, Miền Trung
Các nghiên cứu của các tác giả về phòng trừ mối cũng đã bổ sung thêm nhiều tư liệu về tỉ lệ các loại đẳng cấp trong tổ mối các loài hại cây công nghiệp, cây rừng, và nhiều cây trồng khác (Leek.E and Wood T.G, 1971).[6]
Hiện nay Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đang có những dự án kéo dài nghiên cứu về loài mối này với số lượng lớn các thí nghiệm được bố trí, thực địa ở rất nhiều địa bàn trên toàn quốc và đã ghi nhận được những kết quả bước đầu và có
ý nghĩa về đặc điểm sinh học, cấu trúc tổ và đặc biệt là loại thức ăn ưa thích của loài làm cơ sở ban đầu để nghiên cứu ra các chế phẩm phòng chống loài đạt hiệu quả cao (Tạp chí nông nghiệp nông thôn (2007) [10]
Công việc điều tra phân bố phân loại mối và các nghiên cứu sinh thái sinh học và các kĩ thuật phòng trừ của các tác giả từ trước đến nay đã thu được những kết quả nhất định làm cơ sở ban đầu cho việc phòng trừ và giảm thiểu các tác hại
do mối gây ra, nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, các loài mối gây hại ngày càng phát triển mạnh mẽ, phổ rộng khắp mọi nơi, gây thiệt hại to lớn đến nền kinh tế quốc dân của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về mối mới nhất trong lúc này không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia mà có ý nghĩa trên toàn thế giới, cần phải phát triển mở rộng nhiều nghiên cứu mới về mối mới nhất
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái nguyên – Tỉnh Thái nguyên
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Thái nguyên nằm ở phía Bắc của nước ta Phía nam giáp với thủ đô
Hà Nội, phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp
Trang 27tỉnh Bắc Kạn, phía Đông tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang Có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, với địa hình đặc trưng là đồi núi đá vôi và đồi dạng bát úp xen kẽ là ruộng và bãi đất bằng Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23,6oC (2004), trong đó nhiệt
độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0oC và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,8oC (thời gian tháng 6) Đây cũng là khu vực có độ ẩm khá cao, trung bình năm đạt tới 82% với lượng mưa khá lớn trung bình năm từ 1800 – 2500mm, tuy nhiên phân bố không đều theo không gian và thời gian
2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân số của tỉnh là 1.096.091 người, mật độ trung bình gần 312 người/km2, với 8 dân tộc anh em sinh sống chủ yếu là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa Tuy nhiên dân số tập trung cao ở Thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công Tại đây vừa là khu sản xuất công nghiệp, vừa là trung tâm hành chính văn hóa xã hội và cũng là đầu mối giao thông với các tỉnh
thành phố xung quanh
Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, có rất nhiều công
trình đã và đang xây dựng trong khi xây dựng sử dụng một lượng lớn về các loại
gỗ (Trong gỗ chứa xenlulo) là nguồn thức ăn chính của lài mối Mặc dù một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam vậy kinh tế Thái Nguyên đang dần chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần tập trung đầu tư vào công nghiệp, du lịch, thương mại
2.3.3 Nhận xét và đánh giá chung
Qua điều tra cho thấy điều kiện tự nhiên ở đây rất thuận lợi cho sự phát triển của mối, mối xuất hiện và phá hoại trên phạm vi rộng gây nhiều thiệt hại lớn đến kinh tế Do thiếu kiến thức về các loài mối gây hại và các biện pháp phòng trừ mối cho các công trình xây dựng còn là một vấn đề khá mới và chưa được quan tâm đúng mức
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về loài mối hại gỗ
trong các công trình xây dựng nhà ở của người dân, công trình của công cộng của phường, trụ sở làm việc tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Lịch sử phòng trừ mối tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
- Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng
Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
- Kinh nghiệm phòng trừ mối của các cán bộ và người dân tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp và kế hoạch phòng trừ mối tại phường Hoàng Văn
Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
3.3.1 Thử nghiệm diệt mối bằng phương pháp lây nhiễm
* Các bước thực thiện
+ Bước 1: Đặt hộp nhử mối
- Tìm kiếm vị trí mối đục lỗ trên tường hoặc đường mui đất do mối đắp khi di chuyển Cạy nhẹ một điểm để đặt hộp nhử mối vào đó
Trang 29+ Bước 2: Tiến hành xử lý phun thuốc cho hộp nhử mối
- Phun hoặc rắc nhẹ thuốc đều vừa phải một lớp mỏng ngay vào đáy hộp
và các miếng gỗ trong hộp nhử đồng thời lên cả các cá thể mối sau đó đặt hộp trở lại vị trí đã đặt để mối quay lại tổ
+ Bước 3: vệ sinh sạch khu vực nhử mối rồi theo dõi kết quả
- Gỡ bỏ hộp nhử và vệ sinh quét dọn sạch sẽ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được những nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng những biện pháp cụ thể sau:
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Tiến hành thu thập các thông tin cần thiết từ các tài liệu như:
- Giáo trình, bài giảng
- Khóa luận tốt nghiệp
- Mạng internet
- Sách, báo
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
a) Phương pháp quan sát trực tiếp
Chúng tôi tiến hành quan sát trên thực tế địa bàn phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên để thu thập số liệu về sự xuất hiện
và mức độ gây hại của mối đối với gỗ trong các công trình xây dựng
Trong tổng số 33 tổ dân phố chúng tôi sử dụng phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên và liên hệ được 25 tổ mỗi tổ chiếm từ 100 - 130 hộ dân, sau khi liên
hệ được tôi đã tiến hành quan sát các công trình xây dựng nhà ở và các công trình công cộng tại các tổ trong khu vực Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên Cụ thể như sau:
+ 140 hộ dân/19 tổ trong Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
+ UBND phường
Trang 30+ Trạm y tế
+ Nhà văn hóa tổ 16
+ Nhà văn hóa tổ 24
+ Nhà văn hóa tổ 5-6-26-27
+ Sở lao động - thương binh và xã hội
b) Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Cùng với quá trình quan sát, chúng tôi tiến hành điều tra và phỏng vấn người dân địa phương, các cán bộ tại các trụ sở phòng ban bằng bộ câu hỏi đã được lập sẵn
Ngoài ra còn tìm gặp những người làm việc lâu năm tại các trường để phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối và kinh nghiệm phòng trừ mối Để việc điều tra quan sát và phỏng vấn được thuận lợi chúng tôi đã lập ra bộ phiếu phỏng vấn mối hại công trình Nội dung phỏng vấn gồm những nội dung sau:
1 Tên công trình, năm xây dựng
2 Thời gian, địa điểm phỏng vấn
3 Các vật dụng sử dụng bằng gỗ tại công trình xây dựng
4 Thông tin mối hại gỗ
5 Lịch sử phòng trừ mối
6 Thực trạng mối phá hại
7 Thời gian mối phá hại mạnh
8 Kinh nghiệm phòng trừ mối
9 Nhu cầu phòng trừ mối tại công trình
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
+ Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập được tôi tiến hành chọn lọc các số liệu cần thiết và loại bỏ những số liệu không hợp lý
+ Xử lý số liệu trên phần mềm Word và Excel
+ Tổng hợp và phân tích các số liệu, tài liệu theo một trật tự nhất định Để tổng hợp và xử lý số liệu chúng tôi đã sử dụng bảng biểu theo mẫu như sau
Trang 31Mẫu bảng 1: Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng trong P Hoàng Văn
Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên
STT Tên công
trình
Năm xây dựng
Mẫu bảng 3: Thực trạng mối xuất hiện và phá hoại gỗ cho các công trình xây dựng
thuộc P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên
Dấu hiệu
Mức độ Thời
gian xuất hiện
Trung bình Nặng Tổng
Tỷ lệ
(%)
Trang 32
Mẫu bảng 4: Một số loại gỗ được sử dụng trong công trình xây dựng thuộc P Hoàng
Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên
3.4.4 Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu
- Dụng cụ: Đèn pin, tua vít, hộp nhử mối, máy khoan, bình phun thuốc
Trang 33- Vật liệu: PMC 90, Agenda 25EC, Lenfos 50EC
Hình 3.2 Vật liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu
(a Lenfos 50EC; b Agenda 25EC; c PMC 90)
3.4.5 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ
Hiện nay chưa có tiêu chuẩn nào hướng dẫn cách đánh giá mức độ mối hại công trình Vì vậy để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và đánh giá mức thực trạng mối hại tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi căn cứ vào mức độ phá hại các cấu kiện bằng gỗ, các vật dụng có nguồn gốc từ cenlulo để quy ước theo 3 mức độ gây hại như sau:
- Mức độ hại nặng : Là những địa điểm mà bị mối ăn hại và làm hỏng phần lớn các cấu kiện
- Mức độ hại trung bình: Là những địa điểm bị mối ăn hại và làm hỏng các cấu kiện nhưng ở mức độ nhẹ hơn
- Mức độ hại nhẹ: Là địa điểm mối mới xuất hiện gây hại hoặccó mối gây hại nhưng đã đi
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Lịch sử phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
Kết quả điều tra, phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối tại phường được thể hiện qua bảng 4.1:
Bảng 4.1 Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng
tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên
dựng
Số công trình được thực hiện phòng trừ
Trang 35Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy:
Công tác phòng trừ mối cho các công trình xây dựng công cộng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên chưa được quan tâm phần lớn các công trình xây dựng ở đây đều không được tiến hành phòng mối trước xây dựng cũng như sau khi xây dựng chỉ có một số ít công trình tiến hành phòng mối trong khi sử dụng
Đối với công trình công cộng thì có 2 công trình trong tổng số 6 công trình công cộng sau khi tiến hành điều tra, quan sát, phỏng vấn thực tế thì được biết 2 công trình này tiến hành phòng mối vào năm 2012, còn 4 công trình còn lại không hề được tiến hành phòng trừ mối Hiện nay, các công trình công cộng của phường nhà văn hóa tổ 16 và trụ sở làm việc của sở lao động - thương binh và xã hội trên địa bàn phường đã xuất hiện mối gây hại cho các cấu kiện gỗ, nếu không
có giải pháp phòng trừ ngay thì tác hại và mức độ hại ngày sẽ một lớn, các cấu kiện gỗ bị tàn phá hư hỏng ngày một nặng, cùng với đó là chi phí cho việc diệt trừ sẽ lớn
Các điểm mối gây hại thường là góc tủ, khung cửa, các phòng kho tài liệu nên rất khó phát hiện và diệt trừ, mối là loài côn trùng sống mang tính xã hội nên sinh sản rất nhanh, chỉ với một quần thể nhỏ sau vài tháng hoạt động chúng đã hình thành nên một quần thể lớn, lúc đó chúng sẽ là một mối nguy hiểm phá hoại các công trình xây dựng của phường
Để có thể bảo quản gỗ tốt trong các công trình xây dựng, chúng ta nên có
kế hoạch phòng trừ trước và sau khi đưa vào sử dụng, các công trình được phòng trừ tốt sẽ có tuổi thọ dài, việc phòng trừ tốt sẽ tiết kiệm được một chi phí khá lớn cho việc bảo quản và phòng trừ các công trình xây dựng trong khi sử dụng
Đối với người dân họ vẫn thờ ơ hầu như là cũng chưa hiểu biết gì về mối,
Trang 36tác hại mà mối gây ra cho những công trình xây dựng Trong 140 hộ dân được tiến hành điều tra, quan sát, phỏng vấn thì chỉ có 9 hộ dân tiến hành phòng mối trước khi xây dựng công trình chiếm (6,4%), còn lại 131 hộ dân không hề tiến hành phòng mối trước cũng như sau xây dựng chiếm (93,6%)
Qua điều tra, chúng tôi thấy khi xây dựng, người dân cũng không quan tâm
gỗ đã được phòng trừ mối hay chưa, hoặc khi xây dựng công trình thấy tổ mối
họ cũng không quan tâm lắm đến việc đó Vì họ cho rằng khi mình san nền đào móng chúng đã được xúc chở đi nơi khác, chúng không còn ảnh hưởng tới việc xây dựng công trình
Lịch sử cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người dân không quan tâm tới việc phòng chống mối nhưng nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế của người dân còn thấp, họ thiếu thông tin, kiến thức về loài mối Khi được hỏi thì hầu hết người dân đều nói là không biết gì về loài mối, họ chưa nhận thức được sự nguy hiểm của loài mối dẫn đến việc họ không quan tâm tới việc mối hại gỗ trong các công trình xây dựng
4.2 Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
Từ kết quả điều tra, phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối tại phường, dưới đây là thực trạng mối xuất hiện và phá hoại gỗ trong các công trình được thể hiện qua bảng 4.2
Trang 37Bảng 4.2 Thực trạng mối xuất hiện trong các công trình xây dựng tại
P Hoàng Văn Thụ - TP Thái Nguyên - T Thái Nguyên
Dấu hiệu
Thời gian xuất hiện
Cánh cửa chính, cửa sổ
và tủ
Từ tháng
3 đến tháng
sổ và tủ tài liệu
Đường mui trên nẹp cửa, lên tường
Từ tháng
ốp tường
Đắp đường mui
Tháng
3 đến tháng
8
Trang 38Qua bảng 4.2 cho thấy:
- 6 công trình công cộng trong đó có 2 công trình xuất hiện mối và 4 công trình không thấy xuất hiện mối
- Mức độ hại của mối trong các công trình là khác nhau mức độ nhẹ có 1 công trình, trung bình có 1 công trình Việc mối xuất hiện tại các công trình tại phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên, là do công trình đươc xây dựng chủ yếu là trên đất đồi được san cán phẳng, là điều kiện thuận lợi nhất cho mối có thể sinh trưởng và phát triển
Trong tổng số 140 hộ điều tra có 16 hộ xuất hiện mối chiếm (11,4 %), 124
hộ còn lại không thấy mối xuất hiện chiếm (88,6 %) Mức độ hại cũng khác nhau, chiếm phần lớn là bị hại ở mức trung bình chiếm (56,25%), nhẹ là (31,25%), nặng là 12,5%) Số hộ dân xuất hiện mối rất nhiều, trong khi đó việc phòng trừ thì chỉ diễn ra ở một số hộ trong phường, từ thực tế đó cho thấy người dân chưa quan tâm đến việc phòng trừ Thực trạng này diễn ra chủ yếu là do người dân còn thiếu hiểu biết về mối và tác hại của chúng, một phần do điều kiện kinh tế của người dân thấp, việc phòng trừ mối chưa được quan tâm đến, trình độ người dân chưa được nâng cao
Đối với việc phòng mối cho các cấu kiện bằng gỗ cho các công trình xây dựng được thể hiện qua bảng sau:
Trang 39Bảng 4.3 Thực trạng phòng mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên
Thực hiện phòng trừ
Công trình công cộng
2 Trạm y tế phường Hoàng Văn Thụ
Trang 40vấn đề mối gây hại gỗ trong các công trình nhà ở của mình, bên cạnh đó còn một
số người thì cũng đã nhận thức được sự nguy hiểm của loài mối nhưng do không
có điều kiện để phòng trừ
Đối với các loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng được thể hiện cụ thể qua bảng 4.4
Bảng 4.4 Thực trạng các loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây
dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên -